Thực trạng hoạT ĐỘng phòng chống bệnh truyền nhiễm tạI ĐỊa bàn dự ÁN


KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM



tải về 0.72 Mb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu26.11.2017
Kích0.72 Mb.
#3052
1   2   3

3.2.2.KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM

Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn


Bảng . Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn

Thông tin chung

n

%

Tuổi







  • <=20

27

1,3

  • 21-30

464

21,5

  • 31-40

577

26,7

  • 41-50

521

24,1

  • 51-60

423

19,6

  • 61 trở lên

148

6,9

Giới







  • Nam

580

26,9

  • Nữ

1580

73,1

Dân tộc







  • Kinh

1656

76,7

  • Khác

504

23,3

Học vấn







  • <= THCS

1527

70,7

  • >THCS

633

29,3

Nghề nghiệp







  • Nông, lâm, ngư nghiệp

1092

50,6

  • Lao động thủ công, CN

158

7,3

  • Buôn bán kinh doanh

376

17,4

  • Công chức, viên chức

143

6,6

  • Khác

391

18,1

Tình trạng hôn nhân







  • Đang có vợ chồng

1949

90,2

  • Ly dị, Ly hôn

32

1,5

  • Goá

114

5,3

  • Chưa lập gia đình

65

3,0

Tình trạng nhà ở hộ GĐ







  • Kiên cố

1556

72,0

  • Không kiên cố

599

27,7

  • Đang ở nhờ

5

0,2

Kinh tế hộ GĐ







  • Nghèo

268

12,4

  • Cận nghèo

162

7,5

  • Không nghèo

1730

80,1

Các đối tượng được phỏng vấn chủ yếu đều nằm trong độ tuổi 21 – 60, nhóm tuổi từ 31 – 40 chiếm tỷ lệ cao nhất (26,7%), thấp nhất là nhóm tuổi từ 51 – 60 (19,6%), trong đó nữ giới chiếm gần 3/4 đối tượng tham gia phỏng vấn (73,1%). Trên 75% đối tượng thuộc dân tộc Kinh và gần 1/4 đối tượng thuộc các dân tộc thiểu số. Đa phần đối tượng được phỏng vấn đã học xong THCS (70,7%).

Về nghề nghiệp: hơn một nửa (50,6%) đối tượng nghiên cứu làm nông, lâm, ngư nghiệp; tiếp đến là buôn bán kinh doanh (17,4%); lao động thủ công, công nhân và công chức, viên chức chiếm tỷ lệ tương đương (7,3% và 6,6%); các nghề tự do khác chiếm tỷ lệ khá cao (18,1%).

Đa số đối tượng tham gia nghiên cứu (90,2%) đều đã có vợ chồng, phần đông đều có nhà ở kiên cố (72,0%) và không thuộc đối tượng nghèo/cận nghèo (80,1%)

Kiến thức chung của cộng đồng về phòng chống BTN



Biểu đồ . Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về BTN

Nhìn chung, đa số cộng đồng có kiến thức đúng về đường lây truyền, trung gian truyền bệnh (lần lượt là 82,6%, 76%). Tuy nhiên, chỉ khoảng trên dưới 1/2 số người được phỏng vấn trả lời đúng về định nghĩa bệnh truyền nhiễm và tác nhân gây bệnh (43,6% và 57%).

Ba đường lây truyền được người dân biết đến nhiều nhất là đường hô hấp (70,1%), đường tiêu hóa (54,6%) và đường máu (46,0%). Hơn một nửa (57,3%) số người được phỏng vấn cho biết trung gian truyền bệnh là qua côn trùng đốt. Viêm não Nhật Bản là bệnh truyền nhiễm có thể dự phòng bằng vắc xin được người dân biết đến nhiều nhất với gần 75,0%. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ số người được hỏi trả lời sai khi cho rằng có thể dự phòng bệnh tả và SXH bằng vắc xin (48,9% và 33,3%) (Xem Error: Reference source not found).



Biểu đồ . Tỷ lệ người dân trong cộng đồng hiểu đúng về nguyên nhân gây bệnh SXH Dengue
Kiến thức phòng chống một số BTN


Sốt xuất huyết Dengue

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây nên. Vi rút muỗi Aedes aegypti truyền từ người bệnh sang người lành. Kết quả điều tra cho thấy gần 2/3 cộng đồng có kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh SXH Dengue (62,5%). Số người hiểu sai hoặc không biết nguyên nhân gây bệnh chiếm trên 1/3 đối tượng trả lời phỏng vấn (37,5%).


Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các triệu chứng của bệnh SXH Dengue

Có thể thấy kiến thức của người dân về các triệu chứng của bệnh SXH Dengue còn khá nghèo nàn. Đa số đã nhắc đến triệu chứng sốt (80,6%), tuy nhiên số đối tượng nhắc đến triệu chứng phát ban và xuất huyết dưới da/niêm mạc không nhiều mặc dù đây là triệu chứng điển hình của SXH (44,7% và 16,1%). Các triệu chứng khác được rất ít đối tượng đề cập đến. Đặc biệt, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ người dân không biết gì về triệu chứng bệnh SXH Dengue (12,1%).



Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị bệnh SXH Dengue

Kiến thức của người dân trong cộng đồng về các dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị bệnh SXH Dengue cũng rất hạn chế. Dấu hiệu cảnh báo nặng được biết đến nhiều nhất là xuất huyết dưới da lan rộng toàn thân cũng chỉ đạt 49,0%. Các dấu hiệu được một số ít đối tượng biết đến là đi tiểu ít, hạ huyết áp và nôn nhiều (dao động dưới 10%). Bên cạnh đó, vẫn còn tới 36,9% đối tượng được phỏng vấn không biết dấu hiệu cảnh báo nặng nào.



Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các biện pháp phòng bệnh SXH Dengue

Kiến thức của người dân về các biện pháp phòng bệnh SXH còn rất hạn chế. Ba loại biện pháp phòng bệnh SXH Dengue phổ biến chỉ được trên 50% cộng đồng biết đến là luôn ngủ màn ban ngày, dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, vệ sinh môi trường sạch sẽ và phun thuốc/dùng nhang/sử dụng đèn, vợt diệt muỗi. Các biện pháp hiệu quả khác được rất ít đối tượng đề cập đến.


Biểu đồ . Điểm trung bình kiến thức của người dân trong cộng đồng về bệnh SXH Dengue, theo tỉnh

Điểm trung bình kiến thức của người dân về phòng chống sốt xuất huyết Dengue đều thấp dưới mức trung bình ở tất cả các tỉnh. Mức điểm thấp nhất thuộc về các tỉnh miền núi phía Bắc như Điện Biên, Lào Cai và Sơn La (15,6 - 26,1/100 điểm). Mức điểm cao nhất thuộc về Hà Nội (42,4/100 điểm).



Viêm não Nhật Bản



Biểu đồ . Tỷ lệ người dân trong cộng đồng hiểu đúng về nguyên nhân gây bệnh VNNB
VNNB là bệnh nhiễm vi rút cấp tính làm tổn thương hệ thần kinh trung ương, thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi. Nguyên nhân của bệnh do muỗi Culex đốt truyền vi rút gây bệnh từ động vật mang bệnh sang người lành. Đây là một bệnh nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng bệnh nhân, tuy nhiên phần lớn người dân hiểu sai hoặc không biết nguyên nhân gây ra bệnh này (86,7%).

Biểu đồ . Tỷ lệ người dân trong cộng đồng hiểu đúng về các triệu chứng của bệnh VNNB

Tương tự như nguyên nhân gây bệnh, hiểu biết của người dân về các triệu chứng của bệnh VNNB còn khá hạn chế khi có tới 63,1% đối tượng không biết về các triệu trứng của bệnh. Dấu hiệu được nhiều người dân biết đến nhất là sốt cao đột ngột cũng chỉ đạt 31,7%. Các dấu hiệu khác được rất ít đối tượng biết đến.

Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về những dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị VNNB

Kiến thức của người dân về bệnh VNNB rất hạn chế và thể hiện rõ nhất qua nhận thức của họ về những dấu hiệu cảnh báo bệnh nặng ở người bị bệnh. Có tới 70% đối tượng được phỏng vấn không biết bất cứ dấu hiệu cảnh báo nào. Có giật là dấu hiệu được nhiều người biết đến nhất cũng chỉ đạt chưa đến 25%. Tất cả các dấu hiệu cảnh báo bệnh nặng còn lại được người dân biết đến rất với tỷ lệ không đáng kể (dao động dưới 6,5%). Điều này cho thấy, đây là một trong những nội dung quan trọng cần lưu ý khi truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng.


Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các biện pháp phòng bệnh VNNB

Do chưa có hiểu biết đúng về nguyên nhân gây bệnh, các triệu chứng của bệnh cũng như những dấu hiệu cảnh báo bệnh nặng ở người bị bệnh VNNB, kiến thức phòng bệnh của người dân về bệnh VNNB của người dân trong cộng đồng còn rất hạn chế. Có tới gần 40% người dân không biết bất cứ biện pháp phòng chống bệnh VNNB nào. Hai biện pháp được người dân quan tâm nhiều nhất là tiêm vaccine phòng VNNB và luôn luôn ngủ màn ban đêm chống muỗi đốt cũng chỉ chiếm tỷ lệ thấp (lần lượt là 48,7% và 32.2%).


Biểu đồ . Điểm trung bình kiến thức của người dân trong cộng đồng về bệnh VNNB, theo tỉnh

Mức điểm rất thấp của cộng đồng ở đa số các tỉnh cho thấy người dân gần như không hiểu gì về bệnh VNNB. Điểm trung bình kiến thức của cộng đồng về phòng chống VNNB chỉ đạt dưới 20/100 điểm ở 19/20 tỉnh. Mức điểm thấp nhất rơi vào các tỉnh phía Nam (<10/100 điểm). Mức điểm cao nhất thuộc về cộng đồng ở Hà Nội (28,9/100 điểm). Điều này cho thấy, các nội dung về triệu chứng, dấu hiệu cảnh báo nặng và biện pháp phòng bệnh VNNB cần được tuyên truyền phổ biến cho người dân ở tất cả các tỉnh dự án.



Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về nguyên nhân gây bệnh tả
Bệnh tả

Nguyên dân gây bệnh tả là do phẩy khuẩn tả truyền từ người bệnh sang người lành qua đường phân - miệng. Tả là bệnh hay gặp nguy hiểm nhưng tỷ lệ đối tượng hiểu đúng về nguyên nhân gây bệnh không cao (55%). Điều đó có nghĩa 45% người dân hiểu sai hoặc không biết về nguyên nhân gây ra bệnh này.


Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các triệu chứng của bệnh tả

Trong số các triệu chứng nhận biết bệnh tả, triệu chứng tiêu chảy liên tục nhiều lần trong ngày được đa số người dân trong cộng đồng biết đến (83,5%). Tuy nhiên, một triệu chứng chỉ điểm quan trọng ít được các đối tượng nhắc đến là phân toàn nước, trắng đục như nước vo gạo (24,5%). Các triệu chứng liên quan đến dấu hiệu mất nước nặng khác như mệt lả, mắt trũng, da khô được rất ít người dân biết đến. Điều đáng lưu ý là vẫn còn một bộ phân không nhỏ người dân không biết triệu chứng nào của bệnh tả (12,4%).

Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về những dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị bệnh tả

Kết quả điều tra cho thấy, hơn một nửa (54,6%) đối tượng phỏng vấn không biết bất cứ dấu hiệu cảnh báo nặng nào của người bị bệnh tả. Hai dấu hiệu được trên dưới 20% đối tượng đề cập là khát nước và li bì hôn mê. Các dấu hiệu do mất nước nặng khác như huyết áp tụt, ít hoặc không đi tiểu, tay chân lạnh, mạch nhanh, khó bắt chỉ được rất ít người biết đến.

Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các biện pháp phòng bệnh tả

So với kiến thức của người dân trong cộng đồng về nguyên nhân, triệu chứng cũng như nhận biết những dấu hiệu cảnh báo nặng của bệnh tả, kiến thức của họ về cách phòng chống bệnh tả tốt hơn, mặc dù chưa đầy đủ. Hai cách phòng chống bệnh tả được người dân chú ý nhiều nhất là ăn chín và uống nước sôi/sạch (lần lượt là 85,8% và 84,8%). Biện pháp RTXP trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh là một biện pháp đơn giản và hiệu quả nhưng chỉ được 28,8% đối tượng biết đến. Rất nhiều biện pháp phòng bệnh khác mà người dân chưa đề cập đến như không ăn gỏi cá, nem chua, sử dụng nhà tiêu HVS, không dùng phân tươi, diệt ruồi, thu gom rác hàng ngày (dưới 10%).


Biểu đồ . Điểm trung bình kiến thức của người dân trong cộng đồng về bệnh tả, theo tỉnh

Nhìn chung, điểm kiến thức của người dân trong cộng đồng về phòng chống bệnh tả chỉ đạt dưới mức trung bình ở tất cả các tỉnh. Mức điểm này đặc biệt thấp ở các tỉnh Điện Biên và Lào Cai (13,7 và 18,6/100 điểm). Mức điểm này đạt cao nhất ở Hà Nội (37,7/100 điểm). Các dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị bệnh tả là nội dung có rất ít người biết đến và cần được chú trọng trong chương trình truyền thông phòng chống bệnh tả tại các tỉnh dự án.



Giun truyền qua đất

Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng biết các loại giun thường mắc ở người

Giun truyền qua đất (GTQĐ) là bệnh rất phổ biến. Các loại giun truyền qua đất bao gồm giun đũa, giun tóc và giun móc. Trong số các loại giun truyền qua đất, giun đũa được người dân biết đến nhiều nhất (66,3%), giun móc và giun tóc có tỷ lệ cộng đồng biết đến thấp (44% và 17,3%). Đáng chú ý là nhiều người dân trong cộng đồng không biết loại giun nào thường mắc ở người (20,8%).

Biểu đồ . Tỷ lệ người dân trong cộng đồng hiểu đúng về các triệu chứng của bệnh GTQĐ

Nhiễm giun truyền qua đất gây nên tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu, chậm phát triển về thể lực và tinh thần, tăng nguy cơ bị nhiễm các bệnh khác. Trong số các triệu chứng cụ thể của bệnh giun truyền qua đất, đau bụng vùng quanh rốn hay ở vùng thượng vị là triệu chứng thường gặp và được người dân biết đến nhiều nhất (70,1%), kế đến là da xanh xao (38,4%), gầy còm (31,8%) và buồn nôn (25,3%), các triệu chứng khác được ít người nhắc đến. Điều đáng quan tâm là vẫn còn 12,3% người dân không biết đến triệu chứng nào của bệnh.

Biểu đồ . Tỷ lệ người dân biết về các biện pháp phòng bệnh GTQĐ

Kiến thức của người dân về các biện pháp phòng bệnh GTQĐ chưa thực sự đầy đủ khi phần lớn đối tượng chỉ đề cập đến việc ăn chín và uống nước sôi/sạch (79,5% và 78,3%). Để đề phòng bệnh này, điều quan trọng là phải giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, thường xuyên rửa tay cho trẻ bằng nước sạch với xà bông trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, sử dụng nhà tiêu HVS… Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ được một số ít người dân đề cập đến. Giun truyền qua đất là bệnh khá phổ biến nhưng kiến thức của người dân vẫn còn nhiều hạn chế. Do đó, việc truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng cần phải đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới.


Biểu đồ . Điểm trung bình kiến thức của người dân trong cộng đồng về bệnh giun truyền qua đất, theo tỉnh

Mặc dù là bệnh phổ biến nhưng kiến thức của người dân về GTQĐ chỉ đạt dưới mức trung bình ở tất cả các tỉnh dự án. Điểm kiến thức của người dân tại các tỉnh phía Nam về bệnh GTQĐ thấp hơn nhiều so với các tỉnh khác, đặc biệt là cộng đồng ở Cần Thơ, Trà Vinh, Kiên Giang, Đồng Tháp (dưới 20/100 điểm).





Biểu đồ . Tỷ lệ người dân trong cộng đồng hiểu đúng về nguyên nhân gây bệnh TCM
Tay chân miệng

Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra, chủ yếu là Coxsacke virus A16 và Enterovirus 71 (EV71). Biểu đồ trên cho thấy, kiến thức của người dân trong cộng đồng về nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng còn rất hạn chế. Tỷ lệ người dân hiểu sai và không biết về bệnh này khá cao (37,8% và 31,3%).



Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các triệu chứng của bệnh TCM

Ba triệu chứng của bệnh tay chân miệng được người dân biết đến nhiều nhất là phỏng nước/vết loét nhỏ xuất hiện ở miệng, lợi, lưỡi (59,3%); phát ban, phỏng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, gối, mông (51,8%) và sốt nhẹ (48,6%); các triệu chứng khác được rất ít người biết đến. Đáng chú ý là tỷ lệ người dân không biết bất cứ triệu chứng nào của bệnh TCM khá cao (21,1%).

Biểu đồ . Tỷ lệ người dân biết về những dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị bệnh TCM

Tương tự như các bệnh truyền nhiễm khác, kiến thức của người dân về các dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị bệnh tay chân miệng rất hạn chế. Có tới 46% đối tượng phỏng vấn không biết bất cứ dấu hiệu nào, dấu hiệu được người dân chú ý nhiều nhất là sốt trên 2 ngày, sốt cao trên 39 độ (47,6%). Nhiều dấu hiệu nguy hiểm khác bị bỏ qua là thở nhanh, thở mệt, nôn ói nhiều, giật mình, run tay chân, yếu liệt chân tay (dưới 5%).


Biểu đồ . Tỷ lệ người dân biết các biện pháp phòng bệnh TCM

Do tính chất dễ lây lan và hậu quả nghiêm trọng của bệnh nên người dân cần phải biết các biện pháp phòng ngừa. Kết quả điều tra cho thấy, rửa tay cho trẻ nhiều lần trong ngày bằng xà phòng là biện pháp phòng bệnh tay chân miệng được nhiều người đề cập đến nhất (61,5%); kế đến là cho trẻ ăn chín, uống nước chín/sạch (40,2%). Tuy nhiên, do sự hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh cũng như triệu chứng và các dấu hiệu cảnh báo nặng của bệnh còn hạn chế nên vẫn còn 21,1% người dân không biết biện pháp phòng bệnh này.


Biểu đồ . Điểm trung bình kiến thức của người dân trong cộng đồng về bệnh TCM, theo tỉnh

Điểm TBKT của người dân về bệnh tay chân miệng rất thấp ở tất cả các tỉnh dự án (<=30 điểm), đặc biệt là ở Điện Biên, Hà Tĩnh, Lào Cai, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa (dưới 20/100 điểm). Điểm kiến thức trung bình của cộng đồng đạt cao nhất ở Hà Nội (30/100 điểm).



Cúm A H5N1

Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về bệnh cúm A H5N1
Cúm A H5N1 là bệnh cúm nguy hiểm và có thể lây từ gia cầm sang người. Mặc dù chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe đã đặc biệt chú trọng đến căn bệnh nguy hiểm này trong những năm qua, vẫn còn trên 1/3 cộng đồng đang hiểu sai hoặc không biết gì về bệnh này (38,5%). Số đối tượng phỏng vấn có hiểu biết đúng về bệnh cúm A H5N1 chỉ đạt 61%.

Biểu đồ . Tỷ lệ người dân biết về các đường lây truyền bệnh cúm A H5N1

Đường lây truyền phổ biến của bệnh cúm A H5N1 được nhiều người dân biết đến nhất là tiếp xúc trực tiếp với gia cầm, trứng gia cầm bị bệnh (70,5%) và ăn thịt, trứng của gia cầm chưa được nấu chín (50,2%). Việc tiếp xúc với phân/chất thải của gia cầm bị bệnh, tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh cúm gia cầm, trực tiếp giết mổ gia cầm bệnh, nơi ở gần chuồng trại của gia cầm bệnh cũng là những đường lây cần được chú ý nhưng chưa được nhiều đối tượng đề cập đến (dưới 30,0%).


Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các triệu chứng của bệnh cúm A H5N1

Triệu chứng phổ biến của bệnh cúm A H5N1 được người dân biết đến nhiều nhất là sốt trên 38 độ (66,9%). Các triệu chứng khác như ho, ho khan, đau ngực; đau đầu, nhức cơ; khó thở, tức ngực, thở nhanh, tím tái được biết đến với tỷ lệ thấp hơn (33,6%, 18,9% và 22,4%). Điều đáng chú ý là vẫn còn hơn 1/4 người dân trong cộng đồng không biết bất kỳ triệu chứng nào của bệnh cúm A H5N1.

Biểu đồ . Tỷ lệ cộng đồng hiểu đúng về các biện pháp phòng bệnh cúm A H5N1

Khi được hỏi về các biện pháp phòng bệnh cúm A H1N1, biện pháp được đa phần người dân trả lời là không sử dụng gia cầm mắc bệnh hoặc gia cầm chết (71,7%), tiếp theo là rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, trước khi chế biến thức ăn, sau khi có tiếp xúc với gia cầm (40,4%). Các biện pháp dễ bị bỏ qua là không để chung thịt gia cầm chín, sống, dùng dao, thớt riêng khi thái thịt sống và chín… chiếm tỷ lệ không đáng kể (dưới 4%). Bên cạnh đó, vẫn còn một số người dân không biết đến các biện pháp phòng chống cúm A H1N1 (13,2%).


Biểu đồ . Điểm trung bình kiến thức của người dân trong cộng đồng về bệnh cúm A/H5N1, theo tỉnh

Điểm TBKT của người dân về bệnh cúm A/H5N1 ở mức dưới trung bình, trong đó, cao nhất ở Hà Nội (42,3/100 điểm) và thấp nhất ở các tỉnh Điện Biên, Lào Cai, Trà Vinh (dao động từ 20-25/100 điểm).


Biểu đồ . Điểm kiến thức trung bình của người dân trong cộng đồng về PCBTN

Nhìn chung, kiến thức của người dân trong cộng đồng về phòng chống BTN còn rất hạn chế. Quy ra điểm trung bình, kiến thức của những đối tượng được phỏng vấn chỉ đạt dưới mức trung bình (26,1/100 điểm). Điểm kiến thức của cộng đồng đặc biệt thấp ở các bệnh viêm não Nhật Bản, tay chân miệng và tả (lần lượt là 15,5/100; 21/100 và 23,8/100). Đây là 3 bệnh cần được truyền thông nâng cao kiến thức cho người dân tại tất cả các tỉnh dự án, đặc biệt là các nội dung: triệu chứng, các dấu hiệu cảnh báo nặng ở người mắc bệnh và các biện pháp phòng bệnh. Ngoài 3 bệnh này,nội dung cần được ưu tiên truyền thông nhiều hơn tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ là các dấu hiệu cảnh báo nặng ở người bị SXH Dengue, giun truyền qua đất…



Tiếp cận thông tin PCBTN
Biểu đồ . Tỷ lệ người dân trong cộng đồng được tiếp cận thông tin PCBTN

TV/radio, đài truyền thanh xã và cán bộ y tế là những nguồn thông tin có tỷ lệ cộng đồng tiếp cận nhiều nhất (86%, 35% và 51%). Nhân viên YTTB cũng là nguồn thông tin được khoảng 1/4 cộng đồng đề cập. Các nguồn thông tin khác có vai trò rất thấp trong việc cung cấp thông tin phòng chống BTN cho cộng đồng (internet, trường học, cán bộ đoàn thể, tài liệu truyền thông...).



Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống BTN của cộng đồng

Tỷ số chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI) được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa kiến thức phòng chống bệnh truyền nhiễm của cộng đồng với một số yếu tố. Ở mô hình phân tích dưới đây, biến độc lập là độ tuổi, dân tộc, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và điều kiện kinh tế hộ gia đình. Biến phụ thuộc là tỷ lệ người dân có điểm kiến thức cao hơn hoặc bằng 30/100 điểm1.



Bảng . Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống BTN của cộng đồng

Biến độc lập

Tỷ lệ người có điểm kiến thức >=30 điểm

OR thô (95%CI)

OR hiệu chỉnh (95%CI)

P value

Tuổi













  • > 35

32,5

1

1

>0,05

  • <= 35

37,0

1,22 (1,01 - 1,47)

1,1 (0,9 - 1,35)




Dân tộc













  • DTTS

22,2

1

1

<0,01

  • Kinh

37,7

2,12 (1,68 - 2,67)

1,54 (1,19 - 1,99)




Giới













  • Nam

30,9

1

-

>0,05

  • Nữ

35,3

1,22 (0,99 - 1,5)

-




Học vấn













  • <= Trung học cơ sở

26,3

1

1

<0,001

  • > Trung học cơ sở

52,8

3,13 (2,58 - 3,79)

2,67 (2,18 - 3,27)




Nghề nghiệp













  • Nông nghiệp

36,0

1

-

>0,05

  • Khác

32,0

0,84 (0,7 -1,0)

-




Tình trạng hôn nhân













  • Đang có vợ /chồng

34,8

1,44 (1,05 - 1,98)

1,38 (0,99 - 1,92)

>0,05

  • Khác

27,0

1

1




Điều kiện kinh tế













  • Nghèo/cận nghèo

17,2

1

1

<0,001

  • Không nghèo

38,3

2,98 (2,28 - 3,9)

2,18 (1,64 - 2,89)




Kết quả phân tích đơn biến cho thấy kiến thức phòng chống bệnh truyền nhiễm của cộng đồng có liên quan đến các yếu tố tuổi, dân tộc, học vấn, tình trạng hôn nhân và điều kiện kinh tế hộ gia đình. Yếu tố giới và nghề nghiệp không cho thấy mối liên quan nào đến kiến thức của người dân về phòng chống bệnh truyền nhiễm.

Các yếu tố được xác định có liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh truyền nhiễm của cộng đồng khi phân tích đơn biến đều được đưa vào mô hình phân tích hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy các yếu tố thực sự có liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh truyền nhiễm của cộng đồng là yếu tố dân tộc, học vấn và điều kiện kinh tế hộ gia đình. Những đối tượng là người dân tộc Kinh, học vấn từ THPT trở lên và không nghèo có tỷ lệ đạt điểm trung bình kiến thức >=30 điểm cao hơn các nhóm tương ứng lần lượt là 1,54 lần (95%CI: 1,19 -1,99); 2,67 lần (95%CI: 2,18 - 3,27) và 2,18 lần (1,64 - 2,89).


Thực hành phòng chống BTN và một số yếu tố liên quan


Thực hành phòng chống BTN của cộng đồng

Bảng . Điều kiện vệ sinh HGĐ



Công trình vệ sinh

n

%

Nguồn nước sinh hoạt chính







  • Nước máy

789

36,5

  • Nước mưa

78

3,6

  • Giếng khoan

485

22,5

  • Giếng đào

475

22,0

  • Nước suối đầu nguồn

176

8,1

  • Khác

157

7,3

  • Nguồn nước chính HVS (theo cảm quan)

1769

81,9

Nhà tắm







  • Kiên cố

1350

62,5

  • Không kiên cố

481

22,3

  • Không có

329

15,2

Nhà tiêu







  • Tự hoại

897

41,5

  • Thấm dội nước

315

14,6

  • Hai ngăn

212

9,8

  • Một ngăn

193

8,9

  • Đào cải tiến

110

5,1

  • Biogas

2

0,1

  • Khác

243

11,3

  • Không có

188

8,7

  • Nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh (theo QĐ 01)

1463

74,2

Khu rửa tay







  • Có vòi nước

1746

80,8

  • Có xà phòng rửa tay

1457

67,5

Nguồn nước chính trong nghiên cứu này là nguồn nước được sử dụng nhiều nhất trong ăn uống và sinh hoạt của các hộ gia đình. Điều tra viên phỏng vấn đối tượng kết hợp quan sát trực tiếp nguồn nước để xác định loại nguồn nước và điền vào phiếu điều tra. Kết quả điều tra cho thấy: Nguồn nước sinh hoạt chính chiếm tỷ lệ cao nhất tại các HGĐ là nước máy (36,5%) tiếp đến là giếng khoan (22,5%) và giếng đào (22%). Rất ít hộ gia đình sử dụng nguồn nước chính cho sinh hoạt là nước mưa (3,6%) và nước suối đầu nguồn (8,1%). So với kết quả điều tra vệ sinh môi trường hộ gia đình vùng nông thôn toàn quốc năm 2006, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy cao hơn rất nhiều (36,5% so với 11,7%), tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước giếng khơi cũng giảm đi đáng kể (22% so với 31,2%). Như vậy, tổng cộng có 81,9% hộ gia đình có nguồn nước sinh hoạt chính thuộc loại hợp vệ sinh theo cảm quan (nước không màu, không mùi, không có vị lạ). Điều này có nghĩa là còn gần 20% hộ gia đình được điều tra hiện sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh theo cảm quan.

Trong số hộ gia đình được điều tra, tỷ lệ có nhà tắm khá cao (84,8%), tuy nhiên chỉ có 62,6% HGĐ có nhà tắm kiên cố, số HGĐ còn lại chỉ có nhà tắm tạm hoặc không có nhà tắm. Tỷ lệ hộ gia đình có vòi nước/khu vực rửa tay khá cao (80,8%) và 67,5% hộ gia đình có xà phòng rửa tay tại nơi rửa tay ở thời điểm điều tra.

Đa số HGĐ đã có nhà tiêu (91,3%), số hộ có nhà tiêu tự hoại và thấm dội nước chiếm trên một nửa (56,1%), còn lại là các hộ có nhà tiêu khô nổi (18,7%), khô chìm (5,1%) và biogas (0,1%). Tỷ lệ hộ gia đình trong điều tra này có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo QCVN 01: 2011/BYT khá cao (74,2%).

Hành vi vệ sinh nhà ở và môi trường sống
Biểu đồ . Tỷ lệ HGĐ thường xuyên vệ sinh nhà ở và môi trường sống

Một số hành vi vệ sinh nhà cửa và vệ sinh môi trường sống được cộng đồng thực hiện khá tốt là: thu gom rác hàng ngày và dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch sẽ, vệ sinh chuồng trại (80%), phát quang bụi rậm, lấp cống rãnh ao tù (75,2%), phun thuốc/dùng nhanh/sử dụng đèn, vợt diệt muỗi trong năm 2012 (71%). Tuy nhiên, tỷ lệ gia đình thực hiện các hành vi vệ sinh phòng chống bệnh sốt xuất huyết còn thấp, như: thả cá vào dụng cụ/bể chứa nước để diệt bọ gậy (17,3%), dọn dẹp đồ phế thải chứa nước xung quanh nhà (28,8%), thau rửa dụng cụ chứa nước hàng tuần (45%).



Hành vi vệ sinh cá nhân
Biểu đồ . Tỷ lệ người dân thường xuyên RTXP vào các thời điểm cần thiết

Rửa tay với xà phòng được coi là cách phòng bệnh có chi phí thấp nhất nhưng mang lại hiệu quả pḥòng các bệnh tiêu chảy, giun sán, nhiễm khuẩn hô hấp cao hơn so với các biện pháp khác trong các chương trình can thiệp về nước sạch và vệ sinh môi trường. Thói quen rửa tay với xà phòng trước khi ăn và sau khi đại, tiểu tiện giúp loại bỏ mầm bệnh theo tay bẩn xâm nhiễm vào thức ăn, nước uống, vào cơ thể gây ra những bệnh tật nguy hiểm cho con người. Kết quả phỏng vấn về hành vi rửa tay với xà phòng tại một số thời điểm cho thấy: 67-69% đối tượng được phỏng vấn nói bản thân thường xuyên rửa tay xà phòng trước khi ăn và thường xuyên rửa tay xà phòng sau khi đi vệ sinh; 55,7% thường xuyên rửa tay xà phòng sau khi tiếp xúc với gia cầm; và 43,5% nói có thường xuyên rửa tay trước khi cho trẻ ăn và sau khi vệ sinh cho trẻ. Điều này cho thấy vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng chưa tạo được thói quen thường xuyên rửa tay với xà phòng để phòng bệnh.



Hành vi ăn uống hợp vệ sinh
Biểu đồ . Tỷ lệ người dân có hành vi ăn uống hợp vệ sinh

Đa số đối tượng phỏng vấn đã thực hiện các hành vi ăn uống hợp vệ sinh để phòng tránh các bệnh đường tiêu hóa và cúm A H5N1. Trên 90% đối tượng phỏng vấn đã thường xuyên ăn chín, thường xuyên uống nước sôi/sạch, sử dụng thịt gia cầm từ nguồn tin cậy, không ăn gỏi cá/nem chua trong năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn 15,2% đối tượng ăn tiết canh trong năm qua. Cần tuyên truyền để người dân không ăn tiết canh và không ăn thịt gia cầm mắc bệnh/chết để phòng tránh H5N1 và H1N1.



Hành vi chế biến thực phẩm hợp vệ sinh
Biểu đồ . Tỷ lệ người dân có hành vi chế biến thực phẩm hợp vệ sinh

Đa số đối tượng phỏng vấn đã có hành vi đúng trong chế biến thực phẩm là không để chung thịt gia cầm chín và sống cùng một ngăn tủ/chạn (84%). Tuy nhiên, vẫn còn khoảng trên 1/3 cộng đồng vẫn chưa sử dụng riêng dao, thớt khi thái thịt sống và thít chín (35,6%). Tỷ lệ người dân có rửa tay với xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn còn thấp (56% và 68,5%).



Hành vi phòng bệnh cho trẻ
Biểu đồ . Tỷ lệ người dân có hành vi đúng trong phòng bệnh cho trẻ

Hành vi của đối tượng phỏng vấn trong phòng bệnh cho trẻ còn hạn chế. Chưa đến 1/3 đối tượng cho biết thường xuyên vệ sinh đồ chơi, sàn nhà bằng xà phòng (30,8%), gần 1/2 đối tượng cho biết trẻ từ 24-60 tháng tuổi vẫn thường xuyên mút tay hoặc mút/ngậm đồ chơi. Điều đáng mừng là tỷ lệ cao trẻ dưới 10 tuổi được tiêm phòng vắc xin viêm não Nhật Bản và trẻ 24-60 tháng tuổi được uống thuốc tẩy giun trong 6 tháng qua (88,1% và 75,5%)


Biểu đồ . Điểm thực hành trung bình của cộng đồng về phòng chống BTN

Điểm thực hành trung bình của cộng đồng về phòng chống bệnh truyền nhiễm ở mức khá (66,3/100 điểm), trong đó điểm cao nhất là hành vi ăn uống hợp vệ sinh (94,7/100 điểm), tiếp đến là điều kiện vệ sinh hộ gia đình (72,1/100 điểm) và hành vi chế biến thực phẩm hợp vệ sinh (68,2/100 điểm). Hành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh nhà ở/môi trường sống chỉ đạt mức trung bình (59/100 điểm và 56,8/100 điểm). Đáng chú ý là hành vi phòng bệnh cho trẻ chỉ đạt mức điểm khá hạn chế (36,8/100 điểm). Đa số các nhóm hành vi nói trên vẫn cần được ưu tiên trong truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng trong giai đoạn tới.



Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống BTN của cộng đồng

Bảng . Một số yếu tố liên quan đến thực hành PCBTN của cộng đồng



Biến độc lập

Tỷ lệ người có điểm thực hành tốt (>=70 điểm)

OR thô (95%CI)

OR hiệu chỉnh (95%CI)

P value

Tuổi













  • > 35

51,5

1

-

>0,05

  • <= 35

47,8

0,86 (0,72 - 1,03)

-




Dân tộc













  • DTTS

27,6

1

1

<0.001

  • Kinh

57,1

3,49 (2,81 - 4,34)

2,38 (1,89 -3,01)




Giới













  • Nam

42,8

1

1

<0.01

  • Nữ

52,9

1,5 (1,24 - 1,82)

1,45 (1,19 - 1,78)




Học vấn













  • <= Trung học cơ sở

45,0

1

1

<0.001

  • > Trung học cơ sở

62,7

2,06 (1,7 - 2,49)

1,49 (1,21 - 1,82)




Nghề nghiệp













  • Nông nghiệp

39,0

1

1

<0.001

  • Khác

62,1

2,57 (2,16 - 3,06)

1,85 (1,53 - 2,22)




Tình trạng hôn nhân













  • Đang có vợ/chồng

48,3

1

-

>0,05

  • Khác

50,4

1,09 (0,82 - 1,44)

-




Điều kiện kinh tế













  • Nghèo/cận nghèo

30,2

1

1

<0.001

  • Không nghèo

55,1

2,84(2,26 - 3,56)

1,86 (1,46 - 2,38)




Các biến độc lập được đưa vào phân tích bao gồm yếu tố tuổi, dân tộc, giới, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và điều kiện kinh tế. Kết quả phân tích đơn biến cho thấy các yếu tố không có mối liên quan nào đến hành vi phòng chống BTN của cộng đồng là yếu tố tuổi và tình trạng hôn nhân. Các yếu tố này đã được loại ra khỏi mô hình phân tích hồi quy đa biến. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố thực sự có liên quan đến hành vi phòng chống BTN của cộng đồng bao gồm các yếu tố dân tộc, giới, học vấn, nghề nghiệp và điều kiện kinh tế, với mức chênh về tỷ lệ đối tượng có điểm thực hành 70/100 điểm của nhóm dân tộc Kinh, nữ giới, học vấn từ THPT trở lên, nghề phi nông nghiệp và không nghèo so với các nhóm đối tượng tương ứng lần lượt là 2,38 lần (95%CI: 1,89 - 3,01); 1,45 lần (95% CI: 1,19 - 1,78); 1,49 lần (95%CI: 1,21 – 1,82); 1,85 lần (95%CI: 1,53 – 2,22) và 1,86 lần (95% CI: 1,46 – 2,38).



Каталог: files -> activity attachment -> 2017
2017 -> Báo cáo nghiên cứu khả thi dự Án phòng chống bệnh truyền nhiễm khu vực tiểu vùng sông mê KÔng giai đOẠN 2
2017 -> I. Thông tin chung về đề tài
2017 -> Hướng Dẫn Chẩn Đoán và Quản Lý các Rối Loạn Tâm Thần Thường Gặp trong Chăm Sóc Sức Khoẻ Ban Đầu Lời nói đầu
2017 -> Icd-1o pc: Questionnaire for
2017 -> Ngày Sức khỏe Thế giới 07/4/2017 Trầm cảm: Hãy cùng trò chuyện Chuyên mục Hỏi – Đáp về trầm cảm Thông tin về Ngày Sức khỏe Thế giới Ai quyết định chủ đề cho Ngày Sức khỏe Thế giới?
2017 -> Icd-10 pc: Questionnaire for
2017 -> ĐÁnh giá hiệu lực tồn lưu màn tẩM
2017 -> Báo cáo khoa họC
2017 -> Hà NỘI, 2017 MỤc lụC

tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương