Tiêu chuẩn quốc gia


Nối chồng cốt thép không căng (nối buộc)



tải về 1.65 Mb.
trang15/19
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích1.65 Mb.
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19

8.9. Nối chồng cốt thép không căng (nối buộc)

8.9.1. Nối chồng cốt thép chịu lực không căng được dùng để nối các khung, lưới thép hàn hoặc buộc với đường kính thanh được nối không lớn hơn 36 mm.

Không nên dùng nối chồng trong vùng chịu kéo của cấu kiện chịu uốn và kéo lệch tâm tại những nơi cốt thép được dùng hết khả năng chịu lực.

Không được dùng nối chồng trong những cấu kiện thẳng mà toàn bộ tiết diện chịu kéo (ví dụ: trong thanh căng của vòm, thanh cánh dưới của giàn) cũng như trong mọi trường hợp sử dụng cốt thép nhóm CIV, A-IV trở lên.

8.9.2. Khi nối các thanh cốt thép chịu kéo và chịu nén cũng như nối lưới thép hàn và khung thép hàn theo phương làm việc, chiều dài đoạn nối chồng l phải không nhỏ hơn giá trị lan được xác định theo công thức (189) và Bảng 36.

8.9.3. Mối nối lưới hoặc khung thép hàn cũng như các thanh cốt thép chịu kéo của lưới, khung thép buộc cần phải bố trí so le. Trong đó diện tích tiết diện các thanh cốt thép chịu lực, được nối tại một vị trí hoặc trong khoảng nhỏ hơn đoạn nối chồng l, cần phải không lớn hơn 50% diện tích tổng cộng cốt thép chịu kéo đối với cốt thép loại có gờ và không lớn hơn 25% đối với cốt thép tròn trơn.

Nối các thanh cốt thép và lưới thép hàn không so le chỉ cho phép đối với các cốt thép cấu tạo cũng như tại các chỗ cốt thép được sử dụng không quá 50%.

8.9.4. Mối nối lưới thép hàn làm từ cốt thép tròn trơn cán nóng nhóm CI, A-I theo phương chịu lực cần được thực hiện sao cho trên mỗi lưới được nối nằm trong vùng chịu kéo trên chiều dài đoạn chồng có không ít hơn hai thanh ngang được hàn với tất cả các thanh dọc (Hình 26). Sử dụng kiểu nối như thế đối với mối nối chồng các khung thép hàn với các thanh cốt thép chịu lực nằm ở một phía và làm từ bất kỳ loại thép nào. Nối lưới thép hàn làm từ thép CII, A-II, CIII, A-III trong phương chịu lực được thực hiện không cần có các thanh cốt thép ngang trong đoạn nối ở một hoặc cả hai lưới được nối (Hình 27).



a - khi thanh ngang nằm trong một mặt phẳng;

b, c - khi thanh ngang nằm trong các mặt phẳng khác nhau

Hình 26 - Nối chồng (không hàn) trong phương chịu lực các lưới hàn làm từ cốt thép tròn trơn

8.9.5. Mối nối lưới hàn theo phương không chịu lực được thực hiện bằng nối chồng với đoạn chồng (tính từ giữa các thanh cốt thép chịu lực ngoài cùng của mỗi lưới):

- Khi đường kính của thanh phân bố (thanh ngang) không lớn hơn 4 mm (Hình 28a, b): 50 mm

- Khi lớn hơn 4 mm (Hình 28a, b): 100 mm

Khi đường kính cốt thép chịu lực không nhỏ hơn 16 mm, các lưới thép hàn theo phương không chịu lực cho phép đặt đối đầu và dùng lưới thép chuyên dùng để nối. Lưới thép nối bổ sung này phải phủ lên cốt thép đặt ở mỗi phía một đoạn không nhỏ hơn 15d và không nhỏ hơn 100 mm (Hình 28c).

a - không có thanh ngang trong đoạn nối ở một trong số lưới được nối;

b - không có thanh ngang trong đoạn nối ở cả hai lưới được nối.

Hình 27 - Nối chồng (không hàn) trong phương chịu lực các lưới thép hàn làm từ thép có gờ

a - nối chồng khi các thanh cốt thép chịu lực nằm trong cùng một mặt phẳng;

b - nối chồng khi các thanh cốt thép chịu lực nằm trong các mặt phẳng khác nhau;

c - mối nối xếp khít các lưới được nối và phủ lưới bổ sung.



Hình 28 - Nối lưới hàn theo hướng cốt thép phân bố

Các lưới thép hàn theo phương không chịu lực cho phép đặt giáp nhau không cần nối chồng và không cần lưới bổ sung trong các trường hợp sau:

- Khi đặt các lưới thép hàn theo hai phương vuông góc với nhau;

- Khi ở vị trí nối có cốt thép cấu tạo bổ sung đặt theo phương cốt thép phân bố.



8.10. Mối nối các cấu kiện của kết cấu lắp ghép

8.10.1. Khi nối các cấu kiện bê tông cốt thép của kết cấu lắp ghép, nội lực được truyền từ cấu kiện này sang cấu kiện khác qua các cốt thép chịu lực của mối nối, qua các chi tiết đặt sẵn, qua bê tông chèn trong mối nối, qua các nêm bê tông hoặc (đối với cấu kiện chịu nén) trực tiếp qua bề mặt bê tông của cấu kiện được nối.

Mối nối các cấu kiện ứng lực trước, cũng như các kết cấu yêu cầu không thấm nước phải thực hiện bằng bê tông dùng xi măng trương nở.

8.10.2. Các mối nối cứng của kết cấu lắp ghép được toàn khối hóa bằng cách nhồi bê tông vào các khe nối giữa các cấu kiện. Nếu khi chế tạo đảm bảo lắp đặt khít các bề mặt với nhau (ví dụ: như khi dùng đầu của cấu kiện này làm ván khuôn cho đầu cấu kiện khác), cho phép dùng mối nối khô khi chỉ lực nén truyền qua mối nối.

8.10.3. Mối nối các cấu kiện chịu lực kéo cần phải thực hiện bằng cách:

a) Hàn các chi tiết đặt sẵn bằng thép;

b) Hàn các cốt thép chờ;

c) Luồn qua các ống đặt sẵn hoặc các khe chờ của cấu kiện được nối các sợi cáp hoặc bu lông sau đó kéo căng chúng và chèn mối nối bằng vữa xi măng hoặc bê tông hạt nhỏ;

d) Dán các cấu kiện bằng vữa polimer qua các chi tiết liên kết làm từ cốt thép thanh.

8.10.4. Chi tiết đặt sẵn cần được neo vào bê tông nhờ các thanh neo hoặc được hàn vào cốt thép chịu lực của cấu kiện.

Chi tiết đặt sẵn có thanh neo bao gồm các bản (thép góc hoặc bản mã) được hàn góc hoặc hàn chồng với các thanh neo thường làm từ thép CII, A-II và CIII, A-III. Chiều dài các thanh neo của chi tiết đặt sẵn khi chịu lực kéo phải không nhỏ hơn đại lượng lan xác định theo 8.5.2.

Chiều dài của các thanh neo có thể giảm xuống nếu hàn ở đầu thanh các bản neo hoặc mở rộng đầu neo với đường kính không nhỏ hơn 2 d - đối với cốt thép nhóm CI, A-I, CII, A-II và không nhỏ hơn 3d - với cốt thép nhóm CIII, A-III. Trong các trường hợp đó, chiều dài thanh neo được xác định theo tính toán chịu nhổ và ép cục bộ bê tông và lấy không nhỏ hơn 10d (d - đường kính thanh neo, mm).

Nếu neo chịu kéo được bố trí vuông góc với trục dọc cấu kiện và dọc theo chúng có thể hình thành các vết nứt do các nội lực cơ bản tác dụng lên cấu kiện, khi đó đầu các thanh neo cần được gia cường bằng các bản thép hàn thêm hoặc mở rộng đầu neo.

Các chi tiết đặt sẵn dập từ thép tấm được cấu tạo từ các chân neo có các chỗ bám chắc chắn (ví dụ: ở dạng các đầu neo hình cầu) và phần làm chức năng như bản neo (ví dụ như các chi tiết hàn). Chi tiết đặt sẵn được dập từ thép tấm có chiều dày từ 4 mm đến 8 mm, được thiết kế sao cho phần thép bị bỏ đi tạo chân neo là ít nhất. Các chi tiết cần được tính toán theo độ bền của chân neo và của bản. Độ bền của mỗi chi tiết neo được kiểm tra theo các tính toán bê tông chịu nhổ, chịu ép cục bộ.

Chiều dày của bản chi tiết đặt sẵn được xác định theo các chỉ dẫn ở 6.2.6.3 và theo các yêu cầu về hàn.

8.10.5. Ở phần đầu mút được nối của cấu kiện chịu nén lệch tâm (ví dụ: ở đầu các cột lắp ghép), cần đặt cốt thép gián tiếp phù hợp với các chỉ dẫn ở 8.7.3.



8.11. Các yêu cầu cấu tạo riêng

8.11.1. Khe lún cần được dự tính trước trong trường hợp xây nhà (công trình) trên nền đất không đồng nhất (nền có tính lún, v.v…), tại các vị trí thay đổi đột ngột về tải trọng, v.v…

Nếu trong các trường hợp kể trên, khe lún không được dự tính trước, móng cần có đủ độ bền và độ cứng để đảm bảo ngăn ngừa các hư hỏng của kết cấu bên trên, hoặc phải có các kết cấu đặc biệt để đạt được mục tiêu trên.

Khe lún cũng như khe co giãn nhiệt trong kết cấu bê tông và bê tông cốt thép liên tục cần được thực hiện xuyên suốt, cắt kết cấu đến tận đế móng. Khe co giãn nhiệt trong kết cấu khung bê tông cốt thép được thực hiện bằng cách sử dụng cặp cột có khe ở giữa chạy xuống đến tận mặt móng.

Khoảng cách giữa các khe lún, khe co giãn nhiệt trong móng bê tông và trong tường tầng hầm cho phép lấy bằng khoảng cách giữa các khe của kết cấu bên trên.

8.11.2. Trong kết cấu bê tông cần dự tính trước cốt thép cấu tạo:

a) Tại các vị trí thay đổi đột ngột kích thước tiết diện cấu kiện;

b) Tại các vị trí thay đổi chiều cao tường (trong khoảng không nhỏ hơn 1 m);

c) Trong tường bê tông dưới và trên các lỗ cửa của mỗi tầng;

d) Trong các kết cấu chịu tải trọng động;

e) Ở cạnh có ứng suất nhỏ hơn của cấu kiện chịu nén lệch tâm, nếu ứng suất lớn nhất trong tiết diện, được xác định như đối với vật thể đàn hồi vượt quá 0,8Rb, còn ứng suất nhỏ nhất lại nhỏ hơn 1 MPa hoặc chịu kéo, trong khi đó hàm lượng cốt thép  không nhỏ hơn 0,025%.

Các yêu cầu ở điều này không áp dụng cho các cấu kiện của kết cấu lắp ghép được kiểm tra trong giai đoạn vận chuyển và lắp ráp. Trong các trường hợp này, cần đặt cốt thép theo tính toán độ bền.

Nếu tính toán cho thấy độ bền cấu kiện mất đi đồng thời với sự xuất hiện vết nứt trong bê tông vùng chịu kéo, khi đó cần xét đến các yêu cầu trong 4.2.10 đối với cấu kiện đặt ít cốt thép (không xét đến sự làm việc của bê tông chịu kéo). Nếu theo tính toán có xét đến bê tông chịu kéo, thấy không cần đặt cốt thép và bằng kinh nghiệm cũng chứng tỏ rằng không cần cốt thép khi vận chuyển và lắp ráp, khi đó không cần đặt cốt thép cấu tạo.

8.11.3. Vị trí lắp đặt cốt thép cần được đảm bảo theo đúng thiết kế nhờ các biện pháp thi công (đặt cữ bằng chất dẻo, vòng đệm làm từ bê tông hạt nhỏ, v.v…).

8.11.4. Lỗ có kích thước lớn trong bản, panen, v.v… cần được viền lại bằng cốt thép bổ sung có tiết diện không nhỏ hơn tiết diện các cốt thép chịu lực (theo phương đặt cốt thép bổ sung) cần thiết theo tính toán như đối với bản đặc.

8.11.5. Khi thiết kế cấu kiện của sàn lắp ghép, cần định trước các khe giữa các bản sàn và chèn chúng bằng bê tông. Chiều rộng của khe được quy định từ điều kiện đảm bảo chất lượng khi chèn chúng và không nhỏ hơn 20 mm đối với cấu kiện có chiều cao không lớn hơn 250 mm và không nhỏ hơn 30 mm đối với cấu kiện có chiều cao lớn hơn.

8.11.6. Trong cấu kiện của kết cấu lắp ghép, cần có giải pháp để nâng chúng: móc cẩu lắp ráp, lỗ chờ có các ống thép, móc lắp ráp cố định làm từ các thép thanh, v.v… Móc để nâng phải được làm từ thép cán nóng phù hợp với các yêu cầu ở 5.2.1.8.

8.12. Chỉ dẫn bổ sung về cấu tạo cấu kiện bê tông cốt thép ứng lực trước

8.12.1. Trong cấu kiện ứng lực trước, cần đảm bảo sự bám dính chắc giữa cốt thép và bê tông bằng cách sử dụng cốt thép có gờ, nhồi chặt các ống, rãnh, khe hở bằng vữa xi măng hoặc bê tông hạt nhỏ.

8.12.2. Sơ đồ và phương pháp sản xuất các kết cấu ứng lực trước siêu tĩnh nên lựa chọn sao cho khi tạo ứng lực trước không gây thêm các ứng lực trong kết cấu làm giảm khả năng làm việc của kết cấu. Cho phép bố trí các mối nối hoặc khớp tạm thời và được toàn khối hóa sau khi kéo căng cốt thép.

8.12.3. Trong kết cấu bê tông cốt thép bán lắp ghép, cần đảm bảo sự bám dính của các cấu kiện ứng lực trước với bê tông đổ tại các vị trí chịu lực của kết cấu, cũng như neo các đầu của chúng với nhau. Ngoài ra, sự làm việc đồng thời của cấu kiện theo phương ngang cũng cần được đảm bảo bằng các biện pháp thích hợp (đặt các cốt thép ngang hoặc ứng lực trước cấu kiện theo phương ngang).

8.12.4. Một phần các thanh cốt thép dọc của cấu kiện có thể không cần ứng lực trước nếu thỏa mãn các yêu cầu tính toán về nứt và biến dạng.

8.12.5. Khi gia cường cục bộ ở vùng sát neo thép căng cũng như ở các vị trí đặt thiết bị căng, nên bố trí các chi tiết đặt sẵn hoặc bổ sung cốt thép ngang, cũng như tăng kích thước tiết diện tại các đoạn này.

8.12.6. Nếu cốt thép dọc căng được bố trí tập trung ở biên trên và biên dưới, ở đầu cấu kiện cần dự tính đặt bổ sung cốt thép ngang căng hoặc không căng.

Cốt thép ngang căng phải được kéo trước khi kéo cốt thép dọc bằng lực không nhỏ hơn 15% lực kéo toàn bộ cốt thép dọc tại vùng chịu kéo của tiết diện gối tựa.

Cốt thép ngang không căng phải được neo chắc chắn bằng cách hàn các đầu vào chi tiết đặt sẵn. Tiết diện của các cốt thép này trong kết cấu không được tính toán chịu mỏi phải chịu được không dưới 20% nội lực trong cốt thép dọc căng ở vùng dưới tiết diện gối tựa, còn đối với kết cấu được tính toán chịu mỏi phải chịu được - không dưới 30%. Tiết diện gối tựa được xác định bằng tính toán theo độ bền.

8.12.7. Với cốt thép sợi được bố trí dưới dạng bó sợi, cần dự tính các khoảng hở giữa từng sợi hoặc giữa từng nhóm sợi (bằng cách đặt các thép sợi quấn dạng xoắn ở trong bó sợi hoặc đặt các thanh ngắn ở neo, v.v…) phải có kích thước đủ cho vữa xi măng đi qua giữa các sợi trong bó sợi, hoặc bê tông hạt nhỏ lấp kín rãnh đặt cáp.

8.12.8. Cốt thép căng (thanh hoặc cáp) trong cấu kiện có lỗ rỗng và cấu kiện có sườn cần được bố trí theo trục mỗi sườn của cấu kiện, ngoại trừ các trường hợp đã nêu trong 8.6.5.

8.12.9. Ở đầu cấu kiện ứng lực trước, cần đặt các cốt thép đai bổ sung hoặc cốt thép gián tiếp (lưới thép hàn bao tất cả các thanh cốt thép dọc, cốt thép đai, v.v… có bước 5 cm đến 10 cm) trên chiều dài không nhỏ hơn 0,6lp, còn khi trong cấu kiện làm từ bê tông nhẹ cấp B7,5 đến B12,5 có bước là 5cm trên chiều dài không nhỏ hơn lp (xem 5.2.2.5) và không nhỏ hơn 20 cm đối với cấu kiện sử dụng cốt thép không có neo, còn khi có cơ cấu neo - trên đoạn bằng hai lần chiều dài cơ cấu neo. Đặt neo ở đầu cốt thép là bắt buộc đối với cốt thép được kéo trên bê tông, cũng như đối với cốt thép được kéo trên bệ, khi không đủ lực bám dính với bê tông (sợi trơn, cáp nhiều sợi), khi đó thiết bị neo cần đảm bảo giữ chặt cốt thép trong bê tông ở tất cả các giai đoạn làm việc của cốt thép.

Khi sử dụng thép sợi cường độ cao có gờ, cáp bện một lần, cốt thép thanh có gờ cán nóng được gia công nhiệt làm cốt thép căng kéo trên bệ, thì không cần đặt neo ở đầu các thanh cốt thép căng.

9. Các yêu cầu tính toán và cấu tạo kết cấu bê tông cốt thép khi sửa chữa lớn nhà và công trình

9.1. Nguyên tắc chung

9.1.1. Phần này quy định những yêu cầu thiết kế các kết cấu bê tông và bê tông cốt thép của nhà và công trình (đã hoặc chưa gia cường trước đó) khi có sửa chữa lớn.

Phần này quy định nguyên tắc tính toán kết cấu hiện hữu (tính toán kiểm tra) cũng như tính toán và cấu tạo các kết cấu phải gia cường.

9.1.2. Tính toán kiểm tra các kết cấu hiện hữu cần được tiến hành khi có sự thay đổi của tải trọng tác dụng, giải pháp tổ chức mặt bằng và điều kiện sử dụng, cũng như khi phát hiện những khuyết tật và hư hỏng trong kết cấu với mục đích xác định khả năng chịu lực và sự đáp ứng điều kiện sử dụng bình thường trong những điều kiện làm việc mới.

9.1.3. Các kết cấu không thỏa mãn yêu cầu khi tính toán kiểm tra cần phải gia cường.

Khi thiết kế các kết cấu phải gia cường cần xuất phát từ yêu cầu không dừng hoặc dừng tạm thời sản xuất.

9.1.4. Tính toán kiểm tra các kết cấu hiện hữu, cũng như tính toán và cấu tạo các kết cấu gia cường cần tiến hành trên cơ sở các tài liệu thiết kế, số liệu về chế tạo và thi công những kết cấu này và những số liệu khảo sát hiện trạng.

9.1.5. Khi không có những hư hỏng và khuyết tật làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu, cũng như khi không có độ võng và sự mở rộng vết nứt vượt giới hạn cho phép, cho phép tiến hành tính toán kiểm tra trên cơ sở tài liệu thiết kế (các kích thước hình học của tiết diện kết cấu, cấp độ bền chịu nén (kéo) của bê tông, mác bê tông theo cường độ chịu nén (kéo), nhóm cốt thép, cấu tạo và sơ đồ kết cấu).

9.1.6. Trong trường hợp những yêu cầu về tính toán theo tài liệu thiết kế không thỏa mãn hoặc khi không có tài liệu thiết kế, cũng như khi có những khuyết tật và hư hỏng làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu, khi có độ võng hoặc có sự mở rộng vết nứt vượt giới hạn cho phép thì cần tiến hành tính toán kiểm tra có kể đến những số liệu khảo sát kết cấu hiện hữu.

9.1.7. Khảo sát hiện trạng cần đưa ra các số liệu về kích thước hình học của tiết diện, sự bố trí cốt thép trong cấu kiện kết cấu, cường độ bê tông và loại thép, độ võng của kết cấu và bề rộng vết nứt, những khuyết tật và hư hỏng, tải trọng, sơ đồ tính toán tĩnh của kết cấu.

9.1.8. Việc gia cường kết cấu chỉ cần xem xét trong những trường hợp khi kết cấu hiện hữu không thỏa mãn những yêu cầu theo tính toán kiểm tra về khả năng chịu lực hoặc những yêu cầu về điều kiện sử dụng bình thường. Không cần gia cường kết cấu nếu như:

- Độ võng thực tế của kết cấu vượt giới hạn cho phép (xem 4.2.11) nhưng không ảnh hưởng đến yêu cầu sử dụng bình thường và không làm thay đổi sơ đồ kết cấu của nó;

- Kết cấu có những sai lệch so với các yêu cầu nêu trong phần 5 nhưng quá trình khảo sát không phát hiện được những hư hỏng gây ra do những sai lệch đó mặc dù kết cấu đã sử dụng trong một thời gian dài.

9.1.9. Việc tính toán và cấu tạo các kết cấu phải gia cường cần được thực hiện trên cơ sở những số liệu khảo sát hiện trạng đã yêu cầu trong 9.1.7.



9.2. Tính toán kiểm tra

9.2.1. Tính toán kiểm tra kết cấu bê tông và bê tông cốt thép cần thực hiện theo những yêu cầu đã nêu trong các phần từ 4 đến 8 và trong phần này.

9.2.2. Không cần tính toán theo các trạng thái giới hạn thứ hai nếu như chuyển vị và bề rộng vết nứt trong kết cấu hiện hữu nhỏ hơn giới hạn cho phép, còn nội lực trong tiết diện cấu kiện sinh ra do tải trọng mới không vượt quá giá trị nội lực do tải trọng thực tế tác dụng lên kết cấu.

9.2.3. Khi tính toán cần kiểm tra tiết diện của các kết cấu có những khuyết tật và hư hỏng, cũng như cần kiểm tra những tiết diện mà tại đó, trong quá trình khảo sát phát hiện được những vùng bê tông có cường độ nhỏ hơn cường độ trung bình từ 20% trở lên. Việc kể đến những khuyết tật và hư hỏng được thể hiện trong tính toán bằng cách giảm diện tích tiết diện bê tông hoặc cốt thép. Cũng cần kể đến ảnh hưởng của những khuyết tật và hư hỏng đến các đặc trưng độ bền và biến dạng của bê tông; đến độ lệch tâm của lực dọc; đến sự dính kết của bê tông và cốt thép, v.v…

9.2.4. Các đặc trưng tính toán được xác định theo phần 5 tùy thuộc vào cấp độ bền chịu nén quy ước của bê tông trong kết cấu hiện hữu.

9.2.5. Khi tính toán kiểm tra theo số liệu của tài liệu thiết kế, trong trường hợp nếu thiết kế kết cấu hiện hữu quy định các đặc trưng tiêu chuẩn của bê tông là mác theo cường độ của nó, thì cấp độ bền chịu nén quy ước của bê tông cần lấy như sau:

- Đối với bê tông nặng, bê tông hạt nhỏ, bê tông nhẹ: lấy bằng 80% cường độ mẫu lập phương tiêu chuẩn tương ứng với mác theo cường độ chịu nén.

- Đối với bê tông tổ ong: lấy bằng 70% cường độ mẫu lập phương tiêu chuẩn tương ứng với mác theo cường độ chịu nén.

Đối với các giá trị cấp độ bền chịu nén quy ước của bê tông khác với giá trị nêu trong 5.1.1.3, cường độ tính toán của bê tông được xác định bằng nội suy tuyến tính.

9.2.6. Khi tính toán kiểm tra dựa trên kết quả khảo sát hiện trạng, giá trị cấp độ bền chịu nén quy ước của bê tông được xác định theo 9.2.5 nhưng thay mác bê tông bằng các giá trị cường độ thực tế của bê tông theo nhóm kết cấu, kết cấu riêng lẻ, hay từng vùng của nó, thu được từ kết quả khảo sát hiện trạng, theo các phương pháp thí nghiệm không phá hoại, hoặc các phương pháp thử mẫu lấy trực tiếp từ kết cấu.

9.2.7. Tùy vào tình trạng của bê tông, loại kết cấu và điều kiện làm việc của chúng, cũng như tùy vào các phương pháp xác định cường độ bê tông, khi có cơ sở đặc biệt có thể dùng các phương pháp khác để xác định cường độ bê tông.

9.2.8. Các đặc trưng tính toán của cốt thép được xác định tùy thuộc vào nhóm thép được sử dụng trong kết cấu bê tông cốt thép hiện hữu theo chỉ dẫn ở phần 2 có kể đến những yêu cầu nêu trong 9.2.9 và 9.2.10.

9.2.9. Khi thực hiện tính toán kiểm tra kết cấu hiện hữu theo hồ sơ thiết kế dựa trên các tiêu chuẩn cũ, cường độ tiêu chuẩn của cốt thép Rsn xác định theo phần 5. Khi đó cường độ tiêu chuẩn của thép sợi nhóm B-I lấy bằng 390 MPa.

Cường độ chịu kéo tính toán của cốt thép Rs được xác định theo công thức:

Rs =

Trong đó s là hệ số độ tin cậy của cốt thép, lấy như sau:

- Khi tính toán theo các trạng thái giới hạn thứ nhất:

+ Đối với thép thanh nhóm

CI, A-I, CII, A-II, CIII, A-III: 1,15

CIV, A-IV, A-V và A-VI: 1,25

+ Đối với thép sợi nhóm

B-I, B-II, Bp-II, K-7, K-19: 1,25

Bp-I: 1,15

- Khi tính toán theo các trạng thái giới hạn thứ hai: 1,00.

Cường độ chịu kéo tính toán của cốt thép ngang (cốt thép đai và những thanh cốt thép xiên) Rsw được xác định bằng cách nhân giá trị cường độ tính toán Rs thu được với hệ số điều kiện làm việc si (giá trị si cho trong phần 5). Cường độ chịu nén tính toán của cốt thép Rsc (trừ cốt thép nhóm A-IIIв) lấy bằng cường độ chịu kéo tính toán của cốt thép Rs, nhưng không lớn hơn các giá trị nêu trong phần 5. Đối với thép nhóm A-IIIв, cường độ chịu nén tính toán Rsc lấy theo yêu cầu của phần 5.

Ngoài ra, cần kể đến các hệ số điều kiện làm việc bổ sung của cốt thép theo 5.2.2.4.

Giá trị của cường độ tính toán của cốt thép được làm tròn đến 3 chữ số có nghĩa.

9.2.10. Khi tính toán kiểm tra theo kết quả thử mẫu cốt thép lấy từ khảo sát hiện trạng, cường độ tiêu chuẩn của cốt thép được lấy bằng giá trị trung bình của giới hạn chảy thực tế (hoặc giới hạn chảy quy ước) thu được từ thí nghiệm mẫu cốt thép rồi chia cho hệ số:

- Đối với cốt thép nhóm CI, A-I, CII, A-II, CIII, A-III, A-IIIв, CIV, A-IV: 1,1

- Đối với cốt thép các nhóm khác: 1,2

Cường độ tính toán của cốt thép cần lấy theo những yêu cầu nêu trong 9.2.9.

9.2.11. Tùy thuộc vào số lượng mẫu thử và tình trạng của cốt thép, khi có cơ sở chắc chắn có thể sử dụng các phương pháp khác để xác định cường độ tính toán của cốt thép.

9.2.12. Khi không có tài liệu thiết kế và không thể lấy mẫu thử, cho phép lấy cường độ chịu kéo tính toán của cốt thép Rs tùy thuộc vào loại thép:

- Đối với cốt thép tròn trơn: lấy Rs = 155 MPa;

- Đối với cốt thép có gờ chạy theo:

+ 1 phía: lấy Rs = 245 MPa;

+ 2 phía: lấy Rs = 295 MPa.

Khi đó giá trị cường độ tính toán của cốt thép chịu nén lấy bằng Rs, còn cường độ tính toán của cốt thép ngang Rsw lấy bằng 0,8Rs.



9.3. Tính toán và cấu tạo các kết cấu phải gia cường

9.3.1. Những yêu cầu của phần này dùng để thiết kế và tính toán kết cấu bê tông cốt thép được gia cường bằng thép cán định hình, bằng bê tông và bằng bê tông cốt thép.

Các kết cấu bê tông cốt thép được gia cường cần được thiết kế nhằm thỏa mãn những yêu cầu nêu trong phần 4 đến phần 8 trong tiêu chuẩn TCXDVN 338:2005 (khi gia cường bằng thép cán định hình) và những quy định trong phần này.

9.3.2. Khi thiết kế các kết cấu bê tông cốt thép gia cường, cần đảm bảo điều kiện làm việc đồng thời giữa phần gia cường và phần kết cấu phải gia cường.

9.3.3. Tính toán kết cấu gia cường cần được tiến hành theo hai giai đoạn:

a) Trước khi phần gia cường làm việc: tính toán chịu tải trọng do trọng lượng kết cấu gia cường (chỉ tính toán theo các trạng thái giới hạn thứ nhất);

b) Khi phần gia cường làm việc: tính toán chịu toàn bộ tải trọng sử dụng (tính toán theo cả hai trạng thái giới hạn).

Tính toán theo các trạng thái giới hạn thứ hai có thể không cần thực hiện nếu các tải trọng sử dụng không tăng, độ cứng và khả năng chống nứt của kết cấu thỏa mãn những yêu cầu của điều kiện sử dụng, mà gia cường vì lý do phát hiện thấy những khuyết tật và hư hỏng.

9.3.4. Đối với các kết cấu hư hỏng nặng (phá hoại ít nhất 50% tiết diện bê tông hoặc ít nhất 50% tiết diện cốt thép), cần tính toán phần kết cấu gia cường chịu toàn bộ tải trọng tác dụng (không kể đến sự làm việc của kết cấu phải gia cường).

9.3.5. Diện tích tiết diện ngang của kết cấu phải gia cường cần được xác định dựa trên sự giảm yếu thực tế của nó do bị ăn mòn. Cốt thép bằng sợi cường độ cao trong tính toán không kể đến khi bị ăn mòn thành vết hoặc ăn mòn bên trong, cũng như ăn mòn do ion Cl-.

9.3.6. Cường độ tiêu chuẩn và cường độ tính toán của các cấu kiện thép gia cường lấy theo quy định trong TCXDVN 338:2005.

Cường độ tiêu chuẩn và cường độ tính toán của bê tông và cốt thép của các kết cấu bê tông cốt thép phải gia cường và của các phần gia cường cần lấy theo chỉ dẫn trong phần 2 và theo 9.2.4 đến 9.2.12.

9.3.7. Khi thiết kế các kết cấu phải gia cường, về nguyên tắc, cần lưu ý để tải trọng trong quá trình gia cường không được vượt quá 65% tải trọng tính toán. Khi quá phức tạp, hoặc không thể giảm tải đến mức độ yêu cầu, cho phép tiến hành gia cường trong trạng thái kết cấu chịu tải trọng lớn hơn. Khi đó các đặc trưng tính toán của bê tông và cốt thép gia cường phải nhân với hệ số điều kiện làm việc của bê tông là ­br1­­ = 0,9 và của cốt thép là ­sr1­­ = 0,9.

Trong mọi trường hợp, mức độ giảm tải cho kết cấu phải gia cường phải được lựa chọn theo điều kiện đảm bảo an toàn cho quá trình tiến hành công việc gia cường.

9.3.8. Trong trường hợp, nếu khi gia cường kết cấu biến thành hệ siêu tĩnh, thì cần kể đến các yếu tố nêu trong 4.2.6.

9.3.9. Giá trị ứng suất trước ­sp và 'sp trong cốt thép gia cường S và S' cần được lấy theo 4.3.1 và 4.3.2.

Trong trường hợp này, các giá trị ứng suất trước lớn nhất của cốt thép ­sp và 'sp lấy không vượt quá 0,9Rs,ser đối với thép thanh và 0,7Rs,ser­ đối với thép sợi.

Giá trị nhỏ nhất của ứng suất trước trong cốt thép lấy không nhỏ hơn 0,49R­­s,ser.

9.3.10. Khi tính toán những cấu kiện phải gia cường bằng thép thanh ứng suất trước, hao tổn ứng suất cần được xác định theo 4.3.3 và 4.3.4.

Khi xác định hao tổn do biến dạng của neo đặt gần thiết bị căng, cần kể đến sự biến dạng do nén ép bệ căng. Khi không có số liệu thực nghiệm, lấy giá trị biến dạng đó bằng 4 mm.

9.3.11. Hệ số độ chính xác khi căng cần được xác định theo 4.3.5 bằng cách đưa vào hệ số bổ sung sp tùy thuộc vào đặc thù cấu tạo gia cường như sau:

- Đối với các thanh giằng ngang và thanh cốt thép chịu kéo: 0,85

- Đối với cốt thép đai và thanh kéo xiên: 0,75

9.3.12. Đối với các cấu kiện chịu uốn và nén lệch tâm được gia cường bằng bê tông và bê tông cốt thép, việc tính toán được thực hiện như đối với cấu kiện tiết diện đặc với điều kiện tuân theo các yêu cầu về tính toán và cấu tạo để đảm bảo sự làm việc đồng thời giữa bê tông cũ và bê tông mới. Khi đó những hư hỏng không thể khắc phục được và những khuyết tật của các cấu kiện phải gia cường (ăn mòn hay đứt cốt thép; ăn mòn; phân lớp và hư hỏng bê tông, v.v…) làm giảm khả năng chịu lực của những cấu kiện đó, cần được kể đến trong tính toán như trong tính toán kiểm tra kết cấu trước khi gia cường.

9.3.13. Khi trong các kết cấu được gia cường bằng bê tông hoặc bê tông cốt thép có bê tông cũng như cốt thép với các cấp độ bền khác nhau, thì giá trị cường độ tính toán của bê tông và cốt thép đưa vào tính toán theo độ bền với cường độ tính toán của chúng.

9.3.14. Đối với cấu kiện bê tông cốt thép được gia cường bằng bê tông, cốt thép và bê tông cốt thép, việc tính toán cần được thực hiện theo điều kiện bền đối với tiết diện thẳng góc với trục dọc cấu kiện, đối với tiết diện nghiêng và tiết diện không gian (trong trường hợp có mômen xoắn tác dụng), cũng như tính toán chịu tác dụng cục bộ của tải trọng (nén, nén thủng, giật đứt) theo những yêu cầu trong phần 6 và có kể đến sự có mặt các loại bê tông và cốt thép có cấp độ bền khác nhau trong cấu kiện phải gia cường.

9.3.15. Cần tính toán cấu kiện bê tông cốt thép được gia cường bằng bê tông, cốt thép hay bê tông cốt thép theo điều kiện hình thành, mở rộng và khép kín vết nứt; theo điều kiện biến dạng thỏa mãn những yêu cầu trong phần 7 và những yêu cầu bổ sung liên quan tới biến dạng và ứng suất trong cấu kiện bê tông cốt thép trước khi đưa phần gia cường vào làm việc, cũng như liên quan đến sự tồn tại bê tông và cốt thép có cấp độ bền khác nhau trong cấu kiện phải gia cường.

9.3.16. Việc tính toán cấu kiện bê tông cốt thép được gia cường bằng cốt thép ứng suất trước không bám dính được thực hiện theo các trạng thái giới hạn thứ nhất và thứ hai theo những yêu cầu trong phần 7, phần 8 và những yêu cầu bổ sung theo yêu cầu không bám dính giữa bê tông và cốt thép.

9.3.17. Kích thước nhỏ nhất của tiết diện cấu kiện được gia cường bằng bê tông và bê tông cốt thép cần được xác định trên cơ sở tính toán chịu các nội lực có kể đến các yêu cầu công nghệ và không nhỏ hơn các kích thước theo các yêu cầu trong phần 8 về sự phân bố cốt thép và chiều dày lớp bê tông.

9.3.18. Cấp độ bền chịu nén của bê tông gia cường cần lấy bằng cấp bê tông của kết cấu được gia cường và không nhỏ hơn B15 đối với kết cấu bên trên và B12,5 đối với móng.

9.3.19. Trong những trường hợp, khi việc gia cường được dự tính thực hiện sau khi giảm tải cho kết cấu phải gia cường, chỉ được chất tải lại khi bê tông gia cường đạt đủ cường độ thiết kế.

9.3.20. Khi gia cường bằng bê tông và bê tông cốt thép đổ tại chỗ cần có các giải pháp (làm sạch, tạo nhám bề mặt kết cấu được gia cường, v.v…) để đảm bảo cường độ của vùng nối (mối nối) và sự làm việc đồng thời giữa phần gia cường và kết cấu được gia cường.

9.3.21. Khi gia cường cục bộ chỉ theo chiều dài vùng hư hỏng, cần tiến hành gia cường thêm cả phần không hư hỏng tiếp giáp trong khoảng chiều dài không nhỏ hơn 500 mm và không nhỏ hơn:

- 5 lần chiều dày lớp bê tông gia cường;

- chiều dài neo cốt thép dọc gia cường;

- 2 lần kích thước lớn hơn của tiết diện cấu kiện được gia cường (đối với kết cấu dạng thanh).

9.3.22. Cho phép tiến hành gia cường cấu kiện sử dụng cốt thép không căng trong khi cấu kiện chịu tải trọng bằng cách hàn cốt thép gia cường vào cốt thép hiện có nếu như dưới tác dụng của tải trọng trong thời gian gia cường, phải đảm bảo độ bền của tiết diện cấu kiện được gia cường, không kể đến sự làm việc của các cốt thép gia cường. Liên kết hàn điểm cần được phân bố với khoảng cách không nhỏ hơn 20 d dọc theo thanh cốt thép.


Каталог: Download
Download -> Truyện Tiểu thuyết
Download -> TrưỜng thcs tiến dũng báo cáo tự ÐÁnh giá
Download -> I. Tìm hiểu chung
Download -> Nhiễm trùng đường tiểu là gì?
Download -> Sốt là gì? Sốt là khi thân nhiệt của con quý vị cao hơn bình thường. Thân nhiệt bình thường là khoảng 37º Celsius, nhưng nhiệt độ này có thể thay đổi trong ngày. Ở trẻ em, nhiệt độ trên 38ºC cho biết là có sốt
Download -> Đau bụng là gì? Đau bụng (đau dạ dày) xảy ra ở giữa phần cuối của xương sườn và khung xương chậu của quý vị. Khu vực này, nghĩa là bụng, chứa đựng nhiều bộ phận, bao gồm dạ dày, gan, lá lách
Download -> Giới thiệu sách mới tháng 10/2012
Download -> Chỉ thị Về công tác phòng, chống lụt, bão, thiên tai


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương