Tham khảo Giáo huấn Dakini



tải về 237.73 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu02.01.2022
Kích237.73 Kb.
#272
  1   2   3

Tham khảo

Giáo huấn Dakini








Chi tiết

Chuyên mục chính: Tài nguyên ngoài

Được đăng ngày Thứ hai, 24 Tháng 5 2010 18:45

Viết bởi Rangxi Sangbo

Lượt xem: 13291



  • Giáo huấn Dakini

  • 1. LƯỢC SỬ VỀ ĐỨC LIÊN HOA SANH

  • 2. GIÁO HUẤN DẪN NHẬP

  • 3. NHỮNG GIÁO LÝ ĐI LÊN VỚI HẠNH

  • 4. QUY Y

  • 5. BỒ ĐỀ TÂM

  • 6. MƯỜI NỀN TẢNG CỦA KIM CƯƠNG THỪA

  • 7. KIM CƯƠNG SƯ VÀ BỔN TÔN YIDAM

  • 8. TU TÂM THEO KIM CƯƠNG THỪA

  • 9. TRÀNG HOA PHA LÊ CỦA SỰ THỰC HÀNH KHÔNG LỖI

  • 10. CỐT TỦY TINH HOA CỦA NHỮNG GIÁO HUẤN KHẨU TRUYỀN

  • 11. THUẬT NGỮ

  • Tất cả các trang

 

GIÁO HUẤN DAKINI

Do YESHE TSOGYAL ghi lại và chôn dấu 
Phát lộ bởi : NYANG RAL NYIMA OSER và SANGYE LINGPA

Hãy đi xuống với kiến, trong khi đi lên với hạnh,  
thực hành hai điều này như một là điều cốt tủy nhất. 
Padmasambhava

Download: Giáo huấn Dakini

 

LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ



Giáo huấn Dakini là một tuyển tập những lời khai thị từ một số  “kho tàng giáo lý” được phát hiện hay còn được gọi là terma. Bao gồm những giáo huấn khẩu truyền về thực hành Giáo Pháp của Guru Rinpoche (Liên Hoa Sanh) đã ban khi Ngài ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ 9. Những khai thị này được ghi chép bởi vị đệ tử chính của Ngài, Dakini Yeshe Tsoygal, công chúa xứ Kharchen. Theo Cuộc Đời Một Trăm Vị Terton[1]  của Ngài Jamgon Kongtrul đệ nhất, Yeshe Tsoygal là một dakini và là hóa thân của Phật Mẫu Lô Xá Na (Lochana), phối ngẫu của Đức Phật Ratnasambhava (Phật Bảo Sanh) cũng làVajra Yogini xuất hiện trong thân tướng của một người nữ. Bà đã phụng sự Đức Guru Rinpoche khi Ngài ở Tây Tạng và sau đó thực hành kiên trì khác thường, cuối cùng thành tựu ngang bằng với Thầy mình. Lòng bi của Bà vô song và ân phước của Bà bất tận.

Yeshe Tsoygal đã viết lại giáo huấn khẩu truyền này bằng một mã bí mật gọi là “Chữ viết Dakini” và chôn dấu như một kho tàng terma quý báu để các vị terton khai quật vào nhiều thế kỷ sau. Chính Đức Guru Rinpoche đã tiên tri nơi chốn, danh tánh, thời gian của những vị terton đến khai mật tạng. Những giáo huấn mà các vị terton tiếp nhận trong thực tế hay trong linh kiến đều thích hợp cho những người sống trong thời các Ngài và trong những thế hệ sau này. Hầu hết mỗi chương trong quyển sách này đều nhắc nhở là những giáo huấn này được ban vì lợi ích cho những hành giả trong thế hệ tương lai nên có lời ghi rằng: “Nguyện cho những người đã được định trước và xứng đáng trong tương lai gặp được giáo huấn này!”

Giáo huấn Dakini đặt nền tảng trên terma được phát hiện bởi vị khai mật tạng Nyang Ral Nyima Oser vào thế kỷ thứ 12. Bản viết tay mà tôi sử dụng được lưu trữ ở thư viện Hoàng Gia Đan Mạch, nhiều thập niên trước một nhà thám hiểm đã đem về bản viết tay này từ Tu viện Mông Cổ. Vào năm 1976 khi Ngài Dilgo Khyentse viếng thăm thư viện, Ngài yêu cầu được xem tất cả những bản văn viết tay gốc và quyết định sao chụp lại sáu chương của quyển sách mà thời đó Ấn Độ chưa có. Trong số sáu chương này là một sưu tập của một số terma gọi là Jomo Shulen của Nyang Ral “Câu hỏi và trả lời của Lady Yeshe Tsoygal”. Sau này tập sách được Nhà in Sherab Drimey ở Tân Đề Li Ấn Độ của Đức Dilgo Khyentse in lại theo nguyên bản. Sau này khi tôi giới thiệu quyển sách với Thượng Tọa Tulku Urgyen Rinpoche, Ngài đọc và biểu lộ niềm hoan hỷ lớn lao, động viên tôi chuẩn bị cho bản dịch này. Ngài cũng chỉ ra một sưu tập terma tương tự khác của Nyang Ral gọi là Nyang-gyi Martri “Những Giáo huấn Trực Chỉ Của Nyang.” Ngài Jamgon Kongtrul cho rằng quyển sách này quan trọng tương đương với chương 60 của bộ Rinchen Terdzo. So sánh hai bản viết tay này, tôi thấy cả hai đều chứa đựng những khai thị vô giá của Đức Liên Hoa Sanh, tuy vậy đôi khi có những chỗ giống và những chỗ khác nhau. Cho thấy rõ ràng là từ hai nguồn khác nhau, khi Ngài Jamgon Kongtrul soạn quyển Rinchen Terdzo thì chưa có bộ Jomo Shulen.

Ngài Nyang Ral Nyinma sống cách đây tám trăm năm, nên người đời sau mỗi lần sao chép tay đều có một vài thiếu sót và sai về lỗi chính tả. Tuy nhiên hai bản này không có những lỗi giống nhau. Do vậy, tôi dựa trên bản sưu tập terma thứ ba vào thế kỷ 14 của Tổ Sangye Lingpa. Những phần của sưu tập này hầu như giống nhau trong cách hành văn với terma của Ngài Nyang Ral Nyinma Oser. Lý do cho sự giống nhau này là cả hai vị tổ trong kiếp trước đã cùng hiện diện khi Đức Liên Hoa Sanh ban giáo huấn. Ngài Nyang Ral Nyinma Oser là tái sanh của Vua Trisong Deutsen, và Ngài Sanye Lingpa là tái sanh của Murub Tseypo, con trai thứ hai Vua Trisong Deutsen. Những tài liệu trong ba bộ sưu tập này đủ để soạn thành bốn quyển dịch sang tiếng Anh, nên tôi tuyển chọn những giáo huấn nào thích hợp nhất với thời đại ngày nay.

Những chú dẫn sau đây về lược sử tóm tắt cuộc đời Ngài Nyang Ral Nyinma Oser (1124-1192) được trích dẫn từ quyển Cuộc Đời Của Một Trăm Vị Terton.

Đức Guru Rinpoche tiên tri rằng Ngài  Nyang Ral là người đầu tiên của năm vị vua terton. Ngài là một tái sanh của Trisong Deutsen, vị vua đầu tiên cầu thỉnh Guru Rinpoche đến Tây Tạng còn được biết là Tsangpa Lhai Metok (Hoa thiêng của Trời Phạm Thiên).

Ngài sinh ở vùng Lhodrak vào năm con rồng gỗ[2] , con trai của lama mũ đỏ Nyangton Chokyi Khorlo.

Vào năm lên tám tuổi Ngài linh kiến thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Quán Tự Tại và Guru Rinpoche. Kinh nghiệm của Ngài rực sáng mạnh mẽ trong suốt một tháng.

Một buổi chiều Ngài thấy Đức Liên Hoa Sanh cưỡi một con ngựa trắng được bốn dakini nâng, Ngài tiếp nhận quán đảnh nhờ uống nước cam lồ trong bình của Guru Rinpoche. Vào lúc nhận quán đảnh Ngài có kinh nghiệm bầu trời bùng mở, mặt đất và núi đồi rung chuyển và Ngài bắt đầu hành động theo nhiều cách kỳ lạ khiến nhiều người nghĩ rằng Ngài điên.

Sau đó cha Ngài ban quán đảnh Bổn Tôn Hayagriva, và sau khi thực hành nhập thất Ngài thấy Bổn Tôn và dao phurba phát ra tiếng ngựa hí và Ngài để lại dấu bàn chân, bàn tay trên mặt đá cứng.

Theo đúng  tiên tri của các dakini, Ngài đến Mawo Choqi Draktsa, nhờ trí tuệ các Dakini ở đây Ngài được ban pháp danh Nyima Oser (ánh sáng mặt trời). Từ đó Ngài nổi tiếng với pháp danh này.

Guru Rinpoche xuất hiện đến Ngài trong thân người và trao cho Ngài bản danh sách những terma phải phát hiện. Vì vậy, Ngài phát hiện nhiều bộ giáo huấn terma, trong số đó quyển được biết đếùn nhiều nhất là Kagye Desheg Dupa, một giáo huấn tập trung vào tám nghi quỹ Heruka và quyển Sanlingma (tiểu sử Đức Liên Hoa Sanh).

Sau đó Ngài lập gia đình với Jobum, một hóa thân của Yeshe Tsoygal và có hai con trai, Drogon Namkha O và Namkha pal, cả hai đều trở thành trưởng dòng.

Trong suốt cuộc đời, Ngài duy trì thực hành nhập thất và giảng dạy người khác ngang nhau. Hoạt động của Ngài lan rộng đến khắp các cõi thế gian và có tác động to lớn về sự tương tục của Giáo Pháp.

Trong năm con chuột gỗ, Ngài viên tịch vào tuổi 69, kèm theo nhiều dấu hiệu kỳ diệu.

Tôi, Jamgon Kongtrul, đích thân thu thập tất cả những trao truyền  cho giáo huấn terma của Nyang Ral, cho khắc bản gỗ để in chín quyển của bộ Kagye Desheg Dupa và thực hành theo nghi quỹ này nhiều lần. Theo cách này tôi có thể dâng hiến sự phục vụ tầm thường của tôi cho giáo huấn này.

Một số tài liệu sau đây mô tả việc Ngài Nyinma Oser tiếp nhận terma thực tế của Giáo huấn Dakini như thế nào, trích từ tiểu sử của Ngài gọi là tấm gương trong sáng, thấy trong quyển hai của bộ Kagye Dushe Dupa.

Sau này, khi tôi nhập thất thực hành nghi quỹ Guru tại động Pha lê của Padma Gong. Vào một buổi chiều, một thiếu nữ màu trắng xuất hiện tự xưng là Yeshe Tsoygal. Bà mặc áo  dài màu xanh với một tấm tạp dề ở trước và một áo bằng lụa trắng. Bà hỏi:

“Này hành giả, ngươi muốn cầu gì?”

“Con không mong cầu gì ngoài Giáo Pháp!” Tôi trả lời.

“Vậy Ta sẽ ban cho con”. Bà nói và đưa cho tôi một hộp với những bản kinh chép tay, những lời tiên tri của các Dakini và 108 câu vấn đáp.

Sau đó Bà nói. “Con trai, hãy cùng Ta đến nghĩa địa Sitavana! Ngài Achaya Padma và tám vị Trì Minh Vương (Vidyadhara) cũng như rất nhiều hành giả xứng đáng khác đang dự một Pháp hội vĩ đại. Chúng ta, những Dakini cùng nhau đang tổ chức một đại tiệc.

Chúng tôi đến nơi và thấy một nghĩa địa vĩ đại. Thật là một nơi khủng khiếp ghê sợ mà người không xứng đáng không thể đến được. Ngay trung tâm là một hành giả có da màu nâu sáng ngồi trên một ngai lớn làm bằng đá quý. Ngài nói. “có phải Tsangpa Lhai Metok, con trai ta đó không? Lang thang trong luân hồi có làm con mệt mỏi chưa?” Ngài bảo tôi ngồi trên một đống xương người, tôi liền ngồi xuống.

Phía trước Ngài là một đại mandala với vô số trang hoàng bằng những lưới tia sáng. Ở tám hướng chung quanh tôi thấy tám vị Vidyadhara của Ấn Độ và Tây Tạng ngồi với vẻ mặt hoan hỷ. Tôi thấy lòng tràn ngập niềm vui.

Kế tiếp người thiếu nữ hỏi tôi, “Con trai, con muốn thưởng thức hội tiệc hay chuyển pháp luân?” đáp lời, tôi nói “Mong Ngài chuyển pháp luân cho con.” Lập tức, tôi được ban cho bước chuẩn bị để nhập vào dòng đại mandala này, sau khi tôi đi vào tám hướng của mandala, ở đó mỗi vị tổ ban quán đảnh sâu rộng và giao cho tôi trách nhiệm về dòng phái.

Vị yogi ngồi giữa, người ta nói Ngài là Đức Padmasambhava, còn gọi là Padmakara, ban cho tôi đại quán đảnh  của Tập Hội Các Đấng Thiện Thệ Hiền Minh Và Phẫn Nộ, Ngài cũng ban sách và dạy tôi giai điệu để tụng niệm.

Sau đó, tất cả các Vidyadhara cùng lúc ban quán đảnh kiến thức và duy trì, quán đảnh để thiền định và thực hành, quán đảnh về giải nghĩa và giảng dạy, quán đảnh thuần phục chúng sanh qua những hoạt động, quán đảnh hoàn toàn làm chủ thành tựu của một vị vua vajra, và quán đảnh Đại Viên Mãn (Dzogchen) để biểu hiện giác tánh.

Tiếp nhận tất cả những quán đảnh này từ các Ngài, tôi được ban một vỏ ốc tù và trắng và được lệnh về nhà, chính ngay lúc tôi nghe thế, toàn bộ cảnh tượng của nghĩa địa và mọi vị tổ biến mất như hơi nước trên gương. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đã trở lại lều thiền định của mình.”

Terma thứ hai tôi sử dụng để so sánh và sửa lỗi chính tả, bổ túc những thiếu sót khi soạn quyển Giáo huấn Dakini là terma được Ngài Sangye Lingpa phát hiện (1340-1396). Ngài sinh tại Konpo, một tỉnh phía đông nam Tây Tạng vào năm con Rồng sắt, cùng năm sinh với Đức Karmapa đệ tứ, Rolpey Dorje. Ngài Sangye Lingpa được xem là một hóa thân của Yeshe Rolpa Tsal, con trai thứ hai của Vua Trisong Deutsen. Vào năm 1364 Ngài phát hiện giáo huấn của Lama Gongdue và đó là phát hiện terma quan trọng nhất của Ngài. Sangye Lingpa cũng được tính là một trong năm vị vua terton. Gần đây, hai vị tổ vĩ đại đã tái sanh ở Tây Tạng là Ngài Jamyang Khyentse Wangpo và Terchen Chokgyur Lingpa được biết như năm vị vua terton.

Sau cùng, quyển Giáo huấn Dakini kết thúc bằng một chương của terton Guru Dorje Lingpa bao gồm những lời cuối cùng của Đức Liên Hoa Sanh. Dorje Lingpa (1346-1405) là một trong năm vị khai mật tạng ở Tây Tạng nổi tiếng như năm vị vua terton.

Tôi xin cảm ơn mọi người đã góp phần soạn thảo quyển sách này, nhất là His Holiness Dilgo Khyentse và Thượng tọa Tulku Urgyen Rinpoche về những giáo huấn và ban phước. Marcia Binder Schmidt đã rà soát lại bản dịch và giám sát hoạt động ở tất cả giai đoạn, Mim Coulstock về xuất bản, và Phinjo Sherpa đã giúp đỡ về câu chữ suốt quá trình.

Quyển sách này chứa đựng một số tinh túy những giáo huấn khẩu truyền của Đức Padmakara về thực hành Giáo Pháp phổ thông và về việc làm thế nào để tu hành một cách thực tiễn. Tôi vui thích khi thấy giáo huấn quý báu này bây giờ được dịch sang Anh ngữ. Dù bản dịch của chúng tôi có thể chưa hoàn thiện về mặt uyên bác và từ ngữ văn hoa, tôi tin rằng mối kết nối giữa ân phước của Guru Rinpoche và sự rộng mở, tính ngay thật của người đọc sẽ bù đắp cho những khiếm khuyết. Người nào đọc hay nghe quyển Giáo huấn Dakini này sẽ thân cận với chính Đức Guru Rinpoche cũng giống như giáo huấn này đã làm xúc động tôi, cầu mong giáo huấn này cũng gây xúc động trong tâm và là nguồn cảm hứng bất tận cho mọi người.



ERIK PEMA KUNSAN 
Động Asura 1989

 

 



 

 

LƯỢC SỬ VỀ ĐỨC LIÊN HOA SANH



NGÀI JAMGON KONGTRUL ĐỆ NHẤT

Tiểu sử vắn tắt về cuộc đời của Đức Liên Hoa Sanh, cũng được biết là Guru Rinpoche hay Padmakara, được trích ra từ “vòng hoa lam ngọc quý báu”, một bộ sưu tập nói về cuộc đời của 108 vị terton chính do Ngài Jamgon Kongtrul đệ nhất viết và thấy trong quyển 1 thuộc bộ Rinchen Terdzo của Ngài.

Đức Padmakara đã ảnh hưởng đến vô số chúng sanh qua giáo huấn Kim Cương Thừa, đặc biệt là qua hoạt động chôn dấu những kho tàng terma thâm sâu. Bậc Thầy vĩ đại này không phải là người thường trên con đường cũng không phải là thánh nhân của những địa Bồ Tát mà là một hóa thân của cả hai Phật A Di Đà và Thích Ca Mâu Ni, xuất hiện để thuần phục nhân loại và những tinh linh khó thay đổi.

Ngay cả những đại Bồ Tát cũng khó giải nghĩa đầy đủ những gương mẫu về cuộc đời Ngài, nên tôi xin được tường thuật vắn tắt như sau.

Trong cõi Pháp thân của Tinh túy Kim Cương Quang, Đức Guru Rinpoche nhờ đạt tự tánh giác ngộ viên mãn từ vô thủy như nền tảng giải thoát của thanh tịnh nguyên sơ. Ngài nổi tiếng là đấng Thủ Hộ nguyên thủy Bất biến Quang.

Trong cõi Báo thân tự-hiển lộ của Sấm Trống Viên mãn, Ngài đồng thời biểu hiện Vô tận Trí của ngũ bộ Vô biên Đại dương Chư Phật đang sở hữu ngũ trí.

Như hiển lộ bên ngoài của sự phô diễn tự-hiện này, trong vô số phô diễn tướng thân ở những cõi của năm gia đình Phật bao gồm cõi Hóa thân tự nhiên cùng hiển lộ của Đại Phạm Thiên, Ngài xuất hiện đến tất cả Bồ Tát ở mười địa. Vì tất cả những điều này là những đám mây phô diễn trí tuệ của Guru Rinpoche, “Vô tận Luân Trang nghiêm” nên Ngài được biết là Đấng Trì Thủ Trọn Vẹn Liên Hoa.

Bằng năng lực của những phô diễn trí tuệ này Ngài xuất hiện trong vô số thập phương thế giới như sự xuất hiện huyền diệu của Hóa thân, bậc điều phục chúng sanh. Đặc biệt ở cõi Ta bà này, Ngài soi sáng năm mươi thế giới với ngọn đèn giáo lý sutra và tantra hiển lộ như tám hóa thân để điều phục chúng sanh trong những nơi khác nhau trên thế giới.

Dakini Yeshe Tsoygal đã có linh kiến thấy một hóa thân của Ngài gọi là Vô biên Kim cương Hải ở hướng Đông. Mỗi lỗ chân lông trên thân Ngài chứa một tỷ cõi và trong mỗi cõi chứa một tỷ hệ thống thế giới. Trong mỗi hệ thống thế giới này có một tỷ Guru Rinpoche mà mỗi vị lại tạo ra một tỷ hóa thân. Mỗi hóa thân này thuần phục cho một tỷ đệ tử. Sau đó Bà thấy sự phô diễn tương tự ở phương trung ương và trong mỗi phương khác.

Trong cõi Diêm Phù Đề này, Guru Rinpoche chỉ là một hóa thân, bậc điều phục chúng sanh[3]  mà tùy theo khả năng, căn cơ của từng người sẽ cảm nhận Ngài theo nhiều cách. Quyển Lịch Sử Khẩu Truyền Kilaya và hầu hết nguồn tài liệu Ấn Độ đều giải thích rằng Ngài sinh ra là con vua hay là một bộ trưởng ở Uddiyana, trái lại phần lớn những kho tàng terma kể lại rằng Ngài sinh ra một cách kỳ diệu. Trong một số kinh văn nói Ngài xuất hiện từ một tia chớp trên đỉnh Malaya. Mỗi câu chuyện kỳ diệu đều khác nhau. Thật sự đây là một chủ đề vượt lên tầm hiểu biết của trí tuệ người thường.

Sự giải thích giới hạn của tôi chỉ là một nguyên nhân, cuộc đời Ngài Guru Rinpoche sinh ra kỳ diệu ra sao đã được ghi trong giáo huấn terma.

Trong xứ Uddiyana ở hướng tây Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng) có một hòn đảo trong Hồ Danakosha, nhờ ân phước của chư Phật, trên đó xuất hiện một hoa sen nhiều màu sắc. Đức Phật A Di Đà gởi từ giữa tâm Ngài một (chày) Vajra vàng có khắc chữ HRIH vào nụ hoa sen này, và kỳ diệu thay, hoa sen chuyển thành một đứa trẻ tám tuổi tay cầm một chày và một hoa sen, được trang hoàng bằng những dấu ấn chính và phụ. Đứa trẻ ngụ ở đó và giảng dạy Giáo Pháp cao sâu cho chư Thiên và Dakini trên hòn đảo đó.

Vào lúc đó vị vua của xứ này là Indrabodhi, không có con. Ông đã cúng dường hết kho tàng của mình lên Tam Bảo và bố thí cho người nghèo để cầu con. Như một phương sách cuối để tìm ngọc như ý, Ông bắt đầu cuộc du hành đến Hồ lớn Danakosha với vị bộ trưởng Krishnadhara. Trên đường về trước tiên là Krishnadhara và sau đó Vua Indrabodhi gặp đứa trẻ kỳ diệu. Nhà Vua xem Ngài như  kết quả của việc cầu con và đem Ngài về cung điện, ở đó ông đặt tên Ngài là Padmakara, Liên Hoa Sanh. Sau đó Ngài Padmakara được mời ngồi lên ngai bằng những viên ngọc quý và tất cả dân chúng cúng dường rất nhiều.

Khi lớn lên, vị hoàng tử làm cho nhiều người cùng trưởng thành qua các môn thể thao và trò chơi thời thanh niên của Ngài. Ngài lập gia đình với Prabhadhari và cai trị vương quốc Uddiyana theo Giáo Pháp. Vào lúc nhận ngôi, Ngài thấy không thể đem lại lợi ích lớn lao cho người khác bằng việc làm cho đất nước phát triển nên Ngài xin Vua Indrabodhi cho phép thoái vị nhưng không được chấp thuận. Thế nên trong một cuộc chơi, Ngài giả vờ làm ngọn giáo tuột khỏi tay và giết chết con của một bộ trưởng. Do vậy Ngài bị kết án lưu đày đến một nghĩa địa. Ngài sống ở Băng Viên, Hoan hỷ Lâm, và Sosaling, thực hiện giới luận đạo đức của một hành giả yogi. Trong thời gian này Ngài nhận được quán đảnh và ân phước của hai dakini là Đấng Hàng phục Ma Vương và Bậc Duy trì Cực Lạc. Khi triệu thỉnh tất cả dakini của nghĩa địa dưới lệnh mình, Ngài được biết là Shantarakshita.

Padmakara trở về xứ Uddiyana đến hòn đảo trong hồ, ở đó Ngài thực hành Mật Chú và ngôn ngữ biểu tượng của chư dakini, nhờ vậy, Ngài đem chư dakini đến hòn đảo dưới mệnh lệnh của mình. Sau đó Ngài tu hành ở Rừng Khổ Hạnh và được ban phước linh kiến thấy Vajra Yogini. Ngài ràng buộc tất cả loài Rồng trong những hồ cũng như những tinh linh của hành tinh phát thệ bảo vệ Giáo Pháp nhờ sự trao quyền với năng lực siêu nhiên của tất cả chư daka và dakini. Vì vậy Ngài nổi danh là Dorje Drakpo Tsal (Đại lực Phẫn Nộ Kim Cương).

Sau đó Ngài du hành đến kim cương ngai ở Bồ Đề Đạo Tràng, tại đây Ngài phô diễn nhiều phép lạ. Dân chúng hỏi Ngài là ai, và khi trả lời Ngài là một vị Phật tự-hiện, họ không tin mà còn phỉ báng. Xét thấy có nhiều lý do phải có một vị thầy, Ngài đến Sahor, ở đó Ngài thọ giới với Prabhahasti và được ban pháp danh Shakya Sangye. Ngài nhận giáo huấn về tantra yoga mười tám lần và có linh kiến của các Bổn Tôn. Sau đó Ngài đến nữ đạo sư  Kungamo, là bậc trí tuệ dakini Guhyasamaya xuất hiện trong thân tướng của một sư ni. Ngài yêu cầu được quán đảnh và Bà chuyển Ngài thành chủng tự HUM, sau đó Bà nuốt Ngài vào và nhả ra qua hoa sen của Bà. Bên trong thân Bà, Ngài được ban toàn bộ quán đảnh bên ngoài, bên trong, bí mật và được tịnh hóa ba che chướng (thân, khẩu, ý).

Sau này Ngài gặp tám vị Đại Trì Minh Vương và thọ tám phần nghi quỹ. Ngài thọ nhận Maya Jala từ đại sư Buddha Guhya và Dzogchen từ tổ Shri Singha. Theo cách này, Ngài thọ nhận và học tập tất cả sutra, tantra từ rất nhiều học giả và những vị tổ đã thành tựu của Ấn Độ. Ngài rất thông tuệ, chỉ cần nghiên cứu một chủ đề chỉ một lần mà đã có linh kiến của tất cả Bổn Tôn không cần thực hành. Vào lúc đó, Ngài được biết là Loden Choksey và phô diễn cách thức viên mãn của bậc vidyadhara đẳng cấp cao tột.

Kế tiếp, Ngài đến vùng ngoại ô của Sahor. Tại đó Ngài lôi cuốn công chúa Mandarava, con gái của Vua Vihardhara. Ngài nhận Bà như sự hỗ trợ nghi quỹ của mình, và họ thực hành ba tháng trong Động Maratika, sau này Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus) xuất hiện trong thân người ban quán đảnh trên họ và ban phước để bất khả phân với Đức Phật. Họ được ban một tỷ tantra về trường thọ và đạt thành tựu của vidyadhara thuộc đẳng cấp làm chủ cuộc sống. Thành tựu Kim Cương Thân vượt khỏi sinh tử, các Ngài trở lại vương quốc Sahor để hoằng Pháp. Khi khất thực, các Ngài bị nhà vua và bộ trưởng bắt và đem thiêu sống, vị Thầy và consort tạo niềm tin bằng sự phô diễn huyền diệu; chuyển dàn hỏa thiêu thành hồ nước lạnh giá, các Ngài ngồi trên hoa sen giữa hồ. Các Ngài đã làm tất cả mọi người thực hành Giáo Pháp miên mật và đã đưa họ vào trạng thái vượt khỏi luân hồi.

Sau đó, Đức Padmakara trở lại xứ Uddiyana để chuyển hóa dân chúng. Trong khi trì bình khất thực, Ngài bị nhận diện và đem hỏa thiêu trong một lò thiêu lớn tại rừng đàn hương. Vị Thầy và phối ngẫu một lần nữa xuất hiện trên một hoa sen giữa hồ không bị thương tổn, đeo một chuỗi sọ người biểu tượng cho sự giải thoát tất cả chúng sanh khỏi luân hồi. Vì sự phô diễn phép màu này Ngài được biết là Padma Thotreng Tsal (Đại Lực Liên Hoa của Chuỗi Sọ). Ngài lưu lại Uddiyana trong mười ba năm như một vị thầy của nhà Vua và làm cho toàn vương quốc thực hành Giáo Pháp. Trong thời gian này, Ngài ban quán đảnh và giáo huấn cho Kadue Chokyi Gyamtso là Biển Pháp Biểu Tượng Cho Mọi Giáo huấn. Nhờ đó vua và hoàng hậu cùng tất cả những người có căn cơ đã thành tựu đẳng cấp vidyadhara tối thượng. Do vậy Ngài được biết là Padma Raja (Liên Hoa Vương).

Tương ứng với một tiên tri trong Kinh Tri Kiến Huyền Diệu, Ngài Padmakara tự biến thành nhà sư Wangpo Dey để chuyển hóa cho vua A Dục (Asoka). Để xây dựng cho vua A Dục niềm tin bất thoái chuyển, chỉ trong một đêm Ngài dựng nên trong thế gian này một tỷ bảo tháp chứa những xá lợi của Đấng Như Lai. Ngài cũng khuất phục một số vị thầy không phải Phật Giáo, Ngài đã bị đầu độc bởi một vị vua nhưng không bị thương tổn. Sau đó, khi bị ném xuống dòng sông, Ngài làm nước sông chảy ngược, còn Ngài thì nhảy múa giữa trời. Qua đó, Ngài được biết là Đại Lực Kim Xí Điểu.

Ngoài ra, Padmakara còn tự hiện thân trong thân tướng Acharya Padmavajra, vị Thầy đã phát hiện Tantra Hevajra, cũng như Brahmin Saraha, Dombi Heruka, Virupa, Kalacharya, và nhiều vị thành tựu (siddha) khác. Ngài tu hành trong những đại mộ địa, ở đó Ngài dạy Kim Cương Thừa cho chư dakini. Ngài hàng phục những tinh linh thế gian bên ngoài và bên trong, chỉ định cho họ làm những người bảo vệ Giáo Pháp. Vào lúc đó, Ngài được biết là Nyima Oser.

Khi năm trăm vị thầy ngoại đạo sắp đánh bại Giáo Pháp trong một cuộc tranh luận tại Bồ Đề Đạo Tràng, Đức Padmakara thách thức họ và Ngài đã chiến thắng. Một số tà sư phải viện đến tà thuật, nhưng Padmakara đánh tan họ bằng mantra phẫn nộ mà Ngài đã được dakini Hàng phục Ma Vương ban cho. Tất cả họ đều chuyển tâm theo Phật Giáo và ngọn cờ Giáo Pháp tung bay trên bầu trời. Vào lúc đó Ngài được biết là Senge Dradrok. Lúc đó Ngài diệt hết ba nhiễm ô và an trụ trong đẳng cấp Vidyadhara làm chủ cuộc sống.

Đi đến động Yanglesho ở giữa Ấn Độ và Nepal, Ngài gặp Shakya Devi con gái vua xứ Nepal, người đã nhận lời hỗ trợ và làm phối ngẫu cho nghi quỹ của Ngài. Trong khi Ngài thực hành Vishuddha Heruka, ba tinh linh hùng mạnh đã ngăn không cho mưa trong ba năm tạo ra bệnh tật và đói kém. Đức Padmakara gởi người đem tin về Ấn Độ cầu những vị thầy của Ngài ban cho một giáo huấn có thể chống lại những che chướng này. Hai người đã trở về mang theo kinh văn Kilaya, những che chướng tự nhiên được dẹp tan ngay khi họ vừa đến Nepal. Sau đó, Padmakara và vị phối ngẫu thành tựu tất địa tối thượng và an trụ trong đẳng cấp Vidyadhara đại ấn.

Guru Rinpoche nhận thấy việc thực hành nghi quỹ của Vishuddha Heruka đem lại đại thành tựu. Nhưng thực hành này cũng giống như người đi buôn gặp nhiều chướng ngại, còn Kilaya giống như sự bảo hộ không thể thiếu. Vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này, Guru Rinpoche đã soạn thảo nhiều nghi quỹ chứa hai Heruka này. Tại nơi đây Ngài ràng buộc mười sáu vị bảo vệ thế gian phát nguyện  giữ gìn nghi quỹ Kilaya.

Đức Padmasambhva viếng thăm nhiều vương quốc cổ khác và truyền dạy Giáo Pháp: như Hurmudzu ở gần Uddiyana, Sikojhara, Dharmakosha, Rugma, Tirahuti, Kamarupa, vàKancha, cũng như nhiều nơi khác. Kinh văn không nói rõ Ngài có đến xứ Droding hay không, nhưng những giáo huấn tantric Ngài đã ban về Hevajra, Guhyachandra Bindu, Vishuddha, Hayagriva, Kilaya, và Mamo vẫn còn truyền đến ngày nay.

Padmakara được xem là sống ở Ấn Độ đến ba ngàn sáu trăm năm giảng dạy làm lợi ích chúng sanh. Nhưng những học giả chỉ chấp nhận một nửa số năm; vì đó chỉ là con số tượng trưng.

Để chuyển tâm dân xứ Mông Cổ và Trung Quốc, Đức Padmakara hóa thân thành Vua Ngonshe Chen và hành giả Tobden. Ngoài ra Ngài còn xuất hiện như thần đồng ở vùng ngoại ô Shangshung, Ngài đã ban những giáo huấn về dòng truyền nghe của Đại Viên Mãn (Dzogchen) và dẫn dắt nhiều đệ tử xứng đáng thành tựu thân cầu vồng.

Bằng nhiều phương tiện, xuất hiện nhiều nơi, trong nhiều thân tướng khác nhau, nói nhiều thứ tiếng, những hoạt động của Đức Padmakara thật sự vượt lên mọi suy lường.

Bây giờ, tôi xin mô tả lại việc Ngài Padmakara đến xứ Tây Tạng ra sao. Khi Vua Trisong Deutsen, một hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, được hai mươi tuổi; trong Ngài hình thành một khao khát mạnh mẽ về Giáo Pháp thiêng liêng được phổ biến. Ngài mời Bồ Tát Khenpo[4]  từ Ấn Độ, bậc đã dạy thập thiện hạnh và thập nhị nhân duyên. Một năm sau, nền móng của một ngôi Đại Tự đã xong, nhưng những tinh linh của Tây Tạng tạo chướng ngại và ngăn cản việc xây cất. Phù hợp với tiên tri của Ngài Khenpo, nhà vua cử năm người nhanh chóng mời thỉnh đại sĩ Padmakara. Biết trước việc này, Padmakara đã đến Manyul ở giữa Nepal và Tây Tạng. Trên đường đến miền trung Tây Tạng, Ngài đi qua Ngari, Tsang, và Dokham dùng thần thông thăm tất cả các khu vực, ở đó Ngài ràng buộc mười hai thiên nữ Tenma, mười ba Gurlha và hai mươi mốt Genyen phát thệ, cũng như nhiều tinh linh hùng mạnh khác.

Tại Rừng Tamarisk ở Hồng Thạch, Ngài gặp vua Tây Tạng và lên đỉnh Hepori thu phục quỷ thần. Ngài đạt nền móng cho tu viện Samye và trông coi từ đầu đến khi hoàn tất, Ngài giao cho những quỷ thần trước đây gây cản trở việc xây cất phải làm việc. Trong năm năm đã xây dựng xong một quần thể tự viện Samye Quang Vinh, Bất Biến và Thành Tựu Tự nhiên Vihara, bao gồm ba tu viện của hoàng hậu, các quần thể cung điện này đã xây theo biểu tượng Núi Tu Di bao quanh bởi bốn châu lục, tám châu lục phụ, mặt trời, mặt trăng, và tường thành của núi sắt. Trong lễ thánh hóa, đã xảy ra năm đấu hiệu kỳ diệu.

Sau đó nhà vua ước muốn phiên dịch kinh điển và thiết lập Giáo Pháp, nên vua chọn những thiếu niên Tây Tạng thông minh học để thành những dịch giả. Ngài mời những Pháp sư thông hiểu Kinh, Luật, Luận từ Ấn Độ, nhờ Ngài Khenpo thọ giới cho bảy vị tu sĩ đầu tiên và dần dần thiết lập một tăng đoàn đã thọ giới. Bồ Tát Khenpo, Đức Padmakara và các nhà hiền triết khác cùng Ngài Vairochana, Kawa Paltseg, Chog-ro Lui Gyaltsen và những dịch giả khác đã trao tất cả Kinh điển Hiển và Mật của Đạo Phật đang tồn tại cũng như những luận thư giảng nghĩa về chúng cho Tây Tạng.

Vairochana và Namkhai Nyingpo được gởi tới Ấn Độ, Ngài Vairochana học Dzogchen với Tổ Shri Singha, trong lúc Namkhai Nyingpo tiếp nhận giảng dạy về Vishuddha Heruka từ đại sư Hungkara. Cả hai đều thành tựu và về hoằng Pháp ở Tây Tạng.

Sau đó, Vua Trisong Deutsen thỉnh cầu Đức Padmakara quán đảnh và hướng dẫn. Tại Chimphu, nơi ẩn tu trên Samye, đại sư đã hiển lộ mandala tám nghi quỹ Heruka, Ngài làm lễ nhập dòng cho nhà vua và tám người khác. Mỗi một vị được giao phó với một trao truyền đặc biệt, và cả chín người đều thành tựu nhờ thực hành giáo huấn.

Padmakara đã ban vô số giáo huấn thâm sâu và kỳ diệu khác liên kết với ba tanra nội cho nhiều đệ tử đã định trước, đứng đầu là nhà vua và những con trai và hai mươi lăm vị đệ tử ở Lhodrak, Tidro và nhiều nơi khác.

Guru Rinpoche lưu lại Tây Tạng năm mươi lăm năm sáu tháng, bốn mươi tám năm lúc nhà vua còn sống và và bảy năm sáu tháng sau đó. Ngài đến Tây Tạng lúc nhà vua được hai mươi mốt tuổi (810 sau Công nguyên). Nhà vua qua đời vào tuổi sáu mươi chín. Padmakara ở lại vài năm sau đó trước khi rời khỏi xứ La Sát (Tây Tạng).

Padmakara đi thăm hai mươi ngọn núi tuyết của Ngari, hai mươi mốt nơi thực hành ở miền trung Tây Tạng và Tsang, hai mươi lăm nơi ở Dokham, ba thung lũng ẩn khuất và nhiều nơi khác. Mỗi nơi Ngài đều ban phước thành nơi thiêng liêng để thực hành. Biết trước vị vua sau này sẽ phá hoại Phật Giáo ở Tây Tạng, Ngài ban nhiều tiên tri cho tương lai. Hội ý với nhà vua và những đệ tử thân cận, Padmakara chôn dấu vô số giáo huấn terma, chủ yếu tại tám kho tàng của cá nhân nhà vua, năm kho đại trí, và hai mươi lăm kho vi diệu. Lý do chôn dấu những terma này là ngăn ngừa sự hủy diệt giáo huấn Kim Cương Thừa, tránh sự thêm thắt hay làm sai lạc Kim Cương Thừa của giới trí thức sau này, để bảo tồn ân phước và làm lợi ích cho những đệ tử trong tương lai. Với mỗi kho tàng chôn dấu này, Đức Padmakara đều tiên tri thời gian phát hiện, người nào sẽ phát hiện và người gìn giữ giáo huấn đã định trước. Ngài biểu lộ tướng phẫn nộ khủng khiếp của trí tuệ điên ở mười ba nơi tên là Hang Cọp, ràng buộc tất cả tinh linh thế gian dưới lời thề phục vụ Giáo Pháp, và giao cho họ canh giữ những kho tàng terma. Vào lúc đó Ngài có tên là Dorje Drollo.

Để gợi niềm tin cho những thế hệ tương lai, Ngài để lại dấu  ấn thân Ngài tại Bumthang  dấu bàn tay Ngài tại Namtso Chugmo, và dấu chân tại Paro Drakat cũng như vô số dấu ấn ở những chỗ thực hành khác.

Sau cái chết của Vua Trisong Deutsen, Padmakara đưa Mutig Tsenpo lên ngôi. Ngài thực hiện một drubchen tại Tramdruk, Ngài trao giáo huấn thâm sâu cho Gyaltse, vị hoàng tử thứ hai và ban tiên tri rằng ông sẽ làm lợi ích chúng sanh do trở thành một vị khai mật tạng trong mười ba kiếp sau.[5]

Không thể tính đếm được có bao nhiêu đệ tử ở Tây Tạng đã nhận được quán đảnh từ Đức Padmakara trong thân người, nhưng phần lớn được nổi tiếng là hai mươi lăm vị đệ tử ban đầu, hai mươi lăm vị ở khoảng giữa, sau này là mười bảy và hai mươi mốt đệ tử. Có tám mươi đệ tử của Ngài đắc thân cầu vồng tại Yerpa, và một trăm lẻ tám thiền sư tại Chuwori, ba mươi hành giả tantrika tại Yangdzong, và năm mươi lăm bậc giác ngộ tại Sheldrag. Về đệ tử nữ có hai mươi lăm đệ tử dakini, và bảy yogini. Nhiều vị đệ tử thân cận này có dòng truyền thừa liên tục cho tới ngày nay.

Khi Ngài sắp rời khỏi xứ la sát đến hướng Tây Nam, nhà vua và bộ trưởng cùng tất cả đệ tử cố gắng can ngăn Ngài Padmakara không đi, nhưng không hiệu quả. Ngài ban cho mỗi người giáo huấn và khai thị rộng lớn và khởi hành từ đèo Gunthang, cưỡi trên một con ngựa hay sư tử,  chư thiên theo hộ tống và cúng dường. Tại Đỉnh Núi Màu Đồng Quang Vinh trên châu lục Chamara, Ngài giải thoát Raksha Thotreng, vua các la sát, và mang hình tướng này. Sau đó, Ngài kiến tạo một cách phi thường cung điện Liên Hoa Quang với nhiều trang hoàng kỳ diệu không thể tưởng và Ngài lưu xuất ra tám thân trên tám hòn đảo bao quanh, ở đó Ngài an trú như nhà vua giảng dạy tám nghi quỹ Heruka.

Hiện tại Ngài an trụ ở đẳng cấp vidyadhara tự-hiện trong tướng quan nhiếp chính của Vajradhara (Kim Cương Trì), bất biến với thời gian chừng nào luân hồi còn tồn tại. Tràn đầy lòng bi, Ngài lưu xuất nhiều hóa thân làm lợi ích chúng sanh. Thậm chí sau khi giáo huấn vinaya (luật tạng) bị hư hoại, Ngài cũng sẽ xuất hiện với những hành giả tantric. Sẽ có nhiều đệ tử đã định trước thành tựu thân cầu vồng. Trong tương lai khi Đức Phật Di Lạc xuất hiện đến thế gian này, Đức Padmakara sẽ hóa thân là một người được biết là Drowa Kundul và truyền bá giáo huấn của Kim Cương Thừa cho tất cả người xứng đáng.

Tiểu sử vắn tắt này chỉ là một phần tường thuật để thích nghi với những gì mà người học bình thường có thể tiếp nhận[6] .

 

GIÁO HUẤN DẪN NHẬP

Trong thời gian mà thế giới chúng ta đang sống, một ngàn vị Phật sẽ xuất hiện. Tương tự, mỗi vị Phật này sẽ có một ngàn Guru Rinpoche thực hiện những hoạt động của các Ngài. Trong thời hiện tại của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một thân lưu xuất trong thân người như vậy là Đức Padmasambhava, Liên Hoa Sanh. Người ta nói rằng trong tiểu sử, Ngài tự nhiên sinh ra từ một hoa sen ở trong một hồ mà không có cha mẹ. Sinh ra với thân người một cách kỳ diệu như vậy, Ngài được phú cho đại thần lực có khả năng hàng phục không chỉ nhân loại mà còn những tinh linh và những loại phi nhân khác. Ngài sống trong một thời gian dài. Ngài ở Ấn Độ khoảng một ngàn năm và sau đó ở Tây Tạng năm mươi năm. Khi sắp rời Tây Tạng Ngài được hai mươi lăm đệ tử chính và nhà vua đưa tiễn. Tại biên giới Nepal Ngài được những dakini của bốn bộ hộ tống trên một con ngựa gọi là Mahabala. Con ngựa thần thoại này bay lên trời, để lại những đệ tử nhìn hình ảnh Ngài Guru Rinpoche nhỏ dần rồi biến mất.

Theo truyện, Đức Padmasambhava xuống Bồ Đề Đạo Tràng và ở lại đó một thời gian. Sau đó đến tịnh thổ của Ngài được biết là Sangdok Palri, Núi Huy Hoàng Màu Đồng. Về vật chất, đó là một hòn đảo rộng lớn, một loại bán châu lục, ở ngoài biển về hướng Tây Nam của Bồ Đề Đạo Tràng. Đảo có một số tầng, chỗ thấp nhất là nơi cư trú của la sát. Theo tiên tri của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, loài quỷ ăn thịt người này sẽ xâm nhập thế gian trong một giai đoạn lịch sử sau này vào khoảng thời gian tuổi thọ trung bình của con người là hai mươi. Tạo ra một hiểm họa lớn, loài la sát sẽ khuất phục và tiêu diệt tất cả nhân loại. Đức Phật cũng tiên tri rằng Ngài Padmashambhava sẽ đến châu lục này và chiến thắng loài la sát. Guru Rinpoche đã ứng với lời tiên tri.

Ngọn núi chính trên đảo màu đồng này đi sâu xuống biển tới cõi Long cung. Đỉnh núi đâm thủng bầu trời lên tới thế giới Phạm Thiên của cõi sắc giới. Trên đỉnh núi là một cõi Phật ba tầng xuất hiện kỳ diệu. Tầng trên cùng là pháp thân lưu xuất của Guru Rinpoche, là Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus), tầng giữa là tướng báo thân của Guru Rinpoche, là Đức Avalokitesvhara (Quán Tự Tại), và tầng dưới cùng là tướng hoá thân của chính Guru Rinpoche bao quanh bởi tám hiện thân. Guru Rinpoche là tâm lưu xuất của Phật A Di Đà, ngữ lưu xuất của Quán Tự Tại và thân lưu xuất của Phật Thích Ca Mâu Ni. Trước khi hiện thân đến thế gian này Ngài xuất hiện trước tiên trong cõi báo thân như năm gia đình Thotreng Tsal, sau đó là tám rồi mười hai hiện thân, và cuối cùng là vô số thân lưu xuất.

Trước lúc rời Tây Tạng, Guru Rinpoche tiên tri nhiều việc và đem chôn dấu nhiều giáo huấn để tương lai sau này phát hiện. Ngài ban phước cho những đệ tử thân cận được bất khả phân với Ngài. Trong tương lai những thân tái sinh của họ sẽ phát hiện những giáo huấn chôn dấu. Được phú cho đại thần lực kỳ diệu như chính đức Guru Rinpoche, họ có thể bay trong bầu trời, di chuyển tự do qua những vật thể cứng, giải nghĩa vô chướng ngại kinh điển và luận thư  cũng như ý nghĩa những tantra. Đặc biệt là Guru Rinpoche tiên tri sự xuất hiện của 108 vị đại terton, những bậc khai mật tạng. Vì sự thay đổi thăng trầm trong lịch sử thế giới, mỗi vị terton sẽ xuất hiện vào thời điểm đã định để giúp chúng sanh đối mặt với khó khăn. Nhận biết được những khó khăn trong tương lai, Guru Rinpoche chôn dấu những thực hành đặc biệt nhất là khế hợp với thời điểm được phát hiện. Khi các terton khám phá ra những terma thì lúc đó sẽ có một giáo huấn hoàn toàn mới, khế lý, khế cơ và có ý nghĩa trong thời gian và hoàn cảnh đặc biệt đó. Ví dụ giống như chúng ta chuẩn bị thực phẩm tươi mới để không bị bệnh, tương tự những giáo huấn terma được phú cho những phẩm tính rất đặc biệt. Một phẩm tính là những terma có dòng truyền vắn tắt sẽ không bị gián đoạn vì bất kỳ vi phạm hoặc đứt samaya; ngoài ra, những terma cũng không bị người khác tự ý thêm vào. Những giáo huấn ẩn tàng bắt nguồn trực tiếp từ Đức Guru Rinpoche và được phát hiện bởi những đệ tử của Ngài trong những tái sanh tương lai; sau đó được phổ biến để nhanh chóng thực hành.

Tóm lại, để lặp lại và phát triển, phẩm tính đặc biệt của những giáo huấn terma do Guru Rinpoche chôn dấu cung cấp một thành tựu thích hợp cho mỗi thế hệ, từng thời điểm và cá nhân gặp được. Mỗi vị terton phát hiện những giáo huấn mới cho những người được định trước thực hành. Những terma cũ có thể bị tì vết do đứt samaya, khiến trì hỗn những dấu hiệu thành tựu. Vì vậy, những terma mới có ân phước lớn hơn nên nhanh thành tựu. Hơn nữa, đa số mọi người kể cả người Tây Tạng đều thích những gì mới lạ. Những terma mới có vẻ hấp dẫn hơn! Người Tây Tạng ít tin tưởng vào các terma cũ, nên kết quả của thực hành bị trì hỗn. Niềm tin lớn hơn và tin tưởng vào những terma mới khiến siêng năng thực hành nhiều hơn, nên kết quả sẽ nhanh hơn. Đó là những nhân tố trùng khớp để những terma mới xuất hiện. Nếu không thì một terma cho mỗi một trong Ba Gốc Guru (Đạo sư), Yidam (Bổn Tôn) và Dakini là đủ. Nhưng người ta thường thích những gì mới lạ; một vị terton mới phát hiện một giáo huấn terma mới gây ra niềm hoan hỷ to lớn. Điều này là một trong những phương tiện thiện xảo của Guru Rinpoche.

Yeshe Tsoygal là một trong năm lưu xuất của Vajra Yogini và, trong cốt tuỷ cũng chính là biểu hiện của Đức Guru Rinpoche. Bà xuất hiện để hỗ trợ Guru Rinpoche trong việc truyền bá Kim Cương Thừa, nhất là những giáo huấn terma trong xứ tuyết Tây Tạng.

Nhìn bề ngoài theo nghĩa đen, từ dakini có nghĩa “người an trụ trong hư không”, một vị trời không cần đi trên mặt đất. Có nhiều loại dakini khác nhau: dkini trí tuệ, dakini hành động, và dakini thế gian. Dakini trí tuệ thực sự là tánh hư không của sự tỉnh giác sáng ngời. Sự nhận biết là khía cạnh nam, trong khi trong nhận thức của chúng ta là phẩm tính nữ. Như vậy bà mẹ vĩ đại của pháp thân là nền tảng của tất cả dakini.

Trong thực tế, nền tảng của tất cả Bổn Tôn nam là pháp thân Phật Phổ Hiền (Samantabhadra) và nền tảng của mọi Bổn Tôn nữ là Samantabhadri. Samantabhadra là nền tảng của tất cả nhận thức và Samantabhadri là tánh hư không trong tất cả nhận thức đó. Ngoài ra, Samantabhadri được gọi là nền tảng của sự lưu xuất, vị nữ Phật đại trí. Vajra Varahi là một báo thân lưu xuất của trí tuệ, như năm vị Phật nữ Dhatvishvari, Mamaki, Buddhalochana, Pandaravasini, và Samayatara, là những vị consort của năm vị Phật nam. Trên bình diện hóa thân lưu xuất của trí tuệ là Đức Arya Tara. Đây là những dakini trí tuệ của ba thân.

Thêm vào các dakini trí tuệ, còn có  những dakini thực hiện những hoạt động giác ngộ vì lợi ích của mọi chúng sanh, những dakini samaya (giới nguyện) giám sát cẩn thận những cam kết tantric samaya của chúng ta. Cũng có những dakini sống trong những thánh địa chính và phụ trong thế gian này như: ba mươi hai thánh địa chính và hai mươi bốn thung lũng thiêng liêng phụ, bao gồm tám đại mộ địa, được biết là sáu mươi bốn nơi linh thiêng mà sáu mươi bốn vị daka và dakini cư trú. Tương ứng với sáu mươi bốn địa điểm bên ngoài, trên bình diện vi tế, chư daka và dakini cũng trụ trong sáu mươi bốn trung tâm trên thân thể chúng ta như tinh túy thanh tịnh của các kinh mạch, năng lượng, và tinh chất.

Yeshe Tsoygal cũng là một lưu xuất của Đức Arya Tara. Arya Tara là một lưu xuất của Vajra Varahi. Nền tảng lưu xuất của Vajra Varahi là Prajnaparamita (Trí tuệ) và Samantabhadri. Ba thân nam tương ứng là Phật Phổ Hiền, Phật Kim Cương Trì và Phật Thích Ca Mâu Ni. Thật hoàn toàn sai lầm khi nói chỉ có phái nam mới thành Phật còn phụ nữ thì không, vì cả hai Prajnaparamita và Samantabhadri đều là Phật. Năm phương diện của Vajra Varahi cũng là năm vị Phật toàn giác. Đức Arya Tara xuất hiện trong thân tướng của một bồ tát ở địa thứ mười, nhưng trong thực tế Bà cũng là một vị Phật toàn giác. Ngoài ra, tám nữ bồ tát trong bốn mươi hai Bổn Tôn hiền minh cũng là những vị Phật. Thuộc tính nam, nữ không phải là quyết định tối hậu. Tám nam và nữ bồ tát trong số những Bổn Tôn hiền minh trong trạng thái trung ấm về cốt lõi giống hệt như tám thiên nữ mamo và tám yogini, tất cả phái nữ đều thuộc về Bổn Tôn phẫn nộ. Những vị Phật nam xuất hiện trong tướng người nữ, và ngược lại. Các dakini có thể xuất hiện trong nhiều cách và hình tướng khác nhau, một số có tướng phẫn nộ hay ghê sợ để ngăn chận những tư duy và nhận thức sai lạc.

Cuối cùng khi thực hành Giáo Pháp, thật là tốt khi nhớ lại phẩm tính đặc biệt của hệ thống Kim Cương Thừa theo truyền thống cựu dịch và nhất là giáo huấn Dzogchen là “nâng cao hành vi đạo đức trong lúc hạ mình khiêm tốn trong quan điểm.” Tuyên thuyết này của Guru Rinpoche là một quyết định quan trọng. Nếu chúng ta bắt đầu hành động theo quan niệm cao, thì giống như điên hay loạn trí. Nếu chỉ giữ quan điểm của những thừa thấp chúng ta sẽ không bao giờ gặp cơ hội giải thoát. Quan điểm của một Thanh văn hay Phật Độc giác không mang lại giải thoát trong một kiếp mà phải trải qua sau ba a tăng kỳ kiếp (không thể tính đếm) mới được giải thoát. Chúng ta phải hành động theo những thừa thấp trong lúc vẫn giữ quan điểm của những tantra nội.

TULKU URGYEN RINPOCHE 
Động Asura 1989

NHỮNG GIÁO LÝ ĐI LÊN VỚI HẠNH

Đạo sư Padmakara xuất hiện trong nhiều hình thức khác nhau với nhiều loại y phục. Trong cách thức vượt ngoài tuân thủ, Ngài tuân thủ mọi giới luật từ giới thanh văn cho đến các lời thệ Mật thừa của những bậc Vidyadhara. Ngài khẩu truyền chín thừa thứ bực và như thế chỉ bày cái thấy và hạnh là một thể thống nhất, đi xuống với cái thấy trong khi đi lên với hạnh. Bởi vì tâm Ngài sở đắc sự chứng ngộ toàn giác, với Bồ đề tâm Ngài yêu quý chúng sanh hơn chính Ngài.

Ngài là một hóa thân làm người, một bậc giác ngộ, và nói ra tất cả những lời dạy về làm sao để ứng xử, hành động (hạnh) đã được công chú Tsogyal chép lại.

Đạo sư vĩ đại nói: Bất kỳ giáo lý của những thừa ngoại hay thừa nội nào con thực hành, trước tiên con phải quy y Tam Bảo. Đã có những giới luật làm nền tảng cho sự thực hành của mình[7] , mỗi khi con đi về hướng nào, hãy quy y chư Phật và Bồ Tát của hướng ấy.

Hãy luôn luôn có niềm tin không lay chuyển vào Tam bảo. Làm như thế, con tạo ra một nối kết nghiệp báo ngay từ giờ, và trong tương lai con sẽ trở thành đệ tử của chư Phật. Bởi thế, cần yếu phải cúng dường và cầu nguyện Tam bảo.

Đạo sư Padma nói: Hãy thực hành Pháp thập thiện và hãy có niềm tin vào cái nên tránh và cái nên làm theo các loại hậu quả trắng và đen của những hành động ấy. Làm như thế những hành động của con sẽ giữ được sức mạnh lớn lao.

Bởi vì năng lực của chân lý là vĩ đại, hãy vất bỏ mọi hạnh xấu và tội lỗi, hãy áp dụng phương thuốc trị lại những phiền não của con, và dành cho những hành động công đức một nỗ lực lớn lao.

Người không tích tập công đức sẽ không tạo được một thái độ cao cả. Người tích tập công đức sẽ có một tâm thái cao cả. Một khi con giữ tâm thái cao cả trong hiện thể của con, con sẽ nỗ lực cho điều đức hạnh và kiềm chế với điều bất thiện. Bởi thế cần yếu là phát khởi siêng năng trong mọi loại phương tiện khác nhau cho việc tích tập công đức qua thân, ngữ và tâm của con.

Đạo sư Padma nói: Phát Bồ đề tâm, tâm đặt vào giác ngộ tối thượng, trước khi làm bất cứ một thực hành Pháp nào, là tối quan trọng. Người đã phát Bồ đề tâm sẽ trau dồi tâm bình đẳng, thấy tất cả chúng sanh là những người mẹ của mình, thoát khỏi thiên vị và thành kiến, để có thể phụng sự tất cả chúng sanh.

Trong hết thảy chúng sanh, không có một ai không từng là cha hay mẹ của con. Thế nên như một cách để trả ơn lòng tốt của tất cả chúng sanh, hãy bắt tay làm việc cho hạnh phúc của họ.

Hãy trưởng dưỡng từ bi cho tất cả chúng sanh. Thường trực tu hành Bồ đề tâm. Hãy tự huấn luyện mình làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh qua mọi hành động của con. Hãy tự huấn luyện quý trọng người khác hơn chính con.

Tóm tắt, điểm thiết yếu nhất là quyết định phát Bồ đề tâm phải đi trước mọi thực hành nội và ngoại và những giai đọan phát triển và thành tựu.

Phát sanh Bồ đề tâm là gốc rễ thâm sâu nhất của mọi thực hành Pháp.

Đạo sư Padma nói: Nếu con muốn đạt đến Phật tánh toàn giác bây giờ con hãy tu hành sự hiểu biết rằng tất cả mọi chấp ngã và chấp Pháp đều không có tự tánh.

Bất kể công hạnh gì con có thể dấn thân vào, hãy thấu hiểu rằng mọi hiện tượng là như mộng và huyễn thuật.

Hợp với giáo huấn khẩu truyền của ta, con hãy tu hành tánh không của mọi hiện tượng mà không bám chấp vào sáu ba la mật hay đại bi.

Bằng năng lực thiền định về tánh Không, con cần đi đến chỗ chứng ngộ rằng sáu ba la mật và đại bi được sinh ra cũng như huyễn mộng.

Dẫu con thiền định về tánh Không, hãy chắc chắn rằng nó phải trở thành một trợ giúp cho thực hành đức hạnh và một phương thuốc trị hết những phiền não của con.

Bất cứ thiện căn nào con dấn thân vào, hãy cung cấp nhiên liệu cho nó bằng Bồ đề tâm và không lìa khỏi sáu ba la mật.

Bất cứ con làm điều gì, hãy luôn luôn có ý định tăng trưởng công đức và giảm bớt nghiệp xấu.

Bất cứ hành động thân thể nào con dấn thân vào, hãy biến chúng thành công đức. Bất cứ lời nào con nói ra, hãy biến chúng thành công đức. Bất cứ ý nghĩ nào con khởi lên, hãy biến chúng thành công đức.

Tóm lại, hãy nỗ lực trọn vẹn chỉ cho sự hoàn thiện và đức hạnh của những hành động của thân, ngữ, tâm. Hãy xa lánh ngay cả một việc xấu hay tội lỗi nhỏ nhất.

Nếu con không giữ gìn sự che chở của áo giáp chánh niệm và tỉnh giác, những vũ khí của phiền não sẽ cắt đứt động mạch chủ cho việc đạt đến những cõi cao hơn và sự giải thoát. Bởi thế suốt bốn oai nghi của hoạt động hằng ngày, cần yếu là bảo vệ mình với áo giáp chánh niệm và tỉnh giác.

Đạo sư Padma nói: Trước hết hãy tin vào nhân và quả của những hành động của con.

Hãy nhớ trong tâm chẳng bao lâu chắc chắn con sẽ chết. Cuộc đời này chỉ kéo dài một chốc lát thế nên chớ có nỗ lực cho những sự vật của đời này. 


Hãy nhớ trong tâm tương lai thì kéo dài và hãy nỗ lực cho lợi lạc của tương lai. 
Hãy chuẩn bị và chắc chắn từ bây giờ cho sự lợi lạc của những đời tương lai để con không trượt vào lối mòn thoái hóa. 
Chớ tự phụ về điều gì cả. Nếu con giữ sự kiêu hãnh khi nghĩ rằng con có học, lớn lao hay cao cả, con sẽ không có được phẩm tính tốt đẹp nào. Thế nên hãy vất bỏ tự phụ và tu hành Pháp mà không dao động dù chỉ một khoảnh khắc. 
Hãy áp dụng những phương thuốc chống lại những hạnh xấu.Thậm chí một phiền não hay một việc không đức hạnh nhỏ nhất khởi lên trong con, hãy nghĩ đến nó như là một khổ đau to lớn nặng nề như núi Tu Di không thể chịu đựng được. 
Những hành động được làm với sự nghi ngờ sẽ chẳng thành tựu được gì, thế nên chớ mang giữ một nghi ngờ nào nhỏ nhất. 
Chừng nào con chưa từ bỏ được chấp ngã, bấy giờ hạnh xấu dù nhỏ đến đâu cũng sẽ còn mang lại những hậu quả. Thế nên cần yếu là phải tránh hạnh xấu.

Đạo sư Padma nói: Đã nhận những thệ nguyện của Đại thừa hay tiểu thừa[8] , chớ bỏ chúng dù có mất mạng. Nếu con làm hư hỏng chúng, tối quan trọng là tức khắc sám hối và nhận lại những thệ nguyện.

Một số người khi thệ nguyện của họ bị hư hỏng, trở nên ngã lòng và còn mắc phải những hành động vi phạm hơn nữa. Nhưng giống như tự tẩy uế mình bằng cách tắm rửa và xịt nước thơm sau khi trợt vào chỗ dơ, hãy tịnh hóa những che chướng và những hành vi vi phạm làm sa đọa để cho việc vi phạm giới nguyện không bao giờ tích tập trở lại.

Chớ đồng hành hay làm bạn với người đã làm hư hỏng giới nguyện của nó dù chỉ một giây phút. nếu khi mặc áo trắng mà con đi vào một vũng bùn lầy, chất bùn đen đó chắc chắn sẽ phá hư màu trắng. Tương tự, dù cho những giới nguyện của tự thân con vẫn trong sạch, con chắc chắn sẽ bị nhiễm ô cho những giới nguyện bị hư hoại của những người khác. Còn nếu những giới nguyện của tự thân con không trong sạch, nó đã đen thì không thể bị nhuộm đen. Thế nên hãy rất cẩn thận.

Cần yếu là không sống chung với người xấu hay người đồng hành xấu đã đánh mất những giới nguyện của họ.

Bất luận thế nào con cần bảo đảm cho mình không phải hổ thẹn vì chính mình.

Đạo sư Padma nói: Trong bất kỳ hành động nào con dấn thân vào, chớ làm điều gì trái với Pháp mà điều ấy không trở thành sự tích tập công đức và trí  tuệ.

Chớ ham muốn điều gì khác ngoài Phật quả toàn giác và làm lợi lạc cho khắp cả chúnh sanh.  


Chớ chấp chính điều gì. Bản thân sự tham luyến là gốc rễ của trói buộc nô lệ. 
Chớ phê phán những giáo lý khác và chê bai, coi rẻ người khác. Tất cả mọi giáo lý là rốt ráo không thể phân chia, như vị mặn của muối trong biển. 
Chớ phê phán thừa nào của những thừa cao và thấp. Chúng đồng nhất là con đường để hành trình, như những cấp bậc của một cầu thang. 
Con không thể biết người khác trừ phi con có thể tri giác bằng hiểu biết siêu nhiên. Thế nên chớ phê bình những người khác. 
Trong cái nhìn tổng quát, tất cả chúng sanh trong bản tánh chân thật sâu sa của họ vốn vẫn là những vị Phật toàn thiện. Họ có bản tánh của giác ngộ. Chớ xem xét lỗi lầm và những mê vọng của người khác. 
Chớ xem xét những giới hạn của những người khác mà hãy xem xét làm thế nào con có thể cải đổi chính mình. 
Chớ xem xét những khuyết điểm của những người khác mà hãy xem xét những khuyết điểm của chính con. 
Cái lớn nhất trong mọi cái xấu xa là bám chấp vào thành kiến tôn giáo và phê bình người khác mà không biết tâm thức họ. Thế nên hãy vất bỏ thành kiến như với thuốc độc.

Đạo sư Padma nói: Dù con đã chịu bao nhiêu lần tái sanh từ vô thủy, con đã không hoàn thành lợi lạc cho chính con và cho những người khác. Giờ đây, trong thân thể này, con nên hoàn thành lợi lạc của mình và của những người khác.

Dù con đã nhập thân bao nhiêu lần trong quá khứ, con đã không có cơ hội tu hành Pháp mà chỉ phóng sâu thêm vào ngục tối của sanh tử. Giờ đây hãy nỗ lực tu hành những giáo lý Đại thừa trong khoảng thời gian ngắn ngủi này khi con đã gặp được Pháp.

Hãy đồng hành với những người đức hạnh tăng trưởng. Hãy từ bỏ những bạn bè hạnh xấu tăng trưởng.

Chớ khao khát không ngừng sự vật như một con chó hay một con ma đói, mà hãy nghỉ ngơi thư thả nhờ áp dụng những phương thuốc trị liệu. Nếu con tự làm mình mệt mỏi với khao khát không ngừng, con sẽ làm xáo động tâm thức con bằng việc xấu, và qua đó xáo động tâm thức những người khác nữa. Như thế con sẽ tích tập hạnh xấu.

Nếu con xem chỉ một khó chịu nhỏ là khổ đau, nó sẽ trở thành đau đớn hơn. Con sẽ không tìm ra hạnh phúc trừ phi con để cho tâm thức con nghỉ ngơi thư thả.

Chớ đeo đuổi những khổ đau trước kia. Mọi thứ dù tốt hay xấu đều đã qua đi. Chớ dự đoán trước khổ đau tương lai.

Bất kể khổ đau nào có thể xảy ra với con bây giờ, chớ nhượng bộ nó mà phát triển can đảm thêm nữa.

Trong mọi trường hợp, nếu con không áp dụng những phương thuốc cho tâm thức con, khổ đau sẽ không bao giờ chấm dứt.

Hãy buông xả tâm con trong trạng thái bổn nhiên của nó mà không sửa trị hay làm hư hỏng nó và nhẹ nhàng chuyển nó thành công đức.

Đạo sư Padma nói: Khi con kiên trì thực hành Pháp, điều cần yếu là bằng thân ngữ tâm luôn luôn tu hành mọi hành động thiện căn cho sự lợi lạc của những người khác.

Trước hết, thực hành dần dần điều này với những công hạnh nhỏ nhất. Thỉnh thoảng hãy xét nghiệm xem con có bị ích kỷ làm dơ nhiễm hay không. Con sẽ không thành công nếu con còn giữ lại một chút vết bẩn nhỏ nhất của cái ta. Hãy chắc chắn con không bị làm bẩn bởi sự mhiễm ô của ích kỷ.

Sự khác biệt giữa thừa lớn và thừa nhỏ là sự phát Bồ đề tâm. Sự khác biệtkhông bởi do cái thấy của trí tuệ mà do bởi lòng bi. Bởi thế trong khi giữ gìn cái thấy về trạng thái tự nhiên, con hãy tu hành lòng bi.

Vì lợi lạc của chính mình và của những người khác, con hãy từ bỏ vĩnh viễn khổ đau của sanh tử.

Hãy tu hành lặp đi lặp lại cảm giác từ bỏ đối với sanh tử.

Hãy tu hành nhận lấy trên con gánh nặng khổ đau của những người khác.

Trước tiên hãy tu hành xem mọi chúng sanh như là chính con. Hãy tu hành cảm thấy rằng sự khổ đau của những người khác là khổ đau của chính con. Bấy giờ tu hành yêu quý chúng sanh hơn bản thân con.

Hãy tu hành đại bi, nó tự nhiên hành động vì lợi lạc của những người khác.

Danh từ Đại thừa chỉ đơn giản bao hàm yêu quý những người khác hơn bản thân mình. Đại thừa không bao giờ chứa đựng sự theo đuổi hạnh phúc chỉ cho chính mình mà không nghĩ đến sự khổ đau của những người khác khi tự xem mình là quan trọng hơn.

Đạo sư Padma nói: Nếu con tu hành tâm thức con trong từ, bi và Bồ đề tâm, con sẽ không tái sanh vào ba cõi thấp. Hơn nữa ngay giây phút ấy con cũng sẽ không bao giờ rơi trở lại. Chỉ điều này là giáo huấn khẩu truyền của ta.

Bất cứ nơi nào con đi, hãy giữ Bồ đề tâm trong tâm thức, chớ bao giờ tách lìa sự đồng hành của nó với con.

Bất cứ hành động nào con dấn thân vào, hãy làm nó vì lợi ích của chúng sanh. Hãy tu hành nhìn những người khác quan trọng hơn chính con. Con sẽ đạt được nhiều phẩm tính như là kết quả của sự tu hành này, chẳng hạn như samaya và những thệ nguyện không bị hư hoại. Trừ phi con trau dồi Bồ đề tâm, không thì con không bao giờ đạt đến giác ngộ, dù con có thể thành thạo thần chú và có rất nhiều thần lực.

Tất cả những thành tựu thông thường và tối thượng sẽ đến từ Bồ đề tâm khởi lên trong con người của con. Chỉ điều này là giáo huấn khẩu truyền của Ta.

Đạo sư Padma nói: Dù con có thiền định về tánh Không hay cái gì khác, nó vẫn là một thiền định sai lầm trừ phi nó trở thành một phương thuốc hiệu nghiệm chống lại những phiền não và tánh tầm thường thế tục. Bất cứ thứ gì không chống lại những phiền não và những tầm thường thế tục đều là một nguyên nhân để rơi vào sanh tử.

Nếu bất cứ giáo lỳ nào con nghiên cứu, suy nghĩ, hay trình bày trở thành một phương thuốc hiệu quả chống lại những phiền não cũng như là một trợ giúp khiến cho Pháp thanh tịnh sanh ra trong con, bấy giờ nó được gọi là một giáo lý Đại thừa và không sai lầm.

Bất kể con có thể được ca ngợi nhiều bao nhiêu như giỏi trong nghiên cứu, thuyết pháp và thiền định, nếu ý định của con chỉ là tám mối quan tâm thuộc thế gian, hoạt động của con được gọi là một thực hành tà pháp.

Trong mọi trường hợp, điều cần yếu là thiền định về hình tướng và hiện hữu[9]  (vũ trụ và chúng sanh) như là những ảo ảnh huyễn thuật, để không cho phép sự luyến ái và bám chấp của con càng ngày càng mạnh thêm.

Một thiền giả vĩ đại đơn giản chỉ có nghĩa là thoát khỏi luyến ái và bám chấp.

Đạo sư Padma nói: Phúc lợi và hạnh phúc của tất cả chúng sanh có từ những giáo lý của Phật. Thế nên hãy học những tantra, kinh điển và nghe lời dạy của những bậc Đạo sư.

Những hành động và kết quả của chúng là hạnh phúc và khổ đau như những hạt giống lớn lên, thế nên hãy phân biệt giữa hành động tốt và xấu.

Nếu con không tuân thủ những thệ nguyện của con, gốc thực hành Pháp của con bị hư thối. Hãy bảo vệ những giới nguyện của con cẩn thẩn như hai con mắt mình.

Trong mọi trường hợp, nếu con không có niềm tin khi thực hành Pháp, cố gắng của con sẽ uổng phí, và điều gì con làm đều sẽ vô ích. Trong bất cứ điều gì con làm, cần yếu là thoát khỏi nghi gờ và không tin.

Đạo sư Padma nói: Một số người tự gọi mình là hành giả Mật thừa và dấn thân vào một cách cư xử thô lỗ nhưng đó không phải là hành động của một hành giả Mật thừa.

Đại thừa nghĩa là yêu quý hết thảy chúng sanh với một lòng bi không thiên vị.

Không thể tự cho mình là một hành giả Mật thừa mà rồi không chịu làm hạnh tốt và không bỏ hạnh xấu. Đối với mọi hành giả Mật thừa, điều cốt yếu là trau dồi đại bi trong con người họ.

Không phát khởi lòng bi trong con, con sẽ trở thành một người không phải là Phật tử với những quan kiến sai lầm, dù cho con có tự cho là một hành giả của Mật thừa.

Đạo sư Padma nói: Mật thừa có nghĩa là Đại thừa, Đại thừa có nghĩa là làm lợi lạc cho những người khác.

Để làm lợi lạc cho những người khác con phải đạt được ba thân của quả. Để đạt được ba thân con phải gom góp hai thứ tích tập. Để gom góp hai thứ tích tập con phải tu hành Bồ đề tâm. Con phải thực hành những con đường phát triển và thành tựu như một thể thống nhất.

Trong mọi trường hợp, một hành giả Mật thừa không có Bồ đề tâm là hoàn toàn không xứng hợp và cũng không phải đang thực hành Đại thừa.

Đạo sư Padma nói: Đại thừa và Kinh thừa[10]  nói là hai nhưng rốt ráo chúng là một. nếu con không có cái thấy hay hạnh, con sẽ lạc thành một thanh văn. Thế nên hãy đi xuống với cái thấy trong khi đi lên với hạnh. Tối cần yếu là thực hành hai cái này như là một thể thống nhất. Đó là giáo huấn khẩu truyền của Ta.

SAMAYA

Đến đây hoàn tất giáo lý về đi lên với hạnh. Lời dạy này được ghi chép ở chỗ ẩn cư trên cao Chimphu vào ngày tám tháng cuối của mùa hè năm Con Thỏ.



Dấu ấn kho tàng. 
Dấu ấn che dấu. 
Dấu ấn giao phó.

 

 



QUY Y



tải về 237.73 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương