ThiêN-ĐẠo chơn-truyền củA ĐỨc ngọc-hoàng đẠI-ĐẾ kim viết cao-đÀi chúa-tể kiền-khôN


Ngày 17 tháng 1 Annam 1938 (4 giờ chiều)



tải về 2.16 Mb.
trang3/14
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2017
Kích2.16 Mb.
#2805
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

Ngày 17 tháng 1 Annam 1938 (4 giờ chiều) [TĐ.II/41] [ĐCL.32/21]

Thầy vì thương các con, nên Thầy lập Đạo-Tràng Cứu Thế Kỳ Ba nầy, khuyên các con chớ khá bê trễ bỏ qua.

Các con nghe Thầy dạy đây ráng nhớ, chớ rằng Thầy không nói trước.
1.- Nay Thầy lập Đạo-Tràng Cứu Thế,

Các con đừng bê trễ công-trình;

Chớ rằng lánh dữ làm lành,

Hỏi con có biết dữ—lành ra sao?

2.- Các con mảnh tự-cao, tự-đắc,

Mà dể-ngươi nên mắc lưới Trời,

Gây ra nghiệp chướng rối đời,

Mình làm, trở lại trách Trời không thương.

3.- Ngày nay thiệt Trời thương đó trẻ,

Lập Đạo-Tràng dạy trẻ Tu-Hành;

Con nào muốn biết dữ—lành,

Tới Trường học Đạo cho rành, nghe con!

4.- Khuyên con chớ khôn khôn dại dại,

Mà ỷ mình, canh-cải lời Thầy;

Khuyên con ránh đến trường Thầy,

Có người dìu-dắt, có Thầy cứu cho.

5.- Thầy Bệ-Ngọc trông con hết sức,

Mảng mê trần, quên phứt Ngôi xưa.

Từ đây con chớ đảo-lừa,

Đảo-lừa chịu dốt, đổ thừa cho ai.

6.- Đạo Thầy dạy Gái-Trai hai phái,

Cả dưới trần, con-cái của Thầy;

Chia nhau Nam, Bắc, Đông, Tây,

Nay Thầy mở Đạo đặng qui con về.

7.- Kìa cuồn-cuộn bốn bề sóng dậy,

Hỏi thử con có thấy hay không?

Chí-Công Luật Cả Đại-Đồng,

Con nào biết lỗi mới mong ơn Thầy.

8.- Thuyền Chơn-Lý tại đây rước trẻ,

Bước lên thuyền, có kẻ chèo đưa,

Con nào chậm bước, tới trưa,

Là trưa tại trẻ, nào trưa tại đò.

-Thăng-
—————————d&c—————————


Ngày 29 tháng 1 Annam 1938 (2 giờ khuya) [TĐ.II/42] [ĐCL.32/58]

Nầy các con, các con nghe Thầy dạy:


1.- Nầy hai phái Nữ Nam nghe rõ,

Thầy cho bài cứu khổ đây con;

Đứa nào siêng học thì khôn,

Đứa nào biếng-nhác ắt không nên rồi.

2.- Trước phải biết vận thời bĩ-thái,

Ráng dò theo cái máy tuần-hườn;

Đừng lòng so thiệt tính hơn,

Chuyển đâu theo đó, khỏi cơn hiểm-nghèo.

3.- Bề cư-xử tùy theo bổn-phận,

Mình biết mình bổn-phận tời đâu,

Đừng ham phú-quí, công-hầu,

Phận mình ráng giữ trước sau cho tròn.

4.- Bề gia-đạo vợ, con lớn nhỏ,

Phải thúc-kềm, dạy-dỗ hằng ngày;

Con ngu ráng dạy cũng hay,

Bỏ liều, ắt phải ngu hoài thì hư.

5.- Đạo chồng-vợ cũng như tân-khách,

Đối-đãi nhau một cách xướng-tùy;

Đừng theo những đứa ngu si,

Phải lo dạy bảo lễ-nghi cho rành.

6.- Tình cốt-nhục, anh em, bậu bạn,

Phải hết lòng hoạn-nạn thương nhau;

Đừng chia rẽ khó, người giàu,

Sang hèn, khôn dại, thấp cao phải lìa.

7.- Các trẻ muốn sớm khuya khỏi khổ,

Nghe lời Thầy dạ-dỗ, đừng quên.

Muốn nên thì chí phải bền,

Biếng-lười phải vướng vào nền tớ-tôi.

-Thăng-

—————————d&c—————————


Ngày 16 tháng 2 Annam 1938 (4 giờ chiều) [TĐ.II/43] [ĐCL.32/84]

HỚN-CHUNG-LY GIÁNG ĐÀN.

Chào Chư Hiền Nam Nữ. Ta vì thấy Chư-Hiền ngổ-nghịch chống Trời, nên Ta giáng Đàn cho Thi mà tự xét.

Nầy Chư Hiền ôi!


1.- Kìa ngui-ngút khói bay mù-mịt,

Nọ ầm-ì ra-rít tiếng than;

Cơ mưu họa phước hành-tàn,

Cuối cùng phải chịu tội mang xử mình.

2.- Ôi thôi! Hết khoe vinh, chê nhục,

Gom chất dồn một cục thúi hôi;

Đua chen cho lắm cũng rồi,

Đại-Đồng là khiếp sửa đời thấy chưa?

3.- Ai sớm biết đường cưa mực thẳng,

Thẳng một đường có sẵn người chờ;

Bằng ai ỷ thế làm lơ,

Thì đi qua chỗ tóc tơ rối nùi.

4.- Chư Hiền chớ lo vui cười giỡn,

Phải coi người mình tưởng lấy mình;

Chớ rằng niệm Phật, đọc Kinh,

Chác điều tội lỗi, Phật kinh không nhìn.

5.- Ta không lẽ làm thinh chẳng nói,

Nói cho rồi, Ta hỏi nghe không?

Muốn cho tránh khỏi Đại-Đồng,

Hay là muốn chịu tội đồng, nói đi.

6.- Lời Châu Ngọc tiên-tri có nói,

Tại Chư Hiền ỷ giỏi, bỏ qua;

Đến năm Đạo chuyển Kỳ Ba,

Nghịch Trời phải đổi Người Ta ma hồn.

7.- Ví mấy kiếp dập-dồn tội-lỗi,

Đến kỳ nầy Ta hỏi nhớ không?

Nếu ai thử gám nói: không,

Ta “khen” người đó suốt thông đại-hiền.

8.- Nhiều người nói: “Đạo Nguyên Bổn Nhứt”,

Ta hỏi người “Bổn-Nhứt” ra sao?

Dưới chơn cho tới trên đầu,

Còn chưa rõ được chỗ đầu để chi.

9.- Ta chẳng phải khin-khi quá lẽ,

Tại Chư Hiền nhiều kẻ khoe tài;

Đọc Kinh nhiều chữ còn sai,

Cả gan dám nói rằng: hay hơn Trời.

10.- Nay đã đến kỳ-thời phán-xét,

Ai có tài ra xét thử coi?

Chí-Tôn, Người có hứa lời,

Con nào xét đặng làm Trời, Người cho.

11.- Xét không đặng thì lo sám-hối,

Cãi nhiều lời, tội-lỗi gây nhiều;

Chư Hiền khuyên chớ hiu hiu,

Hiu hiu càng lắm, càng tiêu tinh-thần.

12.- Chớ vội tiếng không cần Tu-Niệm,

Lo tranh đua, bao biếm, chê cười;

Uổng cho một kiếp làm người,

Làm người như vậy sống đời ích chi.

13.- Từ đây chớ khinh-khi Tôn-Giáo,

Ta e cho quả-báo trả liền;

Ít người thành Phật, thành Tiên,

Sa vào tội-lỗi oan-khiên lại nhiều.

14.- Nhiều chẳng biết bao nhiêu mà kể,

Kể sao cùng, không kể làm chi;

Ta nay là Hớn-Chung-Ly,

Nương Thiên-Đài-Bút, chép ghi một bài.

15.- Đặng dành để lâu dài hậu-thế,

Cũng là điều tỉnh-thế giác-mê;

Mặc tình thế-tục khen chê,

Giã-từ Đệ-tử, Ta về Bổn-cung.

-Thăng-

—————————d&c—————————


Ngày 17 tháng 2 Annam 1938 (5 giờ sáng) [TĐ.II/45] [ĐCL.32/86]

Xuống Điển nương Thần-Bút,

Chào Chức-sắc Thiên-phong.

Có ai biết Ta không?

Ta là Đông-Phương-Sóc.

– Nghe nói nhiều tay ham học, học làm chi?

Nói học làm Trời, mà làm người chưa đúng.

– Hỏi người Tu, Tu làm chi?

Tu thành Phật, thành Tiên; tánh đảo-điên không bỏ.

– Hỏi sao không biết hổ?

Còn ngống cổ cãi hoài.

– Quấy là ai, phải là ai?

Hỏi lại ai ai cũng quấy.

– Mắt chưa thấy, tai chưa nghe;

Mở miệng ra khoe tài trí-thức.

– Đua chen làm rộn-rực,

Làm in tuồng quỉ chực giàn chay.

– Kẻ nói dở, người nói hay;

Mà hay dở, dở hay không quyết-đoán.

– Tu lâu năm, chầy tháng,

Tu nhiều ngày kết án dẫy-đầy.

– Quấy ăn mặn, phải ăn chay;

Chay mặn, mặn chay, mấy năm nay chay mặn.

– Đã biết Thầy trao gánh nặng, sao không lo gánh nặng cho rồi.

– Xưng mình là Đại-Đức cao ngôi, sao lại dám bỏ trôi phận-sự.

– Kẻ đa ưu, người đa lự; ưu lự chưa rành.

Người ganh-ghét, kẻ cành-nanh; thêm sanh ác-cảm.

– Ôi! Ôi! Nhìn thấy Chư-Hiền mà thảm.

Thảm cho người, rồi thảm cho đời.

– Đời trở lại phá đời, rồi nói đời quá dữ.

Đạo thì không lánh dữ, rồi lại trở trách Trời.

– Cơ tiền-định đổi dời, người sao dám chống Trời ngăn cản.

– Nay kết phe, mai kết đảng, quyết lòng làm đánh lảng Thiên-Điều.

Sớm tự-đắc, tối tự-kiêu, tưởng rằng Đạo bấy nhiêu là hết.

– Một câu Kinh chưa biết, dám xưng mình rằng thiệt thông-minh.

– Kẻ thì chống, người thì kình, kình chống cho lâu thêm hại.

– Kẻ khoe khôn, người nói dại, dại khôn rồi trở lại hại mình.

– Xuống Thần-Bút dặn-bảo đinh-ninh, phải không tự mình hỏi lại.

Tự mình hỏi lại tại vì đâu?

Mới biết Thiên-Cơ chẳng dễ-dầu.

Dầu chẳng dễ-dầu, dầu khó dễ,

Dễ-dầu khó dễ, chớ cơ-cầu.
Cơ-cầu ắt phải bị tai ương,

Cũng bởi vì ai có tánh cường.

Cường-nghịch sao qua Cơ Vận-Chuyển,

Chuyển rồi xây lại nói cho tường.


Cho tường mối Đạo của Trời khai,

Nào dễ ai ra dám đặt bày.

Bày-biện, cải-canh, sanh sự rối,

Rối làm thêm rối, kiếp nào rồi.


Nào rồi ắt phải chịu ngồi khoanh,

Nghĩ lại mình gây, nó buộc mình.

Mình chớ trách ai sao xúi-giục,

Dục-tình nó xúi ở nơi mình.


Nơi mình sẵn có bảy con tinh,

Khuya sớm khít-khao ẩn núp rình.

Rình-rập, hớ-hinh chen xúi-giục,

Giục cho mình phải phá tan-tành.

Tan-tành khó dựng nói mà thương,

Lỡ cuộc dường như kẻ lạc đường.

Đường thẳng lại ưa chê nẻo vạy,

Vạy-vò nên phải chịu lương-khương.


Lương-khương một lúc nghĩ mà buồn,

Nhìn thấy mình đà ở giữa truông.

Truông vắng không đèn, khôn tấn-thoái,

Thoái hoài sao đặng khó lần truông.


Lần truông quanh-quẩn gặp giông tuôn,

Tấp-nập làm cho đến đỗi buồn.

Buồn nghĩ lại mình sao chẳng xét,

Xét rồi đâu đến lạc vào truông.


Vào truông thì phải ở nơi truông,

Chẳng quản chông gai, ráng sức ruồng.

Ruồng-rữa cho xong, công cũng cả,

Cả đời thong-thả, hả hơi sầu.


Hơi sầu muốn dứt khó chi đâu,

Biết quấy thì lo tính buổi đầu.

Đầu phải sớm lo, đừng dụ-dự,

Tự mình hỏi lại tại vì đâu. – Thăng–

—————————d&c—————————


V.
VÔ-VI HIỆP-THIÊN ĐÀI

Ngày 17 tháng 2 Annam 1938 (3 giờ chiều) [TĐ.II/48] [ĐCL.32/92]

- ĐƯỢC, con nghe Thầy hỏi: Thầy đã định con Chấp Bút Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài, sao con dám dể-ngươi lười-biếng, có Chơn-Võ giáng Đàn, sao con không Chấp Bút.



- Bạch: vì con e sợ tà quái nên con phải lầm-lỗi, cúi lạy Thầy tha tội.

- Nầy con, con chưa hiểu tà quái, con nghi cũng phải, Thầy xá tội cho.

Nay Thầy nói cho con rõ: tà quái nó không khi nào dạy việc phải bao giờ, nó cứ chiều theo lòng người đặng nó dẫn vào hang sâu vực thẳm; còn Thầy cùng mấy Vị Thần Tiên đều lo dạy điều phải, sửa điều lầm-lỗi, vậy nên khác nhau xa lắm, con ráng nhớ mà nghiệm-suy khỏi lầm nghe con.

Vậy Thầy lui, đặng Chơn-Võ giáng Đàn dạy Đạo.

Thăng

—— (Tiếp theo)——


-Đệ-tử cúi lạy mừng Đức-Đại-Tiên.

-Nầy Đệ-tử, Ta vì thấy nhiều đứa ỷ sức phàm mà chưa hay tội-lỗi làm cho náo-động Thiên-Cung, nên Ta phải giáng Đàn phân rõ.


Nghe thi:
BẮC-PHƯƠNG CHƠN-VÕ giáng THIÊN-ĐÀI,

Nhắc-nhở nầy nầy cả Gái Trai,

Khuyên ráng hôm mai lo sám-hối,

Chớ rằng trốn-tránh khỏi Thiên-Tào.
1.- Tu thì muốn cho mau đắc-quả,

Mà không lo trả quả cho rồi;

Lời Thầy dạy-bảo thả trôi,

Còn trông chi đặng làm tôi của Trời.

2.- Biết Trời dạy, cãi Trời chẳng kể,

Dám liều mình đáo-để chống kình;

Quên mình xác thịt hôi tanh,

Mà mong ganh-ghét, cành-nanh với Trời.

3.- Trời tuy lộng vơi vơi chẳng thấy,

Là tại người chưa thấy chỗ Trời;

Vậy nên mới dám dể-ngươi,

Quên rằng Trời ẩn trong người chưa hay.

4.- Một lời nói nói sai chưa biết,

Bởi vậy nên không biết chỗ Trời;

Con nào trước nói nhìn lời,

Ấy là đứa đó có Trời nơi Tâm.

5.- Bởi không hiểu nên lần nên lạc,

Vì không thông nên chác oán-thù;

Chưa rành hai chữ trí—ngu,

Mình ngu, trở trách người ngu hơn mình.

6.- Chớ vội tưởng một mình là phải,

Dám chê người cả thảy là hư;

Phải rành thiệt-thiệt hư-hư,

Hư-hư thiệt-thiệt bấy chừ cho xong.

7.- Đừng cậy sức mình thông Đạo-Lý,

Dám chê người Lý-Trí cuồng ngông;

Học hành Đạo-Lý mới thông,

Ngồi không sao được suốt thông Đạo-Mầu.

8.- Đây ta hỏi tại đâu gây rối,

Khuyên Chư Hiền gỡ rối Ta coi;

Tại đâu mà phải lôi-thôi,

Tại đâu xo-đẩy nổi-trôi dật-dờ.

9.- Kẻ nói: quỉ đoạt cờ Chơn-Lý,

Kẻ nói: ma, tà mị chen vào,

Người rằng: văn thấp không cao,

Cho nên bàn cãi trễ lâu ngày giờ.

10.- Ta không nỡ làm lơ để vậy,

Nhắc Chư Hiền trước phải liệu đi;

Luật Thầy sắp án chép ghi,

Ta cho hay trước, chớ nghi lụy mình.

Đệ-tử gởi cho chúng nó coi. - Thăng -

—————————d&c—————————


Ngày 14 tháng 2 Annam 1938 (7 giờ sáng) [TĐ.II/50] [ĐCL.32/75]

- Con cúi đầu lạy mừng Đức Lý-Đại-Tiên.

- Nầy Đệ-tử, Ta vì thấy nhiều đứa tại Tòa-Thánh khoe tài hay học giỏi nên Ta giáng Bút cho chúng nó một bài Thi đặng chúng nó giải cho ra, coi tài nó hay dường nào cho biết, chớ không phải trong thời-kỳ nầy của Ta hành-sự.

Đệ-tử khá trao lời của Bần-Đạo cho đây đặng chúng nó giải ra Ta nghe thử.

Thi:

Quỉ hào sanh khắc tối sanh thần,

Thiên cổ nan phùng diệu tướng nhân;

Cẩm vấn ngoại giao Tòa-Thánh định,

Nhơn hà khả biện thử hà nhơn.


Hà nhơn nhi ngộ Đạo Tam-Kỳ,

Phước lộc toàn tùng đạo tướng qui.

Quỉ động do huynh tài động thế,

Phụ hào khắc tử nội gia bi.


Gia bi do khảm bất điền ly,

Quái nội tư phùng chí bất ly.

Châu tước ngộ hung tài cẩn nhĩ,

Thanh long chủ hỷ bất năng tùy.


Năng tùy Tâm Tánh khổ tùy nhơn

Đạo Đức kiêm triêu ví tợ đờn.

Nhứt điểm tài năng phi đắc quả,

Quả thành do tại ngộ kỳ nhơn.

Kỳ nhơn lưu tủy giữ cao sơn,

Chí kỉnh chí thành mạc thỉ sơn;

Vô xú, vô thinh, vô tự-đắc,

Anh tài khả thúc thị hà nhơn.


Hà nhơn năng quản cứu thương sanh,

Ngả khuyến an lâm mạc vạn hành;

Tiên hậu bổn-căn tu vấn tự,

Tri tường chung thỉ khả thành danh.


Thành danh do tại bất tham danh,

Đạo-Đức nguyên lưu nhứt tự thành;

Khả học khả tu vô khả vọng,

Khả thành khả đạt mạc bôn hành.


Bôn hành phi Đạo Đạo vô thành,

Nhứt kiếp năng thành vạn kiếp sanh.

Khả đạt kỷ niên qui nhứt kiếp,

Tán thành nhứt kiếp mạc tung hoành.


Tunh hoành hà xứ đắc toàn danh,

Đáo để phương tri sự bất thành;

Tam tỉnh khuyến quân năng tự tỉnh,

Hữu tài vô tỉnh hữu tài vô.


Tài vô phương khả thọ cơ bần,

Khổ hạnh vô phiền khổ tại thân;

Thoát khổ chỉ năng tri sở khổ,

Quỉ hào quang khắc tối sanh thần.

Đệ-tử gởi cho chúng nó coi. -Thăng-

—————————d&c—————————


Ngày 24 tháng 2 Annam 1938 (9 giờ tối) [TĐ.II/52] [ĐCL.32/122]

PHỔ lãnh chơn ngôn ngọc sắc hành,

ĐÀ truyền diệu bút nhắn Hương-Anh,

VIỆN kiêm Chưởng-Quản Diêu-Trì-Điện,

TRƯỞNG dưỡng chơn ngôn kíp dĩ thành.

- Nay Tôi chào Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài.



Xin nương Bút tỏ lời hơn thiệt.

- Tôi cũng y theo lời Chị xin.
1.- Nầy lời thiếp phân-trần phải quấy,

Trước là chồng, sau mấy đứa con;

Phần Tôi nay đã vuông tròn,

Còn e Đại-Đức hỡi còn lương-khương.

2.- Thiệt mối Đạo đương cơn rắc-rối,

Vậy nên Ngài cáo thoái lui chơn;

Bước lui, bước tới, lại ngừng,

Làm cho con dại ngó chừng theo Cha.

3.- Khuyên Ngài chớ nghi ma nghi quỉ,

Có lịnh Thầy sắc-chỉ rõ-ràng.

Thiên-Đài tiền-định đã ban,

Cũng vì gia-đạo cản đàng nên lâu.

4.- Cơ Thầy định mùa thu tháng sáu,

Người hết lòng tố-cáo chối từ;

Lịnh Trên chiếu Luật Vô-Tư,

Rằng Người có số Chơn-Như rõ-ràng.

5.- Nên nay được Thầy ban Chưởng-Quản,

Nếu không tuân, ghi án xử liền.

Vậy nên Chư Phật, Chư Tiên,

Đồng nhau tâu giúp, Lịnh Trên y lời.

6.- Vì tại đó nên Người phải chịu,

Cúi vưng lời Thầy biểu phải làm;

Nhọc-nhằn sanh tử cũng cam,

Nguyền ra gánh vác Kỳ-tam buổi nầy.

7.- Bởi Chư Vị chưa hay, chưa rõ,

Nên rủ nhau đánh đổ nhiều bề;

Vậy nên Bần-Đạo phải về,

Giải cho Chư Vị đặng nghe vui lòng.

8.- Tuy đã biết người trong Trời Đất,

Cũng có duyên, có phước, có phần;

Tu hành thì hưởng Thiên-Ân,

Ở đời thì hưởng về phần giàu sang.

9.- Đời, Đạo cũng có an có biến,

Ấy gọi chung là chuyện tuần-hườn;

Tôi khuyên chớ chác oán-hờn,

Ráng lo Tu-Niệm nhờ ơn của Thầy.

10.- Ai còn lại Kỳ nầy là quí,

Ráng trau-giồi Tâm-Chí cho phù;

Muốn Tu thì phải thiệt Tu,

Dầu cho thấp-thỏi, trí—ngu cũng thành.

11.- Mẹ dặn trẻ Hương-Anh phải nhớ,

Lo Tu-Hành nhắc-nhở dùm em;

Gia-đình con ráng xét xem,

Chớ nên núng-nẩy vì em dại khờ.

12.- Mẹ trước có làm thơ để lại,

Đừng cho Phùng trở lại chỗ nầy;

Ráng nghe lời Mẹ dặn đây,

Tới lui Tòa-Thánh hằng ngày với Cha.

13.- Khuyên con chớ bỏ qua lời Mẹ,

Việc Tu-Hành nạnh-hẹ không nên;

Trước sau một dạ cho bền,

Chớ nên giãi-đãi than phiền bỏ trôi.

14.- Cha con thiệt là lôi-thôi lắm,

Con ráng kềm cho lắm nghe con;

Muốn cho con đặng vuông tròn,

Cho nên Mẹ ráng dặn con hết lời.

Tôi kiếu.

—————————d&c—————————




Ngày 25 tháng 2 Annam 1938 (3 giờ khuya) [TĐ.II/54] [ĐCL.32/124]

PHỔ-tế nhơn-sanh dã,

ĐÀ giáng Bút truyền lai,

VIỆN ngôn phân biện luận,

TRƯỞNG-thượng trọng danh tài.

- Tôi chào Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài.

- Tỏ lời cám ơn.

- Tôi xin nương Bút tiếp dạy một bài.
15.- Khuyên con chớ nhiều lời than-thở,

Phải an lòng học vở của Thầy;

Tùy theo Cơ Đạo chuyển xây,

Đừng lòng dị-nghị nay vầy mai kia.

16.- Buổi nầy buổi ra thi công-quả,

Ráng giúp Thầy đặng trả nợ xưa;

Chẳng nên làm thói đảo-lừa,

Biếng lười dụ-dự dây-dưa ích gì.

17.- Lời Mẹ nói con ghi vào dạ,

Chớ dể-ngươi mang đọa lụy mình;

Thương con nên dặn đinh-ninh,

Chớ nên tập tánh chống kình chị em.

18.- Trên Đức Mẹ xét xem nhắc nhở,

Con ráng Tu đặng trở mau về;

Liên-Đài là chỗ cảnh quê,

Trần-gian giả-cuộc mẩn-mê lụy mình.

19.- Khuyên ái-nữ ráng nhìn cho kỹ,

Chớ khinh-khi Bần-Sĩ mà lầm;

Đạo là dụng kẻ hảo-tâm,

Con chưa rõ đặng Tánh Tâm của Người.

20.- Nay Mẹ dặn một lời ráng nhớ,

Chớ nói điều vô cớ không nên.

Phải nhìn, phải xét, phải xem,

Phải coi cho kỹ mới nên để lời.

21.- Chớ theo đứa lả lơi phi-lý,

Nó chưa rành chơn ngụy ra sao;

Mảng lo so sánh nghèo giàu,

Con Tu như vậy kiếp nào cho xong.

22.- Tuy đã biết con phòng cũng phải,

Mà cũng suy cho phải mới phòng;

Trước sau hỏi lại nơi lòng,

Chánh tà, Chơn ngụy, đục trong cho rành.

23.- Tu chẳng phải khoe danh cầu lợi,

Tu cho rành phước tội, mới Tu;

Tu là rõ chữ trí ngu,

Tu lo công-quả, công-phu cho dày.

24.- Tu đừng có khen hay, chê dở,

Dầu dở hay, tôi-tớ của Thầy;

Tu đừng chác việc cãi rầy,

Tu lo học Đạo của Thầy cho xong.

25.- Tu phải nhớ Tổ-Tông Công-Đức,

Tu đặng nhờ hậu phước về sau;

Tu đừng tự-đại, tự-cao,

Trong niềm em chị trước sau thuận hòa.

26.- Phải hôm sớm thờ Cha trọn nghĩa,

Ấy là điều thần tỉnh mộ khan;

Tu cho danh gái rỡ-ràng,

Tu cho tiếng rạng thế-gian muôn đời.

27.- Tu như vậy sửa đời mới đặng,

Mới trọn phần gánh nặng của Thầy;

Một lời dạy trẻ từ đây,

Lo xong phận-sự thì Thầy ban ơn.

28.- Đừng có thấy trong cơn rắc rối,

Mà buồn lòng cáo thoái, không nên;

Như vầy sao gọi chí bền,

Như vầy sao có tuổi tên với Trời.

Xin kiếu.

—————————d&c—————————


Ngày 4 tháng 12 Annam 1938 [TĐ.II/57] [ĐCL.35/66]

VƯƠNG-ĐOÀN LÃO-SƯ GIÁNG ĐÀN.
Khuyên Chư Hiền ráng nghe cho kỹ:
1.- Nầy Nam Nữ Chư Hiền nghe dặn:

Phận người Tu gánh nặng lẽ thường.

Xưa kia lãnh gánh giáng phàm,

Làm không xong việc để dành ngày nay.

2.- Nay gặp hội là may cho đó,

Sẵn có người dòm-ngó xét xem;

Chỉ rành: Cẩn Hạnh Tự Khiêm,

Đặng lo mà gánh cho êm phận mình.

3.- Nếu Chư Hiền chẳng tin, chịu đọa,

Chịu đọa rồi thì họa bao quanh.

Còn hơn cái gánh Tu-Hành,

Tại không chịu xét, chịu nhìn nên hư.

4.- Ta vì chức Lão-Sư Đoàn thể,

Nên phải lo chỉ vẽ nẻo đường,

Đặng người thấy rõ chẳng buồn,

Đặng chừa cái tánh lương-khương dật-dờ.

5.- Thầy không lẽ đợi chờ quá lẽ,

Tội dễ ngươi con để sẵn dành.

Thương đời vì mảng cạnh tranh,

Mà quên gánh nặng lập thành vị ngôi.

6.- Cõi trần-thế mượn thân Tu-Niệm.

Trở lòng khi bao-biếm nhạo cười.

Lão nhìn thấy rõ lụy rơi,

Đem thân vào ngục, chịu nơi khổ hình.

7.- Đã một kiếp đao binh lừng-lẫy,

Lại còn ưa cho thấy chuyện đời;

Tưởng thầm việc ấy là chơi,

Quên mình còn đứng trong đời muội-mê.

8.- Kẻ chịu thảm người thê tha-thiết,

Cũng vì ham thắng liệt nên vầy.

Mảng trần tục lụy no say,

Kể chi tới lỗi Đạo Trời là chi?

9.- Lão thấy rõ nhiều khi định phán,

Trong mỗi tên, mỗi án châu mày,

Đau lòng ngậm đắng nuốt cay,

Khó trông giải cứu nạn tai cho người.

10.- Thấy thì khóc, thì cười, thì hổ,

Khóc là thương trong chỗ đọa đày,

Cười thầm cho kẻ ỷ hay,

Hổ-ngươi vì bạn đắng cay chịu đành.

11.- Phận con Lão trước sanh nhiều đứa,

Nay qui-hồi một đứa cùng hai,

Đó là cũng ruột đắng cay,

Gián-can không đặng, thấy đày thảm-thương.

12.- Mỗi con cũng bước đường sanh dưỡng,

Đành cách xa xu-hướng mị-tà.

Cha ngồi cửa Phật ngó ra,

Nhìn con tha-thiết thở ra than vào.

13.- Thở là thở tình hao giùm gởi,

Than là than, vĩnh bảo không tròn.

Cha hiền dạy chẳng đặng con,

Thở than là vậy, mỏi-mòn tự con.

14.- Mỗi một kiếp vào cơn nguy khốn,

Có rảnh-rang, yên-ổn đặng nào.

Trách thầm Đất rộng Trời cao,

Mà quên mình tạo tự-cao cho mình.

15.- Lời khuyên cả ráng tin lời Lão,

Đặng cho tròn mối Đạo bình-an.

Tu-Hành gánh nặng thì than,

Kẻ siêu người đọa, hai đàng nào hơn.

16.- Lời Lão nói nguồn cơn đã rõ,

Ai với ai coi đó thì tường,

Kẻ sau người trước một đường,

Kẻ siêu người đọa, chán-chường tại đây.

17.- Tại chẳng xét chỗ nào siêu đọa,

Nên dễ-dui, bản ngã không chừa.

Ít lời chỉ chỗ nhặt thưa,

Nhặt thưa là khó, còn thưa để lầm.

18.- Để lầm đó tại Tâm không vững,

Nên chẳng rành nghịch thuận là chi.

Đua chen, giành giựt A-Tỳ,

Ai là kêu rủ đặng tùy theo đông.

19.- Gây ra tội-lỗi chập-chồng,

Lâu năm mới có Đại-Đồng xử-phân.

Một lần xử-đoán quở răn,

Thần Tiên Thánh Phật mười phân châu mày.

20.- Thảm cho nhiều nỗi đọa đày,

Chuyển luân-hồi lại nay vầy mai sao.

Quản chi cái chỗ nghèo giàu,

Hoặc mang hình dạng giác mao lạ thường.

21.- Nhiều khi thấy rõ chán-chường,

Sống sao thác vậy, nết thường tự-nhiên.

Ai mà rõ đặng thì kiêng,

Người không suy-xét tưởng Tiên như phàm.

22.- Tưởng lầm nên lụy phải cam,

Ôi thôi! Vì cũng tại ham mê trần.

Nói xa rồi tỷ lại gần,

Tỷ nào hết lẽ quá mừng thì than.

23.- Dặn-dò tùy ngộ nhi an,

Tùy cơ ứng biến, chẳng than chẳng mừng.

Trước sau khuyên giữ một chừng,

Là nơi chí thiện gỡ lần tội xưa.

24.- Phận ai thì nấy phải ngừa,

Lão thương nên giáng kịp thời biện-phân.

Trước Đàn lạy Đức-Chí-Tôn,

Sau xin kiếu Đức Hàng-Long Chơn-Thần.

—————————d&c—————————

Ngày 18 tháng 2 Annam 1938 (4 giờ khuya) [TĐ.II/60] [ĐCL.32/97]

CA, ĐƯỢC, hai con nghe Thầy dặn:


Nầy CA với ĐƯỢC ráng nghe Thầy,

Trẻ gặp Kỳ nầy thiệt khó thay;

Đã biết khó thay khuyên chịu khó,

Con mà chịu khó có tài hay.


Tài hay vì bởi quyết theo Thầy,

Chẳng nệ chê cười tiếng dở hay;

Dầu dở dầu hay, lo giúp Đạo,

Hết lòng giúp Đạo, thiệt con Thầy.


Con Thầy nên mới gặp nhau đây,

Cay đắng chia nhau một lúc nầy,

Một lúc trở day Cơ Chuyển Đạo,

Biết rằng Chuyển Đạo chớ châu mày.


Châu mày ủ mặt, ắt xa nhau,

Hành Đạo đừng cân chữ khó —giàu;

Đã biết khó—giàu theo thế tục,

Nếu con ràng-buộc, khó gần nhau.


Gần nhau mới đặng hiệp nhau hoài,

Tâm-Chí cho phù, chớ lợt phai;

Nếu chẳng lợt phai, công mới trọng,

Đừng lòng dục-vọng, mới lâu dài.


Lâu dài mối Đạo phát lần ra,

Hai trẻ ráng coi tránh lũ tà;

Tránh được lũ tà là Chánh-Đạo,

Biết rằng Chánh-Đạo, chớ lơ-là.


Lơ-là nó dẫn trẻ lần ra,

Sớm biết mau lo chí hiệp hòa;

Hiệp đặng chí hòa là vật báu,

Chớ nên lừa đảo với kê-cà.


Kê-cà, canh-cải, phải chia-lìa,

Chớ để người đồn tiếng nọ kia;

Tiếng nọ tiếng kia sanh hờn giận,

Giận hờn dứt đặng khỏi chia lìa.


Chia lìa nó hại lắm con ôi,

Con nhớ lại coi mấy lúc rồi;

Nhớ lại lúc rồi thêm chán-ngán,

Khuyên đừng chán-ngán, phủi cho rồi.


Cho rồi cho rảnh mới theo Thầy,

Ràng-buộc vào mình khó trở day,

Day trở ngày nay ai cũng ngán,

Hai con chớ ngán, ráng theo Thầy.


Theo Thầy học Đạo, bớ con ôi!

Học Đạo cho xong đặng cứu đời,

Đời đặng mở-mang nhờ có Đạo,

Đạo làm nên Đạo giúp cho Đời.


Cho Đời cho Đạo hưởng nhau chung,

Ráng sức cùng nhau buổi cuối cùng;

Đừng để đến trôn rồi sẽ nhảy,

Thầy e cho phải khổ vô cùng.


Vô cùng, vô tận mới là hay,

Cùng tận, cùng không tại chỗ nầy;

Nầy chớ ỷ hay, e phải lụy,

Lụy mình thì chịu, chớ phiền ai.


Phiền ai cho đặng có ai bày,

Mình cậy lấy mình phải có sai;

Muốn khỏi sót-sai, khuyên sớm định,

Chớ đừng lần-lựa để nay mai.


Nay mai trì-hưỡn để lâu ngày,

Nếu trễ lâu ngày hại chẳng sai;

Muốn khỏi sót-sai con hỏi trước,

Thầy theo từ bước chỉ đường ngay.


Đường ngay từ lúc thuở Thiên Khai,

Khai dẫn nhơn-sanh tự đó rày;

Rày trẻ đắm mê theo thói tục,

Quên đường Thầy lập mới lầm sai.


Lầm sai một lúc vướng chông gai,

Có vướng chông gai mới nhớ Thầy;

Thầy chẳng bỏ con, lo độ cứu,

Cứu rồi con lại chẳng nghe Thầy.


Nghe Thầy con mới đặng nên thân,

Thân khổ, thân an kiếp Mậu-Dần;

Chớ tưởng Mậu-Dần rồi hết kiếp,

Kiếp nầy chưa dứt, kiếp sau gần.


Sau gần Thầy nối cựu cùng tân,

Tân cựu đổi xây cuộc chuyển vần,

Vận chuyển thưởng răn, cân tội phước,

Con nào có phước lướt qua Dần.


Qua Dần con mới biết là may,

May đó là con biết sợ Thầy.

Thầy bởi thương con nên ráng dạy,

Khuyên con nhớ lại ráng nghe Thầy.

Nghe Thầy, Thầy độ các con ôi!

Chớ tưởng là Tu đúng bực rồi;

Rồi hỏi lại con sao biết đúng,

Đúng cùng không đúng nói cho rồi.


Cho rồi mới biết dở cùng hay,

Hay dở đua nhau cả lũ bầy;

Bầy lũ khen hay cùng nói dở,

Đáo đầu hay dở ở đâu đây.


Đâu đây mà vướng tội vào đây,

Tại chỗ dở hay có tội nầy;

Nầy tội nói hay, hay nói dở,

Làm cho rùm vỡ trở ngăn Thầy.


Ngăn Thầy, Thầy cũng để cho ngăn,

Ngăn đó là ngăn cản mấy thằng;

Thằng đó chịu ngăn, thằng đó chịu,

Chịu ngăn, chịu cản, chớ than rằng.


Than rằng Trời Phật nỡ không thương,

Thương hết sức thương, trẻ quá cường;

Cường nghịch dầu thương, thương cũng nghịch,

Biết mình cường nghịch, chớ tham thương.

Tham thương than hại tại nơi mình,

Mình phải dặn mình chớ hớ-hinh;

Nếu lỡ hớ-hinh, mau tự-tỉnh,

Nếu mau tự-tỉnh cứu cho mình.


Cho mình đặng hưởng phước Trời ban,

Ban thưởng cho ai chẳng cãi-bàn,.

Bàn-cãi dẫu bàn không có ích,

Bởi vì vô ích mới không ban.


Không ban mà để mặc tình-tang,

Tang tỉnh cho an chỗ bế-tàng;

Tàng thiện, tàng năng, tàng độc ác,

Ác-tàn sớm liệu liệu cho an.


Cho an rồi tỉnh mới hay lầm,

Lầm biết sửa lầm, khỏi khổ tâm;

Muốn khỏi khổ tâm, khuyên nhớ Đạo,

Đạo là Thầy dạy Đạo an-tâm.


An-tâm mới thấy quấy lâu rồi,

Rồi biết chuyện rồi chớ dễ-duôi;

Khuyên chớ dễ-duôi nghe Thầy dạy,

Nghe Thầy Thầy dạy các con ôi!

Con ôi ráng bước bước theo Thầy,

Thầy cũng thương vì trẻ dại ngây;

Bởi trẻ dại ngây nên dắt trẻ,

Trẻ đừng thấy dễ, trở khi Thầy.


Khi Thầy, Thầy nỡ có phiền chi,

Kìa Luật Vô-Tư sẵn đến kỳ,

Kỳ phạt thưởng răn, kỳ sửa Đạo,

Muốn mình nên Đạo chớ lòng khi.


Lòng khi e khó gặp Tam-Kỳ,

Gặp Đạo, gặp Thầy dễ mấy khi;

Dễ khó chi chi do các trẻ,

Trẻ nào kiêng nểgặp Tam-Kỳ.


Tam-Kỳ là Đạo cứu thương sanh,

Vớt kẻ linh-đinh, độ kẻ lành;

Lành dữ chớ tranh, tranh phải đọa,

Đọa đày, dồi dập hết khoe danh.


Khoe danh, khoe lợi ích chi đời,

Đời bởi không tường mới lả-lơi.

Cũng bởi lả-lơi nên chịu lụy,

Lụy mình, mình lụy, lụy tuông rơi.

Tuông rơi nước mắt nhỏ quên chùi,

Cũng bởi quá buồn, cũng quá vui;

Vui quá, quá vui, buồn cũng quá,

Vui buồn cho quá phải ngùi ngùi.


Ngùi ngùi trông thấy cảnh tang thương,

Thương hải xưa nay cuộc biến thường,

Thường biến, thường an do Máy Tạo,

Tạo thành oan nghiệp thọ tai ương.


Tai ương, tai nạn tại tay làm,

Làm tội cho nhiều cũng bởi tham;

Thầy thấy trẻ tham, nên mở Đạo,

Đạo Thầy dạy trẻ dứt lòng tham.


Lòng tham muốn dứt trước nghe Thầy,

Thầy sẵn chực thuyền rước trẻ đây.

Trẻ gặp Thầy đây mau ráng bước,

Con ôi ráng bước bước theo Thầy.

—————————d&c—————————



tải về 2.16 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương