Thực trạng kiến thức, thái độ, hành VI về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình



tải về 58.79 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu15.11.2017
Kích58.79 Kb.
#1814

Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình

Dương Thị Anh Đào1, Đỗ Thị Như Trang1, Nguyễn Thị Hồng Hạnh1, Hoàng Thị Loan Thanh2



1Đại học Sư phạm Hà Nội

2Cao đẳng Sư phạm Thái Bình

Email: daodt@hnue.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 450 sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình để tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên. Kết quả cho thấy kiến thức của sinh viên về sức khỏe sinh sản tương đối cao. Đa số sinh viên ủng hộ quan điểm truyền thống cho rằng chỉ nên quan hệ tình dục (QHTD) sau khi kết hôn (80,7%). Tỷ lệ sinh viên QHTD trước hôn nhân là 16,7% (9,4% sinh viên năm 1; 15,3% sinh viên năm 2; 25,3% sinh viên năm 3). Đa số sinh viên chưa chủ động thực hiện tình dục an toàn, tỷ lệ sinh viên luôn sử dụng biện pháp tránh thai khi QHTD chỉ chiếm 11%. Do vậy, cần tăng cường giáo dục về sức khỏe sinh sản, thực hiện tình dục an toàn để sinh viên nâng cao hiểu biết cũng như chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.



Từ khóa: Sinh viên, sức khỏe sinh sản, quan hệ tình dục.

1. Đặt vấn đề

Theo thống kê của Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên Thế giới [1]. Mỗi năm có khoảng từ 1,2-1,6 triệu ca nạo phá thai [4]. Tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây giảm, nhưng tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ vị thành niên và thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng. Trung bình mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi từ 15 - 19, trong đó 60% - 70% là học sinh, sinh viên. Mỗi năm, có khoảng 800.000 - 1.000.000 người điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD), 40% trong đó là thanh thiếu niên [1]. Độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở vị thành niên Việt Nam ngày càng sớm, nhưng kiến thức của vị thành niên về phòng tránh thai, HIV và các BLTQĐTD khác vẫn còn rất hạn chế, chỉ có khoảng 20,7 % sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên [9].

Mặc dù giáo dục sức khỏe sinh sản đã được đưa vào chương trình tích hợp ở phổ thông và một số môn học như sinh học ở các trường chuyên nghiệp nhưng kiến thức về sức khỏe sinh sản và các BLTQĐTD của vị thành niên, thanh niên vẫn hạn chế. Vì thế, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên nhất là ở lứa tuổi sinh viên là rất quan trọng. Bởi vì, sinh viên là nguồn lao động trí óc chính của một quốc gia trong tương lai, nhưng các em đang ở độ tuổi trưởng thành, phát triển về nhân cách, có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ về cá tính, bắt đầu cuộc sống tự lập, mở rộng mối quan hệ, giao lưu bè bạn nên dễ bị ảnh hưởng bởi những mặt trái và tiêu cực của xã hội.

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá được thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản ở sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, Tỷnh Thái Bình. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để đề ra các giải pháp phù hợp cho công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của đất nước.



2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang mô tả trên 450 sinh viên được chọn ngẫu nhiên từ 3 khoa là khoa Tự nhiên, khoa Giáo dục Tiểu học và khoa Giáo dục Mầm non tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, Tỉnh Thái Bình. Đối tượng nghiên cứu được chia thành 3 nhóm với trình độ khác nhau: sinh viên năm 1 (khối I), sinh viên năm 2 (khối II) và sinh viên năm 3 (khối III) tương ứng với các độ tuổi từ 18 đến 20 tuổi. Các đối tượng nghiên cứu có sức khỏe bình thường, không có dị tật bẩm sinh hoặc bệnh truyền nhiễm, có trạng thái tâm sinh lý bình thường.

Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập số liệu về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới, tình trạng hôn nhân) và các thông tin về mức độ nhận thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản (đặc điểm tuổi dậy thì, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục...).

Số liệu thu thập được sẽ được nhập và quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1. Các phân tích thống kê được thực hiện trên phần mềm SPSS 16.0. So sánh tỷ lệ phần trăm bằng 2- test. Ý nghĩa thống kê được xác định với giá trị P < 0,05 theo 2 phía.



3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Đặc điểm của đối tượng trong nghiên cứu

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu được trình bày ở Bảng 1.


Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm

Khối I

(%)


Khối II

(%)


Khối III

(%)


Tổng

(%)


P

Giới tính

Nam

13,3

20,0

23,3

18,9

0,079

Nữ

86,7

80,0

76,7

81,1

Dân tộc

Kinh

98,7

98,7

99,3

98,9

0,817

Khác

1,3

1,3

0,7

1,1

Tình trạng hôn nhân

Chưa kết hôn

100

99,3

99,3

99,6

0,605

Đã kết hôn

0

0,7

0,7

0,4

Khu vực sống

Nông thôn

78,7

84,0

76,7

79,8

0,263

Thành thị

21,3

16,0

23,3

20,2

Mỗi khối có số lượng là 150 SV. Trong đó giới tính chủ yếu là nữ (chiếm 81,1%), nam (chiếm 18,9%); dân tộc chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 98,9%), còn lại 1,1 % là các dân tộc khác (gồm các dân tộc Thái, Trai, Thổ, Tày, Chăm). Các đối tượng nghiên cứu hầu hết chưa kết hôn (chiếm 99,6%). Về khu vực sống nông thôn chiếm 79,8 %, thành thị chiếm 20,2%. Không có sự khác biệt về các đặc điểm trên giữa các khối (P > 0,05).

3.2. Hiểu biết về tuổi dậy thì

Kết quả điều tra hiểu biết về tuổi dậy thì của đối tượng nghiên cứu được thể hiện qua Bảng 3.2.



Bảng 3.2. Hiểu biết về sự thay đổi thể chất, sinh lý và tâm lý ở tuổi dậy thì

Đặc điểm


Khối I

(%)

Khối II

(%)

Khối III

(%)

Tổng

(%)

P

Thay đổi về thể chất và sinh lý

Tăng lên về chiều cao và cân nặng

89,3

96,0

92,7

92,7

0,086

Ngực to lên

86,7

85,3

90,0

87,3

0,457

Xuất hiện trứng cá ở mặt

77,3

82,7

82,0

80,7

0,444

Mọc lông ở chỗ kín

83,3

87,3

90,7

87,1

0,165

Giọng nói thay đổi

61,3

69,3

65,3

65,3

0,347

Có kinh nguyệt lần đầu (với nữ)

88,0

89,3

92,7

90,0

0,382

Xuất tinh lần đầu (với nam)

14,7

36,7

45,3

32,2

<0,001

Biết dưới 3 dấu hiệu

6,0

4,0

4,0

4,7

0,638

Biết từ 3 dấu hiệu trở lên

94,0

96,0

96,0

95,3

Thay đổi về tâm lý

Tính tình thay đổi

84,0

81,3

84,7

83,3

0,715

Tò mò

51,3

66,0

54,0

57,1

0,024

Hiếu thắng

26,7

47,3

41,3

38,4

<0,001

Thích giao tiếp với bạn khác giới

44,7

56,7

52,7

51,3

0,106

Quan tâm nhiều đến hình thức

70,7

74,0

84,7

76,4

0,012

Muốn người khác chú ý đến mình

49,3

58,0

58,0

55,1

0,219

Biết dưới 3 dấu hiệu

38,0

27,3

28,0

31,1

0,082

Biết từ 3 dấu hiệu trở lên

62,0

72,7

72,0

68,9

Bảng 3.2 cho thấy hầu hết sinh viên đều nhận biết được các dấu hiệu thay đổi về thể chất, sinh lý trong tuổi dậy thì. Dấu hiệu “Thay đổi về chiều cao và cân nặng” có tỷ lệ hiểu biết cao nhất chiếm 92,7%. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Chiểu trên đối tượng vị thành niên-thanh niên ở Thừa Thiên Huế chỉ có 54,4 % [2]. Sự khác biệt này là do đối tượng trong nghiên cứu của Tôn Thất Chiểu từ 15 - 24 tuổi, và được chọn ngẫu nhiên từ các cụm dân cư, có thể làm nhiều ngành nghề khác nhau; vì thế, nhận thức có thể không đồng đều như đối tượng sinh viên trong nghiên cứu của chúng tôi.

Dấu hiệu “Xuất tinh lần đầu (với nam)” có Tỷ lệ hiểu biết thấp nhất, chỉ chiếm 32,2%. Trong đó, hiểu biết của khối III cao nhất (45,3%) và có sự khác biệt giữa 3 khối (P < 0,001). Tuy nhiên, dấu hiệu “Có kinh nguyệt lần đầu (với nữ)” có tỷ lệ hiểu biết tương đối cao (chiếm 90,0%) và giữa các khối sinh viên không có sự khác biệt (P > 0,05). Điều này có thể do “Xuất tinh lần đầu (với nam)” là dấu hiệu ít biểu hiện nên sinh viên nữ không biết nhiều và tỷ lệ nữ trong nghiên cứu này cao hơn nhiều so với nam. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Chiểu (22,4% và 37,9%) [2] và nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga (22,8% và 53,3%) [7].

Dấu hiệu thay đổi về tâm lý mà sinh viên nhận thấy rõ nhất khi bắt đầu tuổi dậy thì là “Tính tình thay đổi” (chiếm 83,3%). Hiểu biết về các dấu hiệu “Quan tâm nhiều đến hình thức”, “Tò mò”“Hiếu thắng” của sinh viên năm 2 và 3 cao hơn sinh viên năm 1 (P < 0,05).

Với những thay đổi thể chất, sinh lý tỷ lệ nhận biết được từ 3 dấu hiệu trở lên là 95,3 %, còn với những thay đổi tâm lý là 68,9 %. Điều này có thể được giải thích do thay đổi về thể chất và những thay đổi về sinh lý diễn ra mạnh mẽ, rõ ràng nên các em nhận biết những dấu hiệu này dễ dàng hơn. Còn những dấu hiệu thay đổi về tâm lý thường không rõ ràng nên các em khó nhận biết hoặc nhận biết một cách mơ hồ, thậm chí có em còn không nhớ, Tỷ lệ nhận biết dưới 3 dấu hiệu khá lớn (31,1 %).



3.3. Hiểu biết về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản

3.3.1. Hiểu biết về hậu quả của quan hệ tình dục trước hôn nhân

Hiểu biết của sinh viên về hậu quả của quan hệ tình dục trước hôn nhân không có sự khác biệt giữa các khối (P > 0,05), nhưng trong cùng một khối lại có sự khác biệt đáng kể (P < 0,001). Hậu quả có thể xảy ra khi QHTD trước hôn nhân mà sinh viên lựa chọn nhiều nhất là “Có thể có thai ngoài ý muốn” chiếm 84,2%, tiếp đến là “Có thể phải nghỉ học và kết hôn sớm” chiếm 74,4 % và “Có thể mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục” chiếm 76,2 %. Tuy nhiên, vẫn còn 9,1% sinh viên trả lời “Không biết”. Điều này cho thấy, mặc dù những kiến thức này đã được giảng dạy trong nhà trường, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn còn nhiều sinh viên chưa biết đến.



3.3.2. Hiểu biết về biện pháp tránh thai và hậu quả của nạo, phá thai

Hiểu biết của sinh viên về các biện pháp tránh thai (BPTT) được trình bày trong Hình 3.1.

Phần lớn sinh viên đều cho rằng nên sử dụng BPTT khi QHTD (97,9%). Biện pháp tránh thai sinh viên biết đến và nghĩ nên sử dụng nhiều nhất là bao cao su (80,2%). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thị Hương Trà Linh trên đối tượng sinh viên trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ là 80% [5]. Điều này có lẽ do bao cao su là BPTT được tuyên truyền, quảng cáo nhiều, dễ sử dụng và có hiệu quả tránh thai và phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục cao.

Về nạo, phá thai, có 83,8 % sinh viên hiểu đúng về nạo, phá thai không phải là BPTT. Còn khi được hỏi về “Hậu quả của nạo phá thai”, hầu hết các em đều nhận thức rõ được các tác hại của nạo, phá thai. Chỉ có 2% sinh viên không biết đến tác hại của nạo phá thai đối với sức khỏe nữ giới. Tác hại mà các em biết đến nhiều nhất là vô sinh (94,9%).



Hình 3.1. Tỷ lệ sinh viên biết về các biện pháp tránh thai

Tuy nhiên, còn một tỷ lệ tương đối cao sinh viên (16,7%) không biết về các BPTT; 12,2% các em không biết về nạo, phá thai và 4,0% cho rằng nạo, phá thai là BPTT. Đây là những hiểu biết sai lệch, không đầy đủ. Cần phải có biện pháp tuyên truyền, giáo dục sâu rộng hơn nữa để sinh viên nâng cao nhận thức về các BPTT và hiểu rõ hơn tác hại của nạo phá thai.



3.3.3. Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục

Điều tra hiểu biết về BLTQĐTD cho thấy sinh viên biết nhiều nhất là bệnh HIV/AIDS (88,7%), tiếp đến là bệnh giang mai (75,3%), bệnh lậu (71,3%). Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga [7] và Đỗ Thị Như Mai [6] nhưng thấp hơn so với của Nguyễn Thị Hồng Hạnh và cộng sự [8]. Ngoài ra, một tỷ lệ lớn sinh viên (chiếm 63,1%) cho rằng “Bệnh viêm nhiễm cơ quan sinh dục” là BLTQĐTD. Và vẫn còn 14,9% sinh viên không biết về các BLTQĐTD.

Hiểu biết về các con đường lây truyền BLTQĐTD (Hình 3.2) giữa các khối không có sự sai khác (P > 0,05). Tuy nhiên, trong cùng một khối giữa các lựa chọn lại có sự sai khác có ý nghĩa (P < 0,05). Con đường lây truyền các BLTQĐTD mà sinh viên lựa chọn nhiều nhất là qua QHTD (96,4%). Nhưng vẫn còn nhiều sinh viên cho rằng việc muỗi đốt (27,6%), việc sử dụng bể bơi, nhà vệ sinh công cộng (14,4%), việc tiếp xúc, ôm hôn, bắt tay với người mắc bệnh (9,1%) là con đường lây truyền các BLTQĐTD. Đây là những hiểu biết sai lệch, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý sợ bệnh quá mức và có thái độ xa lánh người bệnh.

Hình 3.2. Con đường lây truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Về cách phòng tránh BLTQĐTD, phần lớn sinh viên biết việc sử dụng bao cao su khi QHTD là cách phòng tránh hiệu quả nhất, song vẫn còn 19,6% sinh viên không biết đến điều này.



3.4. Thái độ của sinh viên về quan hệ tình dục

Kết quả nghiên cứu thái độ của sinh viên về QHTD được trình bày trong Hình 3.3.

Đa số sinh viên cho rằng chỉ nên QHTD trong hôn nhân (80,7%). Điều này có lẽ là do đa số các em vẫn mong muốn giữ gìn những chuẩn mực văn hóa, đạo đức truyền thống và phần nào ý thức được hậu quả và những hệ lụy kéo theo của việc QHTD trước hôn nhân. Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga (80,6%) [7] nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thị Như Mai (60,2%) [6].

Hình 3.3. Thái độ của sinh viên về quan hệ tình dục

Vẫn còn nhiều sinh viên cho rằng có thể QHTD khi yêu (19,1%), đây là một xu hướng đang dần được giới trẻ chấp nhận. Do đó, việc giáo dục theo hướng “ngăn cấm” là không còn phù hợp mà cần phải trang bị kiến thức, kĩ năng và cung cấp phương tiện để vị thành niên, thanh niên có được một đời sống tình dục an toàn [3].



3.5. Hành vi quan hệ tình dục của sinh viên

Tỷ lệ sinh viên đã QHTD là 16,7%, kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Phạm Thị Hương Trà Linh (29,1%) [5] nhưng cao hơn nghiên cứu trên thanh thiếu niên ở SAVY 2 (9,5%) [1]. Và có sự khác biệt đáng kể giữa 3 khối (P = 0,001), cụ thể sinh viên năm 1 là 9,4%; sinh viên năm 2 là 15,3%; sinh viên năm 3 là 25,3%.

Về sử dụng các BPTT, trong số sinh viên đã QHTD thì có đến 27% sinh viên không sử dụng BPTT khi QHTD, 62% sinh viên thỉnh thoảng có sử dụng BPTT khi QHTD. BPTT mà SV sử dụng nhiều nhất là bao cao su (83,8%), sau đó đến thuốc tránh thai hàng ngày (36,7%).

Khi hỏi về lý do tại sao ko sử dụng BPTT nào khi QHTD thì 41,6% sinh viên trả lời sợ vô sinh; 43% sinh viên trả lời “không thích dùng”. Điều này cho thấy sinh viên chưa hiểu biết đầy đủ về các BPTT và chưa chủ động thực hiện tình dục an toàn dẫn đến nguy cơ cao mang thai ngoài ý muốn và lây nhiễm các BLTQĐTD, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản.



4. Kết luận

Sinh viên có nhận thức tương đối cao về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản: nhận biết được những thay đổi về thể chất, sinh lý và tâm lý khi bước vào tuổi dậy thì; hiểu biết về các biện pháp tránh thai và các BLTQĐTD. Đa số sinh viên ủng hộ quan điểm truyền thống cho rằng chỉ nên QHTD sau khi kết hôn (80,7%). Tuy nhiên, vẫn còn một số sinh viên không biết về hậu quả của QHTD trước hôn nhân (9,1%); không biết về các BPTT (16,7%); hiểu không đúng về nạo, phá thai (16,2%); và nhiều sinh viên hiểu sai con đường lây truyền các BLTQĐTD. Tỷ lệ sinh viên đã QHTD là 16,7% trong đó có 27% sinh viên không sử dụng bất kì BPTT nào khi QHTD.

Do vậy, cần tăng cường các biện pháp giáo dục về sức khỏe sinh sản, thực hiện tình dục an toàn và cách phòng tránh mang thai ngoài ý muốn và các BLTQĐTD, để sinh viên nâng cao hiểu biết cũng như chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Y tế và Tổng cục Dân số, 2010. Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2).

[2]. Tôn Thất Chiểu, 2012. Khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của vị thành niên-thanh niên 15-24 tuổi vùng ven biển, đầm phá, vạn đò Tỷnh Thừa Thiên Huế năm 2010. Tạp chí Y học thực hành, 805.

[3]. Bùi Thị Hạnh, 2013. Vị thành niên và thanh niên Hà Nội: những vấn đề sức khỏe sinh sản/tình dục. Tạp chí Dân số và phát triển, (8): 149.

[4]. Lưu Thị Hồng, 2012. Nhận xét một số yếu tố liên quan đến việc đi phá thai ở phụ nữ chưa kết hôn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp chí Sản phụ khoa, 10(2): 208-212.

[5]. Phạm Thị Hương Trà Linh, Lã Ngọc Quang, 2015.Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ, năm 2014. Tạp chí Y tế Công cộng, (34): 49-56.

[6]. Đỗ Thị Như Mai, 2013. Kết quả khảo sát vị thành niên, thanh niên Phú Yên. Tạp chí Dân số và phát triển, (12): 141.

[7]. Nguyễn Thị Nga, Hứa Thanh Thủy, Nguyễn Thái Quỳnh Chi, Đinh Thu Hà, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Thanh Hương, 2012. Kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của vị thành niên và phụ nữ 15-49 tại huyện Na Rì, Bắc Kạn. Tạp chí Y tế Công cộng, 26(26):4-9.

[8]. Nguyen Thi Hong Hanh, Duong Thi Anh Dao, Le Thi Tuyet, Nguyen Thi Trung Thu, Nguyen Phuc Hung, 2014. Knowledge and personal opinions of secondary school biology teachers in Ha Noi and Dien Bien about reproductive health. Journal of Science of HNUE, (9): 161-169.

[9]. Mai Xuân Phương, 2014. Thực trạng chung về mang thai tuổi vị thành niên và các chương trình/chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Tạp chí Dân số và phát triển, (12).



Knowledge, attitude, behavior on reproductive health of students at Thai Binh Education College

Duong Thi Anh Dao1, Do Thi Nhu Trang1, Nguyen Thi Hong Hanh1, Hoang Thi Loan Thanh2



1Hanoi National University of Education.

2Thai Binh Education College

Abstract

This cross - sectional study was conducted at Thai Binh Education College, Thai Binh Province, Viet Nam with an aim to find actutal status of knowledge, attitude and behavior on reproductive health of students. Results showed that students' knowledge about reproductive health was relatively high. Most students supported the traditional view that sex should be happened only after marriage (80.7%). The rate of premarital sexual intercourse a mong students was 16.7 % ( 9.4% of first year students; 15.3% of second year students ; 25.3% of third year students). Most students did not actively have safety sex. The percentage of students using contraception during sexual intercouse with their partners occupied 11%. The necessary solutions should be done, such as strengthening of education about reproductive health and safety sexual knowledge, to enhance students knowledge and protect them and community from sexually trasmitted diseases.



Key words: Student, reproductive health, sexual activity.
Каталог: app -> webroot -> files -> hoithao
hoithao -> Jatropha curcas L. TẠi thừa thiên huế
hoithao -> Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc cơ bản
hoithao -> Nghiên cứu một số chỉ SỐ thể LỰc của học sinh từ 8-15 tuổI Ở TỈnh bình dưƠng nguyễn Thị Thu Hiền
hoithao -> Ảnh hưỞng của môi trưỜng nuôi cấy không sử DỤng chấT ĐIỀu hòa sinh trưỜng lên khả NĂng tăng sinh khối và XÁC ĐỊnh dư LƯỢng nitrat, kim loại nặng có trong mẫu cây lan gấM
hoithao -> Metfformin – Tác nhân kích thích sự di chuyển và phản ứng acrosome của tinh trùng gà
hoithao -> Piv-chương 1 Lịch Triều Lược Kỷ (1528 1802)
hoithao -> Lê Thị Hương1,*, Trần Thị Thúy Nga
hoithao -> Bùi Thu Hà1, La Thị Mai Loan
hoithao -> Nguyễn Thị Hồng Hạnh1, Bùi Thị Nhung*2, Trần Quang Bình3, Lê Thị Hợp2

tải về 58.79 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương