ThiêN-ĐẠo chơn-truyền củA ĐỨc ngọc-hoàng đẠI-ĐẾ kim viết cao-đÀi chúa-tể kiền-khôN



tải về 2.16 Mb.
trang1/14
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2017
Kích2.16 Mb.
#2805
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14



ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ
TÒA-THÁNH ĐỊNH-TƯỜNG

HỘI-THÁNH CHƠN-LÝ


THIÊN-ĐẠO

CHƠN-TRUYỀN

CỦA

ĐỨC NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ

KIM VIẾT CAO-ĐÀI CHÚA-TỂ KIỀN-KHÔN

VÀ CỦA

ĐỨC CHƯỞNG-GIÁO THIÊN-TÔN

Chư Phật, Tiên, Thần, Thánh hậu-cần

Đức-Chúa-Trời.

Từ năm Bính Dần (1926) tới năm Đinh Hợi (1947)

Trời mở Đại-Đạo Ăn-Xá Kỳ Ba nơi cỏi Á-Đông
QUYỂN THỨ NHÌ
TIỂU DẨN

Than Đời mạt kiếp, người lành ít lắm, kẻ dữ quá đông; nên Trời phải hạ trần mở Đại-Đạo, để hiệu Tam- Kỳ Phổ-Độ hay là Đại Ân-Xá Kỳ Ba, đặng cứu thế, tránh khỏi cái nạn Ngũ- Lôi tiêu diệt Linh-Hồn.

Ai là người biết trọng phần Hồn, biết nhìn Trời là Cha Thiêng-Liêng, xin hãy ráng mà trở về với Đạo, đặng Giúp Trời Hành Đạo lập công-quả cho trọn thỉ-chung thì mới trông-mong được Đại Ân-Xá.

Kể từ năm Bính-Dần (1926) Trời khai Đạo tại Tây-Ninh đến năm nay là Đinh-Hợi (1947), tính ra được 22 năm.

Trong thời gian ấy Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ có ẩn ba Tiểu-Thời:

1.- Đệ Nhứt Tiểu-Thời: kể từ Bính-Dần (1926) cho đến tới năm Tân-Vì (1931).

2.- Đệ Nhị Tiểu-Thời: kể từ Canh-Thân (1932) cho đến tới năm Ất-Sửu (1937).

3.- Đệ Tam Tiểu-Thời: kể từ Mậu-Dần (1938) cho đến tới năm Đinh-Hợi (1947).

Hai Tiểu-Thời trước là 6 năm, ấy là đều lậu Thiên-Cơ của Đạo-Cô cho biết năm 1934, rồi Ngài nói rằng: Đệ Nhứt Tiểu-Thời Đức-Chí-Tôn đã thâu-dụng chức-sắc nhiều rồi, nên ngày nay phải gạn bỏ bớt những người phá Đạo với phá Thầy đặng đem qua Đệ Nhị Tiểu-Thời.

Trong thời này




C-ĐỆ TAM TIỂU-THỜI

CHƯƠNG I

TÒA-THÁNH ĐỊNH-TƯỜNG

HỌA ĐỒ TÒA THÁNH ĐỊNH TƯỜNG MỸ THO

A) Bàn thờ, Bài-Vị Tứ-Thánh.

B) Treo đèn Lục-giác xanh,

dưới có bàn thờ Chưởng-Án

(Khương-Thái-Công)

C) và D) Hai bàn thờ Chư Phật

Tiên Thánh Thần.

E) và F) Từng lầu Đồng-nhi;

Châu-Thiên-Đài:

bề cao 18 thước,

bề ngang 12 thước.

NGHI TIẾT VÀ HÀNH LỄ TẠI CHÂU-THIÊN-ĐÀI 


Sang qua Tam-Tiểu-Thời thì Thầy dạy sắp đặt sự thờ phượng trong Châu-Thiên như sau nầy:

Trên thờ Thiên-Nhãn.

Dưới có thờ bốn Bài-Vị Tứ-Thánh.

Trên bàn thờ có cái Ngai năm cấp, hình tượng Tam-giác, có sắp 15 ngọn đèn (coi kiểu vẽ hình).

Trên vách phía bên Tả và bên Hữu thì có hai bàn thờ vọng:

a.- Chư Thiên, Chư Phật.

b.- Chư Thánh, Chư Thần.

Phía dưới bàn thờ Thập-Ngũ Linh-Đăng thì thờ một cái Ngọc-Ỷ sơn son phết vàng, chạm Tứ-Linh (Long, Lân, Qui, Phụng).

Trước Ngọc-Ỷ có để cái Bàn Án, ở giữa Châu-Thiên: trên có treo một cái Đèn kiến xanh hình Lục-giác, bề cao 1m20, trong có thắp một ngọn Đèn Thiêng-Liêng.

Ở dưới có một cái bàn thờ Hương Án, Bài-Vị Đức Khương-Thái-Công, Chưởng-Án của Đại-Đạo.

Kế Bài-Vị có dựng một cây Cờ Lịnh màu vàng của Đức-Chí-Tôn. Ngày Đàn có thắp hai ngọn Đèn Lục-giác nhỏ màu vàng và đỏ gần cái Đèn xanh, trước Ngọc-Ỷ và trên Bàn Án.

Trên Ngọc-Ỷ có phủ một cái Áo Khai-Thiên màu trắng.

* *

Nhơn dịp ấy Thầy có giải nghĩa bốn câu Thánh-Giáo nầy cho hồi lúc Khai-Đạo tại Tây-Ninh.

—————————d&c—————————



CHƯƠNG II 

DẠY NHÃN-TÂM VÀ CHÚ GIẢI


VÔ-VI HIỆP-THIÊN-ĐÀI

Ngày 19 tháng 8 Annam 1938 (19giờ) .[TĐ.II/5]

ĐƯỢC, con nghe Thầy dặn giải nghĩa câu:


Nhãn-Thị chủ Tâm,

Lưỡng-Quan Chủ-Tể,

Quan thị Thần,

Thần thị Thiên,

Thiên dã ngã dã.
Vì trước thì Thầy có hứa sau Thầy sẽ chỉ rành, là đợi cho đến ngày nay là đúng Tam-Kỳ Phổ-Độ, nên Thầy phải giải nghĩa rành cho cả thảy đặng hay, kẻo nhiều đứa ước-ao trông đợi.

Giải nghĩa như vầy:

a.- Chữ “NHÃN thị chủ TÂM” nghĩa là: cái Nhãn của mỗi người là con mắt, nghĩa là ở trong Tạng-Tâm mà truyền ra, ấy là trái tim, bên hình cái Nhãn cũng tương-tợ như trái tim vậy. Đó là Tâm nội xuất hình ư ngoại nên lấy đó mà làm chủ-nghĩa đặng cho đời xem chung nên gọi là “NHÃN thị chủ TÂM”, Tâm như vậy. Hễ thấy Thiên-Nhãn thì phải rõ trong đó là Cơ Mầu-Nhiệm cứu vớt muôn loài, nếu ai biết đặng vậy mới gọi là trọn phần Nhãn-Thị, chữ “Thị” nầy là xem (regarder).

b.- “Lưỡng-Quan Chủ-Tể”: Chủ-Tể nầy là cai-trị (gouverner) nghĩa là Hai điều quan-hệ trong sự Ngó-Dòm Coi-Xét đó phải ngăn-ngừa phòng-sợ trong đó có Chánh có Tà; đó là Lưỡng-Quan là Hai ngõ: hễ Ngó Chánh thì có Chánh, hễ ngó tà thì có tà. Trong đó có một Ngôi Chủ-Tể xem-xét không lầm.

c.- “Quan thị Thần”: chữ “Quan” nầy là Khám-Xét (observer), chữ “Thị” nầy là Thật (driot); nghĩa là Xem-Xét đặng làm việc Phải và giữ Thật vậy, thì trong đó có “Thần”, Thần nầy gọi là Thần-Huệ Diệu-Minh, là Điển đó nên gọi là Điển-Quang Thần Diệu-Huệ phát Minh-Tâm là vậy.

d.- “Thần thị Thiên”: Thần vậy đó mới gọi là có Trời ẩn trong đó, Thần nầy mới gọi là Thần Mục tợ Điển, còn “Thiên” đó là người đời hay kêu là Thiên-La Thần, Địa-La Thần là vậy, vì xem-xét không lầm, bao-la Võ-Trụ chẳng vị chẳng tư.

e.- Còn chữ “Thiêng dã ngã dã”: là chữ “Thiên” là xấu (mauvais), chữ “Ngã” nầy là nghiêng (pencher); đó là chủ-nghĩa nói về người Đạo, nếu dùng Thiên-Nhãn đặng treo vậy thì mình trong chỗ ngó xem hành-động không theo y lời Thầy dạy thì người đó có chỗ “Thiên” là không đúng thiệt nơi lòng, Phật gọi là “Ngã (tomber) Tướng” đó. Hễ người Đạo mà phạm vào Nhơn ngã thì hóa ra là người nượng Đạo, Đạo nào là lập danh-quyền-lợi, dầu có treo cũng vô-ích.

Vậy con biểu CA nó coi, rồi nó giao lại cho ba Đầu-sư, Tứ-bửu, Thiên-sư xét cho kỹ, đặng coi cho rành đặng in ra gởi cho các chi-phái khác đặng rõ lời Thầy dạy đó, mặc may chúng nó hồi-tâm mà tránh khỏi cái nạn Tu làm mê-hoặc, đặng biết Chơn-Lý mà theo Thầy, là nhờ công-lao trong mỗi đứa đó. -Thăng-
Lời chú-giải:

Bước qua Tiểu-Thời-Kỳ nầy Thầy dạy về hình Thiên-Nhãn như vầy đặng thờ…

Nay đến Thời-Kỳ nầy con phải biểu CA nó cứ theo Thiên-Nhãn tại Thiên Bàn nơi Bửu-Điện mà vẽ theo là phải, xong Con Mắt phải vẽ tròn mà không chơn mày. Đây Thầy chì cho con vẽ kiểu rồi nó coi theo đó mà làm. Con cứ dặn nó phải chia cho đều khoảng như vầy: trong gần trung tim năm phân, thì ngoài bảy phân, trong tim Màu Đen, vòng kế Màu Xanh, vòng ngoài Màu Trắng, Trái Tim để y như kiểu tại Tòa-Thánh, còn mấy tia thì màu Vàng Lợt.

Tròng Con Ngươi của người và Tâm của Ta là Trời.

Đó Nhãn-Tâm nghĩa Người Ta.

Trời có Một thì Ta có Một,

Có Ta rồi nên cột có Người.

Người nên Ta được thảnh-thơi,

Ta Người chung hiệp Một Trời nào Ba.

Ta Người nếu rẽ nhau ra,

Ta Người chia rẽ, quỉ-ma chen vào…v.v…

[Quí-Dậu, số 9.]

Thánh ngôn có dạy :

Cao-Đài vốn ở lòng con đó,



Bỏ Tánh tham-si sẽ gặp Thầy.

Gặp cùng chẳng gặp tại nơi lòng,



Bả lợi mồi danh lóng sạch trong.

Thấy rõ thế-gian muôn trượng đó,

Đó là không có cũng không-không.

Sẵn Lương-Tri làm căn làm cội,

Bỏ Lương-Tri học hỏi đâu xa.

Lương-Tri vốn thiệt Thầy mà,

Lương-Tri báu lạ của Cha sẵn truyền.

Vì trong Lương-Tâm thì có Lương-Tri và Lương-tâm, Lương-Tri là: cái Biết Sẵn của Trời cho; còn cái Lương-Năng là: cái Thông cái Sáng của Trời ban.


Nên Thầy có dạy:

85.- Nghe Thiên-Đạo chẳng cần ai chỉ,

Thiên-Đạo là Thiên-lý nơi Tâm;

Thử xem con trẻ còn nằm,

Biết nhìn cha mẹ chẳng lầm người dưng;

Ngày đêm xây chuyển không ngừng,

Bốn mùa tám tiết một chừng không sai.

-----------

Nhãn-Tâm cũng có nghĩa là Tâm Tánh,cho nên Thầy có dạy:

Dầu cho học Đạo Thơ Triết-Lý,

Dẫu cho tìm huyền-bí cao xa,

Học đâu qua khỏi Thầy nhà,

Thầy nhà là chỗ Hiệp Hòa Tánh Tâm.

Tánh muốn Hiệp mà Tâm không chịu,

Hỏi các con thử liệu lẽ nào;

Ấy là Tánh muốn tự-cao,

Còn Tâm tự-đại nên nhào Chơn-Ngươn.

Tâm với Tánh nhờ Chơn mới Hiệp,

Nếu bỏ Chơn thì nghiệp níu trì,

Níu trì Xác khó nổi đi,

Nổi đi không nổi, khó qui theo Thầy.
Nhãn-Tâm cũng có nghĩa Xác Hồn, và Chơn-Thân, Chơn-Thể, Chơn-Hồn (Tinh-Khí-Thần).
Hồn con là Ngọc của Thầy,

Hồn con báu lạ xưa nay còn hoài.

43.- Thân thể với hình hài vật chất,

Có giác hồn ba bực tùy thân:



Thần-hồn khôn dại không chừng,

Theo màu thuốc nhuộm, theo lằng sóng đưa.

44.- Noi chánh lý ngăn ngừa nẻo vạy,

Chính Anh-hồn phải quấy phân minh.

Hễ người cốt cách được thanh,

Thần-hồn ít lúc cải canh Anh-hồn.

45.- Kẻ tiền kiếp đeo còn nghiệp cốt,

Nặng nhẹ mang những lốt thú cầm,

Thần-hồn nhiều ít giả tâm,

Anh-hồn khó nổi việc chăm-nom liền.

46.- Linh-hồn vốn thiêng-liêng huợt bát,

Chính là ngôi bổn giác Thầy ban;

Gìn cho trong sạch hoàn toàn,

Thần dày đạo đức, linh càng phẩm cao.

47.- Giữ trong sạch, đừng hao tinh, khí,

Ngươn-thần đừng đắm-lụy trần-ai,

Trong ngần chẳng chút lợt phai,

Có ngày chơn bước đến đài Cao-Xanh.

48.- Phải ráng nhớ trong mình sẵn đủ

Tánh linh Thầy ban phú từ xưa,

Trăm điều vật dục phải chừa,

Đừng tham danh lợi, chớ ưa sang giàu.

Phần xác thịt Ba Giềng làm trọng,



Phần Thiêng-Liêng phải gióng cho cân;

Chớ ham Tinh Khí, lụy Thần,

Tinh Thần quí báu, phải cần phải chuyên.

Thần Khí Tinh Tiên-Thiên làm gốc,

Tinh Khí Thần (vật-chất) là nọc hại người.

Con ôi! Đừng tưởng trò chơi,

Nếu con sai ngược Đạo Trời dễ đâu.

--------------------

Nhãn-Tâm cũng có nghĩa NHƠN-TÂM, ĐẠO-TÂM:

300.- TỨ-ĐẠI-THÁNH Bốn Nhà Hiệp MỘT,

Mới đủ làm rường-cột CAO-ĐÀI.

ĐẠO, NHƠN-TÂM vẫn có hai,

Hóa NHƠN thành ĐẠO dồi-mài cho TINH.

Đã TINH lại NHỨT mới xinh,

NHỨT rồi cần phải giữ-gìn KHUYẾT-TRUNG.

301.- Mười sáu chữ giữ lòng bền chặt,

Vẳng đêm ngày như nhắc bên tai:

Chấp-Trung đừng để sót sai,

Thầy đà dạy hủy, dạy hoài nhớ chăng?
Lời chú-giải nầy để cho hàng thấp-thỏi trong Đạo mở rộng việc học-hành vì Thầy có nói: trẻ Đồng-Ấu ngày sau sẽ là rường-cột của Tam-Kỳ nên phải đem hình-thể của Nhãn-Tâm và Thập-Ngũ Linh-Đăng đọc người hiểu chút ít đặng người cứu-vớt muôn loài.

NGŨ-HÀNH; TRỜI-ĐẤT-NGƯỜI





1

KIM


2

MỘC


3

THỦY


4

HỎA


5

THỔ


TRỜI

GIÓ DÔNG thay đổi Hồng-Quân. Ấy là chơn Mộc choáng phần không-trung.

MẶT NGUYỆT

MẶT NHỰT

chuyển gầm SẤM SÉT đùng đùng. Ấy là chơn Thổ vẫy-vùng Thiên-Oai.

Đ



T

Ngũ-Hành của Đất ai ai cũng rõ và cần dùng hằng ngày đêm, vạn-vật và nhơn-loại sống nhờ nơi đó và kinh vinh cuộc trần lao khổ, sống gởi thác về Cha Trời-Mẹ Đất.

N

G

Ư



I

Tạng-Tỷ

Tạng-Nhãn

Tạng-Nhĩ

Tạng-Thiệt

Tạng-Tâm tức là Tim

Lỗ Mũi

Mạng Kim


Để thở

Con Mắt

Mạng Mộc


Để ngó xem

Lỗ Tai

Mạng Thủy

Để nghe


Cái Lưỡi

Mạng Hỏa


Để nói

Trái Tim

Mạng Thổ


Để đi đứng, cười nói.

12.- Nhơn-thân là Tiểu-Kiền-Khôn,

Khinh thanh, trọng trược, hiệp thành hóa sanh.

Tạng, phủ là âm ngũ hành,

Còn vương ngũ khí, lưu hành châu thân.

13.- Học Đạo càng phải biện phân,

Giữ gìn bất đổ, bất văn mới mầu.

Phóng tâm, âu phải ráng thâu,

Thân tâm định tánh, đặng cầu Thiên-chơn.

14.- TAI nghe hóa giận, hóa thương,

Ấy là thiên-thủy dẫn đường nơi trong.

Bắt mùi hoặc thích hoặc không,

Thiên-kim nơi MŨI, hơi lồng thấu tim.

15.- Miếng ngon hoặc nhớ hoặc thèm,

LƯỠI là Thiên-hỏa chiếp đem vào lòng.

Sắc nào ưu đẹp muốn trong,

Ấy là Thiên-mộc, tại TRÒNG CON NGƯƠI.

16.- Vật-dục che lấp LÒNG Trời

Ấy là Thiên-thổ, ý người ham mê.

NHÃN, NHĨ, TỶ, THIỆT, ráng dè,

Đều quan tâm ý, thiệt là Chơn-Tu.
- Thầy có dạy rằng Thầy có bốn cái Tòa-Thánh:

+ Một cái Hữu-Hình là Tòa-Thánh Trung-Ương, sửa lại Định-Tường, bị cháy và phá tiêu đó,

+ Và Ba cái Vô-Hình:

* Một cái Tòa-Thánh Ngọc-Kinh,

* Một cái Thầy ban cho Đức Hiệp-Thiên-Đài chánh vị Tam-Tôn làm chủ,

* Và một cái thứ ba Thầy ban cho cả Chức-Sắc và Đạo-Hữu Nam-Nữ lớn nhỏ.

- Cửu-Trùng-Đài Tòa-Thánh nầy:

+ Hồi Tiểu-Nhứt-Thời kêu là một bộ thiết-giáp để trừ lũ hổ-lang.

+ Qua Tiểu-Nhị-Thời kêu là: Cao-Đài Trung-Ương vốn ở lòng con đó, mà Thầy có dặn các con phải bỏ Tánh tham-sân-si mới gặp Thầy,

+ Qua Đệ Tam-Tiểu-Thời kêu là: Châu-Thiên hội-hiệp Tam-Hồn là nơi Thầy ngự, cũng kêu là: Châu-Thiên-Đài đó là từng Ngọc-Kinh.

—————————d&c—————————
Ngày 14 tháng 1 năm Mậu-Dần 1938 (giờ Ngọ) [TĐ.II/12]

- Đệ-tử mừng Sư-Tôn có điều chi dạy con.

- Nầy Đệ-tử, Đức-Chí-Tôn rất vui mừng vì thất CA biết hối-quá, nên Người dạy Bổn-Tôn đem lời của Người đặng truyền dạy cách sắp-đặt thờ-phượng cùng là cho Chức-sắc Bái-mạng được hưởng Hồng-Ân theo Tam-Tiểu Thời-Kỳ cho phù-hạp. Trước Thiên-Bàn phải đốt cho đủ 15 cây đèn làm y như kiểu của NHƠN đã dạy trong bài Kinh “Đạo dạy kỹ Một, Hao, Ba, Bốn”, còn ở giữa thì để Lư Hương, ấy là Trung-Ương đó; vì qua Đệ Tam-Tiểu Thời-Kỳ nên Đức-Chí-Tôn cho hai Chưởng-Quản, ba Đầu-Sư, bốn Tứ-Bửu, năm Thiên-Sư đồng hưởng phần Thiêng-Liêng đặng cho ở đời sau noi dấu. (Phải làm y kiểu của con vẽ đặng cho ở ngoài dễ thấy).



- Bạch: vậy thì sao Bổn-Sư không dạy luôn cho Đức Bửu-Sơn đặng Người truyền luôn thể.

- Nầy Đệ-tử, vì Điển của NHƠN đến đó, nên Thầy dạy nó phải về Trung-Ương hiệp-đồng với con mà lo Đạo, mà nó thoái-thác hoài. Vì vậy Đức-Chí-Tôn rất buồn. Còn về phần Chức-sắc thưởng của Thiên-Phong Nam-Nữ đặng hưởng Hồng-Ân Lễ-sanh trong lúc lãnh Thiên-phục rồi lập-thệ thì đánh ba dùi trống mừng rồi lạy Thầy:

Giáo-hữu: sáu dùi,

Giáo-sư: chín dùi,

Phối-sư: mười hai dùi,

Chánh Phối-sư: mười lăm dùi,

Còn Đầu-sư thì mười tám dùi;

Nam-Nữ cũng vậy.

Còn từ đây nhẩn sau có lịnh cầu-phong cho ai trước phải đòi về Tòa-Thánh mà dạy cách-thức cùng là chỉ cho một vế Thánh-Huấn của Thầy dạy cách phong-thưởng và Hành-Đạo cho nó học, ngày sau nó khỏi trách, phần nầy con phải chỉ cho ĐỒ và con biết mà làm cho phù-hạp.

Còn tại Tòa-Thánh phải giữ-gìn Trật-Tự cho nghiêm, đừng sai giờ khắc, làm y như PHÙNG nó dạy bấy lâu nay đó.



- Bạch: có lập Ban-Hành-Pháp hay không?

- Việc đó chưa nhứt-định, đợi ít lâu Đức-Chí-Tôn sẽ dạy, còn hiện giờ cứ vậy làm đi.



- Bạch: vì ĐỒ muốn lui chơn ở nhà, rồi thiếu người rành dạy theo lời Sư-Tôn dạy đó.

- Vậy con phải mời nó đến Tòa-Thánh, con phải an-ủi nó cho hết lòng anh em, còn nghe hay là không nghe tự nó.

Bổn-Sư để lời khuyên-nhủ các con của Thầy phải ráng mà lo bồi-đắp Trung-Ương cho vững-vàng. Các con chớ hỏng-hờ mà phải ăn-năn về sau rất muộn, vì Trung-Ương là Trung-Tâm của mỗi đứa, nếu phá hư thì là hại mình đó. Các con ráng nhớ, chớ trách Bổn-Sư không nói trước.



Ớ các trẻ rường-cột cho Trung-Ương, phải ráng nghe lời của Bổn-Sư dạy mà tự xét.
1.- Thầy chọn trẻ ra làm rường-cột,

Thương mến nhau như Một mới Hòa;

Đã rằng: con ở một nhà,

Mà không thảo-thuận, Mẹ-Cha vui gì.

2.- Rất uổng tiếng tu-mi Nam-tử,

Nam như vầy, làm Nữ cho xong;

Đường đường một vị Thiên-Phong,

Lời ăn tiếng nói chưa thông Đạo-Mầu.

3.- Trưa những sớm cơ-cầu húng-hính,

Gái cùng trai lo tính mưu gian;

Than ôi họa-phước hành tàng,

Dễ-ngươi ắt phải vương-mang lưới Trời.

4.- Tại Tòa-Thánh là nơi Tu-Niệm,

Lòng các con nham-hiểm vẫn còn;

Lạy Thầy Chúa-Tể Kiền-Khôn,

Trong lòng tính việc chia môn rẽ vời.

5.- Thiệt các trẻ coi Trời quá nhẹ,

Rất uổng công quì lạy đau mình;

Còn thua những đứa làm thinh,

Lòng không độc ác, tánh-tình thảo ngay.

6.- Còn một nỗi phô-bày chuyện lạ,

Ắt có ngày mang họa hại mình;

Thầy thương nên dạy đọc Kinh,

Mà con không đọc, đọc tinh chuyện xằng.

7.- Làm nhiều việc nhố-nhăng quá ngán,

Cho nên đời ngạo-bán Cao-Đài!

Mình hư, còn trở trách ai,

Ôi thôi, uổng tiếng Gái Trai con Trời.

8.- Nầy nhắn-nhủ một lời kỳ chót:

Muốn Tu thì bỏ bớt đồ hư;

Chí-Tôn là Đấng Đại-Từ,

Hổ-ngươi dòm thấy con hư cả bầy.

9.- Các trẻ gặp kỳ nầy là quí,

Sẵn mối-giềng Chơn-Lý ráng phăng;

Dư muôn năm có một lần,

Gần Trời chẳng muốn, muốn gần quỉ ma.

10.- Các con lớn nhỏ gần xa,

Đạo, dầu không Đạo ráng mà nghe theo:

Đạo không cho lựa giàu nghèo,

Đạo là quyết cứu hiểm nghèo cho an.

—————————d&c—————————
Ngày 24 tháng 1 Annam 1938 (7 giờ sáng) [TĐ.II/15]

CA, nghe Thầy dạy: từ đây nhẩn sau, theo lệ cầu-phong, Thầy cho con trọn quyền, khỏi thượng Sớ. Nhưng mà con phải do lại với Anh-Hồn. Thầy đã nói Anh-Hồn với Thần-Hồn mà Hiệp nhau, trong đó trọn Chơn-Lý thì có Thầy chứng cho, nên Thầy dạy con kêu ……. là Anh-Hồn đó, con hiểu chưa?

Vậy từ đây con cứ vậy mà thi-hành, con phải nhớ lời Thầy dặn: lòng gian phải dẹp, tiếng mép phải chừa; thì con khỏi sai lầm, vì Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài là cầm Cân Công-Bình, hay về phần Xác là phần đời; còn Thầy dạy con Hiệp với Anh-Hồn vì Anh-Hồn là Đạo, mà Đạo Đời hiệp nhau cho đúng Chơn-Lý, làm gương cho người bắt chước mà làm theo, ấy là cộng-hưởng hòa-bình đó con.

Thăng


—————————d&c—————————
Tiếp theo (10 giờ trưa)

ĐƯỢC, con gặp lúc thời-kỳ rắc-rối, mà con muốn gỡ rối thì con phải coi rối ấy là “KHÔNG”, thì con mới gỡ xong được. Vậy con phải hiểu rối ấy là “KHÔNG” ra sao chưa?



Bạch: chưa …

-Con chưa hiểu, Thầy chỉ tắt cho con: rối ấy là “Không”, là con phải lấy chỗ “Không” mà gỡ ra rối, chỗ “Không” là chỗ Vô-Nhơn Vô-Ngã, vô-tà vô-tư đó con; trước khi Thầy cậy KIÊN gỡ rối mà nó chưa rành chỗ “Không” nên nó lầm, vì Thầy nói “Không” là để lòng-không cả thảy, chớ có đâu nói nói không-khí, không-gian mà lòng nó chưa được “Không”, thì gỡ sao cho đặng.

Phương nầy con phải gởi ra cho CA nó biết, biểu nó phải đọc cho anh em nó nghe rồi tự miệng nó giảng ra, trong đó có Thầy. Từ đây nhẩn sau có bài, thì Thầy cho con cứ gởi ngay cho CA đi, tin không mặc nó. Con cứ bổn-phận con làm, đừng lòng nghi-ngại bê-trễ ngày giờ.

Thăng


—————————d&c—————————
Ngày 24 tháng 1 Annam 1938 (18 giờ)

Thầy chào các con, các con nghe Thầy phán-đoán:


1.- Ớ các trẻ nghe Thầy phán-đoán,

Chớ để lầm, thán-oán Đất Trời;

Qui-Điều dụng Tiểu-Nhị-Thời,

Nay qua Tam-Tiểu đổi-vời khác xa.

2.- Trước Bốn đứa đồng ra Minh-Thệ,

Thầy còn ghi chép để rõ-ràng;

Đứa nào công được hoàn-toàn,

Thầy lo phụ dắt, ai màng đồ hư.

3.- Thầy đã nói: con hư chẳng phụ,

Chẳng phụ là chẳng phụ cần dùng;

Nên—Hư, ai nỡ để chung,

Là Cơ lừa-lọc vô cùng đó con.

4.- Các trẻ muốn cho tròn bổn-phận,

Phải hết lòng kiên-nhẫn mới nên;

Đài Cao núi dựng làm nền,

Là bền Tâm-Chí như bền núi cao.

5.- Lời Thầy phán: trước sau thứ lớp,

Ấy là Cơ sắp-đặt buổi đầu;

Bấm tay thử nghĩ bao lâu,

Là Cơ chuyển Đạo lãnh trao trước rồi.

6.- Các con mảng: lấy Đời xử Đạo,

Đạo sửa Đời, là Đạo của Trời;

Con nào muốn đặng nên người,

Thầy khuyên bỏ thói chê cười, ngạo khi.

7.- Rày mối Đạo Vô-Vi Thầy chuyển,

Mà các con lo chuyện Hữu-Hình;

Công-phu, công-quả, công-trình,

Đứa nào hỏi lại coi mình xong chưa?

8.- Ngày thêm mới, nhặt-thưa khuyên bỏ,

Ráng nghe Thầy, mới rõ Đạo-Mầu;

Con nào có Tánh cơ-cầu,

Thầy khuyên chớ khá cúi đầu lạy Cha.

9.- Thầy hết sức bỏ qua, tha lỗi,

Con hằng ngày gây lỗi thêm nhiều:

Dể-ngươi, tự-đắc, tự-kiêu;

Phần Tu các trẻ bấy nhiêu là cùng. Con cứ gởi ngay ra nơi Tòa-Thánh cho chúng nó xét./-

—————————d&c—————————


Ngày 24 tháng 1 Annam 1938 (23 giờ) [TĐ.II/18] [ĐCL.32/34]

Thầy chào các con,


1.- Thầy Tâm-Chí hao mòn biết mấy,

Các con đành phải—quấy, thiệt—hư;

Rằng Cha là bực Đại-Từ,

Nỡ đâu lại bỏ con hư cho đành.

2.- Thiệt các trẻ chưa rành Đạo-Lý,

Nỡ trách Thầy Chơn-Lý sao con!!

Trước sau con hỏi lại con:

Tại Thầy không dạy, tại con cãi Thầy.

3.- Lời Thầy phán rẽ mây vén ngút,

Đã mấy năm ngọn bút hao mòn;

Cũng vì hết dạ thương con,

Nhọc-nhằn chẳng quản vì con dại khờ.

4.- Nay các trẻ hết khờ hết dại,

Biết khôn rồi trở lại cãi Thầy.

Mậu-Dần chuyển Đạo là đây,

Các con dám cãi Luật Thầy, quá ghê.

5.- Các con ngó Trời che Đất chở,

Con làm người sao nỡ cãi Trời;

Thờ Trời là giữ Luật Trời,

Thờ Trời đâu phải nhiều lời cải-canh.

6.- Cũng vì trẻ muốn sanh sự rối,

Mới có điều bối-rối cho mình;

Con nghe Luật chuyển, đứng nhìn,

Rối nấy con buộc vào mình đã ưng.

7.- Đừng than-thở tưng-bừng cãi-lẫy,

Ráng mà lo vùng-vẫy cho xong.

Lầm nghe hai chữ Xích-Tòng,

Mắc mưu đứa dốt, Xích-Tòng ở đâu!

8.- Tại các trẻ cạn sâu chưa xét,

Mỗi mỗi đều phải biết nghĩ suy;

Chớ nên liều mạng nhắm đi,

Ắt là mắc kế Mị Ly tại mình.

9.- Cũng tại trẻ ỷ mình cao-thượng,

Nên ngày nay phải vướng bẫy dò;

Ỷ mình, muôn việc chẳng lo,

Chẳng lo, đâu có làm trò gì nên.

10.- Lớn cậy giỏi, ngồi trên phân-đoán,

Hại đoàn em ngao-ngán bước đường;

Con ôi, đừng ỷ cao-cường,

Minh mông như biển, ngao lường sao xong.

11.- Lòng phàm-tục mà mong sửa đổi,

Tánh biếng-lười dám dối Đất Trời;

Các con chớ khá già lời,

Thầy đâu bỏ Luật nghe lời theo con.


Con gởi ngay cho chúng nó xem.

Thăng


—————————d&c—————————
Ngày 25 tháng 1 Annam 1938 (10 giờ trưa) [TĐ.II/19] [ĐCL.32/36]

Nầy các con, Thầy đã nói với các con hoài:


1.- Hành THIÊN-ĐẠO VÔ-VI phải biết,

Chữ “Tùy thì biến diệc” phải thông.

Các con mảng tánh cuồng ngông,

Không lo học Đạo mà thông nỗi gì.

2.- Mấy đứa dốt, ngu si thì phải,

Mấy đứa khôn, lại cãi lời Thầy;

Vô-Tư là Luật của Thầy,

Các con sao dám coi Thầy như không.

3.- Thầy hỏi lại cuồng ngông hai chữ,

Con nào thông giải thử Cha nghe.

Đua nhau hiệp lũ vây bè,

Mượn Thầy phỉnh bạn, lại dè rằng ngoan.

4.- Bởi các trẻ đa-mang chữ “vọng”,

Mảng lâu ngày, vọng quá ra cuồng;

Cuồng nầy là chỗ luông-tuồng,

Mối-manh không hiểu, hố truông không tường.

5.- Khác nào kẻ đi đường muốn lạc,

Mà chưa hay mình lạc, mới lầm;

Dẫu đi cho đến mấy năm,

Tới đâu lạc đó, không tầm đường ngay.

6.- Chừng hết sức cậy tài hay giỏi,

Mình giận mình đến đỗi ngông.

Đánh liều sống—thác cho xong,

Chết cho uổng mạng, chớ xong sự gì.

7.- Thấy các trẻ đường đi muốn lạc,

Lòng thương con giác-đác dắt-dìu;

Công Tu cũng có ít nhiều,

Thầy không nỡ để, đánh liều ngồi coi.

8.- Các con tránh Luân-Hồi sao khỏi,

Lại còn vương nhiều nỗi oan-khiên.

Nhìn con, giọt lụy liền liền,

Nên Thầy giáng bút than phiền với con.

9.- Thầy chẳng nỡ bỏ con là vậy,

Con bỏ thầy, con thấy hay không;

Vì thương nên dạy hết lòng,

Các con nghi nghị, khó phòng gặp Cha.



Thăng

—————————d&c—————————



tải về 2.16 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương