Thực trạng hoạT ĐỘng phòng chống bệnh truyền nhiễm tạI ĐỊa bàn dự ÁN



tải về 0.72 Mb.
trang3/3
Chuyển đổi dữ liệu26.11.2017
Kích0.72 Mb.
#3052
1   2   3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ



3.2.3.KẾT LUẬN


Thông tin hành chính, y tế cơ bản của các tỉnh, huyện triển khai dự án

  • Địa bàn điều tra chủ yếu là các tỉnh biên giới, do đó tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao hơn nhiều so với mức bình quân toàn quốc. Các tỉnh có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo rất cao thuộc về miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và một số tỉnh Bắc Trung bộ. Đây cũng là các tỉnh có tỷ lệ cao nhất về chết trẻ dưới 1 tuổi, chết trẻ dưới 5 tuổi, SDD trẻ dưới 5 tuổi.

Cơ cấu bệnh tật trong cộng đồng tại các tỉnh, huyện dự án

  • Bệnh lây chiếm khoảng 1/4 và bệnh không lây chiếm khoảng 2/3 trong cơ cấu bệnh tật của các tỉnh/huyện được điều tra. Tại các xã điều tra, bệnh không lây chiếm tỷ lệ rất cao trong cơ cấu bệnh tật (86,1%), bệnh lây và tai nạn thương tích chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp (12,2% và 1,7%).

  • Nhóm bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm tỷ lệ không cao trong cơ cấu bệnh tật của các tỉnh dự án năm 2010 (8,7%), đứng thứ 4 sau nhóm bệnh hô hấp (23,7%), tuần hoàn (10,6%) và tiêu hóa (10,2%). Nhóm bệnh chấn thương, ngộ độc chiếm 5,7% trong tổng số bệnh nhân nhập viện điều trị năm 2010.

  • Nhóm bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm 9,9% nguyên nhân gây tử vong bệnh viện năm 2010 tại các tỉnh dự án, đứng thứ 4 sau các nhóm bệnh hô hấp (18,3%), tuần hoàn (16,7%) và chấn thương - ngộ độc (13,1%).

  • Kết quả khám sức khỏe cộng đồng tại 2 tỉnh Sơn La và Đắc Lắc cho thấy tỷ lệ cao người dân có ít nhất 1 vấn đề sức khỏe tại thời điểm khám (73,9%), trong đó số có nhu cầu chăm sóc y tế là 61,5%. Các bệnh răng hàm mặt, tai mũi họng, mắt chiếm tỷ lệ rất cao trong quần thể (52,5%, 44,5% và 26,9%). Nhóm bệnh hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, nội tiết cũng chiếm 1 tỷ lệ không nhỏ trong cộng đồng (lần lượt là 9,2%, 3,7%, 4,9%, 6,7% và 3,9%).

Tình hình mắc bệnh truyền nhiễm tại các tỉnh, huyện dự án

Các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là BTN mới nổi/tái nổi như tả, SXH, tay chân miệng, SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1, liên cầu lợn,... có diễn biến khá phức tạp tại các tỉnh dự án. Đa số các bệnh này là bệnh nguy hiểm và có nguồn gốc từ động vật:



  • Sốt xuất huyết có tỷ lệ mắc trung bình giai đoạn 2006 -2010 tại các tỉnh và các huyện điều tra là 126 và 128/100.000 dân. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều tại các xã điều tra (99/100.000 dân). Phần lớn ca mắc SXH tập trung ở các tỉnh phía Nam và trên 2/3 xảy ra ở trẻ em <15 tuổi. Trong khi đó, đa số trường hợp mắc sốt xuất huyết tại các khu vực khác xảy ra ở người lớn.

  • Bệnh cúm AH5N1: trong giai đoạn 2006 - 2010, bệnh cúm A/H5N1 có tổng số ca mắc trên địa bàn dự án là 8 ca, tổng số ca tử vong là 5 ca (62,5%). Các trường hợp mắc rải rác ở Sơn La, Điện Biên, Hà Nội, Thanh Hóa và Đồng Tháp.

  • Bệnh tay chân miệng xuất hiện trên địa bàn dự án từ năm 2007. Tỷ lệ mắc tay chân miệng trung bình trong giai đoạn 2007 - 2010 là 7,44/100.000 dân. Tỷ lệ chết/mắc trung bình là 0,11/100.000 dân. Dịch xuất hiện chủ yếu ở các tỉnh phía Nam. Tại các xã điều tra, dịch có xu hướng tăng mạnh từ 2,49/100.000 dân năm 2008 lên 15/100.000 dân năm 2010.

  • Bệnh viêm não Nhật bản xuất hiện ở 8/20 tỉnh dự án trong giai đoạn 2006 - 2010. Bệnh có số ca mắc cao năm 2006 (253 ca), sau đó giảm mạnh trong các năm 2007 - 2009, và có xu hướng tăng trở lại vào năm 2010 (100 ca). Tỷ lệ mắc VNNB trung bình trong cả giai đoạn 2006 - 2010 là 0,38/100.000. Tại các xã điều tra, VNNB chỉ được phát hiện năm 2007 và 2008 với tỷ lệ mắc rất thấp (0,1/100.000 dân).

  • Bệnh tả bùng phát mạnh vào năm 2007 (918 ca) sau đó giảm mạnh năm 2008 - 2009 và tăng lên vào năm 2010 với 364 ca mắc. Tỷ lệ mắc tả trung bình là 1,4/100.000 dân. Dịch tả tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là Hà Nội.

  • Bệnh thương hàn có tỷ lệ mắc cao trên địa bàn dự án năm 2006 (7,84/100.000 dân) và có xu hướng giảm dần đến 2010 (2,04/100.000 dân). Bệnh có tỷ lệ mắc bệnh trung bình là 4,47/100.000 dân. Tỷ lệ này cao hơn một chút ở các huyện điều tra (5,44/100.000 dân) và rất thấp ở các xã điều tra (4,47/100.000 dân).

Kết quả xét nghiệm giun cho trẻ từ 24-60 tháng tuổi và hoạt động phòng chống GTQĐ

  • Kết quả xét nghiệm giun tại cộng đồng cho thấy tỷ lệ thấp trẻ mầm non 24 -60 tháng tuổi nhiễm GTQĐ (8,8%), hầu hết trẻ nhiễm GTQĐ là đơn nhiễm. Cường độ nhiễm GTQĐ của trẻ đều ở mức thấp (1-25 trứng giun đũa/1 g phân và 1-17 trứng giun tóc/g phân).

  • Tỷ lệ trẻ từ 2-5 tuổi được tẩy giun tại các tỉnh dự án là 59,7%, 10/20 tỉnh thực hiện tẩy giun cho trên 90% trẻ em. Các tỉnh có tỷ lệ tẩy giun thấp là Thanh Hóa (76,9%), Đồng Tháp (73,8%), An Giang (6,3%), Bến Tre (69%). Chỉ có 6 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Quảng Bình thực hiện tẩy giun 2 lần/năm.

  • Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh sản được tẩy giun rất thấp (18,5%). Chỉ có 4/20 tỉnh thực hiện tẩy giun cho phụ nữ tuổi sinh sản, và chỉ thực hiện tẩy giun 1 lần 1 năm.

Cơ chế, chính sách liên quan đến phòng chống BTN

  • Các văn bản chính sách về phòng chống bệnh truyền nhiễm đã bao phủ các vấn đề cơ bản trong phòng chống dịch, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động phòng chống bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản chính sách chưa đủ rõ ràng, cụ thể.

    • Chính sách tuyển dụng và đãi ngộ, thu hút cán bộ việc tại hệ thống Dự phòng còn nhiều bất cập ở nhiều địa phương dẫn đến một số đơn vị sự nghiệp y tế không tuyển dụng đủ nhân lực theo quy định do thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính.

    • Các văn bản quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi, phụ cấp chống dịch cho cán bộ chưa rõ ràng, chưa tương xứng với lao động đặc thù của Ngành cũng như các chuyên khoa.

    • Chưa có các quy định và hướng dẫn cụ thể về giám sát đối với các bệnh trong phòng chống bệnh truyền nhiễm.

    • Chính sách về ưu tiên, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cán bộ YTDP nói chung và cán bộ làm công tác phòng chống bệnh truyền nhiễm nói riêng vẫn còn thiếu.

    • Chính sách cho công bố dịch vẫn còn thiếu một số thông tư cho danh mục các bệnh nhóm B

    • Chưa có chính sách ưu tiên đào tạo cán bộ y tế dự phòng, việc đào tạo kỹ thuật viên y tế dự phòng tại các tỉnh chưa được quan tâm, chưa thu hút được nhân lực làm việc ổn định lâu dài trong các đơn vị của hệ thống.

    • Quyết định số 73/2011/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ phụ cấp chống dịch chưa có hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài chính, nên khó khăn cho các địa phương khi áp dụng

  • Vẫn còn một số đơn vị YTDP tuyến tỉnh/huyện chưa thực hiện đúng chế độ phụ cấp nghề cho cán bộ PCD; chế độ công tác phí; chế độ điều tra xác minh dịch và chế độ trực chống dịch.

Thực trạng nhân lực phòng chống BTN tại các tỉnh, huyện triển khai dự án

  • Có 28,2 CBYT/10.000 dân tại các tỉnh dự án, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với mức bình quân toàn quốc (39,7/10.000 dân). Hà Nội, Thanh Hóa và Đắc Nông có tỷ lệ cán bộ y tế nữ đặc biệt thấp (19,7% - 36,2%). Số CBYT là người DTTS chiếm 14,8%, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Quảng Trị và Trà Vinh.

  • Tỷ lệ bác sỹ, dược sỹ và điều dưỡng/10,000 dân tại các tỉnh dự án là 4,9; 0,3 và 6,2, rất thấp so với mức bình quân toàn quốc (7,2; 1,76 và 9,4/10.000 dân) và so với chỉ tiêu 5 năm của ngành y tế (7 bác sỹ và 1,2 dược sỹ đại học/10.000 dân).

  • Tỷ lệ TYT có bác sỹ chưa cao (67,7% ở các huyện điều tra và 60% ở các xã điều tra), thấp hơn chỉ tiêu 5 năm của ngành y tế (70%). Tỷ lệ TYT có NHS đạt trên 95% ở các huyện và xã điều tra, vượt chỉ tiêu 5 năm của ngành y tế.

  • Tính trung bình, mỗi thôn/bản đều có 1 nhân viên YTTB. Tỷ lệ thôn bản có NVYTTB hoạt động khá cao (94,5%). Hà Nội và Lào Cai là 2 tỉnh thành có tỷ lệ này thấp hơn cả (77,2% và 80,7%).

  • Chỉ có 12/20 TTYTDP tỉnh đáp ứng nhu cầu nhân lực tối thiểu theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 5/6/2007 của Bộ Y tế-Bộ Nội vụ. Các TTYTDP tỉnh thiếu trầm trọng cán bộ thuộc về Sơn La, Thanh Hóa, Đắc Nông, Quảng Bình. Số cán bộ tối thiểu cần bổ sung tại các TTYTDP tỉnh là 107 cán bộ.

  • Chỉ có 36/60 TTYT huyện đáp ứng nhu cầu nhân lực tối thiểu theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 5/6/2007 của Bộ Y tế-Bộ Nội vụ. Các tỉnh có rất ít huyện đạt yêu cầu về số lượng nhân lực y tế là Điện Biên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đắc Lắc, Đắc Nông, Trà Vinh, Kiên Giang và Bến Tre. Số cán bộ tối thiểu cần bổ sung tại các TTYT huyện là 163 cán bộ.

  • Tình trạng thiếu bác sỹ và kỹ thuật viên xét nghiệm rất phổ biến ở các đơn vị YTDP tuyến tỉnh/huyện. Số bác sỹ tối thiểu còn thiếu là 141 ở tuyến tỉnh và 100 ở tuyến huyện. Số kỹ thuật viên xét nghiệm tối thiểu còn thiếu là 121 ở tuyến tỉnh và 145 ở tuyến huyện.

  • Số TYT có bác sỹ tại 20 tỉnh dự án đạt 57,5%. Các tỉnh có tỷ lệ TYT có bác sỹ rất thấp là Điện Biên, Lào Cai, Nghệ An, Quảng Trị, Đắc Lắc, Tây Ninh (0% - 33%)

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng chống BTN tại các tỉnh, huyện triển khai dự án

  • Cơ sở vật chất của các TTYTDP tỉnh còn chưa đạt so với chuẩn thiết kế. Trong đó, 70% không đạt về diện tích xây dựng, 70% không đạt tiêu chuẩn về các hạng mục phụ trợ, 85% không đạt về số phòng làm việc của khoa kiểm soát dịch bệnh và vắc xin sinh phẩm, không trung tâm nào đạt quy định về số phòng KDYT, 85% không đạt tiêu chuẩn về số phòng cho khoa xét nghiệm.

  • Cơ sở vật chất của TTYT huyện còn rất khó khăn. Còn 5% TTYT huyện hiện chưa có trụ sở làm việc, 1/3 số TTYT không đạt yêu cầu về diện tích mặt bằng theo chuẩn của Bộ Y; 61,7% TTYT không có ô tô chuyên dụng phục vụ PCD; 80% TTYT không có đủ các khoa phòng chuyên môn 85% TTYT không có đủ các hạng mục phụ trợ; 95% TTYT không có đủ số phòng cho khoa xét nghiệm; 96,7% TTYT không có đủ các khoa phòng chuyên môn.

  • Trang thiết bị cơ bản phục vụ hoạt động PCD: 100% TTYTDP tỉnh có đủ trang thiết bị cơ bản: máy tính, nối mạng internet, điện thoại, fax, ô tô chuyên dụng. Tuy nhiên, chỉ có 90% TTYT huyện có nối mạng internet và chỉ có 38,3% TTYT có ô tô chuyên dụng phục vụ PCD. Đối với tuyến xã, đa số TYT có điện thoại (95%) và máy tính (89,2%).

  • Trang thiết bị chuyên dụng phòng chống dịch còn rất thiếu thốn ở tuyến tỉnh và tuyến huyện, không TTYTDP tỉnh nào có đủ các trang thiết bị phòng chống bệnh truyền nhiễm theo quy định. Tính trung bình, mỗi TTYTDP tỉnh chỉ đạt 47,7% TTB PCD và mỗi TTYT huyện chỉ đạt dưới 30% về số TTB. Trong đó thấp nhất là các huyện ở Sơn La (6,5%) và cao nhất là các huyện tại Hà Nội (27,4%).

  • TTB xét nghiệm tại TTYTDP tỉnh còn thiếu khá nhiều, số đơn vị có máy PCR, máy điện di GEL, máy sắc ký lỏng cao áp, máy quang phổ hấp phụ nguyên tử, kính hiển vi huỳnh quang, máy soi GEL, kính hiển vi soi nổi lần lượt là 80%, 65%, 65%, 55%, 50%, 50% và 40%. Tại tuyến huyện, không đơn vị nào có đủ TTB xét nghiệm theo quy định. 100% đơn vị không có máy khuấy từ, 90% không có máy hút ẩm, 88% không có tủ an toàn sinh học cấp 2,87% không có bộ xét nghiệm côn trùng, 42% không có bộ xét nghiệm ký sinh trùng...

Hoạt động phòng chống bệnh truyền nhiễm tại tỉnh, huyện dự án

  • Hệ thống giám sát BTN có cấu trúc và cơ chế hoạt động rõ ràng và thống nhất ở tất cả các tỉnh, đa số đơn vị YTDP tỉnh/huyện đã thành lập tổ chuyên trách giám sát (80% và 86,7%). Sau Thông tư 48/2010, hệ thống đã có đầy đủ thành phần tham gia, hiệu quả hoạt động đã cải thiện nhiều so với trước.

  • Đa số đơn vị YTDP các tuyến thực hiện báo cáo tuần và báo cáo tháng đầy đủ và đúng hạn. Tuy nhiên, vẫn còn một số TYT xã nộp báo cáo tuần không đúng hạn hoặc không nộp báo cáo tuần. Đa số các TYT này nằm ở vùng sâu, vùng xa, không có điều kiện sử dụng internet, điều kiện giao thông không thuận tiện.

  • Khoảng trên một nửa số đơn vị YTDP tỉnh/huyện đã thực hiện phân tích số liệu theo thời gian, địa điểm, con người. Tỷ lệ cao đơn vị YTDP tỉnh/huyện đã vẽ bản đồ vùng dịch và biểu đồ mô tả xu hướng một số dịch bệnh xảy ra trên địa bàn.

  • Số vụ nghi dịch được các đơn vị YTDP tỉnh/huyện điều tra đáp ứng trong vòng 48 giờ đạt tỷ lệ chưa cao (87,6% và 68,1%). Đa số các vụ nghi dịch được chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng. Số vụ được chẩn đoán dựa vào xét nghiệm chỉ chiếm dưới 10%.

  • Hoạt động chuẩn bị đáp ứng dịch khá tốt tại các tỉnh dự án. 100% có bản kế hoạch dự phòng và đáp ứng dịch, có cơ số chống dịch vào mọi thời điểm trong năm qua, có đội cơ động chống dịch với đầy đủ thành phần theo quy định. Một số tỉnh và huyện chưa có kinh phí riêng cho hoạt động giám sát phòng chống dịch. Kinh phí cho giám sát và phòng chống dịch chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế ở cả tuyến tỉnh, huyện và xã.

  • Năng lực xét nghiệm chẩn đoán BTN gây dịch của các đơn vị YTDP tỉnh huyện còn khá hạn chế. Đa số đơn vị YTDP tỉnh mới chỉ thực hiện được các test chẩn đoán nhanh, phân lập vi khuẩn trong một số bệnh tả, lỵ, thương hàn, Ecoli. Phân lập các vi khuẩn khác hoặc làm kháng sinh đồ được rất ít đơn vị tuyến tỉnh thực hiện được. Tuyến huyện chưa thực hiện được các xét nghiệm chẩn ddoán xác định ca bệnh.

  • Hệ thống phòng chống BTN cũng có một số điểm hạn chế: Nhiều cơ sở y tế tư nhân, bệnh viện bộ/ngành, các đơn vị y tế cơ quan/doanh nghiệp chưa tích cực tham gia báo cáo số liệu cho hệ thống giám sát BTN; Chưa có đầy đủ tài liệu hướng dẫn giám sát cho tất cả các bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm mới nổi. Tình trạng thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn tốt, thiếu TTB, thiếu kinh phí hoạt động tại các đơn vị YTDP, đặc biệt là tuyến huyện vẫn là những rào cản ảnh hưởng đến khả năng phát hiện sớm và đáp ứng kịp thời với BTN nói chung và bệnh mới nổi nói riêng.

  • Hệ thống KDYT biên giới đã hình thành cấu trúc và quy chế hoạt động rõ ràng. Tuy nhiên, do thiếu nhân lực, TTB và sự phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ ở một số cửa khẩu nên hoạt động kiểm dịch còn bỏ sót nhiều đối tượng, đặc biệt là phương tiện vận tải, hàng hóa cần kiểm dịch.

  • Bộ tiêu chí đánh giá thực hiện mô hình cộng đồng vì sức khỏe được cho là yêu cầu quá cao, không phù hợp với nhiều địa phương, đặc biệt là các xã miền núi, DTTS...

Kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống BTN tại địa bàn dự án

  • Kiến thức của cộng đồng về phòng chống BTN còn khá hạn chế, đặc biệt rất yếu về các bệnh VNNB, tả, TCM. Tỷ lệ rất thấp đối tượng trả lời đúng về nguyên nhân gây bệnh, các triệu chứng chính và biện pháp phòng bệnh. Điểm trung bình kiến thức PCBTN của cộng đồng chỉ đạt 26,1/100 điểm. Kiến thức phòng chống bệnh truyền nhiễm của cộng đồng có liên quan đến yếu tố dân tộc, học vấn và điều kiện kinh tế hộ gia đình. Những đối tượng là người dân tộc Kinh, học vấn từ THPT trở lên và không nghèo có tỷ lệ đạt điểm trung bình kiến thức  30 điểm cao hơn các nhóm tương ứng lần lượt là 1,54 lần, 2,67 lần và 2,18 lần.

  • Mặc dù có kiến thức PCBTN hạn chế, hành vi của cộng đồng về phòng chống BTN đạt mức khá. Điểm trung bình thực hành PCBTN của cộng đồng là 66,3/100 điểm. Hành vi phòng bệnh cho trẻ chưa được người dân trong cộng đồng quan tâm khi điểm thực hành chỉ đạt dưới mức trung bình (36,8/100 điểm). Các yếu tố dân tộc, giới, học vấn, nghề nghiệp và điều kiện kinh tế có liên quan đến hành vi PCBTN của cộng đồng, mức chênh về tỷ lệ đối tượng có điểm thực hành  70/100 điểm của nhóm dân tộc Kinh, nữ giới, học vấn từ THPT trở lên, nghề phi nông nghiệp và không nghèo so với các nhóm đối tượng tương ứng lần lượt là 2,38; 1,45 lần; 1,49 lần; 1,85 lần và 1,86 lần.




1 Do điểm kiến thức của cộng đồng rất thấp nên mốc 30/100 điểm được chọn để so sánh kiến thức giữa các nhóm đối tượng có yếu tố đặc trưng cơ bản khác nhau. Nếu chọn mốc so sánh cao hơn, sự khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa do tỷ lệ đối tượng đáp ứng điều kiện đưa ra quá thấp.

Каталог: files -> activity attachment -> 2017
2017 -> Báo cáo nghiên cứu khả thi dự Án phòng chống bệnh truyền nhiễm khu vực tiểu vùng sông mê KÔng giai đOẠN 2
2017 -> I. Thông tin chung về đề tài
2017 -> Hướng Dẫn Chẩn Đoán và Quản Lý các Rối Loạn Tâm Thần Thường Gặp trong Chăm Sóc Sức Khoẻ Ban Đầu Lời nói đầu
2017 -> Icd-1o pc: Questionnaire for
2017 -> Ngày Sức khỏe Thế giới 07/4/2017 Trầm cảm: Hãy cùng trò chuyện Chuyên mục Hỏi – Đáp về trầm cảm Thông tin về Ngày Sức khỏe Thế giới Ai quyết định chủ đề cho Ngày Sức khỏe Thế giới?
2017 -> Icd-10 pc: Questionnaire for
2017 -> ĐÁnh giá hiệu lực tồn lưu màn tẩM
2017 -> Báo cáo khoa họC
2017 -> Hà NỘI, 2017 MỤc lụC

tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương