Tiêu chuẩn việt nam



tải về 0.56 Mb.
trang4/5
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích0.56 Mb.
1   2   3   4   5

3.9.5. Tính kết quả

Hàm lượng các amin thơm không sulfonat hóa, X, được tính bằng phần trăm khối lượng anilin (%) theo công thức:



trong đó:

ma là khối lượng anilin đọc được, tính bằng gam (g);

m là khối lượng mẫu thử, tính bằng gam (g).

3.10. Phương pháp xác định hàm lượng bazơ leuco trong các chất màu triarylmetan đã sulfonat hóa

3.10.1. Nguyên tắc

Không khí được thổi qua dung dịch có chứa chất tạo màu, đồng(ll) clorua, dimetylformamit và dung dịch được phân tích bằng quang phổ. Trong các điều kiện này, bazơ leuco (hợp chất vô sắc) được oxi hóa thành các chất màu tương ứng và làm tăng khả năng hấp thụ tương ứng với lượng ba leuco có trong mẫu thử.

3.10.2. Thuốc thử

3.10.2.1. Đồng(ll) clorua [CuCI2.2H2O]

3.10.2.2. Dimetylformamit (DMF).

3.10.3. Thiết bị, dụng cụ

3.10.3.1. Máy đo quang phổ trong dải nhìn thấy.

3.10.3.2. Cuvet, có chiều dài đường quang 1 cm (cuvet dòng chảy là tùy chọn).

3.10.4. Cách tiến hành

LƯU Ý: Thực hiện quy trình càng nhanh càng tốt.

3.10.4.1. Chuẩn bị các dung dịch

3.10.4.1.1. Dung dịch A



Cân 10,0 g đồng(ll) clorua (3.10.2.1) và hòa tan trong 200 ml DMF (3.10.2.2) Chuyển vào bình định mức 1 lít và thêm DMF (3.10.2.2) đến vạch.

3.10.4.1.2. Dung dịch B



Cân chính xác một lượng mẫu thử (m), tính theo miligam, theo quy định trong tiêu chuẩn cụ thể. Hòa tan trong khoảng 100 ml nước, chuyển vào bình định mức 1 lít và thêm nước đến vạch.

3.10.4.1.3. Dung dịch a



Dùng pipet lấy 50 ml DMF (3.10.2.2) cho vào bình định mức 250 ml. Đậy bằng màng Parafilm™ (hoặc loại tương đương) và đặt ở nơi tối.

3.10.4.1.4. Dung dịch b



Dùng pipet lấy chính xác 10 ml dung dịch B cho vào bình định mức 250 ml. Thêm 50 ml DMF (3.10.2.2). Đậy bằng màng Parafilm™ (hoặc loại tương đương) và đặt ở nơi tối.

3.10.4.1.5. Dung dịch c



Dùng pipet lấy 50 ml dung dịch A vào bình định mức 250 ml. Cho sục khí qua dung dịch này trong 30 min theo cách sau:

Luồn pipet 5 ml vào ống nối dẻo được gắn với nguồn không khí thổi. Cho không khí thổi qua từ từ vào dung dịch trong bình qua pipet và điều chỉnh dòng khí với tốc độ nhanh nhưng kiểm soát được. Sau 30 min, tháo pipet ra khỏi dung dịch và tráng, rửa các thành pipet bằng nước vào bình sử dựng chai rửa. Sau đó, ngắt dòng không khí.

3.10.4.1.6. Các dung dịch d1 và d2 (các lần lặp lại)

Dùng pipet lấy chính xác 10 ml dung dịch B cho vào hai bình định mức riêng rẽ, dung tích 250 ml. Thêm vào mỗi bình 50 ml dung dịch A. Sục không khí qua các dung dịch này trong 30 min, sử dụng phương pháp nêu trên đối với dung dịch c.

Sau khi ngừng sục khí, dùng nước pha loãng các dung dịch a, b, c, d1, d2 trong năm bình cùng dung tích và đặt trong nồi cách thủy cho nguội đến nhiệt độ phòng, vì khi DMF và nước được trộn với nhau sẽ có phát nhiệt. Không giữ các bình lâu hơn mức cần thiết; thông thường từ 5 min đến 10 min là đủ. Thêm nước đến vạch. Đo ngay độ hấp thụ của các dung dịch này bằng máy đo quang phổ.

3.10.4.2. Xác định bằng đo quang phổ

Dựa theo Bảng 2 dưới đây, dựng các đường hấp thụ đối với các dung dịch a, b, c, d1, d2 tại bước sóng từ 500 nm đến 700 nm, dùng dung dịch a và dung dịch c làm mẫu trắng. Tráng kỹ các cuvet bằng các dung dịch mẫu thử giữa các lần đo. Khi dùng cuvet dòng chảy tráng ba lần, mỗi lần dùng ít nhất 40 ml dung dịch mẫu thử.

Bảng 2 - Các đường hấp thụ

Đường cong

Mẫu trắng

Dung dịch

Nhận xét

1

a

a

Đặt điểm zero bước sóng 700 nm, cho chạy; ghi lại độ hấp thụ ở bước sóng hấp thụ cực đại đối với chất màu chuẩn

2

a

b

Cho chạy đường cong không điều chỉnh lại điểm zero: ghi lại độ hấp thụ ở bước sóng hấp thụ cực đại.

3

c

c

Đặt điểm zero ở 700 nm; ghi độ hấp thụ ở bước sóng hấp thụ cực đại đối với chất màu chuẩn.

4a

c

d1

Chạy đường cong không điều chỉnh lại điểm zero, ghi lại độ hấp thụ ở bước sóng hấp thụ cực đại.

4b

c

d2

Chạy đường cong không điều chỉnh lại điểm zero; ghi độ hấp thụ ở bước sóng hấp thụ cực đại.

3.10.5. Tính kết quả

Hàm lượng bazơ leuco có trong mẫu thử, X, được tính bằng phần trăm khối lượng (%) theo công thức:



trong đó:

A1, A2, A3, A4 là độ hấp thụ cực đại ghi được ghi tương ứng của các cuvet 1. 2, 3 và 4.

Vo là thể tích bình định mức, tính bằng lít (Vo = 1 lít);

F hệ số pha loãng: F = 250 ml/10 ml;

a là khả năng hấp thụ của các chất màu 100 %, tính bằng l/(mg.cm);

b là chiều dài đường quang của cuvet, tính bằng centimet (cm) (b = 1 cm);

m là khối lượng mẫu thử, tính bằng gam (g);

R là tỉ số của khối lượng phân tử của chất màu và khối lượng phân tử của bazơ leuco (được quy định trong tiêu chuẩn cụ thể).

3.11. Phương pháp xác định các hợp chất hữu cơ không phải là chất màu

3.11.1. Phương pháp xác định bằng sắc kí lỏng hiệu năng cao

3.11.1.1. Nguyên tắc

Các hợp chất hữu cơ không phải là chất màu được tách ra bằng HPLC, sử dụng rửa giải gradient và được định lượng bằng cách so sánh diện tích pic của chúng với diện tích pic thu được từ các dung dịch chuẩn. Các điều kiện mô tả ở đây được dùng làm hướng dẫn và có thể phải sửa đổi chút ít để tách được tốt. Các sai lệch so với các điều kiện quy định, như khác về chiều dài cột. Kiểu nhồi cột và hệ dung môi và sử dụng quy trình ion cặp đôi, có thể cho các sai lệch rửa giải so với trong các điều kiện đã định, như trật tự rửa giải và phân giải.

CHÚ THÍCH Để tách và xác định các hợp chất hữu cơ không phải là chất màu (ví dụ: tạp chất không màu, như là các chất trung gian) thì phương phắp sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC) có một vài ưu thế hơn so với các kỹ thuật sắc kí khác, đó là cải thiện được quá trình tách, nhanh (có thể tự động hóa) và chính xác. Khi xác định các hợp chất hữu cơ cụ thể, phải có các chất chuẩn cho mỗi hợp chất trước khi phân tích bất kì một màu cụ thể nào.

Thông thường các phương pháp HPLC được mô tả chi tiết hơn. Các vật liệu nhồi cột, các cột mao quản, kiểu và độ nhạy của các detector phải được chọn để tách được tối đa và định lượng được các tạp chất nêu trong các tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật của chất tạo màu, cũng như các tạp chất khác

3.11.1.2. Thuốc thử

3.11.1.2.1. Metanol.

3.11.1.2.2. Dung dịch amoni axetat, nồng độ 0,2 N.

3.11.1.2.3. Các chất chuẩn theo yêu cầu.



3.11.1.3. Thiết bị, dụng cụ

Các điều kiện để tiến hành sắc kí được cho dưới đây

3.11.1.3.1. Máy sắc kí lỏng hiệu năng cao, có gradient rửa giải, được trang bị:

- bộ điều khiển/bộ tích phân;

- bơm, tốc độ dòng 1 ml/min,

- bộ lấy mẫu tự động, có bơm dung tích 20 l;

- detector, có thể đo độ hấp thụ trong vùng UV-VIS;

- máy in/vẽ đồ thị.

3.11.1.3.2. Cột sắc kí, C18 trên silica gel, cỡ hạt 5 m. kích thước cột 250 mm x 4,6 mm

3.11.1.3.3. Cột bảo vệ, C18 trên silica gel, cỡ hạt 5 m, kích thước cột 15 mm x 4,6 mm

3.11.1.4. Cách tiến hành



3.11.1.4.1. Các thông số của thiết bị

- thể tích bơm: 20 l;

- chất rửa giải

+ A: amoni axetat 0,2 N (3.11.1.2.2);

+ B: metanol (3.11.1.2.1).

- gradient

+ 0,0 (bơm mẫu);

+ từ 0 min đến 35 min: 0 % đến 40 % B (phân tích);

+ từ 35 min đến 41 min: 100 % B (rửa);

+ từ 41,1 min đến 55 min: từ 100 % đến 0 % B (quay về thành phần gradient ban đầu và cột cân bằng).

- tốc độ dòng: 1,0ml/min.

- nhiệt độ: môi trường.

- áp suất bơm: nhỏ nhất 300 psi (2,07 MPa), lớn nhất 4 000 psi (27,58 MPa)

- bước sóng detector: theo yêu cầu.

- tích phân: diện tích pic.

3.11.1.4.2. Phương pháp xác định

Chuẩn bị các dung dịch mẫu của chất tạo màu nồng độ 0,5 % (phần khối lượng) trong amoni axetat 0,02 M. Chuẩn bị các dung dịch hiệu chuẩn từ các chất chuẩn của các tạp chất được quy định trong tiêu chuẩn cụ thể.

Tiến hành phân tích theo hướng dẫn đối với HPLC và detector,

3.11.2. Phương pháp xác định bằng sắc kí cột

3.11.2.1. Nguyên tắc



Thu thập các dịch rửa giải phân đoạn, sử dụng đo phổ hấp thụ từ ngoài để nhận biết các hợp chất có mặt trong từng phân đoạn và để tính nồng độ các chất này.

3.11.2.2. Thuốc thử



3.11.2.2.1. Xenluloza dạng bột, Whatman hoặc xenluloza có hàm lượng sắt thấp tương đương

3.11.2.2.2. Amoni sultat, có hàm lượng sắt rất thấp.

3.11.2.2.3. Dung dịch amoni sulfat, nồng độ 25 %, được chuẩn bị từ amoni sultat (3.11.2.2.2)

3.11.2.3. Thiết bị, dụng cụ

3.11.2.3.1. Cột sắc kí (xem Hình 4), được chuẩn bị như sau:

Chuẩn bị dung dịch nhão từ bột xenluloza trong dung dịch amoni sulfat 25 % (3.11.2 2.3), dùng khoảng 75 g xenluloza (3.11.2.2 1) cho 500 ml chất lỏng. Đặt một đĩa nhỏ bằng lưới thép không rỉ vào chỗ thắt trên đỉnh cột sắc kí. Rót một thể tích vừa đủ dung dịch nhão vào cột sắc kí đến cách miệng cột khoảng 5 cm. Thỉnh thoảng vỗ nhẹ vào cột sắc kí để đảm bảo cột được nhồi chặt. Rửa cột bằng 200 ml chất rửa giải là dung dịch amoni sulfat 25 % (3.11.2.2.3)

Kiểm tra cột bằng cách cho 200 ml dung dịch amoni sulfat 25 % đi qua cột và đo độ hấp thụ UV của dung dịch bằng máy đo quang phổ. Độ hấp thụ phải đủ thấp để tránh gây nhiễu cho phép phân tích.

Kích thước tính bằng centimet



Hình 4 - Cột sắc kí

3.11.2.3.2. Máy đo quang phổ, có thể đo trong vùng tử ngoại

3.11.2.3.3. Cuvet đo phổ, chiều dài đường quang 1 cm



3.11.2.4. Cách tiến hành

n 0,200 g mẫu thử (m) cho vào cốc có mỏ 150 ml và hòa tan trong 20 ml nước. Thêm khoảng 5 g bột xenluloza (3.11.2.2.1) rồi thêm 50 g amoni sulfat (3.11.2.2.2). Chuyển hỗn hợp này vào cột sắc kí (3.11.2.3.1), tráng cốc bằng dung dịch amoni sulfat 25 % (3.11.2.2.2) và cho nước tráng này vào cột sắc kí. Làm ráo cột cho đến khi nước ngừng hoặc gần như ngừng chảy.

Cho dung dịch amoni sulfat (3.11.2.2.2) vào cột ở tốc độ tương đương với tốc độ dòng chảy qua cột. Thu lấy các phần chiết phân đoạn 100 ml. Tiếp tục cho đến khi thu được 12 phần chiết như trên. Giữ lại cột và các chất trong cột cho đến khi phần chiết cuối cùng được kiểm tra bằng đo quang phổ.

Trộn kỹ từng phần dịch chiết được và đo phổ hấp thụ tử ngoại của mỗi dung dịch ở bước sóng từ 220 nm đến 400 nm, dùng chất rửa giải làm mẫu trắng. Nếu phổ hấp thụ của phân đoạn thứ 12 cho thấy có mặt của một hợp chất bất kỳ thì tiếp tục thu các phần chiết từ cột cho đến khi các hợp chất được rửa giải hết.

Khả năng hấp thụ của các hợp chất hữu cơ, như các chất trung gian thu được trong các phân đoạn và dự kiến có mặt như mong muốn trong các chất tạo mẫu được dùng để tính hàm lượng các hợp chất hữu cơ không phải là chất màu có trong mẫu thử và có thể được quy định trong tiêu chuẩn cụ thể

CHÚ THÍCH

Thông thường chỉ một hợp chất có mặt trong mỗi phân đoạn rửa giải. Khi có trên một hợp chất, với một lượng đáng kể có trong bất kỳ dịch chiết phân đoạn nào, các số liệu đo quang phổ sẽ chỉ ra điều đó. Trong trường hợp này, khối lượng các hợp chất khác nhau đó cần được xác định bằng phương pháp đo phổ thông thường đối với các hỗn hợp chất hấp thụ.

Một vài mẫu thử có chứa lượng nhỏ các chất khác nhau, đặc biệt là các muối vô cơ, sẽ cho “độ hấp thụ nền”. Việc hiệu chỉnh được tiến hành như sau: Xác định lượng chất hấp thụ nền ở phân đoạn thu được từ cột ngay trước và ngay sau các phân đoạn. Lấy độ hấp thụ quan sát được của các phân đoạn có chứa các hợp chất hữu cơ trừ đi một nữa (1/2) của tổng hai độ hấp thụ này. Phần còn lại được lấy làm độ hấp thụ của muối vô cơ

3.11.2.5. Tính kết quả

Hàm lượng các hợp chất hữu cơ không phải là chất màu có trong mẫu thử, X, được tính bằng phần trăm khối lượng (%) theo công thức:



trong đó:

A là độ hấp thụ tổng số của các phân đoạn rửa giải đã hiệu chỉnh về độ hấp thụ của mẫu trắng;

V1 là thể tích của một phân đoạn (V1 =0,100 lít);

a là khả năng hấp thụ trong 1 lít, tính bằng lit/(g.cm);

b là chiều dài đường quang của cuvet, tính bằng centimet (cm) (b = 1 cm);

m là khối lượng mẫu thử, tính bằng gam (g).

3.12. Phương pháp xác định hàm lượng clorua

CHÚ THÍCH: Phương pháp này được tiến hành kết hợp với việc xác định hàm lượng nước (hao hụt khối lượng khi sấy) (3.15) và kết quả xác định hàm lượng clorua được dùng để tính hàm lượng nước

3.12.1. Thuốc thử

3.12.1.1. Dung dịch axit nitric, nồng độ 1,5 N.

3.12.1.2. Dung dịch chuẩn bạc nitrat, nồng độ 0,1 N.

3.12.2. Thiết bị, dụng cụ

3.12.2.1. Thiết bị chuẩn độ điện thế.

3.12.2.2. Điện cực chỉ thị bạc.

3.12.2.3. Điện cực so sánh calomel, có thân bằng thuỷ tinh hoặc có cầu nối là dung dịch kali sulfat.

3.12.3. Cách tiến hành

n chính xác từ 0,5 g đến 1,0 g mẫu thử (m), hòa tan trong 100 ml nước và axit hóa bằng 5 ml dung dịch axit nitric 1,5 N (3.12.1.1). Đặt điện cực bạc (3.12.2.2) và điện cực calomel có thân bằng thuỷ tinh (3.12.2.3) vào dung dịch màu. Nếu chỉ có điện cực so sánh calomel chuẩn thì nối điện cực này với dung dịch bằng cầu nối kali sulfat bão hòa (dùng điện cực thuỷ tinh làm điện cực so sánh thì sẽ không cần đến cầu nối kali sulfat bão hòa; điều này làm đơn giản thiết bị một cách đáng kể và điện cực thuỷ tinh này đủ ổn định để được sử dụng như điện cực so sánh cho kiểu chuẩn độ này).

Chuẩn độ dung dịch màu bằng dung dịch bạc nitrat 0,1 N.

3.12.4. Tính kết quả

Hàm lượng clorua trong mẫu thử, X, tính bằng phần trăm khối lượng (%) của natri clorua theo công thức:



trong đó:

V1 là thể tích dung dịch bạc nitrat 0,1 N dùng để chuẩn độ, tính bằng mililit (ml);

m là khối lượng mẫu thử, tính bằng gam (g);

0,00585 lá khối lượng của natri clorua tương ứng với 1 ml dung dịch bạc nitrat 0,1 N, tính bằng gam (g).



3.13. Phương pháp xác định hàm lượng sulfat

CHÚ THÍCH Phương pháp này được tiến hành kết hợp với việc xác định hàm lượng nước (hao hụt khối lượng khi sấy) (3.15) và kết quả xác định hàm lượng sulfat được dùng để tính hàm lượng nước

3.13.1. Thuốc thử

3.13.1.1. Natri clorua, không chứa sulfat

3.13.1.2. Axit clohydric.

3.13.1.3. Dung dịch bari clorua, nồng độ 0,25 N



3.13.2. Cách tiến hành

n 5,0 g mẫu thử, cho vào bình nón dung tích 250 ml và hòa tan trong khoảng 100 ml nước bằng cách hâm nóng trên nồi cách thuỷ. Thêm 35 g natri clorua không chứa sulfat (3.13.1.1). Đậy nắp bình và thỉnh thoảng xoay bình trong vòng 1 h. Làm nguội bình, chuyển lượng chứa trong bình sang bình định mức 250 ml bằng dung dịch natri clorua bão hòa, để dung dịch nguội đến 20 °C rồi pha loãng đến vạch. Lắc bình, lọc dung dịch qua giấy lọc khô.

Dùng pipet lấy 100 ml dịch lọc cho vào cốc có mỏ dung tích 500 ml, pha loãng đến 300 ml bằng nước và axit hóa bằng axit clohydric (3.13.1.2), thêm 1 ml dư. Đun dung dịch đến sôi và thêm một lượng dư của dung dịch bari clorua 0,25 N (3.13.1.3), vừa thêm từng giọt một vừa khuấy. Để yên hỗn hợp này trên bếp điện trong 4 h, hoặc để qua đêm ở nhiệt độ phòng. Gia nhiệt đến khoảng 80 °C và để cho kết tủa lắng xuống. Lọc bỏ kết tủa bari sulfat, rửa bằng nước nóng và làm nóng chảy ở độ nóng tạo màu đỏ đậm, trong chén nung đã biết khối lượng, cho đến khi thu được khối lượng không đổi. Tiến hành phép thử trắng, sử dụng cùng quy trình nêu trên và hiệu chỉnh khối lượng bari sulfat tìm được



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương