Thống kê BỆnh đƯỜng-huyết thấp dưỚI 70mg/dl gây ra nhiều bệnh nan y, ung thư VÀ chết ngưỜi nhiều hơn bệnh đƯỜng-huyết cao phần I


PHẦN II TÌM HIỂU NHỮNG THUỐC TRỊ TIỂU ĐƯỜNG VÀ PHẢN ỨNG PHỤ CỦA THUỐC



tải về 0.58 Mb.
trang2/6
Chuyển đổi dữ liệu19.11.2017
Kích0.58 Mb.
#2233
1   2   3   4   5   6

PHẦN II
TÌM HIỂU NHỮNG THUỐC TRỊ TIỂU ĐƯỜNG VÀ PHẢN ỨNG PHỤ CỦA THUỐC
A-NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
Trong thức ăn chúng ta ăn hàng ngày ít nhiều đều có chất ngọt không nhiều thì ít, bộ máy tiêu hóa của chúng ta rất tinh vi chế biến thành một lọai đường Glucose đi vào máu đến nuôi các tế bào trở thành năng lượng.

Theo đông y chất ngọt nuôi tỳ vị và ngược lại chức năng tỳ vị cũng đã có chất điều hòa chất ngọt gọi là dịch vị từ tụy tạng tiết ra tây y gọi là chất insulin. Khi chức năng tỳ vị không co bóp đúng và đủ, ngược lại mạnh quá hay yếu quá làm thiếu hay thừa insulin chúng ta đo đường-huyết lượng đường sẽ không ổn định, đường không vào được bên trong tế bào mà lại ở trong máu với số lượng cao gây ra bệnh đường-huyết cao, ngược lại trong máu thiếu đường để dẫn vào nuôi tế bào thì cơ thể thiếu năng lượng làm tế bào suy yếu gây ra nhiều bệnh, mà bệnh nặng nhất lả khi tế bào thiếu đường thì trở thành ung thư, do đó tế bào ung thư không do vi trùng, mà tự bị huỷ diệt.

Từ đây đông y phát hiện bệnh xáo trộn đường huyết có 2 lý do :

a- Do thiếu khí đẩy máu đem đường đến nuôi tế bào giúp tế bào có thêm năng lượng hoạt động mặc dù có ăn nhiều đường, mà đường chỉ nằm trong máu, vì lười tập vận động không có khí lực vận chuyển đường trong máu đến nuôi các tế bào. Hậu quả này thận không giữ được đường, đường sẽ theo nước tiểu ra ngoài nên khi thử nước tiểu thấy có đường, nên mới có tên là bệnh đái tháo đường ( nước tiểu ngọt diabetes mellitus)

b-Cơ thể có vận động đủ hay dư thừa khí, nhưng kiêng không ăn đường, trong máu không có đường đem đến cung cấp năng lượng cho tế bào.

Theo tây y vì không có môn tập thể dục chữa bệnh, nên trong thức ăn lúc nào cũng có chất ngọt mà không chuyển hóa nên phải mang bệnh đái tháo đường suốt đời.

Bệnh tiểu đường theo tây y phân làm 2 loại :

Loại 1 là cơ thể không còn sản xuất insulin, nên cách chữa phải tiêm insulin.

Loại 2 là cơ thể còn insulin nhưng tiết không đủ hoặc cơ thể không sử dụng được insulin này, theo đông y cũng vẫn do nguyên nhân cơ thể không hoạt động mạnh làm tăng khí chuyển hóa.

Ngành y dược mang về nhiều lợi nhuận từ khi tìm ra tên bệnh tiểu đường loại 2 và tiền tiểu đường, chiếm khỏang 90% tổng số bệnh nhân bệnh đái tháo đường.

Các nhà trí thức, khoa học, có bằng bảng đều nghĩ rằng người bình thường cơ thể có thể tự điều chỉnh lượng đường trong khoảng 70-100mg/dL, đó là lý thuyết. Còn lấy gì để nó có thể tự điều chỉnh thì cơ thể phải có khí lực chuyển hóa đủ hay thiếu, sẽ có 2 kết quả khác nhau :

a-Nếu đường trong máu cao hơn 140mg/dL khi đói, mà cơ thể không có đủ khí chuyển hóa, có nghĩa là áp huyết thấp dưới 100mmHg không đủ khí đẩy máu tuần hoàn đưa đường nuôi tế bào, thì đường dư thừa nằm trong máu, lúc đó thử đường trong máu cao và trong nước tiểu có đường gọi là đái tháo đường, như vậy khi đã có bệnh đái tháo đường thì hệ thống tự động điều chỉnh yếu không còn khả năng tự điều chỉnh nữa.

b-Người không có bệnh tiểu đường hay nói cho đúng là do nhiễm độc từ truyền thông báo chí, TV, Internet, và từ miệng truyền miệng, và từ các nhà trí thức còn mê ngủ a dua theo ngành y, khuyên người kiêng đường và chính mình cũng kiêng sợ đường, nên lại mắc phải chứng bệnh thiếu đường, cơ thể không đủ đường cung cấp hàng ngày giúp cho tế bào có năng lượng hoạt động, thì lấy đường đâu trong cơ thể tự điều chỉnh được lượng đường từ 70-100mg/dL ? trung bình

Nếu tính theo thống kê nhân số trung bình trong mỗi gia đình 4 người, nếu đã có 1 người bị bệnh tiểu đường đang dùng thuốc, thì bệnh nhân này đã có đường-huyết thấp. Và bệnh viện cũng phải lo cho sức khỏe bệnh nhân này điều trị cho họ những biến chứng của bệnh thiếu đường gây ra, thì một bệnh viện không kham nổi lượng người bị bệnh tiểu đường càng gia tăng (giả tạo do hạ tiêu chuẩn đường huyết thấp). Nhưng 3 người còn lại trong gia đình cũng sợ bị bệnh tiểu đường, nên không dùng đường, kiêng đường trong đời sống hàng ngày, nghe theo hệ thống truyền thông y tế hù dọa, vô tình họ lại bị những biến chứng của bệnh thiếu đường giống như người đang có biến chứng chữa bệnh tiểu đường, như vậy con số người bị bệnh thiếu đường nhiều gấp 3 lần người bị bệnh tiểu đường cũng phải có nhu cầu chữa trị những biến chứng bệnh thiếu đường, vì thế các nước tiên tiến phải xây thêm nhiều cơ sở y tế, bệnh viện gấp 4 lần so với trước, trái ngược với trước năm 2000, một số bệnh viện phải đóng cửa vì không có đủ bệnh nhân.

Các nhà trí thức còn mê ngủ nghĩ có nên tiếp tay cho ngành y tế phát triển theo chiều hướng này không ?

B-CÔNG DỤNG CÁC LOẠI THUỐC CHỮA TIỂU ĐƯỜNG VÀ PHẢN ỨNG PHỤ CỦA THUỐC

Thuốc chữa tiểu đường loại 2 :

Hiện tại có 6 nhóm thuốc :
1-Nhóm Sulfonylurea :

Gồm có Acetohexamide (Dymelor) Chlorpropamide (Diabinese) Glimepiride (Amaryl) Gliclazide (Diamicron) Glipizide (Glucotrol và Glucotrol XL) Glyburide (Diabeta, Glynase, PresTab, Micronase) Tolazamide (Tolinase) Tolbutamide (Orinase)


Tác dụng :

Kích thích tụy tạng tiết thêm insulin nhiều hơn, có thể giúp cơ thể sử dụng tốt insulin, ức chế gan đưa glucose dự trữ vào máu. Các bệnh nhân dễ đáp ứng với sulfonylure. Tuy nhiên theo các báo cáo thống kê trên thế giới có từ 20-15% bệnh nhân dù trị với liều cao sulfonylure cũng vẫn bị thất bại.




Phản ứng phụ :

Thông-thuờng làm mức glucose huyết hạ xuống quá thấp, nhất là trong bốn tháng đầu trị liệu và chức năng của gan thận bị suy yếu.

Sự giảm nhanh tác dụng của sulfonylure khi dùng liều lượng không thích hợp kéo dài đồng thời dùng các thuốc gây tăng đường huyết như steroid, lợi tiểu, chẹn β, sẽ gây ra những phản ứng phụ:

Rối loạn tiêu hóa: táo bón, tiêu chảy, đầy bụng, ợ nóng , ói mửa, ăn mất ngon.

Hạ đường huyết nhanh bất lợi khi dùng chung với rượu làm nhức đầu, phừng nóng mặt, tê rần, muốn ói, choáng váng xảy ra trong vòng từ 10 đến 30 phút sau khi uống thuốc tiểu đường thuộc nhóm này cùng với rượu nhất là với chlorpropamide.

Phản ứng lên cân, ngoài da: ngứa, nổi mẩn, nổi mề đay.


Chống chỉ định :

Phụ nữ có thai, người có bệnh gan, bệnh thận không nên dùng thuốc tiểu đường thuộc nhóm này sẽ làm hại chức năng gan thận, đó là lý do những nạn nhân tiểu đường dùng thuốc một thời gian dài làm hư gan và phải lọc thận.


2-Nhóm Biguanide
Thuốc viên điều trị đái tháo đường không chứa insulin Chỉ dùng cho bệnh nhân tiểu đường loại 2

Thuốc thuộc loại này là metformin (Glucophage, Glucophage XR)

Loại thuốc này ngăn chặn gan sản xuất và phóng thích glucose nên cơ thể sẽ cần ít insulin hơn để chuyển đường trong máu tới các tế bào.

Lọai thuốc này có lợi là không làm lên cân như các thuốc trị tiểu đường khác.

Nhóm Biguanide Metformin (Glucophage) là dạng duy nhất của nhóm này được sử dụng tại Hoa Kỳ. Biguanides ức chế gan đưa glucose dự trữ vào máu và cũng có thể giúp cơ thể sử dụng tốt insulin.


Phản ứng phụ :

Có thể là trong mồm có vị tanh kim loại, không muốn ăn, buồn nôn, ói mửa, có hơi và tiêu chảy. Các phản ứng phụ này sẽ mất dần với thời gian và ít xẩy ra nếu uống thuốc trong bữa ăn.

Ói, đầy bụng, tiêu chảy, ăn không ngon. Chúng ta có thể làm giảm bớt các tác dụng phụ này, bằng cách bắt đầu với liều thấp và uống thuốc vào bữa ăn. Biguanides có thể gây ra tình trạng tăng nhiễm acid lactic trong máu rất nguy hiểm gây hại cho tim, thận, gan và trong người đang dùng chất cản quang để chụp X quang.
Chống chỉ định :

Những người có các bệnh nói trên không nên dùng biguanide.


3-Nhóm thuốc ức chế men Alpha-glucosidase
Các dạng thuốc thường dùng hiện nay là: Acarbose (Glucobay, Precose) và Glyset (Meglitol). Nhóm thuốc ức chế men Alpha-glucosidase ức chế sự phân hóa carbohydrate thành glucose trong ruột, ngăn chặn không cho các enzyme trong hệ thống tiêu hóa làm vỡ các carbohydrate như vậy đưòng được hấp thu vào máu chậm hơn nên mức đường trong máu không tăng đươc nhanh ngay sau bữa ăn như vẫn thông thuởng xẩy ra do đó làm chậm sự hấp thu glucose vào máu. Nhóm này thường dược dùng để giải quyết tình trạng tăng đường huyết sau bữa ăn.
Phản ứng phụ :

Làm đầy hơi, phình chướng bụng, tiêu chảy. Liều cao làm hại gan. Có thể giảm thiểu các tác dụng phụ này bằng cách bắt đầu với liều thấp.


Chống chỉ định :

Bệnh nhân có bệnh đường ruột không nên dùng thuốc này.



4-NhómThiazolidinedione
Nhóm này gồm: Pioglitazone (Actos), Rosiglitazone (Avandia).

Công dụng của nhóm này là kích thích các cơ bắp sử dụng insulin tốt hơn và cũng có thể làm giảm việc đưa glucose vào máu từ đường dự trử trong gan, tăng sự nhạy cảm của các mô với insulin và giữ cho gan không sản xuất quá nhiều glucose

Hiện nay không sử dụng Rosiglitazone nữa vì gây nhiều nguy cơ tim mạch; còn Pioglitazone phải cân nhắc.
Phản ứng phụ:

Viêm đường hô hấp, sưng phù nề toàn thân, lên cân, mệt mỏi, nhức đầu, viêm xoang trên, đau cổ, đau cơ, chóng mặt, làm tổn thương gan.

Vì vậy FDA (Cơ quan quản lý thuốc men và thực phẩm Hoa Kỳ) khuyên nên thử chức năng gan trước khi dùng nhóm thuốc này và trong năm đầu nên thử chức năng gan mỗi 2 tháng cho những ai dùng thuốc nhóm này và sau đó thì thử định kỳ.

Khi gan bị thương tổn do thuốc sẽ có triệu chứng :

Ói mửa, đau bụng, mệt mỏi, chán ăn, nước tiểu đậm mầu, vàng da, vàng mắt.
Chống chỉ định :

Người có bệnh gan, suy tim, đang mang thai không dùng được thuốc nhóm này..


5-Meglitinides Repaglinide (Prandin hay Novonorm, hay repaglinide)
Là dạng duy nhất của nhóm này được dùng hiện nay.

Công dụng: Kích thích tụy tạng tiết thêm insulin. Tác dụng của nhóm này giống sulfanylureas nhưng không làm hạ nhanh xuống qúa thấp nhưng không bền lâu, nên được khuyên nên uống vào lúc bắt đầu bữa ăn, để cho đường huyết không tăng quá cao sau khi ăn.


Phản ứng phụ :

Hạ đường huyết gây ra nhức đầu, ói, viêm đường hô hấp, viêm xoang, viêm phế quản, đau lưng, đau khớp, tăng cân.



6-Thuốc ức chế men DPP-4 (sitagliptin, vildagliptin)
Sitagliptin được chỉ định là trị liệu phụ trợ với chế độ ăn và vận động thể lực để cải thiện việc kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường loại 2 .

Thuốc thuộc loại này là sitagliptin phosphate (Januvia)

Công dụng :

Ngăn-chặn không cho enzyme dipepticyl peptidase 4 hay DPP-4 phá vỡ các protein kích thích sự phóng thích insulin


Phản ứng phụ :

Gây nhiễm khuẩn đường hô hấp, đau cuống họng và tiêu chảy.


7-Những loại thuốc kết hợp :
Amylin mimetics

Thuốc thuộc loaị này là pramlintide (Symlin)

Công dụng : làm thức ăn di chuyển chậm lai qua dạ dày sau khi ăn và như vậy gây ảnh hưởng lên tốc độ xâm nhập của glucose vào trong máu. Dùng cho những bệnh nhân phải chích insulin nhưng không đạt được mức đường trong máu như mong muốn


Incretin mimetics

Thuốc thuộc loại này là exenatide (Byetta)

Công dụng :Giúp điều chỉnh mức glucose khi đói và sau bữa ăn. Dùng kết hơp với metformin hay với hỗn hợp metformin và sulfonylurea
Hai hay ba loại thuốc nói trên có thể kết hơp với nhau để kiềm-chế bệnh tiểu đường cao phải tiêm insulin.


Một số bệnh nhân phải dùng insulin tiêm mỗi ngày vì tụy tạng không có khả năng sản xuất. Insulin không uống được vì khi vào da dày insulin sẽ bi các enzyme phá vỡ nên trở thành vô hiệu. Vì vây bênh nhân thường phải tự chích lấy insulin. Hiện nay đã có loaị insulin hít vào (inhaled insulin Exubera)


Insulin thường dùng là insulin người được tổng hợp trong phòng thí nghiệm như lispro (Humalog), aspart(NovoLog),glargine(Lantus) va glulisine(Aprida).
8-Trách nhiệm của bác sĩ điều trị và sự hợp tác của bệnh nhân :
Khi trị liệu phối hợp thuốc của hai nhóm khác nhau, bệnh nhân phải kiểm soát đường huyết, phối hợp với chế độ ăn uống, chế độ vận động thể lực và theo dõi tác dụng phụ như thuốc Januvia phản ứng dị ứng: phát ban, khó thở, sưng mặt, môi, lưỡi, hoặc cổ họng phải gọi ngay bác sĩ.

Trên lý thuyết có vẻ phối hợp chặt chẽ, trên thực tế thì lỏng lẻo, bệnh nhân theo thói quen cứ uống thuốc mà không đo đường-huyết kiểm chứng, không được chỉ cách tập vận động thể lực như thế nào, và khi có phản ứng phụ thì đi bệnh viện cấp cứu các bác sĩ khác lại chữa những bệnh do biến chứng đó chứ không phải bác sĩ gia đình cho mình dùng thuốc phải điều chỉnh lại thuốc cho mình, trong khi Hiệp hội đái tháo đường cũng đã khuyến cáo bệnh phải ngưng ngay thuốc Januvia khi bị viêm lá mía tụy tạng có dấu hiệu đau vùng thượng vị lan rộng đến lưng, buồn nôn ói mửa, ăn mất ngon, nhịp tim nhanh, hay có dấu hiệu sốt đau họng, đau đầu như búa bổ, đỏ da, nghẹt mũi, tiêu chảy.


Tây y cũng khuyến cáo thuốc trị tiểu đường không thể thay thế chế độ ăn uống có kế hoạch và thay thế việc vận động cơ thể và không tập thể dục thì cũng không thể kiểm soát được căn bệnh này.


Bệnh tiểu đường có thể dùng thuốc và insulin để điều trị nhưng nếu áp dụng thảo dược và Thực Phẩm Chức Năng (TPCN) để chữa bệnh thì không những không có hại gì mà trong một số trường hợp, phản ứng của bệnh nhân còn cho tác dụng tốt hơn thuốc

TPCN Với các dòng sản phẩm chiết xuất từ thiên nhiên là chính được dùng để điều trị hỗ trợ bệnh tiểu đường, làm giảm glucose máu, ngăn ngừa các biến chứng của bệnh tiểu đường trên tim, gan, thận, võng mạc......




Một số thuốc và TPCN thường được các bs khuyên dùng gôm : ayubes . biogreen .Herbalife.Royal Jelly...và hiện nay là Nuskin.
PHẦN III :
BỆNH ĐƯỜNG-HUYẾT THẤP LÀ GÌ ? NGUYÊN NHÂN, HẬU QỦA VÀ CÁCH CHỮA.

A--CẢNH BÁO :
1-Cơ thể thiếu đường trở thành bệnh Hypoglycémie rất nguy hiểm gây ra nhiều bệnh nan y và làm chết người trong âm thầm
Tây y đôi khi cực đoan, hù dọa những bệnh nhân béo phì nguyên nhân do đường-huyết cao hyperglycemie, tích tụ trong mỡ, tạo ra mỡ lỏng là cholesterol, và mỡ đặc là Triglyceride có nguy cơ bệnh tim mạch, làm cho những người Việt Nam chúng ta, đa phần là những người gầy ốm nhiều hơn những người mập vì thiếu đường, bị ảnh hưởng những thông tin hù dọa làm cho sợ đường và kiêng đường lại gây ra bệnh thiếu đường Hypoglycemie làm mất sức do thiếu năng lượng đường chuyển hóa nuôi tế bào và là nguyên nhân tạo ra nhiều cái chết rơi vào hôn mê trong giấc ngủ ban đêm, sáng không tỉnh dậy hồn lìa khỏi xác âm thầm lặng lẽ mà không ai biết là hậu quả của bệnh thiếu đường, đường tụt thấp đến mức chết 50mg/dL về ban đêm. Nếu ban ngày bệnh nhân thấy mệt thì mọi người biết sẽ có thể cứu tỉnh lại bằng cách cho uống 3 thìa đường cát vàng với nước nóng ấm được.
2-Dưới đây là những hậu quả của bệnh thiếu đường gây ra nhiều bệnh nan y và cách chữa theo tây y.
Tây y hiện nay cũng đã lưu ý đến hậu quả của bệnh đường-huyết thấp (hypoglycémie), và cũng đã có những bác sĩ chuyên môn điều trị bệnh này, nhưng không được phổ biến rộng rãi, nên các bác sĩ gia đình thường không đề cập đến cách chữa này, chỉ thường khuyên những người dùng thuốc trị tiểu đường lúc nào cũng phải đem theo kẹo phòng khi đường-huyết tụt thấp, chứ chưa nghiên cứu sự nguy hiểm tai hại của bệnh đường-huyết thấp gây ra tử vong âm thầm mà tây y tìm không ra do nguyên nhân này ở ngay trước mắt.
Tây y định nghĩa đường huyết-thấp dưới 70mg/dL=4.5mmol/l, HbA1c =4.5%
B-DẤU HIỆU CỦA BỆNH THIẾU ĐƯỜNG :
1-Dấu hiệu bệnh báo trước :
Lú lẫn, hoa mắt, cảm thấy bủn rủn yếu sức cầm 1 vật không vững, đói bụng, nhức đầu, bực tức cáu gắt, tim đập nhanh và mạnh, da tái nhợt, đổ mồ hôi, run tay chân, bồi hồi lo lắng, nhịp tim nhanh

Khi có những dấu hiệu này, mà không được chữa trị thì bệnh nặng hơn có thêm những dấu hiệu khác nghiêm trọng hơn như :


Kém tập trung, ý thức và hành động kém phối hợp, tê miệng và lưỡi, thoát khí, người xanh xao, chân tay vô lực run rẫy, hay té ngã, cầm một vật không chắc hay đánh đổ vỡ, vô thức mất trí nhớ, mắt mù dần, hay bị ác mộng sợ hãi và hôn mê bất tỉnh có thể lịm dần mà chết trong giấc ngủ, trường hợp chết trong giấc ngủ rất nhiều đều do nguyên nhân đường-huyết đã tụt thấp mà theo thói quen vẫn phải uống thuốc hạ đường để bị chết oan uổng mà không ai khám phá ra nguyên nhân này.
Hiệp hội tiểu đường Mỹ định nghĩa hạ đường huyết khi lượng đường trong máu thấp bất thường. Các dấu hiệu và triệu chứng của hạ đường huyết, theo ADA, thường đến đột ngột có thể được gọi là sốc insulin. Các triệu chứng bao gồm cảm thấy đói, run rẩy, lo âu, ớn lạnh, đổ mồ hôi, lú lẫn, mê sảng, tim đập nhanh, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, suy giảm thị lực, buồn ngủ, rối loạn nhịp tim khi nhanh khi chậm, mặt không tươi sáng mà xanh xao, thần kinh dễ bị kích thích run rẩy co giật, buồn nôn. Nếu thiếu đường nặng hơn, chân tay mệt mỏi yếu, run giật thường xuyên trở thành bệnh Parkinson, làm mất trí nhớ, có thể trở thành vô thức, và đôi khi có thể dẫn đến hôn mê, bất tỉnh.
2-Nguyên nhân :
Nguyên nhân gây hạ đường-huyết do một số loại thuốc như aspirin, uống nhiều rượu, nước chanh, canh chua, khổ qua, thuốc chữa tiểu đường làm hạ đường, vận động nặng xuất mồ hôi hay như đua xe đạp, chạy Marathon, làm tim đạp nhanh, mạnh...hoặc do những loại thực phẩm hay chế độ ăn kiêng khem nhất định như ăn gạo lức muối mè, kiêng ăn ngọt vì sợ bị bệnh tiểu đường...một yếu tố quan trọng khác do ăn uống không điều độ làm rối loạn chức năng của gan thận làm sản xuất dư thừa insulin làm hạ đường-huyết. Những bệnh nhân phải tiêm insulin quá nhiều làm hạ đường-huyết. Do kiêng sợ đường-huyết cao, vừa dùng thuốc hạ đường vừa bỏ bữa nhịn ăn hay ăn ít làm cơ thể thiếu đường trong máu, lỗi này do tây y hạ tiêu chuẩn đường huyết, do giới trí thức còn mê ngủ hùa theo truyền thông tiếp tay hù dọa gây nỗi sợ hãi về nguy cơ của đường, trong khi đó ở các xứ có nhiều đường mía, các lò đường, các nơi bán nước mía, từ xưa đến nay chúng ta thử làm một cuộc diều tra thống kê xem những người này và những người đường-huyết thấp xem ai bị biến chứng làm hư tim, gan thận, hay mù mắt nhiều hơn ?
Những người như chúng ta không bị bệnh tiểu đường, hiện nay chiếm đa số vì sợ đường và kiêng đường trong bữa ăn hàng ngày, lại không biết rằng insulin do tụy tạng tiết ra hàng ngày dư thừa làm đường trong máu bị tụt thấp làm rối loạn nội tiết của tuyến thượng thận nên cũng làm suy thận phải lọc thận, đó là lý do những người dùng thuốc trị tiểu đường lâu dài cũng trở thành bệnh đường huyết thấp cũng làm rối loạn nội tiết của chức năng thận mà phải bị lọc thận.
Chúng ta cũng biết rằng tập thể dục hay làm việc nặng xuất mồ hôi làm tăng chức năng chuyển hóa trong cơ thể tiết ra nhiều lượng insulin gây ra bệnh hạ đường-huyết nếu chúng ta không ăn đường bổ sung năng lượng cho cơ thể, thì phản ứng xảy ra là khi đang tập sẽ bị té xỉu hôn mê do cơ thể mất đường làm suy tim nếu cơ thể thiếu đường, do đó những nhà vận đõng thể dục thể thao rất cần đường để nuôi cơ bắp, cơ tim để có sức dẻo dai, duy trì cơ thể khỏe mạnh, vì sau khi tập lượng đường trong máu còn rất ít, nên rất nguy hiểm cho những nhà trí thức còn mê ngủ vừa kiêng đường vừa ham tập thể dục như chạy bộ, đi bộ, đạp xe, đánh cầu..mà không thích ăn ngọt, sợ ngọt..sau khi tập thể dục xong rồi vào tắm xông hơi sauna làm xuất thêm mồ hôi, tụt thấp đường thình lình gây choáng váng xây xẩm bủn rủn chân tay bỗng nhiên đột quỵ té ngã hôn mê, còn trường hợp vừa tập thể dục, mà không dùng đường bổ sung năng lượng cũng làm đường trong máu mất dần, thiếu dần cũng vẫn bị suy thận, suy tim do bệnh thiếu đường-huyết cũng nguy hiểm như người bệnh đường huyết-cao do uống thuốc hạ đường suốt đời tây y không cho ngưng thuốc cả hai trở thành bệnh đường huyết thấp.

Cuối cùng cả hai loại bệnh nhân có bệnh tiểu đường và không có bệnh tiểu đường đều bị giảm lượng đường trong máu và cũng có những biến chứng của bệnh thiếu đường giống nhau.


Dấu hiệu của bệnh hạ đường huyết cũng rất giống triệu chứng của các bệnh khác không liên quan đến bệnh tiểu đường làm cho các bác sĩ khó chẩn đoán tìm không ra nguyên nhân bệnh, khi không tìm ra nguyên nhân bệnh qua chụp scan, MRI, thử máu, thì phải nghi ngay đến nguyên nhân là đường huyết thấp đã bị bỏ qua vì tưởng không liên quan, và cho rằng nếu có liên quan thì thuốc trị tiểu đường cũng phải uống suốt đời không thể cho ngưng thuốc, đó là một tai hại cho sức khỏe bệnh nhân do hệ thống y tế ràng buộc thời nay.

Chúng ta cần phải có trí tuệ, không để vô minh che lấp, tự mình hại mình giao phó sự chăm sóc sức khỏe của mình cho hệ thống y+dược+bảo hiểm và còn vô minh tiếp tay với truyền thông y tế để hù dọa người khác.


Đường được xem như nhiên liệu hoạt động của tế bào, các bác sĩ chuyên khoa chữa trị bệnh đường huyết thấp khuyên rằng, lúc nào đường huyết trong cơ thể phải giữ tối thiểu an toàn trong khoảng 60mg/dL-120mg/dL= 4.0-7.0mmol/l, và phải ăn uống đều đặn không được nhịn ăn sẽ làm mất đường trong cơ thể xuống thấp dưới 60mg, thậm chí 50mg/dL làm tim ngưng đập rơi vào hôn mê gây tử vong.

Như vậy tây y quy định tiêu chuẩn của người mắc bệnh đường huyết thấp là dưới 120mg/dL=7.0mmol/l, phải giữ ở mức dưới 7.0mmo/l là an toàn, thì ngược lại truyền thông y tế đã lấn sân sang mức đường thấp, trên 6.2mmo/l là bị bệnh đường-huyết cao, chiếm thêm số bệnh nhân phải uống thuốc trị tiểu đường ở mức này chiếm đa số cũng thu được lợi nhuận của hàng trăm triệu người lọt vào lưới này.




PHẦN IV :
SO SÁNH CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH ĐƯỜNG-HUYẾT CAO HAY THẤP.

A-BIẾN CHỨNG CỦA TIỂU ĐƯỜNG CAO THEO TÂY Y NẾU KHÔNG DÙNG THUỐC ?
Về Tim mạch: cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim
- Về Thận: đạm trong nước tiểu, suy thận
- Vế Mắt: đục thủy tinh thể, mù mắt
- Vế Thần kinh: dị cảm, tê tay chân
- Nhiễm trùng: da, đường tiểu, lao phổi, nhiễm trùng bàn chân…
- Tử vong.

Trên thực tế, theo tiêu chuẩn năm 1979 : Lúc dói tứ 100 -140mg/dL, lúc no từ 140-200mg/dL thì không ai có những dấu hiệu này,

Chỉ có những người đường-huyết cao hơn tiêu chuẩn này làm tăng áp huyết và tử vong do tai biến mạch máu não, còn áp huyết không cao thì đường cao gây ra bệnh da lở loét không lành dễ nhiễm trùng hoại tử.
B-BIẾN CHỨNG VÀ HẬU QUẢ KHI DÙNG THUỐC ?
Sau thời gian dài dùng thuốc chữa trị bệnh tiểu đường, bệnh nhân có những dấu hiệu bệnh như :

Mệt mỏi, nhìn không rõ, dễ hoặc thường bị nhiễm trùng, các vết thương hay vết lở loét rất lâu .

Suy yếu tình dục, da khô, ngứa bàn tay, bàn chân bị tê, hay có cảm giác kiến bò.

Tăng đói gây ăn nhiều, khát nhiều gây uống nhiều và tiểu nhiều.

Trong bệnh đái tháo đường loại 2, tụy tạng còn sản xuất được insulin, nhưng cơ thể không sử dụng được insulin này. Đường không vào được bên trong tế bào, ở lại trong máu và gây đường huyết tăng cao.
Cơ quan y tế có khuyến cáo : Muốn kiểm soát đường huyết chúng ta phải biết tự thử máu và theo dõi đường huyết mỗi ngày với máy thử đường huyết cá nhân để có thể nhanh chóng thay đổi cách ăn uống, vận động thân thể, thuốc men để kiểm soát bệnh tiểu đường một cách hiệu quả.
Điều đặc biệt ít ai để ý tới, khác với cách chẩn đoán của tây y, đông y có phương pháp tứ chẩn : Vọng, Văn, Vấn, Thiết, là cách áp dụng để khám bệnh của các thầy thuốc đông y. Có hai cách khám quan trọng là nhìn và cầm tay bắt mạch tìm ra bệnh đường huyết đủ hay cao hay thấp chẳng hạn như :
Nhìn : da mât tráng nhợt không có sắc hồng hào là thiếu đường. Mặt, trán, bàn tay đỏ là đường-huyết cao.

Cầm 5 đàu ngón tay ấm là đường-huyết đủ, 5 đầu ngón tay lạnh là đường-huyết thấp, 5 đầu ngón tay nóng là đường-huyết cao.

Khi không có máy đo đường tự mình chạm 5 đàu ngón tay vào má xem 5 ngón tay làm má nóng là dư đường, làm má lạnh là thiếu đường....



tải về 0.58 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương