ThiêN-ĐẠo chơn-truyền củA ĐỨc ngọc-hoàng đẠI-ĐẾ kim viết cao-đÀi chúa-tể kiền-khôN


Ngày 26 tháng 1 Annam 1938 (6 giờ sáng)



tải về 2.16 Mb.
trang2/14
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2017
Kích2.16 Mb.
#2805
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

Ngày 26 tháng 1 Annam 1938 (6 giờ sáng) [TĐ.II/21]

ĐƯỢC, con phải nói cho CA nó nghe, nó phải lo sắp đặt cho hoàn toàn theo lời của Thầy đã dạy đó, con nhớ mà nói cho rành, đừng quên mà có tội.

CA, con phải đòi TÚ, KIM, THÀNH, THOẠI về Tòa-Thánh đặng chung lo làm Châu-Thiên-Đài cho hoàn-tất. Việc chi không hiểu, con bàn tính với Anh-Hồn.

Con hỏi bốn đứa nó coi chịu hay không, đặng Thầy nhứt định, ngày sau nó khỏi trách.

Thầy hạn cho kể từ ngày nay cho đến Lễ Minh-Chơn-Lý cho rồi, đặng cho Hàn-Long bái-mạng. Con không hiểu thì đến Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi mà hỏi.

Thầy đã định cho ba Vị giáng phàm giúp Đạo, ngày nay đủ rồi, đó là phận của Thầy lo cho con rồi. Còn phận của con thì con liệu lấy, vì thầy không nỡ ép, tự ý con nên—hư, quấy—phải, sau—trước, dưới—trên, nó là phần hữu-hình thì con là Anh Cả của nhơn-sanh, con liệu mà phân-đoán xếp-đặt cho rồi đi.

Thăng

—————————d&c—————————


Ngày 27 tháng 1 Annam 1938 (7 giờ sáng) [TĐ.II/21]

CHIẾU, con phải trở về Trung-Ương lãnh trách-nhậm Bắc-Sư, bớt cho TÀI. Vì trong thời-kỳ nầy thầy giao cho mỗi đứa một trách-nhậm đặng lo làm phận-sự cho xong, bởi con là đứa có căn lớn nên Thầy kêu con một lần nữa. Thầy cũng biết con dạ hồ nghi nên phải ẩn mặt. Vậy trong lúc nầy con phải ra mà lãnh trách-nhậm làm cho xong. Còn việc hồ nghi chưa quyết thì con đến Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi mà học lại, sẵn có Thầy giải cho con. Khá vưng theo lời Thầy, đừng bê trễ nghe con, nếu con bê trễ thì con hại mấy đứa em của con, trong chỗ hại đó con xét coi con có hay không, Thầy nói đó con tự tỉnh lấy.


ĐƯỢC, con biểu CA nó gởi cho CHIẾU. -Thăng-

—————————d&c—————————


Ngày 21 tháng 1 Annam 1938 (6 giờ sáng) [TĐ.II/22] [ĐCL.32/49]

KIM, con khá trao lời nầy cho NGÔ:


1.- NGÔ, con khá bền lòng dè-dặt,

Ráng coi chừng lũ giặc gần con;

Lý-Chơn, con muốn vuông tròn,

Thì con hỏi lại với con, con tường.

2.- Nay Thầy mở con đường dắt trẻ,

Đặng trở về kẻo trễ thời-kỳ;

Biết mình là bực Tu-Mi,

Đường ngay mực thẳng Tu trì gần Cha.

3.- Con khuyên-nhủ gần xa cả thảy,

Chớ ỷ mình, canh-cải lời Thầy.

Kỳ nầy Tam-Tiểi Thầy xây,

Thầy khuyên con phải ráng dày quả-công.

4.- Con chớ tưởng Thiên-Phong là dễ,

Thiên-Phong là phong để độ người;

Độ người là tức: cứu người,

Cứu người là tức: cứu người đó con.

5.- Con chớ khá thon-von tấc dạ,

Đạo chuyển xây, Thầy đã định rồi;

Cải-canh sao nổi Luật Trời,

Khuyên con ráng nhớ mấy lời Thầy đây.

6.- Việc học Đạo hằng ngày chẳng dứt,

Học Đạo là học Luật của Trời;

Con mà muốn trọn Đạo Trời,

Thì con chớ khá dể-ngươi mà lầm. -Thăng -

—————————d&c—————————
Ngày 27 tháng 1 Annam 1938 (12 giờ trưa) [TĐ.II/23] [ĐCL.32/50]

Thầy chào các con


1.- Các con mảng tự-cao, tự-đắc,

Thầy e cho phải mắc mưu tà.

Con nào muốn đặng gần Cha,

Khuyên con sớm tránh cho xa loài tà.

2.- Mắc mưu tà thì Cha cũng hổ,

Vì uổng công dạy-dỗ bấy lâu;

Tại con mảng táng cơ-cầu,

Lời Thầy con bỏ, trước sau chẳng còn.

3.- Trước Thầy nói: Đạo tròn thoạt méo,

Cũng vì con chẳng khéo nên ra;

Kiêu-căng, tật-đố thói tà,

Tại con không dứt mới ra đỗi nầy.

4.- Ứa nước mắt nhìn bầy con dại,

Sao con không ngó lại nhìn Thầy.

Công con Tu-Niệm bấy chầy,

Tự-kiêu, tự-đắc lúc nầy phải hư;

5.- Thầy đã nói Chơn-Như bảy tánh,

Là khuyên con tập tánh Chơn-Như.

Tại con chưa rõ thiệt—hư,

Cho nên mối Đạo đến chừ chưa xong.

6.- Lòng phàm-tục mà mong thành Phật,

Chẳng học-hành sao thiệt người Tu.

Nghe theo một lũ quáng-mù,

Dốt chưa hết dốt, quến rù hại con.

7.- Thầy chẳng nỡ để con mắc kế,

Chỉ cho rành đặng trẻ hồi-tâm;

Hồi-tâm, sau khỏi hổ thầm,

Khuyên cho tu-tỉnh kẻo lầm, nghe con.

Thăng

—————————d&c—————————




Ngày 27 tháng 1 Annam 1938 [TĐ.II/24]

CHƯỞNG-GIÁO THIÊN-TÔN


Chào các Đệ-tử nơi Định-Tường.

Ớ các Đệ-tử, Đức-Chí-Tôn đã bao phen khuyên-nhủ, mà các Đệ-tử cứ giữ một lòng bàn-cãi, không lo Tu-Niệm cho kịp thời-kỳ.

Vậy từ đây nhẩn sau, Bổn-Tôn có để lời khuyên các Đệ-tử, ai muốn cho Đạo nên mà cứu lấy Linh-Hồncủa mình hay là muốn cho Đạo hư mà phải chịu trầm-luân khổ-hải, các Đệ-tử là người của Đức-Chí-Tôn chọn lự trong mấy năm nay, thường khuyên-răn dạy-dỗ ước-ao sao cho nên người Đạo-Đức, đặng có cần dùng làm rường-cột ra giúp Đạo sửa Đời, mà hiện nay thấy rõ là một phường độc-sâu nham-hiểm bàn-cãi lo chia rẽ đảng phe quyết lập riêng cho phần mình. Bổn-Tôn hỏi vậy có đáng mặt làm con-cái của Đức-Chí-Tôn hay không? Từ đây nhẩn sau, Đức-Chí-Tôn không còn thể dạy-dỗ nữa, vậy thì các Đệ-tử phải tự xét lấy. Thăng

—————————d&c—————————


Ngày 27 tháng 1 Annam 1938 (17 giờ) [TĐ.II/25]

THỂ sắc quang minh tại chí thành,

LIÊN tòa thiên cổ biểu thinh danh,

TIÊN phàm do tại mê cùng tĩnh,

NỮ hạnh toàn tùng Đạo phát minh.

Bần-Đạo chào Đạo-Huynh, chào Chư Thiên-mạng. Bần-Đạo vì lòng Bác-Ái nên phải đến đây phân tỏ đôi lời cho Chư Thiên-phong Nam Nữ tự xét.

Nghe Bần-Đạo cho thi đây mà tự hiểu lấy:
1.- Đời cùn tận, Tam-Kỳ Đạo mở,

Vì lòng Thầy chẳng nỡ bỏ qua;

Đã rằng con có Một Cha,

Tâm-Đồng Ý-Hiệp mới Hòa mới nên.

2.- Các Anh Lớn vì quên Minh-Thệ,

Trọng xác phàm chẳng kể Thiêng-Liêng;

Không tuân Đạo-Luật Chơn-Truyền,

Làm cho đến đỗi Thầy phiền, chẳng vui.

3.- Bần-Đạo cũng tới lui khuyên-nhủ,

Anh Chị sao nết cũ không chừa;

Lưới Trời lộng lộng tuy thưa,

Mảy lông không lọt, đảo lừa được sao.

4.- Bần-Đạo thấy xiết bao than-thở,

Cúi lạy Thầy rộng mở ân mưa;

Từ đây biết lỗi phải chừa,

Hết lòng theo Đạo, nết xưa đừng làm.

5.- Lời phân tỏ Nữ Nam hai phái,

Ráng ăn-năn suy-xét lỗi-lầm;

Thì Thầy có chỗ chế-châm,

Rằng không, Thầy giữ Luật cầm Vô-Tư.

6.- Kìa những kẻ nhàn cư bất thiện,

Thừa dịp nầy kiếm chuyện gạt người,

Em xin nhắn-nhủ đôi lời,

Muốn cho biết Đạo, biết Trời phải tuân.


Xin Đạo-Huynh gởi ra Trung-Ương.
—————————d&c—————————
Ngày 29 tháng 1 Annam 1938 (15 giờ) [TĐ.II/26]

Thầy chào các con, các con nghe thi:


1.- Nhìn các trẻ Định-Tường Thầy ngán,

Chẳng còn chi rằng đáng con Thầy;

Đua nhau cãi lẫy cho rầy,

Chẳng còn kiêng nể đến Thầy là chi.

2.- Vậy cũng tiếng tu-mi Nam-tử,

Vậy cũng khoe lánh dữ làm lành;

Các con chịu tội đã đành,

Đừng than, đừng thở, đừng giành phần hơn.

3.- Thầy thiệt hết lòng Nhơn thương trẻ,

Các con sao ỷ thế cậy quyền,

Tưởng lầm: nhơn-lực thắng Thiên,

Các con quá dụng ý riêngcãi Trời.

4.- Thầy đã phán mấy lời con hiểu,

Hiểu cho rành, lo-liệu mới xong;

Các con biết kiếp Đại-Đồng,

Sao con dám cãi Luật Công Thiên-Điều.

5.- Hồn xác trẻ phải tiêu, phải dứt,

Thầy nhìn con nước mắt ròng ròng;

Thương con Thầy cũng để lòng,

Tội con ngổ-nghịch, Luật Công phải hành.



Thăng

—————————d&c—————————


Ngày 29 tháng 1 Annam 1938 (16 giờ) [TĐ.II/27] [ĐCL.32/54]

Nầy các con nghe Thầy dạy mà tự hiểu.


1.- Các con mảng cãi cao, cãi thấp,

Mà chưa hay chỗ vấp, chỗ lầm;

Con nào sớm biết hồi-tâm,

Thì Thầy có chỗ chế-châm con nhờ.

2.- Các con tưởng Thiên-Cơ là dễ,

Con mắt phàm có thể nào thông,

Quen nghe theo lũ cuồng-ngông,

Xưng hô gạt chúng, thiệt không kể Trời.

3.- Qui các trẻ có nơi Học Đạo,

Đặng cho Thầy chỉ-bảo chỗ lầm,

Dầu cho đứa điếc, đứa câm,

Biết nghe, biết nhớ Thầy chăm dạy liền.

4.- Còn những đứa đảo-điên, giả-dối,

Có thể nào biết mối Đạo-Mầu;

Đã rằng Chơn-Lý cao sâu,

Con nào mộ Đạo đâu đâu cũng gần.

5.- Tuy mắc-mõ là cân Tạo-Hóa,

Cũng có Người luyện đá vá Trời;

Khuyên đừng Tu giỡn, Tu chơi,

Tu quyền, Tu thế, Tu đời, Tu quen.

6.- Các con mảng chê khen cao thấp,

Lại cưu-lòng cố-chấp giận-hờn.

Tu vầy, để nghỉ còn hơn,

Để làm người dốt còn hơn Tu-Hành.

7.- Biết gặp Đạo, gặp Thầy cứu thế,

Không Tu-Hành lại để cải-canh;

Trầm luân con chịu đã đành,

Trông chi tránh khỏi tội-tình vương mang.



Thăng

—————————d&c—————————


Ngày 29 tháng 1 Annam 1938 (19 giờ) [TĐ.II/28] [ĐCL.32/55]

Thầy chào bốn con, nghe Thầy dạy:


1.- Nầy bốn trẻ Đài, Nhơn, Nghi, Giảng,

Bốn con nghe cho hãn lời Thầy:

Ngày nay Cơ Đạo chuyển-xây,

Lập thành Tam-Tiểu cậy tài bốn con.

2.- Trước phong trẻ bản phong rành-rạnh,

Sao bốn con nguội lạnh cho đành;

Muốn cho bốn trẻ nên danh,

Giúp Thầy chuyển Đạo cho thành nghe con.

3.- Thầy phiền đứa tự-tôn, tự-đại,

Nơi Định-Tường mặt—trái cãi Thầy,

Nên Thầy nhứt-định chuyển-xây,

Bốn con ráng sức giúp Thầy nghe con.

4.- Thầy cũng quyết Hiệp Hồn với Xác,

Ngặt vì CA chưa ắt lòng tin:

Nghe Thầy chuyển Đạo, đứng nhìn,

Thầy thương hết sức, nên đình-đãi lâu.

5.- Nó kể chắc Đài-Châu-Thiên đó,

Nó chắc mình, nên nó ngó chừng;

Lời Thầy dạy bảo chẳng tuân,

Còn trông chi nữc Thiên-Ân của Thầy(*).

6.- Nay Thầy định con đây Tứ-Bửu,

Ráng Hiệp cùng: Phục-Hổ, Hàng-Long;

Kiếp nầy là kiếp Đại-Đồng,

Bốn con trì-hưỡn, Thầy không để chờ.

7.- Con phải biết Thiên-Cơ không dễ,

Nơi Định-Tường con kể ra chi;

Đua chen, cãi-lẫy trễ kỳ,

Thầy không nỡ để diên trì được sao.

8.- Bốn con hiệp cùng nhau đủ mặt,

Đặng nghe Thầy sắp-đặt Thánh-Tòa.

Bốn con khuyên hỏi lấy CA,

Tìm nhà của ĐƯỢC, ấy là Vô-Vi. - Thăng -

--------------------------

(*) Thầy nói với CA.

—————————d&c—————————
Ngày 30 tháng 1 Annam 1938 (12 giờ trưa) [TĐ.II/29]

Nầy TÚ, KIM, hai con nghe Thầy dặn:


1.- Thầy trước định Tân-An KIM - TÚ,

Phụ giúp KIÊN phổ-độ Tân-An;

Nay KIÊN ỷ thế ngang-tàng,

Hai con tránh nó, kẻo mang lỗi-lầm.

2.- Vì hai trẻ mấy năm khó nhọc,

Nên nay Thầy lừa-lọc cần dùng;

Khuyên con ráng trọn thỉ-chung,

Theo Thầy Hành-Đạo lập công buổi nầy.

3.- Con ôi! Đạo có xây, có chuyển,

Chớ tưởng ai đặt chuyện sao con;

Tại con Tâm-Tánh chẳng tồn,

Vì chưa nhứt-định, hởi còn hồ-nghi.

4.- Hai con phải nghĩ-suy cho tột,

Đừng nghe theo đứa dốt cải-canh,

Đạo Thầy dạy-bảo Tu-Hành,

Đạo không có dạy-dỗ giành đảng phe.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
7.- Đừng bắt-chước Non Côn kiếm ngọc,

Xuống biển sâu lừa-lọc bòn vàng.

Ấy là một lũ dị-đoan,

Lời Thầy nói tỷ, ngọc vàng ở đâu.



- Thăng -

—————————d&c—————————


Ngày 30 tháng 1 Annam 1938 (15 giờ) [TĐ.II/30] [ĐCL.32/62]

Nầy các con, các con nghe Thầy phán:


1.- Thầy trước định TRUNG-ƯƠNG làm gốc,

Khuyên các con chủng-tộc thương nhau.

Tại con đen trắng khác màu,

Làm cho đến đỗi: Đạo mầu phải hư.

2.- Vì các trẻ ý tư chẳng dẹp,

Vì các con lấn-lướt đoàn em;

Tưởng thầm Thầy chẳng xét xem,

Dể-ngươi, khi-bạc anh em chẳng hòa.

3.- Nay Thầy chuyển Thánh-Tòa sửa đổi,

Kêu Định-tường đặng nối như xưa.

Con nào biết lỗi, sớm chừa,

Còn trông Tu-Niệm như xưa lâu dài;

4.- Con nào ỷ có tài, canh-cải,

Chiếu Luật hình, sa-thải chẳng dùng;

Các con ráng ngó KIÊN PHÙNG,

Làm gương các trẻ soi chung sửa mình.

5.- Vì thương trẻ đinh-ninh dặn bảo,

Các con đừng lừa-đảo hư thân;

Trời xa, ma quỉ ở gần,

Nó mong xúi-giục dẫn lần con ra.

6.- Con chớ ỷ có Cha dìu-dắt,

Mà tự-kiêu, phải mắc loài tà;

Đạo-Mầu dìu-dắt phần Ta,

Tự-liêu, tự-đắc con ra khỏi Thầy.

7.- Thầy đã dạy rẽ mây vén ngút,

Tại các con chui đục sương mù.

Mình ngu mà chẳng chịu ngu,

Khoe-khoang, kiêu-ngạo khó hầu gặp Cha.

8.- Các con ráng nghe Cha dạy-dỗ,

Ráng theo Thầy tránh khổ, bớ con!

Muốn cho thân-thể vuông tròn,

Tránh thì con khỏi các phường độc sâu. -Thăng-

—————————d&c—————————
Ngày 1 tháng 2 Annam 1938 (3 giờ khuya) [TĐ.II/31] [ĐCL.32/64]

CA, nghe Thầy dạy:



CA, con quyết chí theo Thầy,

Giữ tròn bổn-phận, lỗi nầy Thầy tha.

1.- Rày khuyên trẻ lánh xa tà mị,

Chớ theo phường ích-kỷ hại nhơn.

Lý-Chơn cũng tỷ dây đờn,

Giữ-gìn cẩn-thận, khỏi sờn khỏi hao.

2.- Lời Thầy hứa trước sau như một,

Con là người rường-cột Tam-Kỳ;

Bởi con có tánh nghị nghi,

Thời-kỳ Đạo-Chuyển con nghi nên lầm.

3.- Rày con biết lỗi-lầm nên sửa,

Cửu-Trùng-Đài, Thầy để cho con;

Từ đây nết cũ chớ còn,

Một lòng tin Đạo chớ mòn, chớ phai.

4.- Phần sắp-đặt là vai Anh Cả,

Lo sao cho thượng-hạ thuận-hòa;

Như vầy đáng mặt con Cha,

Như vầy mới vững Thánh-Tòa, nghe con!

—————————d&c—————————
Ngày 8 tháng 2 Annam 1938 (12 giờ trưa) [TĐ.II/31] [ĐCL.32/69]

Thầy mừng các con Nam Nữ Lưỡng-phái có mặt tại Đạo-Tràng, Thầy thiệt rất vui lòng mà được thấy các con chung hiệp nhau đây mà học Đạo.

Song Đạo rất mắc-mõ, khuyên các con chớ khá ngã lòng mà e cho lỡ bước đường tấn-hóa, nghe các con.

Các con nghe thi đây mà tự xét:


Thi:

1.- Nay mừng thấy các con sum hiệp,

Thầy vui lòng dạy tiếp cho con;

Từ đây công-quả vuông tròn,

Thầy dầu tâm-chí hao mòn chẳng than.

2.- Khuyên lớn nhỏ đá vàng một dạ,

Đừng dể-ngươi, giả trá, khi Thầy.

Mấy khi con được gặp Thầy.

Gặp cùng chẳng gặp kỳ nầy nghe con!

3.- Ớ các trẻ dò đon cho chắc,

Phải nghiệm-suy khỏi mắc mưu tà,

Ngày sau con khỏi trách Cha,

Nên Thầy tha-thiết, thiết-tha phân rành.

4.- Con phải biết Tu-Hành chẳng dễ,

Nếu lỡ cơ, ắt trễ thời-kỳ,

Muốn cho cách-vật trí-tri,

Khuyên con ráng học nhiều khi mới tường.

5.- Tuy đã biết con đường Thầy lập,

Lập cho con đặng tập đi lần,

Con nào còn tánh tham sân,

Thầy e cho nó khó lần đường ngay.

6.- Việc rắc-rối kỳ nầy thiệt khó,

Muốn theo Thầy cái khó là khôn.

Thầy thương nên chọn Anh-Hồn,

Dắt-dìu các trẻ bảo-tồn vị ngôi.

7.- Các con ráng nghe lời Thầy dặn,

Sớm dứt trừ cừu-hận nơi tâm;

Lần lần Thầy chỉ, Thầy chăm,

Con nào không dứt mấy năm không thành.

8.- Muốn cho rõ mối-manh của Đạo,

Phải siêng-cần học Đạo mới tường,

Xin đừng tấn-thối lương-khương,

Lương-khương nó hại bước đường phải ngưng.

9.- Thầy dạy trẻ chẳng ngừng lời nói,

Con nỡ đành trôi-nổi bỏ qua.

Muốn nên thì ráng theo Cha,

Muốn hư, theo lũ quỉ ma quến rù.
Thầy ban ơn các con.
—————————d&c—————————

Ngày 9 tháng 2 Annam 1938 (4 giờ khuya) [TĐ.II/33] [ĐCL.32/72]

Nầy các con nghe Thầy dặn:


1.- Nầy các trẻ nghe lời Thầy dặn:

Chớ thở-than gánh nặng đường dài;

Gắng công khó nhọc theo Thầy,

Mấy khi con được gặp Thầy nghe con.

2.- Con thử nghĩ nước non cao vọi,

Cơn biến dời sao khỏi ngã xiêu;

Các con sức lực bao nhiêu,

Mà mong kình-chống Thiên-Điều được sao.

3.- Các con khá xúm nhau thức tỉnh,

Để lâu ngày hóa bịnh trầm kha;

Thiêng-Liêng cảnh báu là nhà,

Cõi trần của tạm để mà náu-nương.

4.- Tuy là thấy bước đường rắc-rối,

Các con đừng cáo thối ngã lòng;

Kim nên nhờ có dày công,

Người nên phải có Chủ Ông dắt-dìu.

5.- Phải nhớ chữ triêu triêu tịch tịch,

Đừng quên lời quá khích bạch-cu.

Một ngày qua khỏi gió âu,

Con ôi! chơn-Lý cao sâu diệu-huyền.

6.- Vì các trẻ có duyên mới gặp,

Gặp duyên thì ráng tập mà làm,

Tránh phường triêu tứ mộ tam,

Muốn nên người Đạo sớm ham học-hành.

7.- Nay Thầy chỉ đành-rành cho trẻ,

Ráng ghi lòng, kiêng nể lời Thầy;

Tuy là chẳng dở, chẳng hay,

Miễn con làm đặng có Thầy chứng cho.

—————————d&c—————————
Ngày 14 tháng 2 Annam 1938 (10 giờ trưa) [TĐ.II/34] [ĐCL.32/77]

Các con nghe Thầy cho thi đây mà ráng học, chớ nên bỏ qua rồi trách Thầy sao không dạy, nghe các con.


Thi:

Vô-Vi Đạo mở mối Chơn-Truyền,

Trẻ gặp kỳ nầy thiệt có duyên,

May đặng gặp duyên, khuyên ráng giữ,

Giữ cho bền chặc Lý-Chơn truyền.


Chơn-Truyền Thầy mở dạy nhà Nam,

Các trẻ khuyên nhau ráng tập làm;

Cội phước, dây oan mau khá rõ,

Rõ rồi chớ bỏ, gọi phui-pha.


Phui-pha vì trẻ tánh lơ-là,

Bởi vậy nên Thầy phải lụy sa;

Nhìn thấy các con sa tội-lỗi,

Vương vào tội-lỗi, khó gần Cha.

Gần Cha, trẻ mới khỏi mưu tà,

Khuyên trẻ từ nầy phải tránh xa;

Chớ tưởng gần Cha rồi tự-đắc,

Đứa nào tự-đắc, mắc mưu tà.

Mưu tà nó hại, tại vì con,

Sáo quyển, chiều-lòn, tiếng ngọt ngon;

Một kiếp Tu-Hành, mê phải đọa,

Dằn lòng dục-vọng, chớ bôn-chôn.


Bôn-chôn sao khỏi cuộc vần xây,

Phải biết tùy theo Luật của Thầy;

Chớ lấy sức phàm ra cản-trở,

Đáo đầu mới biết dở cùng hay.


Cùng hay cùng dở ở nơi Thầy,

Do Luật Công-Bình, chẳng vị ai;

Hỏi trẻ có ai khoe sức giỏi,

Giỏi rồi tự hỏi: khỏi Trời không?


Trời không có vị đứa gian-hùng,

Lựa chọn, chia rành, chẳng để chung;

Phước thưởng, tội răn, do Luật cả,

Khuyên đừng có vội tánh buông-lung.


Buông-lung hết sức đến vô cùng,

Cũng bởi gây nhiều chuyện dữ-hung;

Muốn tránh dữ-hung, tua phải sớm tỉnh,

Đừng cho đến đỗi chịu vô cùng.


Cô cùng chừng ấy hết thung-dung,

Tai họa bao quanh, hết vẫy-vùng;

Dẫu có ăn-năn thì đã muộn,

Công-Bình Luật Cả, khó nhiêu-dung.

Nhiêu-dung sao đặng tội mình gầy,

Hễ biết mình gầy, chớ trách ai;

Một tiếng nói sai còn có tội,

Huống hồ chất chứa mấy năm nầy.


Năm nầy phán-xét các con ôi,

Mạt kiếp vần-xây Đạo sửa Đời;

Bởi Đạo sửa Đời nên lập Đạo,

Con nào mộ Đạo ráng nghe lời.


Nghe lời Cha dạy mới nên thân,

Chớ ỷ khoe-khoang cậy thế-thần;

Cậy thế cậy thần gây chuyện dữ,

Con nào dây dữ, tử cho thân.


Cho thân biết khổ mới hồi-đầu,

Chịu khổ là trừ tội bấy lâu;

Vì trẻ bấy lâu quên tội ác,

Nếu ai còn chác phải ưu sầu.


Ưu sầu cho trẻ mến công-danh,

Tước-phẩm đeo đai khổ buộc mình;

Vinh-nhục, nhục-vinh theo thói tục,

Giựt mình ngó lại vóc hôi tanh.


Hôi tanh vì bởi cuộc trang giành,

Không rõ chánh—tà, chỗ trược—thanh;

Tham luyến vinh-hoa, điều khoái-lạc,

Tại vầy nên vướng tội vào mình.


Vào mình nên phải chịu gian-nan,

Hết kể khôn-lanh, kế bạo-tàn.

Ngửa mặt kêu Trời sao chẳng cứu,

Mình làm mình chịu, khó than-van.


Than-van cho lắm cũng không nhằm,

Ai biểu làm điều độc hiểm tâm;

Mở Đạo mấy năm lo dạy-dỗ,

Không tuân dạy-dỗ, chớ than thầm.


Than thầm hỏi lại tại vì đâu?

Hỏi thử coi ai kết thảm sầu?

Mới biết tham sân gây sự dữ,

Nên Thầy để thử tới đâu đâu.


Đâu đâu cũng có Đạo gieo truyền,

Tại bởi lòng người tánh đảo-điên;

Điên-đảo dứt xong, mong gặp-gỡ

Vô-Vi Đạo mở mối Chơn-Truyền.


—————————d&c—————————

Ngày 14 tháng 2 Annam 1938 (3 giờ khuya) [TĐ.II/37] [ĐCL.32/80]

Thầy chào các con, các con nghe Thầy dạy:


1.- Các con chớ bôn-chôn, nóng-nảy,

Mà chưa hay quấy—phải tại đâu;

Vật chi cũng có đuôi—đầu,

Sự chi cũng có trước—sau mới thành.

2.- Kể từ thưở Thầy sanh các trẻ,

Thầy ban cho mỗi trẻ đủ Thần,

Dặn-dò phải nhớ Tứ-Ân,

Dặn con phải tập Tân-Dân mỗi ngày.

3.- Thầy dặn trẻ một hai phải tránh:

Tránh lủ tà, tránh bánh luân-xa,

Tránh phường giả-dối, kiêu-xa,

Tránh xa những đứa phản Cha, phản Thầy.

3.- Dặn trẻ đến kỳ nầy phải nhớ,

Là tới kỳ con trở về Thầy;

Khắp cùng Nam Bắc Đông Tây,

Con Thầy thì phải tìm Thầy mà qui.

4.- Nay đã đúng Tam-Kỳ Phổ-Độ,

Đem con về phải chỗ, phải nơi;

Con nào ham-muốn sự chơi,

Ngày sau đừng trách rằng Trời không thương.

5.- Các con biết là cơn mạt kiếp,

Sao các con quen nghiệp đảo-lừa;

Con nào chậm bước tới trưa,

Hết trông Thầy rước, Thầy đưa qua bờ.

6.- Thầy hết sức đợi chờ các trẻ,

Tại các con chẳng kể lời Thầy;

Đạo thời có chuyển, có xây,

Các con mài-miệt, no say cõi trần.

7.- Các con nỡ chẳng tuân lời dặn,

Dám dể-ngươi, đen trắng cãi Thầy;

Thầy vì thương trẻ thơ-ngây,

Nên Thầy Ân-Xá mười hai năm rồi.

8.- Nay đã đến Kỳ-Thời Phán-Đoán,

Sao các con quên tháng, quên ngày;

Mậu-Dần Thầy định năm nay,

Lập thành Tam-Tiểu, cho hay trước rồi.

9.- Tại các trẻ coi Trời quá rẻ,

Vậy nên Thầy không nỡ bỏ qua;

Xử-phân cho rõ tánh tà,

Đặng đoàn hậu-tấn coi mà làm gương.

10.- Con phải biết Thầy thương nên dạy,

Dạy bao nhiêu, con cãi bấy nhiêu.

Không nghe, không đếm ít nhiều,

Một lòng tự-đắc, tự-kiêu, khi người.

11.- Nếu để vậy sửa đời sao được,

Tu lâu này bạo ngược vẫn còn;

Lần lần sa đắm Bàng-Môn,

Cũng vì các trẻ tự-tôn chống-kình.

12.- Mình chẳng biết xử mình cho rảnh,

Còn trông chi làm Thánh, làm Thần.

Thầy phong vào bực Thiên-Ân,

Mà con chẳng sợ đem thân chôn bùn.

13.- Các trẻ chịu tội chung rất đáng,

Khuyên con đừng thán oán nghe con.

Nước non dầu có hao mòn,

Đạo còn xây chuyển, Luật còn thưởng răn.

14.- Các trẻ đã ăn-năn rất muộn,

Thầy rất thương cho uổng công Tu;

Con ôi! Chớ chác oá thù,

Con ôi! Hết ỷ lọng dù, nghe con!


Con gởi cho CA nó coi. - Thăng -

—————————d&c—————————


Ngày 15 tháng 2 Annam 1938 (18 giờ) [TĐ.II/39] [ĐCL.32/82]

CHƯỞNG-GIÁO THIÊN-TÔN


Ớ các Đệ-tử nơi Định-Tường, nghe Bổn-Sư cho Thi đây, ráng giải:

Linh-Quang chơn Đạo tạo nhơn thành,

Đạo-Lý vô cùng hữu diệt sanh;

Sanh-diệt diệt-sanh do Tạo-Hóa,

Nhơn hà năng hóa, hóa hà nhơn.


Hà nhơn năng hóa, hóa vô cùng,

Nhứt Điểm Linh Đài vạn kiếp chung;

Chung-thỉ thỉ nang an bổn-phận,

Phận tùng ư Lý, Lý vô cùng.


Vô cùng, vô tận, tận vô cùng,

Khả thức vô cùng hữu thỉ-chung;

Mạc thiết thỉ chung vô Đạo-Lý,

Lý tùng ư Đạo trí ư PHÙNG.


Ư Phùng vô Đạo tại vô Kiên,

Kiên ngộ Nhơn vô tại bất thiền;

Thiền Tánh, Thiền Tâm, Tâm tự tỉnh,

Tỉnh hành, tỉnh ngộ, tỉnh Tâm-Điền.


Tân-Điền vô chưởng sự oan khiên,

Khiên tạo do tham tại vọng truyền.

Truyền đắc nhơn ngôn nhơn thiểu ngộ,

Ngộ kỳ điên đảo hại căn nguyên.


Căn nguyên tầm đáo hữu sư truyền,

Truyền Đạo siêu phàm độ hữu duyên.

Duyên cớ hà nhơn sanh ác cảm,

Cảm hoài đa nhựt kiết ưu phiền.


Ưu phiền nan giải oán thiên niên,

Niên ngoạt vô vong sự bất hiền;

Hiền hữu khả tri CA PHẤN LỘNG,

Lộng quyền do tại chí vô kiên.


Vô kiên Đạo-Đức kiếp hà thành,

Thành bại đương kỳ hữu trược thanh;

Thanh tịnh khả Tu nhi hưởng phước,

Phước tùy do thiện đắc thinh danh.


Thinh danh ưu Đạo cứu thương sanh,

Sanh-chúng đương kiêm lộ ám hành.

Hành lạc mê đồ sa vọng khổ,

Khổ Phùng Nhơn Lẹ, khổ an tình.

An tình chung hiệp cứu nhơn-sanh,

Sanh Đạo Nhơn an Đạo khả thành;

Thành tựu bất kham do tự-đắc,

Linh-Quang chơn Đạo tạo nhơn thành.


Đệ-tử gởi cho chúng nó coi. - Thăng -

—————————d&c—————————



tải về 2.16 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương