Thực trạng hoạT ĐỘng phòng chống bệnh truyền nhiễm tạI ĐỊa bàn dự ÁN



tải về 0.72 Mb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu26.11.2017
Kích0.72 Mb.
#3052
  1   2   3

3.2.1.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM TẠI ĐỊA BÀN DỰ ÁN

Giám sát - đáp ứng dịch

Cấu trúc của hệ thống giám sát


Hệ thống giám sát BTN Quốc gia

Hệ thống giám sát các BTN Việt Nam được triển khai ở tất cả các tuyến, bao gồm: Trung ương (Cục YTDP), khu vực (Viện Vệ sinh Dịch tễ/Pasteur, Viện SR-KST-CT), tỉnh (TTYTDP tỉnh, Trung tâm KDYTQT), huyện (TTYT huyện), xã/phường (Trạm Y tế xã/phường) và bệnh viện các tuyến. Nhiệm vụ chính của hệ thống này là phát hiện và báo cáo tất cả các BTN trong diện quản lý xẩy ra trong cộng đồng và vào điều trị tại bệnh viện các tuyến nhằm phát hiện sớm và khống chế kịp thời các dịch bệnh. Thông tin về các bệnh truyền nhiễm được phân tích ban đầu tại các TTYTDP tỉnh/TTYT huyện, sau đó được phân tích kỹ lưỡng hơn ở các Viện khu vực. Cục YTDP là cơ quan chỉ đạo điều hành toàn bộ các hoạt động giám sát và khống chế bệnh dịch trong toàn quốc. Hệ thống giám sát BTN gây dịch của Việt Nam hiện nay hoạt động theo Thông tư 48/2010/TT-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Bộ Y tế, hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo 28 BTN gây dịch.



Hình . Cấu trúc hệ thống giám sát BTN quốc gia



Hệ thống giám sát BTN tại các tỉnh dự án

Tại tuyến tỉnh, 16/20 TTYTDP tỉnh (80%) đã thành lập tổ chuyên trách giám sát, trung bình mỗi tổ có 6 cán bộ chịu trách nhiệm thu thập thông tin ca bệnh và làm báo cáo thường kỳ. Hoạt động giám sát tích cực tại cơ sở y tế, giám sát hỗ trợ tuyến dưới, tổ chức chống dịch thuộc trách nhiệm của khoa kiểm soát bệnh truyền nhiễm và vacxin sinh phẩm.

Tại tuyến huyện, 52/60 TTYT huyện (86,7%) đã thành lập tổ chuyên trách giám sát, trung bình mỗi tổ có 5 cán bộ chuyên trách về thu thập thông tin ca bệnh và làm báo cáo thường kỳ, hoạt động giám sát tích cực tại các CSYT, giám sát và đáp ứng dịch thuộc trách nhiệm của khoa kiểm soát dịch bệnh và phòng chống HIV/AIS.

Tại tuyến xã, mỗi TYT xã có một cán bộ chuyên trách về phòng chống dịch, cán bộ này chịu trách nhiệm tổng hợp thông tin từ 2 nguồn: 1) sổ khám chữa bệnh tại TYT và 2) từ nguồn thông tin của nhân viên YTTB về các trường hợp mắc/nghi mắc BTN trong cộng đồng. Cán bộ này làm báo cáo giám sát BTN thường kỳ theo các biểu mẫu quy định dưới sự chỉ đạo của trạm trưởng TYT.

Tại các bệnh viện, cán bộ chịu trách nhiệm tổng hợp và báo cáo thông tin về BTN cho các đơn vị YTDP thường là cán bộ phòng kế hoạch tổng hợp. Tùy từng địa phương, cán bộ này sẽ thông báo thông tin ca bệnh cho đơn vị YTDP qua điện thoại, qua báo cáo thường kỳ hoặc cung cấp thông tin khi cán bộ chuyên trách giám sát của đơn vị YTDP đến bệnh viện để giám sát, thu thập thông tin ca bệnh.

Phát hiện, thu thập thông tin và báo cáo ca bệnh


Nguồn số liệu giám sát

Tại tuyến tỉnh, các TTYTDP tỉnh thu thập, tổng hợp thông tin ca bệnh từ TTYT huyện và các BV cùng tuyến, bao gồm BV tuyến tỉnh, BV Bộ ngành đóng trên địa bàn tỉnh và các BV tư nhân. Kết quả điều tra cho thấy 20/20 TTYTDP tỉnh đã phân công cán bộ chuyên trách giám sát BTN tại các BV tỉnh. Tuy nhiên, nhiều TTYTDP tỉnh không có đủ nhân lực nên không phân công cán bộ giám sát BTN ở các BV Bộ ngành và BV tư nhân trên địa bàn.

Tại tuyến huyện, các TTYT huyện thực hiện thu thập, tổng hợp thông tin về BTN gây dịch từ 2 nguồn, TYT và các cơ sở điều trị. Kết quả điều tra cho thấy 60/60 TTYT tham gia điều tra đã phân công cán bộ đến giám sát BTN gây dịch tại các BV huyện. Do không có đủ nhân lực, rất ít TTYT phân công cán bộ đến giám sát tại các đơn vị y tế cơ quan doanh nghiệp và PKĐK tư nhân trên địa bàn.

Tại tuyến xã/phường, số liệu giám sát BTN chủ yếu được tổng hợp từ số người bệnh đến khám và điều trị tại TYT. Số bệnh nhân không đến khám tại TYT mà tự mua thuốc điều trị hoặc khám tại CSYT tư nhân ít khi được đưa vào báo cáo.

Đa số các BV tỉnh, huyện thường xuyên chủ động báo cáo thông tin về BTN gây dịch cho các đơn vị YTDP cùng cấp. Tuy nhiên, rất ít các BV Bộ ngành, đơn vị y tế cơ quan/doanh nghiệp, PKĐK tư nhân chủ động báo cáo thông tin ca bệnh cho hệ thống y tế dự phòng. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu giám sát của các đơn vị y tế dự phòng với các cơ sở y tế này cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng thông tin ca bệnh của hệ thống báo cáo BTN gây dịch không đầy đủ, ảnh hưởng đến khả năng phát hiện sớm và đáp ứng dịch kịp thời của hệ thống phòng chống BTN.

Hình thức báo cáo số liệu

Phần lớn các TTYTDP tỉnh/TTYT huyện thực hiện báo cáo khẩn cấp qua điện thoại (trên 90%) và thư điện tử (90% ở tuyến tỉnh và 73,3% ở tuyến huyện). Tỷ lệ TTYTDP tỉnh sử dụng fax để báo dịch khẩn cấp cũng khá cao (65%). Đối với báo cáo tuần và báo cáo tháng, hầu hết các TTYTP tỉnh (trên 95%) và trên một nửa TTYT huyện báo cáo qua hòm thư điện tử (70% và 53,3%), sau đó mới gửi theo đường công văn. Điều đáng lưu ý là một số tỉnh/huyện không thực hiện gửi báo cáo bằng văn bản theo quy định để lưu trữ thông tin, số đơn vị YTDP tuyến huyện gửi báo cáo tuần bằng văn bản chỉ đạt 70% trong các đơn vị YTDP tuyến huyện được điều tra.



Tính đầy đủ và đúng hạn của báo cáo giám sát

Đa số các TTYTDP tỉnh/TTYT huyện gửi báo cáo tuần và báo cáo tháng lên tuyến trên đủ và đúng hạn. Còn một số đơn vị YTDP huyện tuy có đủ báo cáo tuần và báo cáo tháng nhưng nộp báo cáo chậm do đường truyền internet bị gián đoạn vì tình trạng mất điện tại địa phương. Tại tuyến xã, hầu hết TYT nộp báo cáo tháng vào ngày giao ban hàng tháng, thường vào tuần cuối cùng của tháng nên đều được tính là đúng hạn. Tuy nhiên, vẫn còn một số TYT xã gửi báo cáo tuần không đúng hạn hoặc không nộp báo cáo tuần. Đa số các TYT này nằm ở vùng sâu, vùng xa, không có điều kiện sử dụng internet, điều kiện giao thông không thuận tiện.



Phản hồi báo cáo giám sát

Theo quy định, các đơn vị YTDP tuyến trên có trách nhiệm phản hồi báo cáo tuần và báo cáo tháng cho tuyến dưới qua các hình thức như tạp chí/tập san, báo cáo tuần, báo cáo tháng. Kết quả điều tra cho thấy, hình thức phản hồi báo cáo tuần và báo cáo tháng là 2 hình thức phản hồi phổ biến nhất mà các TTYTDP tỉnh nhận được (70% và 80%), hình thức này ít phổ biến hơn ở tuyến huyện (33,3% và 55%). Đa số TTYT huyện khẳng định rằng họ thường xuyên phản hồi thông tin cho tuyến xã (86,7%), tuy nhiên hình thức chủ yếu là thông báo miệng qua giao ban hàng tháng.


Quản lý và phân tích số liệu giám sát


Số liệu điều tra cho thấy hầu hết các đơn vị y tế dự phòng tuyến tỉnh/huyện đều có máy tính nối mạng internet. Số đơn vị có nối mạng nội bộ là 75% ở tuyến tỉnh và 35% ở tuyến huyện. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và chia sẻ số liệu giám sát BTN của các đơn vị YTDP tại các tỉnh dự án.

Đa số các đơn vị YTDP tỉnh/huyện quản lý số liệu giám sát bằng cả 2 hình thức bao gồm máy tính và sổ sách báo cáo rời (lần lượt là 90% và 93,3%). Có 2 TTYTDP tỉnh và 3 TTYT huyện quản lý số liệu hoàn toàn trên máy tính (lần lượt là 10% và 5%). Cá biệt, có 1 TTYT huyện chỉ sử dụng sổ sách báo cáo rời để quản lý số liệu giám sát (1,7%).

Phần mềm chuyên dụng giám sát BTN chưa được áp dụng rộng rãi tại các đơn vị YTDP tỉnh/huyện. Đa số các đơn vị YTDP tuyến tỉnh, huyện thực hiện phân tích số liệu đơn giản theo số ca mắc/chết và theo địa dư (80% ở tuyến tỉnh và 70% ở tuyến huyện). Số đơn vị thực hiện phân tích thống kê đối với một số bệnh chiếm tỷ lệ thấp hơn (60% ở tuyến tỉnh và 55% ở tuyến huyện). Các phương pháp phân tích nâng cao rất ít được áp dụng tại các đơn vị YTDP tỉnh/huyện.

Xem xét việc phân tích xu hướng dịch của một số bệnh tả, thương hàn, sốt xuất huyết, viêm não virus, sốt rét, tay chân miệng, viêm màng não do não mô cầu, sởi, cúm A/H5N1, viêm đường hô hấp cấp tại các địa bàn có xảy ra dịch tương ứng trong năm 2012, kết quả cho thấy đa số các vụ dịch đều được các TTYTDP tỉnh/TTYT huyện vẽ biểu đồ xu hướng dịch theo thời gian (lần lượt là 92,9% và 95,3%). Số vụ dịch được các đơn vị YTDP tuyến tỉnh/huyện vẽ bản đồ vùng dịch đạt tỷ lệ thấp hơn nhưng vẫn khá cao (lần lượt là 71,4% và 87,1%), (chi tiết xem Error: Reference source not found).


Sử dụng số liệu giám sát


Bên cạnh việc sử dụng số liệu giám sát để báo cáo cho hệ thống phòng chống BTN theo quy định, hầu hết các đơn vị YTDP tỉnh/huyện đã sử dụng số liệu vào việc dự báo dịch và lập kế hoạch cho hoạt động phòng chống dịch. Việc dự báo dịch và lập kế hoạch dựa trên bằng chứng này là một trong những điều kiện quan trọng giúp các đơn vị YTDP sử dụng tốt nguồn lực và đảm bảo hiệu quả của hoạt động phòng chống dịch.

Việc sử dụng số liệu giám sát để xây dựng chiến lược phòng chống bệnh truyền nhiễm được đa số các đơn vị YTDP tỉnh quan tâm (90%), tuy nhiên số đơn vị YTDP tuyến huyện quan tâm đến vấn đề này chỉ chiếm tỷ lệ thấp (40%).


Điều tra dịch

Trong tổng số các vụ nghi dịch được điều tra trong năm qua bởi các đơn vị YTDP tuyến tỉnh/huyện, số vụ nghi dịch được điều tra trong vòng 48 giờ kể từ khi nhận được thông tin chỉ đạt 87,6% ở tuyến tỉnh và 68,1% ở tuyến huyện, các con số này thấp hơn nhiều so với kỳ vọng (100%). Trong các vụ nghi dịch được điều tra, số vụ mà tuyến tỉnh có khả năng chẩn đoán bằng xét nghiệm chỉ đạt 48,9%. Số vụ nghi dịch mà các đơn vị YTDP tuyến huyện có khả năng chẩn đoán bằng xét nghiệm chiếm tỷ lệ rất thấp (8,5%).

Công tác chuẩn bị đáp ứng dịch


Kết quả điều tra cho thấy 100% các đơn vị YTDP tuyến tỉnh/huyện có bản kế hoạch dự phòng và đáp ứng dịch trong năm vừa qua, đa số các bản kế hoạch đều được xây dựng dựa trên số liệu giám sát BTN của địa phương. Ngoài bản kế hoạch năm về phòng chống dịch được xây dựng từ đầu năm, khi có dịch BTN xảy ra, dù lẻ tẻ hay bùng phát rộng, các đơn vị YTDP tỉnh/huyện đều xây dựng kế hoạch phòng chống dịch riêng cho các BTN đó. Hầu hết các đơn vị đều có đầy đủ cơ số chống dịch ở mọi thời điểm trong năm qua.

Đa số đơn vị YTDP tỉnh/huyện có kinh phí cho đáp ứng dịch kịp thời (lần lượt là 85% và 76,7%), điều này có nghĩa là, vẫn còn 15% TTYTDP tỉnh và 13,3% TTYT huyện không có kinh phí đáp ứng dịch kịp thời.

Trong số các đơn vị YTDP tuyến tỉnh, chỉ có 8/15 tỉnh có xảy ra dịch năm 2012 cho rằng kinh phí chống dịch đáp ứng đủ so với nhu cầu thực tế (chiếm tỷ lệ 53,3%). Trong số các đơn vi YTDP tuyến huyện, chỉ có 32/42 huyện có xảy ra dịch năm 2012 cho rằng kinh phí chống dịch đáp ứng đủ nhu cầu thực tế (chiếm tỷ lệ 76%). Đa số các đơn vị báo cáo có đủ kinh phí đáp ứng dịch trong năm qua là những đơn vị được các chương trình, dự án nước ngoài hỗ trợ kinh phí đáp ứng dịch.

100% đơn vị YTDP tỉnh/huyện đã thành lập đội cơ động chống dịch, trung bình mỗi TTYTDP tỉnh có 2,5 đội cơ động chống dịch và mỗi TTYT huyện có 1,8 đội cơ động chống dịch. Tại tuyến tỉnh, 100% đội cơ động chống dịch đều có cán bộ dịch tễ, cán bộ xét nghiệm và cán bộ xử lý môi trường, đáp ứng đúng quy định về số lượng và thành phần của đội cơ động chống dịch. Tại tuyến huyện, mặc dù 100% đội cơ động chống dịch có cán bộ dịch tễ, tuy nhiên số đội có cán bộ xét nghiệm và cán bộ xử lý môi trường thấp hơn (lần lượt là 88,3% và 86,7%). Điều này cho thấy thành phần tham gia đội cơ động chống dịch tại tuyến huyện chưa thực sự đầy đủ theo quy định, lý do là nhân lực phòng chống dịch tại nhiều đơn vị YTDP tuyến huyện hiện nay còn thiếu, cả về số lượng và trình độ chuyên môn.




Tuy còn nhiều hạn chế nhưng hệ thống PC BTN của địa phương vẫn có khả năng đáp ứng nhanh và xử lý được với các dịch bệnh truyền nhiễm, trên thực tế cũng mới chỉ xảy ra các dịch nhỏ - PVS LĐ TTYTDP Nghệ An.

Thực tế khi có dịch ngoài việc điều chuyển, sử dụng nhân lực tại chỗ, huy động lực lượng sinh viên ngành y, nông nghiệp, tỉnh đã điều động các đội cơ động của các huyện hỗ trợ nhau, đáp ứng yêu cầu chống dịch (H5N1, H1N1…) - PVS LĐ TTYTDP Đắc Lắc.

Địa phương có thể ứng phó kịp thời với các tình huống khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng do BTN gây ra , tuy nhiên chỉ ở quy mô nhỏ còn trong trường hợp dịch lan ra nhiều thì vẫn cần sự hỗ trợ của cấp trên đặc biệt là Viện Pasteur TPHCM (trang thiết bị, con người, hoá chất, thuốc,…)- PVS LĐ TTYTDP Đồng Tháp.
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng khi nhận xét về khả năng ứng phó khi có dịch BTN xảy ra, đa số các đơn vị YTDP tỉnh/huyện đều cho rằng họ có khả năng ứng phó dịch tốt do có sự chỉ đạo kịp thời từ ban chỉ đạo PCD các cấp và do có sự chuẩn bị tốt cho công tác ứng phó dịch của các đơn vị YTDP, từ kế hoạch chống dịch, đội cơ động chống dịch, cơ số chống dịch và kinh phí chống dịch.



Biểu đồ . Tỷ lệ TTYTDP tỉnh/ TTYT huyện thực hiện đủ các chuyến giám sát hỗ trợ tuyến dưới theo kế hoạch năm 2012

Kiểm tra và giám sát hỗ trợ


Trong bản kế hoạch năm về phòng chống dịch có 1 phần là kế hoạch giám sát hỗ trợ tuyến dưới, trong đó ghi rõ số chuyến giám sát và thời gian dự kiến đi giám sát. Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 70% đơn vị YTDP tuyến tỉnh thực hiện được đầy đủ các chuyến giám sát theo kế hoạch. Các lý do chủ yếu được các tỉnh đưa ra là thiếu nhân lực và kinh phí giám sát. Một số tỉnh bị chậm kinh phí hoạt động nên công việc dồn về các tháng cuối năm, không bố trí được thời gian để đi giám sát tuyến dưới theo dự kiến. Ở một số tỉnh khác, thời gian dự kiến đi giám sát trùng với thời gian xảy ra dịch trên địa bàn, các đơn vị YTDP ưu tiên nhân lực cho hoạt động chống dịch do đó cũng không đi giám sát tuyến dưới được theo như dự kiến.

Tại tuyến huyện, hoạt động giám sát hỗ trợ tuyến dưới về phòng chống dịch thường được lồng ghép với các chương trình khác. Nhân lực giám sát thường là cán bộ chuyên môn của tất cả các khoa phòng và đã được tham dự các lớp tập huấn về phòng chống dịch, điều này giúp khắc phục vấn đề thiếu nhân lực và địa bàn giám sát rộng, do đó tỷ lệ TTYT huyện thực hiện đầy đủ các chuyến giám sát hỗ trợ tuyến dưới theo kế hoạch khá cao (96,7%). Tuy nhiên điều này cũng có nhược điểm là cán bộ đi giám sát có kiến thức không đủ sâu về phòng chống dịch, không hỗ trợ được nhiều cho tuyến dưới.


Phối hợp trong công tác giám sát và đáp ứng dịch


Bảng . Tỷ lệ các đơn vị YTDP tỉnh/huyện phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong hoạt động phòng chống dịch

Hoạt động phối hợp

TTYTDP tỉnh

TTYT huyện

%

N

%

N

Phối hợp chặt chẽ với BV

95,0

20

93,3

60

Phối hợp với chính quyền địa phương

100,0

20

100,0

60

Phối hợp các ban ngành













  • Ngành giáo dục

100,0

20

90,0

60

  • Ngành văn hoá thông tin

100,0

20

91,7

60

  • Ngành nông nghiệp

100,0

20

58,3

60

Phối hợp các đoàn thể













  • Hội phụ nữ

95,0

20

95,0

60

  • Đoàn thanh niên

95,0

20

98,3

60

  • Hội nông dân

85,0

20

86,7

60

  • Hội cựu chiến binh

80,0

20

66,7

60

Tại địa bàn điều tra, tất cả các tỉnh, huyện, xã đều có ban chỉ đạo phòng chống dịch. Nhờ có ban chỉ đạo các cấp, sự phối hợp giữa ngành y tế và các ban ngành đoàn thể trong hoạt động phòng chống dịch trở nên thuận lợi hơn. Số liệu từ bảng trên cho thấy hầu hết các đơn vị YTDP tuyến tỉnh/ huyện đều đã có sự phối hợp với chính quyền và các ban ngành, đoàn thể trong hoạt động phòng chống dịch.

Năng lực xét nghiệm chẩn đoán BTN gây dịch


Năng lực thực hiện các xét nghiệm cơ bản


Bảng . Tỷ lệ TTYTDP tỉnh có khả năng thực hiện các xét nghiêm máu trong chẩn đoán BTN gây dịch

TT

Tên xét nghiệm

n

%

1

Test nhanh chẩn đoán HIV

14

70,0

2

Serodia chẩn đoán HIV

8

40,0

3

ELISA chẩn đoán HIV

8

40,0

4

Huyết thanh chẩn đoán Leptospira

1

5,0

5

Chẩn đoán Viêm não Nhật bản

6

30,0

6

Chẩn đoán nhanh SXH Dengue: MAC-ELISA

16

80,0

7

Sởi: ELISA IgM

1

5,0

8

Rubella: ELISA - IgG

1

5,0

9

Chlamydia: ELISA - IgG

2

10,0

10

Anti HAV (IgG)

6

30,0

11

Test nhanh chẩn đoán HBV

15

75,0

12

Serodia chẩn đoán HBV

2

10,0

13

ELISA chẩn đoán HBV

6

30,0

14

Anti HEV (IgM)

1

5,0

15

Anti HCV

8

40,0



Xét nghiệm máu

Bảng số liệu cho thấy năng lực xét nghiệm chẩn đoán BTN gây dịch của các TTYTDP tỉnh còn khá hạn chế. Trong các xét nghiệm máu được thực hiện tại các TTYTDP tỉnh để chẩn đoán BTN gây dịch, chỉ có các test nhanh chẩn đoán HIV, SXH Dengue, viêm gan B là có tỷ lệ cao TTYT DP tỉnh thực hiện được (70% - 80%). Số TTYT DP tỉnh có thể chẩn đoán viêm não Nhật Bản, ELISA chẩn đoán HIV, ELISA chẩn đoán HBV, anti HCV chỉ chiếm tỷ lệ 30% - 40%. Các xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán Leptospira, sởi, rubbella, chlamydia... chỉ được rất ít TTYTDP tỉnh có khả năng thực hiện (5% -10%).



Xét nghiệm phân lập vi khuẩn


Bảng . Tỷ lệ TTYTDP tỉnh có khả năng thực hiện các xét nghiêm phân lập vi khuẩn trong chẩn đoán BTN gây dịch

TT

Tên xét nghiệm

n

%

1

Tả

20

100,0

2

Lỵ

18

90,0

3

Thương hàn

18

90,0

4

Dịch hạch

3

15,0

5

E.coli

19

95,0

6

Leptospira

1

5,0

7

Brucella

0

0,0

8

Lao

1

5,0

9

Trực khuẩn mủ xanh

9

45,0

10

Tụ cầu

12

60,0

11

Liên cầu

8

40,0

12

Não mô cầu

6

30,0

13

Phế cầu

3

15,0

14

Trực khuẩn than

1

5,0

15

Kháng sinh đồ

4

20,0



100% TTYTDP tỉnh có khả năng thực hiện xét nghiệm nuôi cấy và phân lập vi khuẩn. Tuy nhiên, đa số TTYTDP tỉnh mới chỉ thực hiện được xét nghiệm phân lập vi khuẩn tả, lỵ, thương hàn và E.coli (90% - 100%). Khoảng trên dưới 1/2 số TTYTDP tỉnh phân lập được trực khuẩn mủ xanh và tụ cầu. Rất ít đơn vị phân lập được vi khuẩn dịch hạch, Leptospira, brucella, lao, phế cầu, trực khuẩn than và làm kháng sinh đồ.

Đa số các TTYTDP tỉnh có thể thực hiện các xét nghiệm xác định vi sinh vật thực phẩm, vi sinh vật nước, vi sinh vật trong không khí và sản xuất môi trường phục vụ các xét nghiệm về vi sinh vật và công tác vô trùng và hỗ trợ tuyến trước. (Chi tiết xem Error: Reference source not found)

Xét nghiệm ký sinh trùng



Biểu đồ . Tỷ lệ TTYTDP tỉnh có thể thực hiện được xét nghiệm ký sinh trùng
Khoảng trên một nửa số TTYTDP tỉnh có khả năng thực hiện xét nghiệm ký sinh trùng đường máu như xét nghiệm ký sinh trùng sốt rét (bằng kính hiển vi và test chẩn đoán nhanh), xét nghiệm giun chỉ bạch huyết (55%). Khả năng xét nghiệm ký sinh trùng đường ruột được khoảng 70% số TTYTDP tỉnh thực hiện được, bao gồm xét nghiệm giun đũa, giun kim, giun tóc, giun móc, sán dây lợn, sán dây bò, sán lá gan nhỏ, sán lá phổi...



Biểu đồ . Tỷ lệ TTYTDP tỉnh có thể thực hiện được xét nghiệm côn trùng
Xét nghiệm côn trùng

Loại xét nghiệm côn trùng được đa số TTYTDP tỉnh thực hiện được là giám sát thu thập muỗi và côn trùng tại thực địa và định loại muỗi trưởng thành và bọ gậy, Anopheles, Aedes, Culex, (lần lượt là 75% và 65%). Các xét nghiệm chỉ được trên dưới 1/3 số TTYTDP tỉnh thực hiện là định loại bọ chét và thử độ nhạy cảm của muỗi với hóa chất diệt muỗi (lần lượt là 30% và 35%).



Năng lực thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu

Bảng . Tỷ lệ TTYTDP tỉnh thực hiện được các xét nghiệm chuyên sâu



TT

Tên kỹ thuật xét nghiệm

%

 1

Kỹ thuật PCR

45,0

 2

Western blot chẩn đoán HIV

15,0

 3

Dư lượng một số hoá chất bảo vệ thực vật trong thực phẩm

25,0

 4

Nồng độ một số hóa chất bảo vệ thực vật trong môi trường

5,0

 5

Xét nghiệm kim loại nặng: Asen, kẽm, đồng, chì, thuỷ ngân..trong môi trường (đất, nước, không khí)

55,0

 6

Cầu khuẩn tan máu

25,0

 7

Xác định Clostridium perfringens trong nước

90,0

 8

Lấy mẫu và phân tích bụi bông

5,0

 9

Lấy mẫu và phân tích bụi amiăng

5,0

 10

Chụp X quang phục vụ chẩn đoán Bệnh bụi phổi

45,0

 11

Điện não đồ

5,0

 12

Siêu âm

75,0

Năng lực thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu của các đơn vị YTDP tỉnh rất hạn chế. Trừ kỹ thuật xét nghiệm xác định Clostridium perfringens trong nước có 18/20 tỉnh thực hiện được (90%), các kỹ thuật khác có tỷ lệ thực hiện rất thấp. Đặc biệt là chỉ có 9/20 TTYTDP tỉnh (45%) có khả năng thực hiện kỹ thuật xét nghiệm PCR. Xét nghiệm Western blot chẩn đoán HIV chỉ có thể thực hiện ở 3/20 TTYTDP tỉnh (15%).

Tóm lại, hệ thống giám sát BTN là một mạng lưới khá hoàn chỉnh từ tuyến trung ương đến thôn bản, có quy chế hoạt động đầy đủ và rõ ràng, nhất là sau khi Bộ Y tế ban hành Thông tư 48/2010/TT - BYT. Đa số các thành phần tham gia hệ thống tại các tỉnh dự án đều tuân thủ quy chế báo cáo BTN gây dịch. Về cơ bản, hệ thống vẫn có khả năng phát hiện và đáp ứng dịch kịp thời do có sự chỉ đạo sát sao của BCĐ PCD các cấp, sự phối hợp chặt chẽ, đồng tâm hiệp lực giữa ngành y tế với chính quyền và các ban ngành đoàn thể trong công tác PCD. Tuy nhiên, khả năng phát hiện sớm và đáp ứng kịp thời với các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là BTN mới nổi ít nhiều bị ảnh hưởng bởi hệ thống vẫn tồn tại một số thành phần chưa tham gia tích cực vào hoạt động giám sát BTN, thiếu tài liệu hướng dẫn về giám sát nhiều BTN nói chung và bệnh truyền nhiễm mới nổi nói riêng. Bên cạnh đó, nhân lực, trang thiết bị phòng chống BTN còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Khả năng ứng phó với dịch BTN của các đơn vị tuyến huyện/xã còn hạn chế, đa số các LĐ TTYT huyện đều cho rằng tuyến huyện chỉ có khả năng ứng phó với dịch BTN nhỏ, đối với dịch lớn hoặc với BTN mới nổi/tái nổi thì cần có sự hỗ trợ từ tuyến trên, cả về hướng dẫn, kế hoạch, nhân lực, TTB và kinh phí thực hiện.


Kiểm dịch y tế biên giới

Hệ thống kiểm dịch y tế biên giới


Hệ thống kiểm dịch y tế biên giới Việt Nam do Cục Y tế dự phòng là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật về kiểm dịch y tế biên giới trên phạm vi toàn quốc. Cục Y tế dự phòng là Cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện Điều lệ Y tế quốc tế 2005, có trách nhiệm cập nhật kịp thời các thông tin dịch bệnh truyền nhiễm trên thế giới và cung cấp cho các đơn vị kiểm dịch y tế biên giới tại các địa phương để tăng cường giám sát, phòng chống các dịch bệnh lan truyền vào Việt Nam. Dưới Cục YTDP là 4 Viện VSDT và Pasteur, chịu trách nhiệm theo dõi và tham mưu cho Cục Y tế dự phòng chỉ đạo các biện pháp kiểm dịch y tế cho các đơn vị kiểm dịch y tế biên giới tuyến tỉnh trên địa bàn Viện phụ trách. Tại tuyến tỉnh, đơn vị kiểm dịch y tế biên giới được bố trí tại Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế trực thuộc Sở Y tế hoặc khoa KDYTBG trực thuộc TTYTDP tỉnh. Hiện nay cả nước có 13 Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế và 32 TTYTDP tỉnh có hoạt động kiểm dịch y tế biên giới.



Hình . Hệ thống kiểm dịch y tế biên giới Việt Nam


Đắc Lắc chưa có cửa khẩu, nhân dân sinh sống tại vùng biên giới đi lại tự do, thực tế là không được phép, cho đến nay hệ thống y tế cùa tỉnh và tỉnh giáp ranh (thuộc Campuchia) chưa kết nối được với nhau - LĐ TTYTDP tỉnh Đắc Lắc.

Ở Đắc Nông có 2 cửa khẩu (Bua Phrăng và Đắc Bơ- Tuy Đức) nhưng chủ yếu là nhân dân qua lại, chưa có xuất nhập khẩu hàng hóa, đây là cửa khẩu nhỏ. Tổ kiểm dịch y tế gồm có 3 người, hàng tháng mỗi người tới cửa khẩu 10 ngày, chủ yếu là giám sát BTN bằng lâm sàng cho những người qua lại. Đến nay công tác này cũng chưa được tỉnh, ngành đầu tư - LĐ TTYTDP tỉnh Đắc Nông.
Tại 20 tỉnh dự án, có 5 Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế đặt tại 5 tỉnh/thành phố gồm Hà Nội, Lào Cai, Quảng Trị, Tây Ninh, An Giang và 14 khoa kiểm dịch y tế thuộc TTYTDP các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Long An, Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên Giang. Hiện có 52 cửa khẩu đang có hoạt động kiểm dịch y tế tại các tỉnh dự án, trong đó có 1 cửa khẩu đường sắt tại Lào Cai, 3 cửa khẩu đường hàng không tại Hà Nội, Cần Thơ và Kiên Giang, còn lại là các cửa khẩu đường thủy và đường bộ.

Hoạt động KDYT biên giới tại các tỉnh dự án


Giám sát bệnh truyền nhiễm nhóm A

Chức năng chính của các đơn vị kiểm dịch y tế biên giới là phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm nhóm A lan truyền qua cửa khẩu. Hoạt động chủ yếu là tập trung giám sát các đối tượng phải kiểm dịch y tế (người, hàng hóa, phương tiện vận tải) để kịp thời phát hiện, cách ly, theo dõi, xử lý theo quy định; theo dõi chặt chẽ hành khách, phương tiện, hàng hóa nhập cảnh/xuất cảnh/quá cảnh Việt Nam đặc biệt từ vùng dịch.

Hoạt động kiểm dịch y tế biên giới tại các tỉnh dự án được thực hiện thường xuyên theo quy trình quy định trong Nghị định 103/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 của Chính phủ. Trong 20 tỉnh dự án, có 2 tỉnh Trà Vinh và Bến Tre không có biên giới nên không thành lập đơn vị KDYT biên giới. Tỉnh Đắc Lắc chưa có cửa khẩu nên không triển khai hoạt động. Tỉnh Đắc Nông tuy có triển khai hoạt động kiểm dịch tại cửa khẩu nhưng hoạt động nghèo nàn do chưa được quan tâm đầu tư.


Năm 2011, nhiều người Campuchia sống ở vùng dịch tả nhưng không đi qua cửa khẩu gần đó mà đi qua cửa khẩu khác, khai sai địa chỉ nên không phát hiện được để lấy mẫu xét nghiệm và cách ly - PVS cán bộ KDYT An Giang.

Có một số nhân viên của đơn vị biên phòng chưa hợp tác tốt. Họ vẫn cho khách qua mà chưa có kiểm tra của y tế mặc dù biết khách sang Việt Nam để khám bệnh - PVS đơn vị KDYT biên giới Tây Ninh.

Việc giám sát BTN đối với người tại khu vực cửa khẩu đường biển thì không có khó khăn gì, nhưng tại cửa khẩu đường bộ thì chỉ khi có dịch mới làm được, do chủ phương tiện luôn trốn tránh - PVS đơn vị KDYT biên giới Nghệ An.
Theo quy định, đối tượng KDYT biên giới bao gồm người, phương tiện vận tải, hàng hóa nhập cảnh/xuất cảnh/quá cảnh Việt Nam và thi thể, hài cốt, mẫu vi sinh y học, sản phẩm sinh học, mô, bộ phận cơ thể người vận chuyển qua biên giới Việt Nam. Hiện nay hoạt động KDYT biên giới tại các tỉnh dự án chủ yếu là: 1) Kết nối với hệ thống IHR kịp thời tiếp nhận và chia sẻ thông tin về các hành khách xuất nhập cảnh từ các khu vực có dịch; 2) Sàng lọc sức khỏe hành khách quốc tế; 3) Khử trùng các phương tiện vận chuyển qua cửa khẩu; 4) Phát phiếu theo dõi sức khỏe cho các hành khách trong thời gian xảy dịch và 5) Cách ly kịp thời các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm từ cửa khẩu. Nhìn chung, hoạt động kiểm dịch y tế biên giới tại đa số các các cửa khẩu đã được triển khai đúng theo Nghị định 103/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 của Chính phủ. Tuy nhiên, hoạt động KDYT còn một số điểm hạn chế:

Tại nhiều cửa khẩu, nhất là cửa khẩu đường bộ, rất khó xác định được đối tượng nào đến từ vùng dịch do đó có thể bỏ sót đối tượng cần kiểm dịch. Bên cạnh đó, nhận thức, ý thức của nhiều chủ phương tiện vận chuyển người, động vật hay hàng hóa về phòng chống BTN chưa tốt, họ thường trốn tránh, không hợp tác với cơ quan kiểm dịch.




Kiểm dịch cho người thì tương đối ổn nhưng hàng hóa, động vật, thực vật thì còn phức tạp và gặp nhiều khó khăn do nhập vào nhiều mà phối hợp lại hết sức chung chung. Để kiểm soát được chặt chẽ thì phải thông quan rõ ràng, chứ cứ nhập vào rồi hậu kiểm thì khó... và phải thống nhất một đầu mối kiểm soát rõ ràng thì mới kiểm soát được - PVS cán bộ TTKDYTQT Hà Nội

Chỉ kiểm tra đại diện hàng hóa trên phương tiện chứ không thể kiểm tra hết được vì như thế sẽ mất nhiều thời gian - PVS đơn vị KDYT biên giới An Giang.

Chưa có thông tư liên tịch giữa Bộ y tế, Bộ tài chính- Tổng cục Hải quan về việc phối hợp trong giám sát BTN nhóm A tại cửa khẩu dẫn đến có cửa khẩu phối hợp rất tốt, có cửa khẩu không. - PVS đơn vị KDYT biên giới Tây Ninh
Đối với vấn đề kiểm dịch cho đối tượng là hàng hóa thì phần lớn các đơn vị KDYT cho rằng hoạt động kiểm dịch còn gặp nhiều khó khăn do ở một số cửa khẩu hàng hóa quá nhiều, nhân lực ít và cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan liên ngành không rõ ràng.


Dịch xảy ra nhanh, công tác tuyên truyền hạn chế, nên hành khách chưa hiểu tại sao lại phải phun hóa chất vào phương tiện vận chuyển. Một số tài xế cũng không chịu cho phun hóa chất vào phương tiện, không nộp tiền kiểm dịch, đơn vị phải lập biên bản với sự chứng kiến của các bên liên quan, gửi thanh tra Sở y tế - PVS cán bộ đơn vị KDYT Tây Ninh.
Hoạt động xử lý y tế hiện nay cũng có những điểm hạn chế, trong đó hạn chế lớn nhất là chế tài xử lý các vi phạm quy định kiểm dịch y tế chưa đủ mạnh, đơn vị KDYT cũng không được trao quyền xử lý đối tượng vi phạm quy định kiểm dịch y tế. Bên cạnh đó, nhận thức và ý thức phòng chống BTN của người dân còn hạn chế nên không ủng hộ và gây cản trở hoạt động này.


Cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp mặc dù có kế hoạch từ 2010 nhưng cho đến nay vẫn chưa xây dựng, cơ sở không có, ọp ẹp; TTB cũng chưa có gì, về nhân lực có 3 cán bộ, việc thăm khám hoàn toàn dựa vào lâm sàng - LĐ TTYTDP tỉnh Long An.

Nhìn chung hoạt động còn khó khăn, thiếu cán bộ, TTB còn thiếu nhiều - PVS cán bộ TTKDYT quốc tế Hà Nội.

Nếu có dịch lớn xảy ra, nhân lực như thế này là không đủ, TTB không đủ trong khi cửa khẩu lại cách quá xa trung tâm - PVS cán bộ KDYT biên giới Nghệ An.

Trang thiết bị y tế hỗ trợ phục vụ cho công tác kiểm dịch còn thiếu nhiều - PVS cán bộ KDYT biên giới Đồng Tháp
Tại một số cửa khẩu, cơ sở vật chất của đơn vị kiểm dịch còn khó khăn, cán bộ kiểm dịch phải đi ở nhờ cơ quan khác. Tình trạng thiếu phòng cách ly, thiếu nhân lực, thiếu trang thiết bị, thuốc men, vac xin, sinh phẩm tại một số cửa khẩu cũng là rào cản ảnh hưởng đến việc phát hiện và xử lý y tế đối với người được kiểm dịch tại các cửa khẩu.


Nhân viên của Viện vẫn chưa được giới thiệu về IHR (đang có kế hoạch xin kinh phí WHO/VN để tập huấn giới thiệu cho cán bộ viện và Sở Y tế, TTYTDP các tỉnh trong năm 2013 - Đại diện Viện Pasteur TPHCM.

Cán bộ không có điều kiện cập nhật kiến thức thường xuyên, thiếu kiến thức về vùng miền; chưa được đào tạo về nghề nghiệp đầy đủ và chưa hiểu đúng về ngành kiểm dịch - PVS cán bộ trung tâm KDYTQT Hà Nội.

Nhân lực thiếu, chưa được đào tạo cập nhật thông tin thường xuyên nên thiếu đồng bộ trong việc xử lý vi phạm - PVS cán bộ đợn vị KDYT Quảng Trị.

Khi học trong trường không có bộ môn này nên không được học, khi ra trường mới được đào tạo trong thời gian ngắn nên cần có bộ môn kiểm dịch trong nhà trường. Cán bộ cấn được tập huấn thường xuyên, liên tuc trong suốt thời gian công tác và cần được đào tạo về ngoại ngữ phù hợp với các nước láng giềng và tiếng Anh - PVS cán bộ đợn vị KDYT Tây Ninh.

Đắc Lắc chưa có cửa khẩu, cán bộ đa số chưa rõ về điều lệ y tế quốc tế, về tài liệu cũng chưa được cung cấp, nếu muốn tìm hiểu cũng phải mày mò; đơn vị cũng chỉ có 2 người đi tập huấn, và hiện nay cũng chưa có nội dung cụ thể để hoạt động” - LĐ TTYTDP Đắc Lắc.


Báo cáo số liệu

Tại các cửa khẩu đều có cán bộ phụ trách KDYT trực thường xuyên. Số liệu được cán bộ cửa khẩu báo cáo về đơn vị KDYT. Các đơn vị tổng hợp và báo cáo số liệu cho Sở Y tế, TTYTDP tỉnh và Cục YTDP bằng email trước sau đó gửi theo đường công văn. Những BTN thuộc nhóm A được báo cáo hàng tuần dù không có dịch. Những BTN khác chỉ thực hiện báo cáo tuần khi có dịch, còn khi không có dịch thì thực hiện báo cáo theo tháng, quý, năm.


Tập huấn đào tạo cán bộ KDYT


Nhìn chung, các đơn vị KDYT đã tổ chức đào tạo tập huấn về các nội dung quan trọng liên quan đến phòng chống BTN và kiểm dịch y tế biên giới, trong đó chú trọng đến việc phổ biến và cập nhật các văn bản pháp quy về kiểm dịch y tế, tập huấn kỹ thuật phòng chống các bệnh truyền nhiễm phải kiểm dịch và các quy trình xử lý y tế tại cửa khẩu. Đa số các đơn vị KDYT biên giới cũng đã cử cán bộ đi tập huấn về Điều lệ y tế quốc tế (IHR) và 2/3 số đơn vị KDYT biên giới đã triển khai tập huấn về phòng chống BTN mới nổi (APSED) cho đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, một số tỉnh mới chỉ cử 1 - 2 cán bộ đi tập huấn về IHR mà chưa tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ KDYT của tỉnh. Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ KDYT tại các tỉnh dự án cho thấy đội ngũ cán bộ KDYT không có điều kiện cập nhật kiến thức về KDYT nên kiến thức của đa số cán bộ kiểm dịch chưa đầy đủ và thiếu cập nhật.

Hoạt động tập huấn về điều lệ y tế quốc tế mới chỉ được triển khai cho cán bộ thuộc các đơn vị kiểm dịch y tế quốc tế mà chưa mở rộng đến cán bộ phòng chống bệnh truyền nhiễm trong hệ thống y tế dự phòng, đặc biệt là ở các huyện biên giới. Đa số lãnh đạo các trung tâm y tế dự phòng tỉnh cho biết cán bộ của họ chưa được tập huấn về điều lệ y tế quốc tế. Nhiều lãnh đạo các TTYT huyện khu vực biên giới cho biết họ chưa bao giờ nghe nói đến vấn đề này. Trong bối cảnh thiếu nhân lực kiểm dịch y tế quốc tế tại các cửa khẩu có lưu lượng người, phương tiện, hàng hóa qua lại đông đúc, việc tập huấn/đào tạo cho cán bộ phòng chống dịch về điều lệ y tế quốc tế và sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm dịch và y tế dự phòng có thể tháo gỡ những khó khăn do thiếu nhân lực kiểm dịch y tế tại các cửa khẩu, tăng cường hiệu quả hoạt động phòng chống BTN qua biên giới.




Hiện Việt Nam đã đáp ứng được khoảng 80 - 90% yêu cầu của IHR. Việt Nam hiện còn đang vướng mắc hai vấn đề là Điều lệ quốc tế yêu cầu thực hiện liên ngành, khai báo về hóa chất và hạt nhân, nhưng hiện chúng ta chưa làm được việc này. Chúng ta có đầu mối quốc gia dựa trên hệ thống sẵn có để thu thập thông tin số liệu. Thực tế là lộ trình này đến năm 2012 là Việt Nam hoàn thiện, nhưng chúng ta xin lùi lại đến năm 2014” - LĐ Cục YTDP - BYT

Viện Pasteur HCM cơ bản có thể đáp ứng IHR/APSED tuy nhiên về an toàn sinh học cấp 3 chưa đạt” - Đại diện Viện Pasteur TP HCM.

Hệ thống y tế VN đã cam kết theo lộ trình thực hiện IHR, tuy nhiên cho đến nay nhiều vấn đề cần phải nỗ lực hơn nữa VD như hệ thống xét nghiệm còn thiếu cả TTB cả nguồn lực và cả về cơ sở vật chất”- Đại diện Viện VSDT Tây Nguyên.

Sự phối hợp với các nước trong việc chia sẻ thông tin, hoạt động và giải pháp liên quan đến PCBTN qua biên giới còn hạn chế. Bên cạnh đó vẫn còn các rào cản liên quan đến an ninh và nhiều vấn đề nhạy cảm khác...” - Đại diện Viện VSDT Tây Nguyên.

Cho đến nay hệ thống y tế cùa Tỉnh và tỉnh giáp ranh (Việt Nam- Campuchia) chưa kết nối được với nhau” - LĐ TTYTDP Đắc Lắc.

Hệ thống PC BTN chưa đáp ứng IHR về nhân lực (bác sỹ), phòng xét nghiệm không đảm bảo về kỹ thuật và máy móc thiết bị. Cán bộ chưa được tập huấn, đào tạo về IHR” - LĐ TTYTDP Lào Cai.


Nhận xét về khả năng đáp ứng điều lệ y tế quốc tế của tỉnh, đa số lãnh đạo đơn vị KDYT các cấp cho rằng Việt nam cần có thêm thời gian để chuẩn bị trước khi chính thức tham gia IHR. LĐ các đơn vị kiểm dịch y tế biên giới tại các tỉnh dự án cũng đều cho rằng địa phương mình chưa đủ điều kiện tham gia thực hiện điều lệ y tế quốc tế do thiếu nhân lực được đào tạo bài bản về KDYT, thiếu thốn CSVC/TTB phục vụ hoạt động KDYT biên giới tại các cửa khẩu. Bên cạnh đó vấn đề hợp tác khu vực trong phòng chống BTN còn rất hạn chế.

Hoạt động thực hiện mô hình cộng đồng vì sức khỏe


Trong khuôn khổ Dự án phòng chống bệnh truyền nhiễm khu vực tiểu vùng sông Mê Kông giai đoạn 2, Bộ Y tế đã ban hành tài liệu Hướng dẫn xây dựng Làng sức khỏe (còn gọi là cộng đồng vì sức khỏe). Theo Tổ chức Y tế thế giới, mô hình cộng đồng vì sức khỏe bao gồm 4 bộ tiêu chí chủ yếu: Cộng đồng sức khỏe; Gia đình sức khỏe; Trường học nâng cao sức khỏe và Chợ lành mạnh. Trong mỗi bộ tiêu chí nói trên đều có các tiêu chí cụ thể về chính sách, kinh tế xã hội, cơ sở vật chất và chăm sóc sức khỏe với nhiều nội dung. Thang điểm của mỗi bộ tiêu chí là 100 điểm, được đưa ra nhằm đánh giá khách quan các hoạt động vì sức khỏe của tập thể hoặc hộ gia đình.


Sau khi chúng tôi đi họp triển khai các tiêu chí này thì chúng tôi đều bác bỏ hết vì thực hiện những tiêu chí này không phù hợp với xã miền núi đặc biệt vùng sâu vùng xa” - LĐ TTYT huyện Đakrông - Quảng Trị.

Người Vân Kiều sống ở vùng sâu vùng xa, nhận thức hạn chế và phong tục tập quán lạc hậu nên khó xây dựng được làng văn hóa SK - LĐ TTYT huyện Lệ Thủy - Quảng Bình.

Địa bàn rộng, dân cư sống rải rác, truyền thông thực hiện chưa tốt nên hiệu quả chưa được như mong muốn. Tiêu chí về chợ sức khỏe cũng rất khó thực hiện, chợ là nơi tạp nham, dân đến từ tứ phương. Nội quy giữa họ là rất khó khăn” - LĐ TTYT huyện Vũ Quang - Hà Tĩnh.

Các tiêu chí đưa ra quá xa vời so với thực tế, vì vùng ưu tiên là vùng giáp biên, là những nơi vốn tiếp cận với dịch vụ y tế thấp, trình độ dân trí thấp, kinh tế khó khăn, giao thông đi lại khó...” - LĐ TTYT huyện Thường Xuân - Thanh Hóa.

Xã nào đạt 30 - 40% tiêu chí đã là tích cực. Trong khi đó theo tiến độ dự án đề ra, một năm phải làm được 2 xã, năm sau mở rộng tiếp 2 xã khác, như vậy là rất khó” - LĐ BQLDA Nghệ An.

Quy định các khu dân cư, khu phố có nhà văn hóa/nhà sinh hoạt cộng đồng là không phù hợp do trên thực tế triển khai mỗi xã chỉ có 01 nhà văn hoá” - LĐ TTYTDP tỉnh An Giang.

Các tiêu chuẩn quá khó trong khi đó dự án lại không có kinh phí hỗ trợ. Bên cạnh đó do địa phương không có đủ khả năng, đủ nguồn lực để thực hiện theo đúng các tiêu chí đó’ - LĐ TTYTDP tỉnh Kiên Giang).

Nhiều nơi làm nhà vệ sinh không phù hợp vì không có nước, dân chủ yếu dùng hố xí đào. Bếp làm chung với nhà theo tập quán, khó vận động để tách riêng ra. Nhiều gia đình không quan tâm làm nền và bể chứa phân gia súc cho chuồng trâu... - LĐ TTYT huyện Simacai - Lào Cai.


Đến thời điểm điều tra, dự án đã triển khai mô hình cộng đồng vì sức khỏe tại 110 làng ở 55 xã của 55 huyện biên giới (xem Error: Reference source not found và Error: Reference source not found). Kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo các đơn vị YTDP các cấp và lãnh đạo cộng đồng tại 31 xã thực hiện mô hình cộng đồng vì sức khỏe cho thấy mô hình được nhiều lãnh đạo chính quyền, ban ngành và cộng đồng ủng hộ do mô hình hướng đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, phòng ngừa bệnh tật hiệu quả. Tuy nhiên, đa số các lãnh đạo địa phương đều cho rằng rất khó để triển khai mô hình thành công. Lý do là bộ tiêu chí yêu cầu quá cao, nhiều tiêu chí không phù hợp, đặc biệt là ở địa bàn miền núi, nơi có nhiều người nghèo, người DTTS đang sinh sống.

Các giải pháp nhằm thực hiện thành công mô hình được nhiều cán bộ thực hiện chương trình đưa ra bao gồm: 1) Không nên áp dụng cứng nhắc 1 bộ tiêu chí cho tất cả các địa phương mà phải điều chỉnh linh hoạt một số tiêu chí không phù hợp với vùng miền; 2) Tăng cường truyền thông cho cộng đồng về mô hình cộng đồng vì sức khỏe, có thể lồng ghép hoạt động truyền thông về mô hình với các hoạt động truyền thông về nội dung khác như nông thôn mới, dân số - KHHGĐ, CSSKSS và dinh dưỡng... để tăng tỷ lệ người dân được truyền thông về mô hình, đặc biệt ở các địa bàn miền núi, DTTS và 3) Thời gian thực hiện mô hình nên kéo dài để cải thiện và duy trì hành vi sức khỏe tốt của cộng đồng.



Каталог: files -> activity attachment -> 2017
2017 -> Báo cáo nghiên cứu khả thi dự Án phòng chống bệnh truyền nhiễm khu vực tiểu vùng sông mê KÔng giai đOẠN 2
2017 -> I. Thông tin chung về đề tài
2017 -> Hướng Dẫn Chẩn Đoán và Quản Lý các Rối Loạn Tâm Thần Thường Gặp trong Chăm Sóc Sức Khoẻ Ban Đầu Lời nói đầu
2017 -> Icd-1o pc: Questionnaire for
2017 -> Ngày Sức khỏe Thế giới 07/4/2017 Trầm cảm: Hãy cùng trò chuyện Chuyên mục Hỏi – Đáp về trầm cảm Thông tin về Ngày Sức khỏe Thế giới Ai quyết định chủ đề cho Ngày Sức khỏe Thế giới?
2017 -> Icd-10 pc: Questionnaire for
2017 -> ĐÁnh giá hiệu lực tồn lưu màn tẩM
2017 -> Báo cáo khoa họC
2017 -> Hà NỘI, 2017 MỤc lụC

tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương