Tài liệu hưỚng dẫn vận hành hệ thống thông tin đIỆn tử TỔng hợp kt-xh trêN ĐỊa bàn tỉnh an giang


Giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 1994



tải về 307.57 Kb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu30.11.2017
Kích307.57 Kb.
#3402
1   2   3   4   5

2. Giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 1994.

  • - Các nội dung như đã trình bày ở chỉ tiêu 1.

    - Giá so sánh là giá thực tế của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của một năm nào đó được chọn làm gốc so sánh. Hiện nay qui định giá so sánh là giá thực tế năm 1994.
    3. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP)

    3.1. Khái niệm.

    Tổng sản phẩm thực hiện trên địa bàn (GDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định .

    Tổng sản phẩm thực hiện trên địa bàn theo giá thực tế dùng để nghiên cứu cơ cấu kinh tế, mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong sản xuất, mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần huy động vào ngân sách.

    3.2. Phương pháp tính.

    Có ba phương pháp tính:



    a. Phương pháp sản xuất:

    GDP bằng tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, dưới dạng công thức, GDP được biểu thị như sau:

    Tổng giá trị tăng Thuế nhập

    GDP = thêm của tất cả các + khẩu hàng hoá

    ngành kinh tế và dịch vụ


    * Giá trị tăng thêm - VA

    Là phần giá trị do các ngành, loại hình kinh tế mới sáng tạo ra trong năm. Giá trị tăng thêm bao gồm các yếu tố: thu của người lao động, thu nhập hỗn hợp từ sản xuất, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định và giá trị thặng dư.



    - Thu của người lao động:

    +Tiền lương, tiền công

    + BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn

    + Thu nhập khác (phụ cấp hội nghị, tiền trả cho báo cáo viên, tiền hưu trí và phụ cấp đi đương khi đi công tác…)



    - Thu nhập hỗn hợp

    Chỉ tính cho khối kinh tế cá thể, do không phân biệt được đâu là "Tiền lương" "Tiền công" của chủ hộ của lao động thành viên của gia đình và đâu là thặng dư sản xuất.

    - Thuế sản xuất

    + Thuế VAT hàng bán nội địa phải nộp

    + Thuế tiêu thụ đặc biệt phát sinh phải nộp

    + Thuế xuất khẩu phát sinh phải nộp

    + Thuế sản xuất khác

    + Thuế tài nguyên

    + Thuế sử dụng đất nông nghiệp

    + Thuế môn bài

    + Các lệ phí coi như thuế sản xuất (lệ phí Nhà nước liên quan đến sản xuất kinh doanh ban hành theo pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH10)

    - Khấu hao tài sản cố định

    - Giá trị thặng dư:

    + Lợi tức thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh

    + Lãi trả tiền vay Ngân hàng

    + Chi mua bảo hiểm tai nạn rủi ro



    * Thuế nhập khẩu hàng hoá và dch vụ là tổng số thuế nhập khẩu nộp cho Nhà nước. Riêng phần thuế nhập khẩu tiểu ngạch qui ước lấy số liệu ở Cục Hải quan tỉnh.

    1. Phương pháp thu nhập.

    GDP bằng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc thiết bị. theo phương pháp này GDP gồm 4 yếu tố: Thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật), thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất và thặng dư sản xuất.

    c. Phương pháp sử dụng cuối cùng.

    GDP bằng tổng của 3 yếu tố: Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và Nhà nước; Tích luỹ tài sản (cố định, lưu động và quí hiếm) và chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.


    3.3. Tổ chức thực hiện.

    3.3.1. Kỳ báo cáo. Năm. Thời gian báo cáo 15/8 năm sau.

    3.3.2. Qui trình tổng hợp. Như giải thích phần 1.3.2.

    3.3.3. Cơ quan báo cáo: Cục Thống kê tỉnh.
    4. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) theo giá so sánh 1994.

    - Các mục như giải thích ở chỉ tiêu 3

    - Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) theo giá so sánh đã loại trừ biến động của yếu tố giá cả qua các năm, dùng đẻ tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hoá và dịch vụ sản xuất.

    5. Tốc độ tăng GDP (theo giá so sánh 1994).

    Là chỉ tiêu tương đối phản ánh nhịp độ tăng/ giảm GDP qua thời gian và biểu hiện bằng số lần hoặc số phần trăm (%). Tốc độ tăng/ giảm được tính bằng cách so sánh lượng tăng/ giảm tuyệt đối giữa năm báo cáo và năm trước.


    6. Cơ cấu GDP theo giá thực tế.

    Là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ (%) của giá trị tăng thêm các khu vực, ngành kinh tế trong GDP của năm hoặc thời kỳ cần nghiên cứu.


    7. Thu ngân sách nhà nước.

    7.1. Khái niệm.

    Thu ngân sách Nhà nước là toàn bộ các nguồn thu vào ngân sách Nhà nước từ các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tư vấn dân cư trong nước và nguồn thu tư nước ngoài, bao gồm các các khoản: Thu từ thuế, phí, lệ phí; thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; thu viện trợ của nước ngoài và các khoản thu khác.



    7.2. Nguồn thông tin.

    Báo cáo quyết toán của Sở Tài chính theo mẫu số 2/QTNS: quyết toán tổng hợp thu ngân sách Nhà nước năm …



    7.3. Tổ chức thực hiện.

    - Kỳ báo cáo: năm.

    - Thời gian gửi báo cáo: 15 tháng 8 năm sau

    - Quy trình tổng hợp: Tổng hợp thông tin từ báo cáo quyết toán ngân sách các huyện, thị xã, thành phố; Cục hải quan; Cục Thuế…

    - Cơ quan báo cáo: Sở Tài chính
    8. Chi ngân sách Nhà nước.

    8.1. Khái niệm.

    Chi ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, dân cư trong nước và ngoài nước bao gồm các khoản: Chi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ nước ngoài, các khoản chi khác.



    8.2. Nguồn thông tin.

    Mẫu số 3/QTNS: Quyết toán tổng hợp chi ngân sách năm …



    8.3. Tổ chức thực hiện.

    Như giải thích mục 7.3 của chỉ tiêu 7


    9. Số dư tiền gửi tiết kiệm.

    9.1. Khái niệm.

    Là số tiền gửi tiết kiệm có tại ngân hàng tại một thời điểm nhất định của các loại hình kinh tế.



    9.2. Phương pháp tính, nguồn thông tin.

    1. - Phương pháp tính. Lấy số dư tiết kiệm tại thời điểm báo cáo.

    - Nguồn thông tin: lấy số liệu trong chế độ báo cáo thông kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    9.3. Tổ chức thực hiện.

    1. - Kỳ báo cáo: Năm

    2. - Thời gian báo cáo 30/1 năm sau.

    - Quy trình tổng hợp: Tổng hợp thông tin từ các ngân hàng chuyên doanh; ngân hàng chính sách; các tổ chức, quỹ tín dụng.

    - Cơ quan báo cáo Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh.


    10. Cho vay tín dụng trung hạn và dài hạn.

    10.1. Khái niệm.

    Cho vay tín dụng trung hạn và dài hạn là cho vay có thời hạn trên 1 năm. Nó thường được sử dụng để phát triển quá trình tái sản xuất theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu và kết quả là tăng mức sản xuất và của cải xã hội. Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu tư thường là dự tính nên loại cho vay này chứa đựng mức rủi ro cao; kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Do mức rủi ro nên lãi xuất tăng lên cùng với thời hạn cho vay.

    Cho vay tín dụng trung hạn và dài hạn được phân theo:


    1. - Loại hình kinh tế:

    + Nhà nước: bao gồm doanh nghiệp Nhà nước trung ương, địa phương; Công ty Cổ phần có trên 50% vốn Nhà nước.

    + Tập thể: bao gồm các hợp tác xã thuộc các ngành kinh tế.

    + Cá thể: bao gồm các cơ sở sản suất cá thể thuộc các ngành kinh tế.

    + Tư nhân: bao gồm các Công ty cổ phần có vốn Nhà nước <50%, Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân.

    - Phân theo khu vực kinh tế: như giải thích chỉ tiêu 1.

    10.2. Nguồn thông tin.

    Tổng hợp từ biểu A02, A05, A06 báo cáo doanh số cho vay, thu nợ dư nợ tín dụng phân theo ngành kinh tế trong chế độ báo cáo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.



    10.3. Tổ chức thực hiện.

    1. - Kỳ báo cáo: năm

    - Thời gian báo cáo: 30/6 năm sau.

    - Qui trình tổng hợp: Tổng hợp thông tin từ báo cáo của các ngân hàng chuyên doanh, ngân hàng chính sách và các tổ chức, chi nhánh quỹ tín dụng.

    - Cơ quan báo cáo: Chi nhánh ngân hàng Nhà nước Thanh Hoá
    11. Thu nợ tín dụng trung và dài hạn.

    11.1. Khái niệm.

    Là số tiền ngân hàng thu được từ cho vay trung và dàI hạn.



    11.2, 11.3. Như phần giải thích chỉ tiêu 10.
    12. Dư nợ tín dụng ngắn hạn.

    12.1. Khái niệm

    Dư nợ tín dụng ngắn hạn là dư nợ tại một thời điểm các khoản cho vay mà thời hạn không quá 12 tháng đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo nhu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân.


    12.2, 12.3. Như phần giải thích của chỉ tiêu 10.
    13. Dư nợ tín dụng trung và dài hạn.

    13.1. Khái niệm.

    Dư nợ tín dụng trung và dài hạn là số dư nợ tại một thời điểm nhất định các khoản cho vay trung và dài hạn.



    13.2, 13.3: như giải thích của chỉ tiêu 10
    III - nông, lâm nghiệp, thuỷ sản.

    1. Nông nghiệp

    a. Khái niệm, phương pháp tính, nguồn thông tin:

    1.1 và 1.2 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp phản ánh tổng hợp kết quả sản xuất trực tiếp, hữu ích của ngành nông nghiệp trong một thời gian nhất định thường là một năm.

    Giá trị sản xuất nông nghiệp bao gồm kết quả hoạt động của các ngành cấp 3 sau đây:

    - Giá trị sản xuất ngành trồng trọt.

    - Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi.

    - Giá trị các hoạt động dịch vụ sản xuất nông nghiệp.

    - Giá trị săn bắt, đánh bẩy, thuần dưỡng thú và các loại dịch vụ có liên quan.

    Giá trị sản xuất nông nghiệp được tính bằng cách lấy sản lượng sản phẩm từng loại nhân với đơn giá từng loại sản phẩm đó rồi cộng chung toàn bộ giá trị của các loại sản phẩm. Đối với sản phẩm phụ cả trồng trọt và chăn nuôi chỉ tính các sản phẩm có thu hoạch và sử dụng. Giá trị sản xuất nông nghiệp được tính bằng hai giá: Giá cố định và giá thực tế.

    1.3. Hộ nông nghiệp, nông thôn:

    - Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn các thành viên trong hộ thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ thuỷ nông, cày bừa...) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào kết quả sản xuất nông nghiệp. Hộ nông thôn là những hộ đang sống tại nông thôn, không kể hộ đó làm nghề gì.

    - Hộ lâm nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn các thành viên trong hộ thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất lâm nghiệp (trồng rừng, nuôi dưỡng, chăm sóc rừng, khai thác lâm sản và các dịch vụ
    lâm nghiệp khác) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào kết quả sản xuất lâm nghiệp.

    - Hộ thuỷ sản là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn các thành viên trong hộ thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất thuỷ sản (nuôi trồng, đánh bắt, dịch vụ thuỷ sản) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào kết quả sản xuất thuỷ sản.

    - Hộ phi nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn các thành viên trong hộ không tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào sản xuất nông nghiệp như các hộ công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương nghiệp, vận tải...

    1.4. Lao động nông nghiệp, nông thôn:

    - Lao động nông nghiệp là những lao động dành toàn bộ thời gian hoặc phần lớn thời gian lao động trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất nông nghiệp.

    - Lao động lâm nghiệp là những lao động dành toàn bộ thời gian hoặc phần lớn thời gian lao động trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất lâm nghiệp.

    - Lao động thuỷ sản là những lao động dành toàn bộ thời gian hoặc phần lớn thời gian lao động trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất thuỷ sản.



    1.5. Trang trại

    Một hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt các tiêu chuẩn theo quy định của thông tư liên bộ số: 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23 /6/2000 và thông tư số 62/2003 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê, phải đạt được hai tiêu chí định lượng sau đây:



    Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm:

    Từ 40 triệu đồng trở lên và qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế, cụ thể.



    a. Đối với trang trại trồng trọt:

    - Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên.

    - Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên.

    - Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên.



    b. Đối với trang trại chăn nuôi:

    - Chăn nuôi đại gia súc : trâu, bò, v.v...

    + Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có từ 10 con trở lên.

    + Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.

    - Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, v.v ...

    + Chăn nuôi sinh sản: Đối với lợn có thường xuyên từ 20 con trở lên, đối với dê từ 100 con trở lên.

    + Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên. Dê thịt từ 200 con trở lên.

    - Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v... có thường xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi).



    1. Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:

    Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).

    Ghi chú:

    - Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)



    - Đối với hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, nếu tiêu chí về quy mô đạt tiêu chuẩn qui định, vẫn xác định là trang trại.

    1.6. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm.

    Diện tích gieo trồng cây hàng năm là diện tích thực tế có gieo trồng các loại cây hàng năm còn sống đến thời điểm điều tra của tất cả các loại hình kinh tế trên địa bàn ở từng vụ sản xuất (vụ đông, vụ chiêm xuân, vụ thu mùa).

    Cây hàng năm là những loại cây trồng từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch sản phẩm không quá một năm (12 tháng).

    Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm được tính bằng cách cộng từng loại cây trong từng nhóm cây lại, sau đó cộng các nhóm cây sẽ được tổng diện tích gieo trồng. Hiện nay cây hàng năm được chia thành 5 nhóm cây gồm: Nhóm cây lương thực có hạt, nhóm cây chất bột, nhóm cây rau đậu các loại, nhóm cây công nghiệp hàng năm, nhóm cây hàng năm khác. Tài liệu dùng để tổng hợp lấy từ kết quả các cuộc điều tra diện tích của từng vụ sản xuất.

    Diện tích gieo trồng được tính bao gồm các hình thức gieo trồng:

    - Trồng trần tức là trên một diện tích chỉ trồng một loại cây trồng, trồng được bao nhiêu tính bấy nhiêu.

    - Trồng xen tức trên một diện tích được trồng từ hai loại cây trồng trở lên cùng song song tồn tại, trong đó cây trồng chính có mật độ trồng bình thường (hoặc thấp hơn mật độ bình thường) các cây trồng xen nhằm tiết kiệm diện tích nên thường mật độ cây trồng thưa hơn so với khi trồng trần, diện tích gieo trồng được tính bằng cách dựa vào tỷ lệ giống thực tế đã gieo trồng để quy ra diện tích cho từng loại cây. Thường trên một đơn vị diện tích nhưng khi thực hiện trồng xen thì diện tích gieo trồng cao hơn diện tích khi trồng trần.

    - Trồng gối vụ là trên cùng một diện tích nhưng khi cây trồng trước chuẩn bị thu hoạch để đảm bảo thời vụ, người ta trồng tiếp cây trồng sau với mật độ bình thường như khi trồng trần, việc xác định diện tích như khi trồng trần.

    - Trồng lưu gốc là các loại cây trồng có tính đặc thù trồng một lần nhưng cho thu hoạch nhiều lần như mía, cói, rau muống... những loại này mỗi vụ sản xuất được tính một lần diện tích không kể trong vụ thu hoạch bao nhiêu lần.

    Nguyên tắc tính diện tích là không tính bờ vùng, bờ thửa.



    1.7, 1.8. Năng suất, sản lượng các loại cây trồng hàng năm

    Sản lượng cây trồng: Là tổng sản phẩm chính được tạo ra trên diện tích gieo trồng của mỗi loại cây trồng trong từng vụ sản xuất và cả năm.

    Năng suất cây trồng: Là sản phẩm chính của từng loại cây trồng, bình quân trên một đơn vị diện tích của từng vụ sản xuất.

    Tuỳ theo yêu cầu nghiên cứu, năng suất cây trồng được tính theo 4 loại gồm: Năng suất tại gốc, năng suất nhập kho, năng suất gieo trồng và năng suất thu hoạch.

    Hiện nay đang sử dụng phương pháp tính năng suất nhập kho: Là số sản phẩm thực tế đã thu hoạch, vận chuyển, ra hạt, phơi khô, làm sạch nhập vào kho.

    Nguồn tài liệu dùng để tính năng suất là kết quả điều tra mẫu từ các hộ đại diện. Phương pháp tính năng suất căn cứ vào tài liệu điều tra từ các đơn vị đại diện (hộ, xã) để tổng hợp và suy rộng cho từng đơn vị huyện.



    b. Tổ chức thực hiện:

    - Kỳ báo cáo: năm. Thời gian gửi báo cáo: 20/2 năm sau.

    - Cơ quan báo cáo: Cục Thống kê, UBND các huyện, thị xã, thành phố.
    2. Chăn nuôi

    a. Khái niệm, phương pháp tính, nguồn thông tin.

    Số lượng trâu, bò: Là tổng số trâu, bò hiện có đến thời điểm điều tra (quy định là ngày 1/4 và 1/8 hàng năm) kể cả bê, nghé mới sinh được 24 giờ.

    Số lượng đàn lợn: Bao gồm lợn thịt, nái, đực giống, không bao gồm lợn sữa (lợn con dưới hai tháng tuổi).

    Số lượng gia cầm gà, vịt, ngan, ngỗng hiện có đến thời điểm điều tra (1/4, 1/8) đối với gà chỉ tính những con đã tách mẹ, với ngan ngỗng chỉ tính những con đã thuộc thóc.

    Sản lượng sản phẩm chăn nuôi là trọng lượng của những con đã bán, giết thịt, và trọng lượng của những con tăng thuần tuý (năm báo cáo trừ đi năm trước đó) trong năm. Tài liệu để tính lấy từ kết quả điều tra chăn nuôi mồng 1 tháng 8 hàng năm. Phương pháp tính đối với trâu, bò, lợn kiểm kê trực tiếp sau đó cộng các đơn vị lại, đối với gia cầm và sản phẩm chăn nuôi thì điều tra mẫu để suy rộng cho từng vùng, huyện.

    b. Tổ chức thực hiện.

    - Kỳ báo cáo: 1/4, 1/8.

    - Cơ quan báo cáo: Cục Thống kê, UBND các huyện, thị xã, thành phố.
    3. Lâm nghiệp

    a. Khái niệm, phương pháp tính, nguồn thông tin.

    3.1. Giá trị sản xuất lâm nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh do ngành lâm nghiệp sáng tạo ra trong một thời gian nhất định.

    Nội dung giá trị lâm nghiệp bao gồm:

    - Giá trị công việc trồng mới, nuôi dưỡng rừng, bao gồm cả việc chăm sóc, tu bổ, cải tạo rừng tự nhiên, rừng trồng.

    - Giá trị khai thác gỗ, bao gồm cả sơ chế và vận chuyển ra bãi 2.

    - Giá trị lâm sản và nguyên liệu thu nhặt được từ rừng như cánh kiến, nhựa cây các loại, quả có dầu...

    - Giá trị các hoạt động dịch vụ lâm nghiệp bao gồm bảo vệ rừng, đánh giá ước lượng cây trồng, sản lượng gỗ; quản lý lâm nghiệp, phòng cháy, chữa cháy; ươm nuôi cay giống, bảo vệ thực vật, động vật hoang dã.

    - Phương pháp tính và nguồn số liệu

    Phương pháp tính: Lấy đơn giá nhân với khối lượng của từng loại sản phẩm sản xuất ra trong năm, sau đó cộng giá trị của từng loại lại.

    Nguồn số liệu được lấy từ các cuộc điều tra chuyên môn, và báo cáo của các đơn vị quốc doanh có hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn.

    Giá trị sản xuất lâm nghiệp được tính theo hai loại giá: Giá cố định và giá thực tế.



    b. Tổ chức thực hiện.

    - Kỳ báo cáo: năm. Ngày gửi báo cáo: 10/2 năm sau

    - Cơ quan báo cáo: Cục Thống kê, UBND các huyện, thị xã, thành phố.

    4. Thuỷ sản

    4.1. Khái niệm, phương pháp tính, nguồn thông tin.

    a. Giá trị ngành thuỷ sản là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà ngành thuỷ sản tạo ra trong một thời gian nhất định.

    Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản bao gồm:

    - Giá trị thuỷ sản khai thác, đánh bắt ở biển, sông, hồ, ao đầm.

    - Giá trị sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng.

    - Giá trị sơ chế thuỷ sản ướp muối, ướp lạnh, phơi khô.

    - Giá trị các công việc ươm, nhân giống thuỷ sản.

    - Chênh lệch về sản phẩm dở dang (chi phí vật tư, lao động cho các công việc đã làm nhưng chưa cho sản phẩm).

    Không được tính vào giá trị sản phẩm thuỷ sản những loại sau:

    - Đánh cá mang tính thể thao, giải trí, đánh bắt thú biển (trừ cá voi, cá mập)

    - Nuôi ếch, ba ba.

    - Giá trị sản phẩm chế biến nước năm, mắn tôm ...

    - Các công việc tự đan, sửa lưới, sửa chữa tàu thuyền bến bãi.

    Nguồn số liệu để tính dựa vào báo cáo Thống kê, kế toán của các đơn vị quốc doanh thuỷ sản và kết quả điều tra thuỷ sản hàng năm.

    Giá trị sản xuất thuỷ sản được tính theo hai giá giá cố định và giá thực tế.



    b. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản là diện tích các loại mặt nước được dùng để nuôi trồng các loại thuỷ sản bao gồm các loại mặt nước mặn, lợ, nước ngọt.

    Theo quy ước không tính vào diện tích nuôi trồng thuỷ sản, diện tích mặt nước của các công trình thuỷ lợi.



    4.2. Tổ chức thực hiện.

    - Kỳ báo cáo: 6 tháng, năm.

    Ngày gửi báo cáo: Ước 6 tháng 15/5; ước năm 15/11; chính thức năm 30/1 năm sau.

    - Cơ quan báo cáo: Cục Thống kê, UBND các huyện, thị xã, thành phố.


    IV - Công nghiệp

    1. Số cơ sở sản xuất công nghiệp

    1.1. Khái niệm: cơ cở sản xuất công nghiệp

    Cơ sở sản xuất công nghiệp trước hết phải được sản xuất ra sản phẩm công nghiệp, có địa điểm sản xuất ổn định, có đăng ký kinh doanh, có đủ tư cách pháp nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Bao gồm: các doanh nghiệp Nhà nước trung ương, địa phương; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: hợp tác xã, các Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các doanh nghiệp này phải sản xuất ra sản phẩm công nghiệp hoặc là có giá trị các sản phẩm công nghiệp tiêu thụ nhiều hơn sản phẩm của các ngành khác. Doanh nghiệp phải có đủ tư cách pháp nhân, có giấy đăng ký kinh doanh và thực hiện đủ các yêu cầu của Luật doanh nghiệp.

    Đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp cá thể phải có các điều kiện sau:

    - Phải sản xuất ra sản phẩm hàng hoá công nghiệp là chủ yếu.

    - Có địa điểm sản xuất ổn định.

    - Có ít nhất 1 lao động chuyên nghiệp.

    - Số tháng hoạt động sản xuát kinh doanh phải được cộng dồn trên 4 tháng trở lên trong năm và mỗi tháng phải sản xuất từ 10 ngày trở lên.

    + Doanh nghiệp Nhà nước: là doanh nghiệp có vốn Nhà nước 100% và các Công ty Cổ phần có vốn Nhà nước trên 51% trở lên.

    + Doanh nghiệp tập thể: cụ thể là các hợp tác xã sản xuất công nghiệp.

    + Doanh nghiệp tư nhân (trong phạm vi này được bao gồm cả các Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên và 2 thành viên trở lên).

    + Cơ sở kinh tế hỗn hợp là các loại cơ sở có tích chất liên doanh của nhiều thành phần kinh tế, các Công ty Cổ phần ngoài Nhà nước quản lý.

    + Đầu tư nước ngoài là loại cơ sở có vốn 100% của nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn liên doanh với nước ngoài, có vốn nước ngoài từ 51% trở lên.



    1.2. Phương pháp tính cơ sở sản xuất công nghiệp.

    Đối với cơ sở là doanh nghiệp: được xác định chủ yếu là giấy phép kinh doanh. Một giấy phép kinh doanh được coi là 1 doanh nghiệp (Trong 1 giấy phép kinh doanh có thể có rất nhiều ngành nghề khác nhau). Trước đây chúng ta đã sát nhập nhiều doanh nghiệp vào một công ty, nay Công ty trở thành Công ty mẹ và thành lập lại các Công ty con thì mỗi giấy phép kinh doanh cho một Công ty con được tính là một doanh nghiệp. Phương thức hạch toán của doanh nghiệp là: đơn vị hạch toán kinh tế độc lập.



    1.3. Tổ chức thực hiện

    - Kỳ báo cáo: năm.

    Ngày gửi báo cáo: 30/6 năm sau.

    - Cơ quan báo cáo: Cục Thống kê.



    Каталог: file-remote-v2 -> DownloadServlet?filePath=vbpq -> 2006
    2006 -> Uỷ ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
    2006 -> Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
    2006 -> Ủ/y ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh vĩnh long độc lập Tự do Hạnh phúc
    2006 -> A. TÌNh hình thực hiện xã HỘi hoá trong các hoạT ĐỘng giáo dụC, y tế, VĂn hóa và thể DỤC thể thao, thực hiện nghị quyếT 90/1997/nq-cp của chính phủ Ở an giang
    2006 -> Ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
    2006 -> Thành phố Hà Nội Số: 48/2001/QĐ-ub cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
    2006 -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
    2006 -> Ủy ban nhân dân tỉnh an giang số: 1108/2005/QĐ-ub
    2006 -> Uỷ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam

    tải về 307.57 Kb.

    Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  • 1   2   3   4   5




    Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
    được sử dụng cho việc quản lý

        Quê hương