Tiêu chuẩn quốc gia tcvn 8641: 2011



tải về 370.74 Kb.
trang2/4
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích370.74 Kb.
1   2   3   4

3.8.1.1.2 Thời kỳ lúa phát triển: duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 4 cm đến 7 cm.Độ sâu lớp nước mặt ruộng khi lúa đã bén rễ từ 4 cm đến 5 cm và tăng dần đến mức cao nhất là 7 cm khi lúa bước vào giai đoạn trỗ bông ngậm sữa, chắc xanh.

3.8.1.1.3 Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 6 000 m3/ha đến 7 500 m3/ha.

3.8.1.2 Vụ hè thu

3.8.1.2.1 Thời kỳ từ lúc cấy đến bén rễ: duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 5 cm đến 6 cm.

3.8.1.2.2 Thời kỳ lúa phát triển: duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 6 cm đến 8 cm.Độ sâu lớp nước mặt ruộng khi lúa đã bén rễ từ 5 cm đến 6 cm và tăng dần đến mức cao nhất là 8 cm khi lúa bước vào giai đoạn trỗ bông ngậm sữa, chắc xanh.

3.8.1.2.3 Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 5 000 m3/ha đến 6 000 m3/ha.

3.8.1.3 Vụ thu đông

3.8.1.3.1 Thời kỳ từ lúc cấy đến bén rễ: duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 4 cm đến 5 cm.

3.8.1.3.2 Thời kỳ lúa phát triển: duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 5 cm đến 7 cm.Độ sâu lớp nước mặt ruộng khi lúa đã bén rễ từ 4 cm đến 5 cm và tăng dần đến mức cao nhất là 7 cm khi lúa bước vào giai đoạn từ trỗ bông đến ngậm sữa, chắc xanh.

3.8.1.3.3 Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 4 000 m3/ha đến 5 000 m3/ha.

3.8.2 Chế độ tưới tiêu nước cho lúa gieo sạ

3.8.2.1 Vụ đông xuân

3.8.2.1.1 Thời kỳ từ lúc gieo hạt đến khi lúa phát triển được 4 lá thật, chế độ tưới tiêu thực hiện theo quy định tại 3.6.3.1.

3.8.2.1.2 Thời kỳ lúa phát triển: duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 3 cm đến 8 cm.Cụ thể cho từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn từ 4 lá thật đến đứng cái: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 3 cm đến 6 cm;

- Giai đoạn từ đứng cái đến chín: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 6 cm đến 8 cm;

- Giai đoạn từ chín đến thu hoạch: tiêu cạn nước.



3.8.2.1.3 Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 7 500 m3/ha đến 8 000 m3/ha với mức tưới mỗi lần từ 300 m3/ha đến 350 m3/ha.

3.8.2.2 Vụ hè thu

3.8.2.2.1 Thời kỳ từ lúc gieo sạ đến khi lúa đã phát triển được 4 lá thật, chế độ tưới tiêu thực hiện theo quy định tại 3.6.3.1.

3.8.2.2.2 Thời kỳ lúa phát triển duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 3 cm đến 7 cm.Cụ thể cho từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn từ 4 lá thật đến đứng cái: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 3 cm đến 5 cm;

- Giai đoạn từ đứng cái đến chín: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 5 cm đến 7 cm;

- Giai đoạn từ chín đến thu hoạch: tiêu cạn nước.



3.8.2.2.3 Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 5 700 m3/ha đến 6 000 m3/ha với mức tưới mỗi lần từ 300 m3/ha đến 350 m3/ha.

3.8.2.3 Vụ mùa

3.8.2.3.1 Thời kỳ từ lúc gieo sạ đến khi lúa đã phát triển được 4 lá thật, chế độ tưới tiêu thực hiện theo các quy định tại 3.6.3.1.

3.8.2.3.2 Thời kỳ lúa phát triển duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 3 cm đến 10 cm.Cụ thể cho từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn từ 4 lá thật đến đứng cái: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 3 cm đến 6 cm;

- Giai đoạn từ đứng cái đến chín: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 6 cm đến 10 cm;

- Giai đoạn từ chín đến thu hoạch: tiêu cạn nước.



3.8.2.3.3 Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 4 500 m3/ha đến 5 500 m3/ha với mức tưới mỗi đợt từ 200 m3/ha đến 250 m3/ha.

3.8.2.4 Vụ thu đông

3.8.2.4.1 Thời kỳ từ lúc gieo sạ đến khi lúa đã phát triển được 4 lá thật, chế độ tưới tiêu thực hiện theo quy định tại 3.6.3.1.

3.8.2.4.2 Thời kỳ lúa phát triển: duy trì thường xuyên lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng từ 3 cm đến 6 cm.Cụ thể cho từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn từ 4 lá thật đến đứng cái: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 3 cm đến 5 cm;

- Giai đoạn từ đứng cái đến chín: tưới nông thường xuyên với lớp nước từ 5 cm đến 6 cm;

- Giai đoạn từ chín đến thu hoạch: tiêu cạn nước.



3.8.2.4.3 Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 4 500 m3/ha đến 5 500 m3/ha với mức tưới mỗi đợt từ 200 m3/ha đến 250 m3/ha.

3.9 Chế độ tưới tiêu nước cho lúa trong một số trường hợp đặc biệt

3.9.1 Chống rét cho lúa xuân

Giai đoạn từ cấy đến đẻ nhánh là giai đoạn cây lúa có sức chống chịu là yếu nhất.Khi nhiệt độ không khí xuống dưới 13 oC phải tưới nước ngay và giữ lớp nước trong ruộng từ 10 cm đến 20 cm nhưng không được ngập quá 2/3 cây lúa.Trong thời gian rét tuyệt đối không để cạn nước.Hết rét phải tiêu ngay chỉ để lại lớp nước trong ruộng từ 3 cm đến 7 cm.



3.9.2 Chống nóng cho lúa mùa

Tương tự như biện pháp chống rét cho lúa: trong giai đoạn từ cấy đến đẻ nhánh, khi nhiệt độ không khí lớn hơn 35 oC phải tưới ngay và duy trì lớp nước trong ruộng từ 10 cm đến 20 cm nhưng không được ngập quá 2/3 cây lúa, không để cạn nước.Hết nóng phải tiêu ngay và chỉ để lại lớp nước trong ruộng từ 3 cm đến 7 cm.



3.9.3 Chống hạn

3.9.3.1 Trường hợp thiếu nước tưới: tưới và giữ ẩm cho đất.Cố gắng điều phối và tìm nguồn nước tưới để duy trì được độ ẩm của đất lớn hơn 75 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.

3.9.3.2 Trường hợp có đủ nước: tưới nông từ 3 cm đến 7 cm.

3.9.4 Khi đang tưới gặp mưa

Khi xảy ra trường hợp đang chuẩn bị vào đợt tưới mới hoặc đang tiến hành tưới theo kế hoạch mà gặp mưa thì áp dụng mức tưới quy định ở bảng 3:



Bảng 3 - Quy định về mức tưới theo chế độ tưới thông thường khi gặp mưa

Tổng lượng mưa của trận

mm


Phương pháp tưới

< 10 mm

Tưới đủ mức tưới theo quy định

Từ 10 mm đến dưới 20 mm

Tưới 2/3 mức tưới quy định

Từ 20 mm đến dưới 30 mm

Tưới một nửa mức tưới quy định

Từ 30 mm đến dưới 40 mm

Coi như một lần tưới

3.9.5 Chống úng

3.9.5.1 Nước trong ruộng ngập 2/3 cây lúa cho phép ngập không quá 3 ngày.

3.9.5.2 Nếu lúa bị ngập trắng phải tìm mọi biện pháp tiêu nước ngay, cho phép để hở 1/3 cây lúa trong một ngày đêm, tiếp tục tiêu cho đến khi lớp nước trong ruộng chỉ từ 5 cm đến 10 cm.

3.9.5.3 Vận dụng triệt để phương châm “chôn nước - rải nước - tháo nước có kế hoạch” trong quá trình tiêu nước.

3.9.6 Chống sâu bệnh

3.9.6.1 Trước khi phun thuốc trừ sâu đục thân, cần tiêu cạn nước và duy trì độ ẩm của đất ruộng bằng 80 % đến 100 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.

3.9.6.2 Diệt rầy nâu: tưới ngập 2/3 cây lúa trong 7 ngày đến 10 ngày để diệt rầy nâu non, sau đó tiêu cạn đến độ sâu lớp nước theo quy định phù hợp với giai đoạn sinh trưởng của lúa.

3.9.7 Bón phân, làm cỏ

Khi làm cỏ sục bùn và bón thúc cần kết hợp tưới giữ lớp nước trong ruộng từ 0 cm đến 5 cm.



3.9.8 Tưới kết hợp lấy phù sa

3.9.8.1 Chỉ lấy phù sa vào ruộng khi có công trình lấy sa và điều kiện kỹ thuật cho phép.

3.9.8.2 Trước khi cấy, tranh thủ lấy nhiều đợt phù sa để cải tạo đất, mỗi lần lấy vào lớp nước từ 10 cm đến 15 cm, để lắng từ 4 ngày đến 5 ngày sau đó tiêu hết và lấy đợt khác.

3.9.8.3 Vào chính mùa mưa lũ không lấy phù sa, chỉ lấy phù sa kết hợp tưới lúa.

3.9.9 Chế độ tưới tiêu nước trên đất trũng hẩu giàu chất hữu cơ

3.9.9.1 Quy định chung

3.9.9.1.1 Khi lúa bắt đầu vào giai đoạn từ đẻ nhánh đến chín, cần áp dụng tưới nông có lộ ruộng và phơi ruộng theo quy trình kỹ thuật sau:

a) Lộ ruộng lần 1: khi lúa bắt đầu đẻ nhánh tiến hành tháo cạn nước và duy trì độ ẩm của đất không nhỏ hơn 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.Khi thấy mùn giun đùn thì tưới trở lại;

b) Lộ ruộng lần 2: khi lúa đẻ rộ tiến hành tháo cạn nước lần 2, mức độ lộ ruộng như lần 1;

c) Phơi ruộng: thực hiện vào lúc lúa đẻ nhánh tối đa (từ 400 dảnh/m2 đến 450 dảnh/m2), giữ độ ẩm của đất bằng 70 % đến 75 % độ ẩm tối đa đồng ruộng, duy trì đến khi xuất hiện vết nứt chân chim thì tưới trở lại.



3.9.9.1.2 Lượng nước tưới sau mỗi lần lộ ruộng hoặc phơi ruộng theo quy định tại 3.9.9.1.1:

- Lộ ruộng: 1 000 m3/ha;

- Phơi ruộng: từ 1 500 m3/ha đến 2 000 m3/ha;

3.9.9.2 Đối với lúa lai

3.9.9.2.1 Lộ ruộng lần 1: sau khi cấy từ 12 ngày đến 15 ngày lúa bắt đầu đẻ nhánh tiến hành tháo nước và để lộ ruộng lần 1, duy trì độ ẩm của đất không nhỏ hơn 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.Khi thấy mùn giun đùn thì tưới trở lại.

3.9.9.2.2 Lộ ruộng lần 2: tiến hành vào lúc lúa đẻ rộ, mức độ lộ ruộng như lần 1.

3.9.9.2.3 Khi lúa vào giai đoạn đẻ nhánh tối đa (từ 350 dảnh/m2 đến 400 dảnh/m2) tiến hành phơi ruộng.Kỹ thuật phơi ruộng thực hiện theo quy định tại khoản c của 3.9.9.1.1.

3.9.9.2.4 Lượng nước tưới sau mỗi lần lộ ruộng hoặc phơi ruộng quy định tại 3.9.9.1.2.

3.9.9.3 Đối với đất chua, mặn

3.9.9.3.1 Đối với đất chua mặn tuyệt đối không để ruộng cạn nước.Phải luôn giữ lớp nước từ 3 cm đến 7 cm trong suốt quá trình sinh trưởng.

3.9.9.3.2 Kỹ thuật thau chua, rửa mặn thực hiện theo theo quy định sau:

a) Lúa bắt đầu đẻ nhánh: làm cỏ sục bùn, sau đó để lắng từ 3 ngày đến 5 ngày rồi tiêu cạn và tưới ngay nước ngọt với mức tưới 700 m3/ha/lần;

b) Khi lúa đứng cái và trước khi trổ bông: thay nước cũ trong ruộng và tưới ngay nước ngọt với mức 700 m3/ha/lần.

4 Chế độ tưới tiêu nước cho cây ngô

4.1 Độ ẩm đất thích hợp cho sự phát triển của cây ngô

Độ ẩm đất thích hợp của cây ngô phụ thuộc vào các thời kỳ sinh trưởng của nó, dao động trong khoảng từ 60 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng:

- Thời kỳ từ 2 lá đến 4 lá: độ ẩm thích hợp từ 60 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Thời kỳ còn lại (từ 7 lá đến chín sữa): độ ẩm thích hợp từ 70 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.



4.2 Chế độ tưới tiêu theo các thời kỳ sinh trưởng

4.2.1 Làm đất trồng ngô: Khi làm đất trồng ngô nếu thấy đất quá khô và có độ ẩm dưới 60 % độ ẩm tối đa đồng ruộng cần cấp nước với mức tưới từ 150 m3/ha đến 200 m3/ha, để qua một ngày đêm cho nước ngấm hết mới tiến hành làm đất gieo hạt.

4.2.2 Thời kỳ từ nẩy mầm đến khi cây phát triển được từ 2 lá đến 4 lá: sau khi tỉa cây, xới xáo làm cỏ, bón thúc đợt 1 và tưới một đợt với mức từ 200 m3/ha đến 250 m3/ha.

4.2.3 Thời kỳ có từ 2 lá đến 4 lá tới thời kỳ có từ 7 lá đến 10 lá: sau khi bón thúc đợt 2, cây ngô sắp trổ cờ, tưới với mức từ 200 m3/ha/lần đến 250 m3/ha/lần.

4.2.4 Thời kỳ trổ cờ phun râu: sau khi bón nuôi bắp, tưới với mức từ 250 m3/ha/lần đến 300 m3/ha/lần.

4.2.5 Thời kỳ phát triển hạt: tưới với mức từ 250 m3/ha/lần đến 300 m3/ha/lần.

4.2.6 Trước thu hoạch 1 tuần: không cần tưới.

4.2.7 Tổng mức tưới cả vụ từ 2 000 m3/ha đến 2 500 m3/ha với số lần tưới từ 8 lần đến 10 lần, chu kỳ tưới từ 10 ngày đến 14 ngày.

CHÚ THÍCH: thời kỳ tưới quan trọng quyết định đến năng suất ngô là thời kỳ trổ cờ, phun râu, phát triển hạt.



4.3 Kỹ thuật tưới

Kỹ thuật tưới cho ngô chủ yếu là tưới rãnh, tưới giải hoặc tưới phun mưa.



4.4 Các trường hợp phải điều chỉnh chế độ tưới tiêu

4.4.1 Khi đang chuẩn bị vào đợt tưới mới hoặc đang tiến hành tưới theo kế hoạch mà gặp mưa thì điều chỉnh mức tưới như sau:

- Lượng mưa nhỏ hơn 10 mm: cần tưới đủ mức tưới;

- Lượng mưa từ 10 mm đến 20 mm: cần tưới bổ sung từ 1/2 mức tưới đến 1/3 mức tưới;

- Lượng mưa trên 20 mm: coi như một lần tưới.



4.4.2 Nếu đất bị hạn (khi độ ẩm của đất đạt từ 40 % độ ẩm tối đa đồng ruộng trở xuống) và nguồn nước cấp không đủ thì cần tập trung tưới vào các thời kỳ trổ cờ phun râu và phát triển hạt.

4.4.3 Sau mỗi lần tưới hoặc sau khi mưa to cần tiêu cạn nước trong rãnh, đặc biệt các thời kỳ cây con và thời kỳ trổ cờ phun râu.

5 Chế độ tưới tiêu nước cho cây lạc

5.1 Độ ẩm đất thích hợp cho sự phát triển của cây lạc

Độ ẩm đất thích hợp của cây lạc phụ thuộc vào các thời kỳ sinh trưởng của nó, dao động trong khoảng từ 60 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng:

- Nảy mầm: độ ẩm thích hợp từ 60 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Cây con: độ ẩm thích hợp từ 65 % đến 70 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Ra hoa, đâm tia, tạo quả (củ) ra hạt: độ ẩm thích hợp từ 75 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Quả già: nhu cầu nước giảm, độ ẩm thích hợp từ 65 % đến 70 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.



5.2 Chế độ tưới tiêu theo các thời kỳ sinh trưởng

5.2.1 Khi làm đất gieo hạt nếu thấy đất quá khô và có độ ẩm dưới 60 % độ ẩm tối đa đồng ruộng cần cấp nước tưới với mức tưới từ 150 m3/ha đến 200 m3/ha, để qua một ngày đêm cho nước ngấm hết mới được gieo hạt.

5.2.2 Thời kỳ từ lúc nẩy mầm đến 2 lá thật: nếu độ ẩm đất nhỏ hơn 60 % độ ẩm tối đa đồng ruộng cần tưới với mức từ 200 m3/ha/lần đến 250 m3/ha/lần.

5.2.3 Thời kỳ có 2 lá thật đến trước khi ra hoa từ 10 ngày đến 12 ngày: tưới với mức 200 m3/ha/lần đến 250 m3/ha/lần.

5.2.4 Thời kỳ ra hoa, đâm tia tạo quả non ra hạt: tưới với mức từ 200 m3/ha/lần đến 250 m3/ha/lần.

5.2.5 Thời kỳ quả già: tưới với mức 200 m3/ha/lần.

5.2.6 Trước thu hoạch 1 tuần: không cần tưới.

5.2.7 Tổng mức tưới cả vụ trung bình 2 000 m3/ha; chu kỳ gữa hai lần tưới từ 10 ngày đến 15 ngày.

CHÚ THÍCH: Thời kỳ tưới quan trọng quyết định đến năng suất lạc là thời kỳ ra hoa, đâm tia, tạo quả ra hạt.



5.3 Kỹ thuật tưới

Kỹ thuật tưới cho lạc phổ biến là tưới rãnh hoặc tưới phun mưa.



5.4 Các trường hợp phải điều chỉnh chế độ tưới tiêu

5.4.1 Khi đang chuẩn bị vào đợt tưới mới hoặc đang tiến hành tưới theo kế hoạch mà gặp mưa thì điều chỉnh mức tưới theo quy định tại 4.4.1

5.4.2 Nếu đất bị hạn cần tập trung nước tưới vào các thời kỳ cây con, tạo quả ra hạt.

5.4.3 Sau mỗi lần tưới hoặc sau khi mưa to cần tiêu cạn nước trong rãnh, đặc biệt các thời kỳ cây con, tạo quả và ra hạt.

6 Chế độ tưới tiêu nước cho cây đậu tương

6.1 Độ ẩm đất thích hợp cho sự phát triển của cây đậu tương

Độ ẩm đất thích hợp đối với cây đậu tương phụ thuộc vào các thời kỳ sinh trưởng của nó, dao động trong khoảng từ 65 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng:

- Nảy mầm và mọc: độ ẩm thích hợp từ 65 % đến 75 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Cây con (có lứa hoa đầu tiên): độ ẩm thích hợp từ 60 % đến 65 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Ra hoa, tạo quả non và hình thành quả: độ ẩm thích hợp từ 70 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Quả chín: nhu cầu nước giảm, độ ẩm thích hợp từ 60 % đến 65 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.



6.2 Chế độ tưới tiêu theo các thời kỳ sinh trưởng

6.2.1 Khi làm đất gieo hạt nếu thấy đất quá khô và có độ ẩm dưới 65 % độ ẩm tối đa đồng ruộng cần cấp nước tưới với mức tưới từ 150 m3/ha đến 200 m3/ha, để qua một ngày đêm cho nước ngấm hết mới được gieo hạt.

6.2.2 Thời kỳ từ lúc nảy mầm đến lứa hoa đầu tiên (cây con): nếu độ ẩm nhỏ hơn 55 % độ ẩm tối đa đồng ruộng, tưới với mức tưới từ 200 m3/ha/lần đến 250 m3/ha/lần.

6.2.3 Thời kỳ ra hoa tạo quả non: trước khi ra hoa từ 10 ngày đến 12 ngày và khi ra hoa rộ, tưới với mức từ 200 m3/ha/lần đến 250 m3/ha/lần.

6.2.4 Thời kỳ hình thành quả: tưới với mức từ 250 m3/ha/lần đến 300 m3/ha/lần.

6.2.5 Thời kỳ quả chín: tưới với mức 200 m3/ha/lần.

6.2.6 Thu hoạch quả tươi: tưới nước đến trước lúc thu hoạch.

6.2.7 Thu hoạch quả khô: ngừng cấp nước tưới từ 20 ngày đến 25 ngày trước khi thu hoạch.

6.2.8 Tổng mức tưới cả vụ trung bình 2 000 m3/ha, chu kỳ gữa hai lần tưới là 15 ngày.

CHÚ THÍCH: thời kỳ tưới quyết định đến năng suất là thời kỳ đậu tương ra hoa tạo quả non và thời kỳ hình thành quả.



6.3 Kỹ thuật tưới

Kỹ thuật tưới cho đậu tương phổ biến là tưới rãnh hoặc tưới phun mưa.



6.4 Các trường hợp phải điều chỉnh chế độ tưới tiêu

6.4.1 Khi đang chuẩn bị vào đợt tưới mới hoặc đang tiến hành tưới theo kế hoạch mà gặp mưa thì điều chỉnh mức tưới theo quy định tại 4.4.1.

6.4.2 Cần chuẩn bị đủ nguồn nước để tập trung tưới chống hạn khi đất bị hạn trong các giai đoạn sinh trưởng sau:

- Vụ xuân thường xảy ra hạn vào thời kỳ gieo hạt và thời kỳ cây con;

- Vụ đông thường xảy ra hạn vào thời kỳ ra hoa tạo quả.

6.4.3 Sau mỗi lần tưới hoặc sau khi mưa to cần tiêu cạn nước trong rãnh, đặc biệt các thời kỳ cây con tạo quả và ra hoa tạo quả phát triển hạt.Mùa mưa (vụ hè ở miền Bắc, vụ thu và vụ đông ở miền Nam), cần chú ý tiêu thoát nước, không để ngập lâu.

7 Chế độ tưới tiêu nước cho cây khoai tây

7.1 Độ ẩm đất thích hợp cho sự phát triển của khoai tây

Độ ẩm đất thích hợp đối với cây khoai tây phụ thuộc vào các thời kỳ sinh trưởng của nó, dao động trong khoảng từ 70 % đến 85 % độ ẩm tối đa đồng ruộng:

- Cây con (sau khi mọc từ 12 ngày đến 15 ngày): độ ẩm thích hợp bằng 70 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Hình thành các tia củ: độ ẩm thích hợp bằng 70 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Củ phình to (thân lá phát triển): độ ẩm thích hợp từ 75 % đến 85 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Tích lũy dưỡng chất vào củ (thân lá ngừng phát triển): độ ẩm thích hợp từ 75 % đến 85 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.



7.2 Chế độ tưới tiêu theo các thời kỳ sinh trưởng

7.2.1 Khi làm đất trồng khoai tây nếu thấy đất quá khô và có độ ẩm dưới 70 % độ ẩm tối đa đồng ruộng cần cấp nước tưới với mức tưới từ 150 m3/ha đến 200 m3/ha, để qua một ngày đêm cho nước ngấm hết mới được gieo trồng.

7.2.2 Giai đoạn cây con: tưới với mức từ 250 m3/ha/lần đến 300 m3/ha/lần.

7.2.3 Giai đoạn hình thành các tia củ: tưới với mức từ 300 m3/ha/lần đến 400 m3/ha/lần.

7.2.4 Giai đoạn củ phình to và tích lũy dưỡng chất: tưới với mức từ 300 m3/ha/lần đến 400 m3/ha/lần.

7.2.5 Trước thu hoạch từ 15 ngày đến 20 ngày, không cần tưới.Nếu có mưa to cần khẩn trương tiêu cạn nước trong rãnh.

7.2.6 Quy định về mức tưới và tổng lượng nước tưới như sau:

a) Mức tưới mỗi lần:

- Đất pha cát, mức từ 200 m3/ha đến 300 m3/ha;

- Đất thịt: mức tưới từ 300 m3/ha đến 400 m3/ha;

b) Tổng mức tưới cả vụ trung bình từ 1 200 m3/ha đến 2 000 m3/ha với số lần tưới từ 3 lần đến 5 lần.

Chu kỳ tưới gữa hai lần tưới từ 15 ngày đến 20 ngày;

c) Nên kết hợp tưới cùng với những đợt bón thúc phân vô cơ.

CHÚ THÍCH: thời kỳ tưới quyết định đến năng suất khoai tây là thời kỳ hình thành tia củ, củ phình to và thời kỳ tích lũy dưỡng chất.



7.3 Kỹ thuật tưới

Kỹ thuật tưới cho khoai tây phổ biến là tưới rãnh hoặc tưới phun mưa.



7.4 Các trường hợp phải điều chỉnh chế độ tưới tiêu

7.4.1 Khi đang chuẩn bị vào đợt tưới mới hoặc đang tiến hành tưới theo kế hoạch mà gặp mưa thì điều chỉnh mức tưới theo quy định tại 4.4.1.

7.4.2 Khi gặp thời tiết nồm, cường độ ánh sáng yếu, độ ẩm không khí cao hoặc khi khoai tây bị bệnh mốc sương thì không cần tưới.

7.4.3 Nếu đất bị hạn cần tập trung tưới vào các thời kỳ củ phình to và tích lũy dưỡng chất.

7.4.4 Sau mỗi lần tưới hoặc sau khi mưa to cần khẩn trương tiêu cạn nước trong rãnh không để quá một ngày đêm, đặc biệt các thời kỳ củ phình to và tích lũy dưỡng chất.

8 Chế độ tưới tiêu nước cho cây khoai lang

8.1 Độ ẩm đất thích hợp cho sự phát triển của khoai lang

Độ ẩm đất thích hợp đối với cây khoai lang phụ thuộc vào các thời kỳ sinh trưởng của nó, dao động trong khoảng từ 60 % đến 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng:

- Đặt hom bén rễ đến hồi xanh: độ ẩm thích hợp từ 65 % đến 75 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Hồi xanh đến đâm tia thành củ: độ ẩm thích hợp từ 65 % đến 75 % độ ẩm tối đa đồng ruộng;

- Phát triển củ (củ phình to và tích lũy dưỡng chất): độ ẩm thích hợp từ 70 % đến 75 % độ ẩm tối đa đồng ruộng.

8.2 Chế độ tưới tiêu theo các thời kỳ sinh trưởng

8.2.1 Làm đất đặt hom: nếu đất quá khô có độ ẩm dưới 65 % độ ẩm tối đa đồng ruộng, cần tưới với mức từ 150 m3/ha đến 200 m3/ha, để qua một ngày đêm cho nước ngấm hết rồi mới tiến hành làm đất đặt hom khoai.

8.2.2 Thời kỳ từ đặt hom đến bén rễ hồi xanh: cần tưới nước để khoai bén rễ phục hồi nhanh với mức tưới mỗi lần từ 200 m3/ha đến 300 m3/ha.

8.2.3 Thời kỳ từ hồi xanh đến đâm tia thành củ (sau khi trồng từ 30 ngày đến 40 ngày): bón thúc vun luống cao, kết hợp đưa nước vào rãnh.Mức tưới mỗi lần từ 200 m3/ha đến 300 m3/ha.

8.2.4 Thời kỳ củ phình to và tích lũy dưỡng chất (sau khi trồng từ 40 ngày đến 50 ngày): cần tưới một lần với mức từ 200 m3/ha đến 300 m3/ha.

8.2.5 Trước thu hoạch từ 15 ngày đến 20 ngày: không cần tưới, nếu có mưa to cần khẩn trương tiêu cạn nước trong rãnh.

8.2.6 Tổng mức tưới toàn vụ từ 1 200 m3/ha đến 1 400 m3/ha với số lần tưới từ 3 lần đến 4 lần.

CHÚ THÍCH: Thời kỳ tưới quyết định đến năng suất là thời kỳ hình thành tia củ, củ phình to và tích lũy dưỡng chất.



8.3 Kỹ thuật tưới

Kỹ thuật tưới cho khoai lang phổ biến là tưới rãnh.



8.4 Các trường hợp phải điều chỉnh chế độ tưới tiêu

8.4.1 Khi đang chuẩn bị vào đợt tưới mới hoặc đang tiến hành tưới theo kế hoạch mà gặp mưa thì điều chỉnh mức tưới theo quy định tại 4.4.1.

8.4.2 Khi xuất hiện trận mưa có tổng lượng từ 20 mm trở lên cần kịp thời tiêu ngay, không được để đọng nước trong rãnh quá một ngày đêm.

8.4.3 Cần chuẩn bị nguồn nước để phòng khi xảy ra hạn sẽ tập trung tưới vào các thời kỳ củ phình to và thời kỳ tích lũy dưỡng chất.

8.4.4 Không được tưới trong quá trình phun thuốc trừ sâu.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương