Thơ CỔ Á RẬP



tải về 428 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích428 Kb.
#3352
1   2   3

The fury of griffins and politics

Should be forbidden to contaminate
này mấy bác biện gia biện chứng

kiến thức đủ điều

thi nhân bọn ta kính nhi viễn chi lý sự

nhưng xin nhớ sức mạnh suy tư

sẽ biến đi tất cả

nếu gạt bỏ đam mê, nhân ái, nhân từ


Tell the severe master of dialectic

You have learned something and we honour it

But your power exterminates itself

As long as you omit

Passion and compassion and charity,

The berry in love with itself


Bạn trẻ ơi !

hãy nhanh lên nhé

vườm ươm đào nở rộ giờ qua

chiến trận còn mãi tận đồi xa

tiếng ca vẳng lên từ lồng chim treo đầy lòng đất

hót vang lừng cho tới khi mạch máu ta say căng tựa giây đàn

đất nở hoa

bốc đằm men rượu

tuổi trẻ qua đi chẳng bao giờ trở lại

hãy cùng ta rót rượu liên tục

thành dòng sông chảy vòng tròn từ sáng tới đêm!
hãy chờ xem

nếu bạn bắt kịp được khoảnh khắc

nàng men kia

ưng ý sẽ gật đầu

Bản Anh ngữ của H. Hawarth và Ibrahim Shukrallah
Gió Nam ẩm mang mưa nguồn xối sả

trên cát hoang, xưa cây cỏ xanh tươi!

lạc đà long nhong, mặc sức phi sa mạc

trời đất mênh mông chẳng vướng bóng người


dọc ngang, xương rồng, mimosas

thỏa thú đi săn, chó sói chó đen hú rợn da,

chàng du mục Ả Rập mặc dù đói khát

sống ngang nhiên, ngụm sữa ngọt lạc đà

sinh thú là đây, cần chi tìm hạnh phúc đâu xa?
Let the south wind moisten with rain the desolate scene

and Time efface what once was so fresh and green!

Make the camel rider free of a desert space

where high bred camels trot with unwearied pace

where only momosas and thristles flourish, and where,

for hunting, wolves and hyenas are nowise rare !

Amongst the Bedouins seek not enjoyment out:

What do they enjoy? They live in hunger and drought,

Let them drink their bowls of milk and leave them alone

To whom life’s finer pleasures are all unkown.


trích theo RA Nicholas từ Diwan des Abu Nowas, Die Weinlieder.
Abu’ L-Atahiya
Nổi danh với loại thơ bình dị, ai đọc cũng hiểu, gọi là ngôn ngữ ngoài chợ -the language of the market place, mặc dù thơ ông diễn đạt triết lý tôn giáo khắc kỷ (asceticism-tức zuhd), nhìn cuộc sống phù du ảo mộng khổ đau :
Bốn bề đau khổ thê lương

đời là giấc mộng, mây vương bóng mờ

ngày đi, đi khuất, cơn mơ

sáng mai lại bốc một tờ hơi sương


On all sides only trouble and dismay

...a dream, the shadow of a cloud; the day

which hath but now departed, nevermore

to dawn again; a glittering vapour gay...


Sinh con đẻ cái trao Thần Chết

xây nhà xây cửa cho cát bụi biển dâu

xây dựng cho ai, chính ta một ngày ôm đầu

trở về nguồn sinh tử đất nâu !

...Ôi! Tử Thần, chẳng dùng lời dùng sức

lúc hiện ra, ai là kẻ thoát thân?

...Ôi! Thời gian, chẳng buộc được chân

tặng ta đời, rồi lấy lại quà tặng phù vân !


Get sons for death, build houses for decay!

All, all, ye wend annihilation’s way.

For whom build we, who must ourselves return

into our native element of clay?

...O Death, nor violence nor flattery thou

Dost use, but when thou com’st, escape none may.

...And, O Time, how do I behold thee run

To spoil me? Thine own gift thou tak’st away!


Ông để lại những câu thơ như phương ngôn :
“ Đời như rắn độc, sờ thì mềm, nọc phun ra”

The world is like a viper soft to touch that venom spits

“ loài người giống như tửu đồ ngồi quanh uống rượu,

chuyền tay nhau ly rượu Tử thần”

Men sit like revellers o’er their cups and drink,

From the world’hand, the circling wine of death


RUDAKI ( ?- 920) Thi sĩ Ba Tư
XUÂN
Thiên nhiên dựng một đạo quân

có ông tướng gió xoay vần mây mưa

chớp lòe sấm nổ giông đưa Thiên nhiên dựng một đạo quân

ngàn ngàn binh mã cũng chưa mạnh bằng


Mây đầm đìa, sấm ran ran

mặt trời lấp ló kẻ gian trốn tù

thoát ra khỏi rặng mây mù !
Xa xa uất kim hương sa mạc nở hoa

giống ngón tay cô dâu nhuộm phẩm đỏ henna


liễu phất phơ chị họa mi ca hát

hồi âm mới lạ

chú bồ câu từ cành thông vạn niên quen nhà.
....Nature has raised an army

rain-clouds marshalled by a gentle wind,

storm lit path

thunder step,

I have seen a thousand armies

but never one like this


Look at the cloud weeping

listen to the thunder sighing,

from time to time the sun comes out

between the sullen clouds

like a prisoner

escaping from his guard.


...In the distance, the desert tulip gleams

like a bride’s finger dyed with henna;

the nightingale is singing in the willow,

the pigeon in the cypress,

strange melodies,

answering,

familiar.

trans. by Geoffrey Squires

CẦU NGUYỆN
Mặt quay về Mecca

nhưng quay để làm gì ?

khi lòng hướng về quán rượu Bokhara?

tuyệt mỹ giai nhân chờ ta

lời yêu đương thỏ thẻ

quên cầu kinh Chúa cũng dung tha !

The face is turned to Mecca

but what’ s the use?

the heart goes out to Bokhara

and the stately ladies there.

God will accept the whisperings of love

and ignore the prayer....

Al Mutanabbi
Thi hào Al Mutanabbi, 915- 965, con một người gánh nước, sống và viết dưới triều đại Hamdanid ở Syria, từng theo học ở Damascus và cũng từng sống với dân du mục Ả Rập, từng ngồi tù vì đám lâu la tôn xưng ông là nhà tiên tri! sau ra thoát tù ông được trọng dụng ở vùng Aleppo triều vua Sayfu suốt 9 năm, 948- 957. Bất mãn, ông đi Ai Cập, gặp ông vua da đen xuất thân nô lệ, ông lại bỏ đi Baghdad. Ông bị đạo tặc giết chết trên đường chu du tới Babylonia năm 965.
Hậu thế xưng tụng ông là nhà thơ lớn nhất của Ả Rập, một ngòi bút tân cổ điển neoclassist, kết nối cổ với kim, trộn châu ngọc với gạch đá. Thơ ông không được thế giới biết mấy vì ông dùng ngôn ngữ vi tế trác tuyệt chỉ người Ả Rập mới thưởng thức sâu xa được, khi dịch ra ngoại ngữ những tinh hoa ấy bị mất đi rất nhiều. Vài đoạn sau đây chỉ phản ảnh phần nào cái hay của thơ ông :
Lời ta ca làm người mù mở mắt

lọt vào tai kẻ điếc người câm

măc ai chỉ trích sai lầm

như chim vỗ cánh ta nằm qua đêm

..... Ta là chim sáo cho đời

nơi nơi im bặt, vang lời ta ca

thời gian ghi dấu bút hoa

từng dòng ta nhả ngọc ngà vọng âm

My songs gave eyes to the blind, ears to the deaf,

Set the critics flapping like nightbirds,

Set me at rest all night on my bed.

.... And desert every voice but mine, for I

Am the singing lark, the rest are echo,

Time is my scribe and my register

It follows me singing the words I drops.
H.Howarth and Ibrahim Shukrallah
Bạn ta, sa mạc, đêm đen, kỵ mã

gươm giáo chiến trường, giấy trắng bút hoa!


The desert knows me well, the night, the mounted men

The battle and the sword, the paper and the pen!


Thơ ông rất đẹp :
Sao lóng lánh rọi bừng đôi mắt

vì sương mờ tỏa ánh sao lên


The radiant stars with beauty strike our eyes

Because midst gloom opaque we see them rise


Nàng vén màn che, phút biệt ly phủ mặt xanh xao

trên má nàng dịu mát

hai dòng châu lệ vàng ngọc tuôn trào
Nàng buông xõa ba lọn tóc đen dài

đêm ấy đen, thêm ba lọn, bốn đêm hao!

khi nàng ngửa mặt nhìn vòm trời trăng sáng

ta thấy hai vầng, cùng tỏa loáng nguyệt quang


She uncovered: pallor veiled her at farewell:

No veil’ twas, yet her cheeks it in shade.

So seemed they, while tears trickled over them,

Gold with a double row of pearls inlaid.


She loosed three sable tresses of her hair

And thus of night four nights at once she made;

But when she lifted to the moon in heaven

Her face, two moons together I surveyed.


Áng thơ tuyệt đẹp trên, cực tả nét giai nhân, tương truyền được ngâm nga trong tửu quán, khu ả đào, cả trăm năm nay. Ông hay dùng tiểu đối, ý tứ hàm súc linh hoạt :
Tôi chỉ là mũi tên bay trời cao

đến lúc rơi, chẳng biết tựa nơi nào!

I merely an arrow in the air

Which falls back, finding no refuge there


Người già kêu than Trời ơi

là than thân già yếu chứ không than chán đời

When an old man cries “Ugh!” he is not tired

Of life, but only tired of feeblesness.


Trí não làm người hiền thấy khổ

giữa lúc được sung sướng

Kẻ ngu si

vui sướng ngay lúc đau thương


The sage’s mind still makes him miserable

In his most happy fortune, but poor fools

Find happiness even in their misery.

Abul Ala al MAARRI 973-1057


Sinh ở Syria, trên con đường lữ hành đi Damascus. Ông là nhà văn, nhà thơ, triết gia, có khuynh hướng bi quan yếm thế vào thời xã hội suy tàn, chính trị rối ren. Thuở nhỏ ông bị bệnh đậu mùa, mù cả hai mắt, nhưng lại có trí nhớ cực tốt. Ông sống nghèo nàn, hay đi giảng thuyết về thơ văn Ả rập, tư tưởng phóng khoáng mà tiêu cực :
Bốn phương bốn cột chống trời

Hóa công bày vẽ lò Thời lò Không

thế gian người ngợm bỏ thùng...
The pillars of this earth are four

which lend to human life a base

God shaped two vessels, Time and Space,

The world and all its folk to store.


A ! ai sẽ nặn ta, cục đất, vô tri, sỏi đá?

thổi linh hồn nhào kết với thịt da

hồn xác cả hai cùng lo âu sinh tử

Gió ơi gió, hãy lặng im gió dữ

Lửa thiêu ơi, hãy tắt, phép lửa ma!
Ah, who to me a frame will give

As clod or stone insensitive?-

For when spirit is joinedd to flesh, the pair

Anguish of mortal sickness share,

O Wind, be still, if wind thy name,

O flame, die out, thou art flame!

Abu Ala mất năm 84 tuổi, giữa lúc đang nổi danh, trở nên giầu có nhất vùng , học trò cả 200 người, có ảnh hưởng xã hội vì tuy không tham gia chính sự nhưng ông chính là một “ đứa con của thời đại” ( I am the son of my time).
Trong thời đại Hồi giáo cực thịnh này, khuynh hướng thi ca khai phóng chống lại giáo điều vẫn tiềm tàng trong tông phái Sufi cởi mở hơn :
Ngày nay Hồi giáo gập thời

mai kia đạo khác tới kỳ nổi lên

Thế nhân thân phận thấp hèn

cầu thần xin thánh, chẳng quen một mình


Trời trên cao, bao giờ với tới

đời tự do trong cũi huyền không

đố ai rũ sạch mây chồng

đố tên nô lệ phá gông bỏ xiềng ?


Now this religion happens to prevail

Until by that one it is overthrown,-

Because men dare not live with men alone

But always with another fairy-tale

God is above. We never shall attain

Our liberty from hands that overshroud;

Or can we shake aside this heavy cloud

More than a slave can shake aside the chain ?

translated by Henry Baerlein
Những ông sao thiên sứ trên cao

ngày ăn một lần chưa thỏa

xóa từng bang nuốt từng nước từng châu

Trái đất này dù đẹp như cô dâu

giết bao tấm chồng, vẫn nguyên mầu trinh trắng

hãy nâng ly, nốc một hơi cho cạn

ngà voi vua cong ghê rợn treo kia
The stars deny one a day’ rations

Feed the other the corpus of nations

This earth, though often a bride, has killed

Her many grooms, and is still maiden.


Cup your right hand and drink clean

The curve of the royal tusk is obscene.


Al ANDALUSI 994- 1064
BÂY GIỜ TUỔI ĐÃ GẤP ĐÔI
Bạn hỏi ta bây giờ bao tuổi?

Nắng bạc da mồi

Răng rụng

tuổi tác bao nhiêu?


không nhớ

trong tim này chẳng có lịch treo thân!

ngoại trừ nhớ nụ cười ân cần

một thoáng hôn

nàng bất ngờ trao

trên trán hôm nao!


giây phút thoáng qua

giờ là tất cả đời ta

chuyện dài chuyện ngắn

đều để lại hương xa


You ask me how old I am

bleached by the sun

my teeth all gone

How old I am?


I have no guide

no calendar inside

except a smile

and little kiss

she gave me

by surprise

upon my brow

And now


that little while

is all my life

and all reality

how long or brief

it seems to be.

trans. by Omar S. Pound


Ibn Iyad 1083- 1149

Đồng Lúa
Nhìn cành lúa chín

trĩu xuống đầu gió

như hàng đoàn kỵ mã

thua chạy, máu chảy

từ vết thương chùm hoa đỏ tươi.


Grainfield

Look at the ripe wheat

bending before the wind

like squadrons of horsemen

fleeing in defeat, bleeding

from the wounds of the poppies

trans. by Cola Franzen
Abu Amir ibn al-Hammarah - mất 1180
MẤT NGỦ

Cái ngủ như con chim

định vào mắt ta làm tổ

nó thấy lông mi

tưởng là lưới bẫy

sợ hãi bay đi.


INSOMNIA

When the bird of sleep

thought to nest

in my eye

it saw the eyelashes

and flew away

for fear of nets.

trans. by Cola Franzen


Anvari - mất 1190
SAY

Uống nhưng không say

ta chẳng hại ai, chỉ mài hũ ruợu

tôn thờ tiên tửu

còn hơn ngươi, thờ cái ngã vượn hươu!
DRUNKENNESS
I drink but don’t get drunk:

I abuse nothing but the goblet:

I worship wine in order to avoid

worshipping self, like you.

trans. by G. Squires
TRỜI CHO GÌ CŨNG NHẬN
Trời cho gì cũng nhận

dù là chút cỏn con

quà cỏn con đối với Trời rất lớn

được một lần

như da qui đầu cắt thuở còn non.
TAKE WHAT HE GIVES YOU
Take what he gives you, even if it’s paltry-

To this Lord paltry’s quite a bit

A gift from him’s like being circumscised-

Once in a lifetime, and that’s it!

trans. by Dick Davis
Attar - 1120- 1220

Ông sinh gần Nishapur, từng làm nghề bán dầu thơm, sau bỏ đi tu theo tông phái Sufi. Viết 40 tác phẩm với hai trăm ngàn câu thơ. Nổi tiếng nhất là tập Hội Nghị Của Chim- Mantik al Tayr- với 30 con chim bàn tính đi tìm chân chúa –Simorgh- bay qua sáu thung lũng: Tìm Kiếm, Tỉnh Thương, Tri thức, Giải thoát, Hợp nhất, Thác loạn, Tự hủy...ba con chim tới được thung lũng thứ bảy, Tự Hủy, biến thành cát bụi, sau lại tái sinh thành ánh sáng tan hòa vào Chân lý Simorgh.


BẦY CHIM HỌP BÀN

CỬ CHIM ĐI TÌM CHÂN CHÚA


.....Đường rất dài, chớ mê lầm là ngắn

biển mênh mông, qua sa mạc đèo heo

hãy nghĩ kỹ, trước khi bay tìm kiếm

hành trình gian nan, lòng sư tử quyết theo!


( các chú chim lần lượt thoái thác )

....Tôi yêu đại dương, nhưng loài chim bạn biết

tránh nước sâu, bờ vắng ngắt, thở than

mỏ khát khô, giọt nước mặn, chịu khan

Giả thử mức biển khơi rút xuống

một giọt thôi, ta cũng lên đường chẳng kêu van.


.....bạn chẳng biết, mặt đại dương dậy sóng

cá mập lượn quanh, giông tố hoành hành

chợt có lúc biển êm sóng lặng

rồi đục ngầu, muối mặn, xác tầu ghe

con nước xoáy chìm trong vòng hư ảo...

biển bất trị, biển vô luân, ai tin được biển

sóng đánh cao, bạn sẽ ngã lộn nhào

THỜI HỒI GIÁO PHƯƠNG TÂY


Trong vùng Hồi giáo phương Tây từ 711- 1492 (còn gọi là Moorish), gồm vùng Bắc Phi Tunisia, Marrocco... lên tới nam Tây Ban Nha Spain (như Granada, Seville.. gọi chung là Andalusia), nhiều nhà thơ xuất hiện tranh đua với văn hóa phương Đông tức vùng xuất phát Trung Đông, Baghdad Iraq. Họ sở trường về hai thể thơ muwashshah và zajal (hay ghazal), chuyên dùng điệp khúc để ca hát ngâm nga, có lẽ giống thể thơ hát nói ả đào của ta. Theo Ibn Khaldun (Les Prolégomènes) mỗi triều đình Hồi giáo ở đây có hàng trăm thi sĩ với các kỳ thi thơ hào hứng, một thi sĩ mù, el Aama et Toteli, chiếm giải nhất với hai câu thơ tuyệt tác :


Khi nàng cười, hiện ra hàng châu ngọc

nàng vén khăn, lộ vầng trăng tiên nga

vũ trụ chật hẹp không chứa nổi nàng

nhưng nàng vẫn bị nhốt đáy tim ta!


When she laughs, pearls appear;

when she removes her veil, the moon is seen;

The univers is too narrow to contain her;

yet she is enclosed in my heart.

( trích theo Will Durant)
tương truyền các thi nhân nghe xong hai câu thơ trên đều tự xé bài thơ dự thi của mình đi, không dám đọc lên nữa!
Ibn Abd Rabbihi 860- 940
DA TRẮNG
Gương mặt trong sáng

tuyệt mỹ giai nhân

mỗi khi nhìn gần

thấy ta phản chiếu


Ibn Faraj
TRAI TƠ
Nàng sẵn sàng trao thân

ta ngại ngần

Sa Tăng quỷ cái

tiết dục kiềm chế mê tâm...


Nàng đến canh khuya

kéo màn che mặt

mỗi lần đưa mắt

trái tim này thắt lại lật nghiêng!


Như thế bên nàng cả đêm

tựa chú lạc đà con khát sữa

mõm bịt dây cấm bú mẹ nằm bên!
Nàng thơm như vườn trồng hoa trái

ta ngửi hương e ngại bẻ trên tay

như thế đấy, khác súc sinh trâu ngựa

giẫm nát vườn vì tưởng đất đồng hoang.


Idris ibn al Yamani
BE RƯỢU
Mấy bầu be nặng

mang đến bên ta

đổ đầy tiên tửu

bốc nhẹ bay xa


như xác thân ta

linh hồn nhập vào

thoát bổng trời cao
Ibn Hazm 994- 1063
RẠCH TRÁI TIM TA CHỨA LẤY NÀNG
Ước gì dao rạch trái tim

đặt nàng trong đó đóng im ngực này

Phục sinh Phán xét tới ngày

thiên thu em vẫn trong tay gã cuồng

sống cả đời, chết còn thương

ôm em theo xuống mồ xương đôi mình.


Abu I Hasan al Husri- mất 1095
ĐỂ TANG
Mầu trắng khăn tang

tục lệ xóm làng

nhìn ta trắng tóc

thương khóc ngày xanh


MOURNING IN ANDALUSIA
If white is the color

of mourning in Andalusia

it is a proper custom.
Look at me

I dress myself in white

of white hair

in mourning for youth.

trans. by Cola Franzen
Abu Bakr al Turtushi
VẮNG EM
Đêm đêm nhìn trời cao

tìm mắt em cùng ngắm một vì sao


Hỏi thăm tứ xứ

có ai từng gặp

ngửi mùi hương em tỏa thanh cao?
đứng chờ đầu gió

thổi vào mặt nôn nao

tin em từ tám phương nào thoảng qua?
Lang thang ngõ ngách

bước quẩn bước quanh

may ra khúc hát gợi thành tên em
gặp ai ta cũng liếc xem

họa chăng đôi nét êm đềm dáng xưa


Abu Hasan al Quabturnuh - thế kỷ XII
GIỮA TRẬN
Giữa chiến trường sôi sục

ta bỗng nhớ Sulayma

ngày xa nàng chinh chiến

cũng sôi sục thân ta

Giữa giáo dài trăm ngọn

ta thấy dáng em thon

địch quân xô lại gần

ta ngỡ em, ta ôm!


Abu Jafar Ahmad ibn Sa’id
MỤ ĐƯA GÁI
.. Gần xa, nhà nào cũng tới

áo choàng vai không kịp gấp

bận hơn cờ phất

giữa trận tiến quân


Có lẽ chẳng biết đường vào thánh thất

nhưng thuộc lòng quán rượu lầu hoa


...lưỡi ngọt nói cười đon đả

lửa với nước, một tay mụ biết pha!


Ibn Safr al Marini
ĐÊM ÁI ÂN
Nàng đến như bình minh

rực lên giữa đêm tối

như làn gió lướt

trên sóng sông xanh


vũ trụ ngào ngạt hương chung quanh

báo hiệu nàng đang tới

như mùi thơm vườn tược

bay phía trước cánh hoa


tôi đi trên gót nàng đi

hôn từng bước ngọc đếm từng vết chân

như người đọc sách ân cần

tầm chương trích cú từng dòng mực tiên


đêm vào một giấc quỳnh miên

tình ta vẫn thức trên miền đào tơ

bụng thon như trúc, mặt mơ

trăng nghiêng đồi cát đôi bờ mông em


nửa đêm ôm ấp thân mềm

nửa đêm hôn hít tới thềm nắng lên....


Ibn Sa’id al Maghribi
MẶT TRẬN
Ôi Thượng Đế, cờ tướng quân phần phật

như bầy chim

vây kín địch quân
Đầu ngọn thương

chấm từng câu lưỡi gươm dài viết chữ

bụi tung trời cát ráo mực khô

máu vọt hương sực nức trận thơ


THE BATTLE
Oh God! The knights’ banners

flutter like birds

encircling your ennemies.
Lances punctuate the writing

of the swords;

dust like fine sand dries the ink;

blood perfumes it.

trans. by Cola Franzen

Ibn Abra


NỐT RUỒI
Nốt ruồi trên má ngọc

dính chặt mắt các chàng

ái tình ai thề nguyện

nằm vườn hoa huy hoàng

luống hồng hơi thơm ngát

nâng niu bàn tay nàng


THE BEAUTY SPOT
A mole on Ahmad’s cheek

Draws all men’s eyes to seek

The love they swear reposes

In a garden there

The breathing bed of roses

In a Nubian’s care

Trans. by H. Morland
Ibn Sara
BẮN SAO

Gã ngắm sao thấy quỷ tinh xuất hiện

ngang cổng trời

chồm lại gần, lửa xẹt cháy mây

tưởng như chàng kỵ mã phóng ngựa tung bay

khăn quấn đầu xõa tung một giải

lóng lánh phía sau luồng châu báu buông dài

THE SHOOTING STAR


The watch- star saw a devil-spy, that came

On evil work

At heaven’ gate lurk

And leapt against him in a path of flame

And seemed a burning cavalier

Whose swift career

Unbinds his turban till it streams

Behind, so jewelled that it gleams.

Trans. by H.Morland
Wallada - mất 1091
Nếu chàng giữ đạo vợ chồng

tất không quáng mắt phải lòng con sen

chàng bỏ cành to đi ôm cành hèn

thiếp nguyện làm mặt trăng, Trời cao độ phần

Trời chẳng dung chàng, sao độc sẽ đụng thân!

Haj - mất 1189


Môi em là dòng suối

tóc em là bóng dâm

sau một ngày làm lụng

mời anh hãy dừng chân


Đêm nay trời lặng như tờ

ta tìm sấm chớp toan nhờ hỏi han

hỏi người yêu, nhớ ta chăng

tim ta thắt lại, mắt giằng dặc mưa!


Abdulla

Sương đầu cỏ hoa

như đoàn kỵ mã

gió thúc roi, quất xuống hoa rơi

cả cánh đồng đứng lên

chực phi lồng


SADI


Văn thi sĩ Ba Tư - mất năm 1292
Tác giả ba tác phẩm được người Ba Tư ưa thích nhất : Tập Bustàn Vườn Cây, tập Gulistan, Vườn Hồng và tập Dìvàn, Thi Tập. Ông thuộc loại nhà văn kể chuyện (storyteller), bút pháp giản dị, bình dân, châm biếm hài hước người đời. Thân phụ ông làm quan trong triều vua Thổ ở Chiraz, cha mất sớm, ông được vua nhận làm con nuôi, mộ đạo Hồi, thời trẻ học ở Baghdad, sống tới năm 1292 mới mất. Ông từng ngao du khắp miền Trung đông, sang Ấn, Ai Cập, Bắc Phi...trải qua nhiều gian khổ, không có đến cả giầy để đi, cho tới lúc gập người cụt cả hai chân, ông mới “ cảm ơn Thượng đế đã thương mình”, sang Ấn ông giết một tên mua thần bán thánh, bịp bợm đặt máy quay tay chân tượng để tín đồ tin là tượng thiêng ban phép thần thông! ông viết :
Nếu ngày kia bạn gặp kẻ gian tà

hãy ra tay đập chết, không tha

nếu bạn bỏ qua, cho chúng sống

sẽ có ngày chúng giết hết bọn ta!


lần ấy tôi lấy đá đập vào đầu tên ác

kẻ chết rồi, hết bày chuyện quỷ ma.


Ông từng chiến đấu trong trận Thập Tự Chiến, bị địch bắt sau được thả nhờ một ân nhân chuộc mạng. Để đền ơn, ông lấy con gái vị ân nhân, rút cuộc cũng phải ly dị vì nàng thuộc loại ác phụ ! ông từng than : “vòng dây giai nhân là vòng xích buộc chân lý trí “ ( the ringlets of the lovely, are a chain on the feet of reason), nhưng chính ông còn bị vòng xích giai nhân buộc nhiều lần, cho mãi tới năm 50 tuổi ông mới quyết định sống ẩn dật một mình và sáng tác trong khu vườn Shiraz suốt nửa đời còn lại.
Những đoạn thơ trữ tình của ông chất ngất lửa đam mê:
Phải chăng gió thổi vườn xuân

hay hương đôi lứa một lần gặp nhau

làn thu thủy, nét mày cau

lòng ta rời rụng tim đau mấy lần


Này cánh chim, vào lưới tim làm tổ

từng đêm dài ta đèn nến hòa tan

lửa tình yêu đáy lòng ta cất dấu

mặc sáng sáng vang lời kinh cầu

ta chỉ nghe chuông đoàn lữ hành với vó câu.
cán bút tre vẫn bùng bùng lửa cháy

mực trào ra khói mù mịt tầng mây !


Is this spring wind a garden

Or the fragrance of friends meeting ?

Her eyesbrows, like beautiful writing,

Carry off my heart.

O bird, taken in the heart’s net,

This time, return and nest.

At night the candle and I melt,

But my fire is hidden.

.....When the muezzin sings

I hear the bell of a caravan

....Fire burn this reed pen

This flowing ink is smoke


Rèm mây che trăng rằm

hay búp tay nõn nà tiên nga nhuộm thắm ?

nét mày cong nàng tô chàm thật đậm

buộc tim ta

hay cầu vồng vắt ngang mặt trời xa ?
Hồn anh trên môi hoa

mắt anh trên lời ca

mặt em khung cửa sáng

mở lên cõi tiên nga

Bao trái tim ngon ngọt

em cắn giữa vành môi

lửa tim anh bùng cháy

nước dập mãi không thôi !

khuôn mặt em trời nặn

khuôn nhân gian bỏ đi !

cả đô thành náo động

đêm ngày trong tình si !


Tuổi trẻ vụt qua chớp nhoáng

vội vã lên, hưởng từng phút từng giây

đời trôi qua

thời gian chó sói chẳng tha

nhân loại nhỏ nhoi hạt thóc

trời vần tựa cối xay

chính càn khôn cha đẻ đặt bày !

.... Cổ ta khát, tửu bảo, ngươi chạy đâu ?

chạy đâu ảo ảnh cũng hầu bủa quanh!

Is that full moon veiled,

Or does the houri have her hand in dye?

And is it indigo on her eyebrows

Which tie the heart,

Or a bow of rainbow across the sun?


.....My soul on your lips, my eyes on your speech

Your face is a gate to Paradise,

Hearts are meats for your salty lips.

I said, throw water on the fire

But this fiery heart is not dampened by water.

.....Whaterver one build is ruin

By day and by night your face

Is notoriety of the city

The anarchy of the crowd.

.....The flash of youth is lightning

Acquire hastily each moment what you can;

Hurry, for life speeds.

This wolf -hunger is without compassion

and never satiated.

We son of time are grains of wheat

and the turning sky is the mill.

.....O weary thirst, where have you run?

Your road is a mirage.


Đất xanh tươi, lòng ta vui sướng

Trời đất xanh vì em đến nơi đây

ta bỗng thương cả thế gian vũ trụ

vì đất trời em ôm trọn vòng tay


mang thương đau với tấm lòng thành khẩn

vì chính em là thuốc giải giận hờn

nếu vết thương lòng ta không hàn gắn

mắt em đưa cũng xoa dịu nguồn cơn

Bậc hiền nhân chẳng phân sầu với lạc

đưa rượu đây ! ta vui thú tiêu dao

vết thương đau, được nàng ban thưởng đó

vua hay dân, chẳng trên dưới thấp cao


tới cổng quán, hãy vì nàng, cúi xuống

nếu mai đây cơn nước lụt ngập tan

bền lòng vững gan, thiên thu bất diệt

nhờ có nàng nền móng vẫn bình an.


I am happy in the green world

For the world is green because of her.

I love all the worlds

Because every world is hers.

.....I bear pain with devotion

Because she also my remedy

If my bloody wound does not heal,

All the best! Every moment

This wound is cooled by her unguent glance

Does wisdom distinguish joy and sorrow?

Give me wine! I rejoice

That my wound is from her

The royal and the poor are one to me.

Everyone at this gate

Bends their back for her.

Sadi, if the flood destroy this

Sorrow’s house, strengthen your heart,

For the foundation of eternity

Is strong because of her.

Trans. by R.M. Rehder


Bẫy nàng bắt nạn nhân tình lụy gần xa

đánh cắp về , mong dụ nàng ở lại bên ta,

dẫu được thế, chẳng dám vuốt ve tóc rối

sợ chạm bao trái tim mắc lưới tựa chim sa


em thướt tha như cành cây trắc bá

thân ngọc ngà, đào nhường hương, rực rỡ át tường vi

chân nhẹ bước giẫm hoa nhài, hoa đậu

chúa xuân ghen, từng bước nhẹ nàng đi


gót tiên nga dẫu dẵm lên xác chết

em chớ ngạc nhiên, dưới khăn liệm, tiếng tình si!

The noose wherewith she is wont to snare her victims far and wide

I will snatch away, so that one day I may lure her to my side

Yet I shall not dare caress her hair with a hand that is overbold,

For snared therein, like birds in a gin, are the hearts of lovers untold.


...Oh cypress tree, with silver limbs, this color and scent of thine

Have shamed the scent of the myrtle plant and the bloom of the eglantine.

Judge with thine eyes, and set thy foot in the fair and free

And tread the jasmine under thy foot, and the flowers of the Judas tree...

O wonder not if the in time of Spring thou dost rouse such jealousy...
If o’er the dead thy feet should tread, those feet so fair and fleet,

No wonder it were if thou shoudst hear a voice from his winding sheet.


Brown ( Literary History II- from Will Durant)

Ông từng viết ngòi bút “ mực hòa vơí nước mắt”, và chẳng ai có thể cấm được người ta khóc, cũng như chẳng ai đổi được dòng nước sông Tigris. Viết về cái chết ông quyết liệt :


Khi hồn lìa vĩnh biệt

mọi danh y thần dược cũng bó tay

như xác lừa chẳng bao giờ sống dậy

dù kéo hai tai, hay cố sức giựt đuôi!


When once the soul is ready to depart, sir,

All surgeons and their science are sure to fail,

Since no dead donkey’s going to stand again

However much you pull its ears or tail.

Dick Davis ( World Poetry)
Tập Vườn Hồng gồm nhiều vần thơ và giai thoại tuyệt tác :

- Một ông vua độc ác hỏi nhà chân tu : “ Có cái gì tốt lành hơn là cầu nguyện không ? – nhà tu đáp “ cái đó là ngủ trưa vì khi ấy nhà vua không làm khổ thiên hạ được!”

- Mười nhà tu có thể ngủ chung một tấm thảm, hai ông vua không thể ở chung một vương quốc.

- Muốn làm giầu, đừng mong thỏa mãn.

- Tranh lời người đang nói là tự thú mình ngu dốt.

- Dạy kẻ không đáng dạy thì cũng như ném hạt dẻ lên vòm tháp tròn .

- Nếu mặt trời ở trong túi một con buôn bủn xỉn, thì thiên hạ chẳng ai được thấy ánh sáng trước ngày Phán Xét cuối cùng.
HAFIZ

Nhà thơ trữ tình Ba Tư


Sinh đầu thế kỷ 14, mất năm 1390 ( bên ta là đời Hậu Trần), được tán dương là nhà thơ trữ tình lớn nhất của Ba Tư, người đưa thể thơ ca ngâm ghazals lên mức tuyệt bích. Danh tiếng ông lan truyền tới các vùng Hồi giáo ở Turkestan, Iraq và Ấn Độ, măc dù ông chỉ sống quanh quẩn ở vùng Shiraz, Ba Tư. Sau này, thi hào Goethe cũng phải nhận : “ thơ Hafiz chứa đựng chân lý rành rành không thể phủ nhận,..không ai hơn được Hafiz...In his poetry Hafiz inscribed undeniable truth indelibly- Hafiz has no peer!”

Ông sinh sau Sadi một thế hệ, cha chết sớm, nhà nghèo, ông phải đi làm trong hàng bánh, hàng len vải...tuổi thanh niên ông yêu điên cuồng một giai nhân tên Shakh-i- Nabat đến mức không ăn không ngủ được, nhưng tuyệt vọng vì nàng là người vợ tương lai của Hoàng tử Shiraz! Để giải sầu, ông theo đạo sư Baba Kuhi tuyệt thực đủ 40 ngày, tới ngày thứ 40 thì tâm hồn thăng hoa, Thánh Gabriel hiện ra như một tiên nữ đẹp tuyệt vời khiến Hafiz quên cả hình ảnh người yêu!

Ông thuộc khuynh hướng Hồi giáo Sufi, quay đảo múa luân tinh chầu nhật, tuy không thuộc loại thuần thành như Rumi. Tập thi tuyển Divan của ông gồm các bài tán tụng Ruợu, Tình, Hoa hồng, lạc thú và niềm đau trong kiếp nhân sinh... nhiều bài làm sau khi vợ và con ông từ giã cõi trần. Cũng như các thi nhân vùng cát lửa Trung Đông, vườn cây, hoa trái rất hiếm hoi, nên họ thường ca tụng bóng mát, trăng đêm, hoa lá... Ông mất khoảng năm 1389, đám tang có cả ngàn người đưa tiễn, mộ chôn dưới gốc cây trắc bá diệp do chính ông trồng khi còn sống, chung quanh là vườn hồng rực rỡ.

Thể thơ tình ca Ghazals thường gồm 5- 15 vế (beyts), mỗi vế hai câu, vần điệu sau mỗi câu, Hafiz thêm vần điệu vào giữa câu làm tăng nhạc điệu cho toàn bài, vế đóng, như thể hát nói của ta, lại kết ý toàn bài với tên của tác giả như chữ ký tác quyền. Ông hay dùng các từ ngữ như Người Chuốc Rượu, Người Làm Rượu, Người Bán Rượu ( Winebringer, Winemaker, Wineseller) để ám chỉ Thượng Đế, Ly Rượu ( wineglass) ám chỉ tâm tư thế nhân và Cao nhân ( the Beloved) ám chỉ ân sư đạt đạo. Thơ ông tập Divan được trân trọng như sách Bói, tựa như bói Kiều của ta, tới nay nhiều tín đồ và độc giả vẫn còn dùng để cầu hung cát !


Tóc rối bời

miệng mỉm cười

nàng ca nàng múa

bình rượu dâng người

quán om sòm, đêm say khướt vui chơi !
đêm qua, quần áo tả tơi

bên giường cúi gập

cong môi nàng hờn !

mắt nàng, thỏ thẻ nguồn cơn :

“ sao chàng buồn ngủ giữa giờ ái ân ?”
Bát đầy rượu chuốc nâng lên

sá gì men quỷ rượu tiên uống tràn

thề nguyền đến mấy cũng tan

rượu cười nở rộ, tóc nàng buông mây


Her hair in disarray, lips laughing

Drunk in the swaeat of rivelry

Singing of love, she came, flask in hand

Dishelved and her clothes rent

Last midnight by my bed she bent

Her lips curved in regret.


I saw sorrow quarrel in her eyes

As her whisper spoke softly

“Is our old love asleep? “
We lift to our lips

Whatever he pours into the wine bowl

The wine of Paradise or the cup of Hell.
O how many vows of repentance are undone

By the smile of wine and the tresses of a girl

Like the vows of Hafiz?

Tim ta nở đóa hồng

tay ta bình rượu nồng

nàng ôm ta tình tứ

trời đất cũng bằng vung !
đừng mang đèn nến lại

mặt nàng đầy đặn trăng

đạo ta thờ tiên tửu

không thể vắng ả Hằng


réo rắt tai điệu trúc

dìu dặt khúc thiên thai

mắt ta vờn môi đỏ

bát rượu truyền trên tay


bó hồng thơm chẳng cần mang lại

tóc nàng buông ngây ngất bọn ta

mật đường hãy bỏ thật xa

môi em ngọt lịm như là nhụy hoa


khối tình si ôm trong tim rạn

chốn giải sầu chè chén ngõ đêm

tiếng tăm, thiên hạ, chê dèm

vang danh nhờ thế, ai thèm để tai !


A rose blooms within me, wine is in my hand,

And my beloved embraced.

This day the world’s king is my slave.

Bring us no candle light at dark

Because the moon face of love is full

We worship wine and and pour our vows, and it is

Against my law to be without your face

My ear hears ever the speech of the reed

And the melody of lutes

My eyes are always on red lips

and on the circulating cup

In our assembly bring no rose perfumes,

We breath the fragrance of your long hair

Do not praise to me the taste of sugar

For my desire is satisfied on your sweet lips
As long as my grief for you is in my heart’s ruin,

My place is in the tavern alley.

You speak of shame? shame is my reknown

You speak of fame? My renown is in my shame.


đàn vài khúc, rượu dăm chai

huyền vi vận số an bài chẳng hay

lời hát nói, châu ngọc bày

đốm sao ta rắc sáng đầy vòm thơ


khi ta chết, mở nắp mồ

tim ta rực lửa khói mờ trần gian

mặt em ló dạng, sầu mang

môi em hé nụ ngỡ ngàng thế nhân

hồn ta dẫu chẳng được gần

lòng ta não nuột một lần môi hôn.


Speak music, talk wine, and as for Fortune’s mystery

As for philosophy does not unravel or untie that tangle.

Your song is spoken. The pearls are strung.

Sweetly, Hafiz, sing

That heaven on your poem may scatter knots of stars
When I am dead, open my tomb

You will see my heart on fire

And my shroud smoke.

Display your face and the world will despair

Harassed by love, in wonder at your beauty.

Open the lips for which men cry.


Mặt trời đỏ rượu rót đầy chén phương Đông

má nàng hửng lên ngàn đóa mẫu đơn hồng

gió thổi nhẹ bung dạ lan ngan ngát

đồng lúa thơm ta hít tóc hương nàng


mang rượu lại đây, đưa ly ta uống

yêu nhẹ nhàng nào ngỡ chuốc thương đau

tóc xạ hương gió địa đàng quấn quít

em quấn ta hương lửa tóc bay sầu

When the wine sun fills the bowl of the East

It brings to her cheeks a thousand anemones

The wind breaks ringlets of hyacinth

Over the head of the roses

As among the meadow I inhale

The fragrance of her rich hair

Come pass me the cup quickly and hand it on;

Love first appeared easy, but trouble fell on me

The wind discloses the musk of your hair

My heart was twisted in that musky flame.

Trans. by R.M. Rehder
THẨM MỸ
Vẻ đẹp thơ này, bút không tả xiết

sức nóng mặt trời, ai nấy biết tự nhiên..


người nghệ sĩ tô mực lấy nghiên

vẽ chân dung trinh nữ nàng dâu hiền...


chẳng ai diễn tả nổi lẽ Huyền Vi

chẳng ai biết vỏ trai nào dấu ngọc, kể cả Hafiz!


HỠI KẺ HÀNH HƯƠNG
Hãy tới đây, ngắm bóng mình long lanh đáy rượu

Cầm lưới giăng, bạn chẳng bẫy được chi!


Cánh Chim Linh Diệu cất cánh bay đi

Trong lồng này, chỉ đựng gió vô vi!


Hãy sống ở đây, bây giờ, khi hồ kia cạn nước

Địa Đàng an vui Adam cũng phải bỏ, chia ly!


VÔ DỤNG!
Xuân không rượu, là xuân vô dụng

hồng thiếu dáng tiên, hồng diện tầm thường


...thông ngả nghiêng gió reo vờn múa, hoa hồng bừng nở,

chẳng ra gì, nếu vắng giọng chim oanh !


Này Hafiz, đời chẳng hơn một đồng xu rách

qua tay này, tay khác, mặt lì trơ

bạn làm gì? đẹp đẽ dưới trời xanh thơ ?
NÓI RỒI , XIN NHẮC LẠI
...Trước tấm gương, mặt ta mặt vẹt

sau tấm gương, Trời dạy ta hét ta cười


Nhìn bụi hồng thấy hoa hay thấy gai

tùy Chủ Vườn nuôi ta khôn lớn mỗi ngày...


Này tín hữu, chớ vội vã luận kẻ say đắc tội

ngụy giáo điều, đạo đức giả, rượu rửa sạch trên môi!


NHẬP MÔN CHÂN LÝ
Bạn hãy nhớ nếu Thượng đế rọi sáng châu thân

ta dám đoan hào quang người bạn phát sáng hơn mặt trời mươi lần


Hãy từ bỏ mảnh đồng đen đang cầm

Trau luyện tình thương, vàng bạc tới đầy sân!


Đừng ngồi đấy mà nghĩ thơ nghĩ thẩn

hãy đắm mình trong biển cả Chân nhân


một sợi tóc nhúng vào trong nước mặn

cả cái đầu không được hưởng trùng dương!


...Với niềm tin, dù thế gian này quay cuồng giông tố

thành bụi bay nhập cổng thánh thiên đường!


TRỜI NGỦ QUÊN
Rượu bí tỉ, ta nằm ngủ say

Người lại hiện ra, trong giấc mơ, lay tỉnh gã này!


...đường tình thương chẳng mềm cỏ mượt

kẻ lữ hành, chân giẫm đá cùng gai!


...gió kiêu căng, bọt nào cũng vỡ

cổ khát khô, lại bảo rượu khan!


già rồi, chớ nói ngông càn

xung quanh bọn trẻ cười tràn gã say!


kẻ hứa hão, cho ta đế quốc

chớ vội mang áo rách quẳng đi


ăn mày nào có mấy khi

tả tơi xóm lá dám bì lầu son?


...Hỡi Hafiz, đừng nấp sau tấm màn che mắt

đứng cản ngang ngươi và Trời, ắt chính là ngươi!


LY RƯỢU NÀY RẤT GIỐNG KY TÔ
...Ly rượu này, bản chất thiêng giống Chúa

hồi phục sinh linh, dựng xác dậy bên ta


nhạc công đâu? tấu lên vài khúc

cùng Ngọc hoàng ta múa giống sao sa!


...This cup of wine is like Christ; by it very nature

It can raise the dead

O Minstrel, play something beautiful, so that I will

Want to dance like Jupiter and all the stars!

trans. by Thomas R.Crowe
KHỔ HẢI
Nước mắt chúng sinh đầy ngũ đại dương

sao Ngài không ra bờ biển nghỉ hè ngắm cảnh đau thương?


Hỡi bạn hành hương, tiền bạc vay lãi một phường

bọn này chỉ biết nghe đồng vàng kêu rủng rẻng leng keng


hầm chứa bạc ngân hàng nhìn lên chẳng thấy thần thánh linh thiêng

Hãy lại đây, đánh vài chén, châu báu hiện ra liền!


CÓ GÌ LÀ CHẮC ?
Thuở nay, chỉ có thơ và rượu

là tri âm tri kỷ, bình sinh


...kiếp thi sĩ, không tiền không việc

kiến thức đầy, kinh nghiệm thiếu, điêu linh!


định mệnh thế, lạc đà đen muốn trắng

rửa mấy lần cho đổi sắc thay lông?


vạn hữu vô thường, ngày kia biến mất

ngoại trừ Thương Yêu về nước Nhược non Bồng!


NGƯỜI CON GÁI MẮT CUNG TRĂNG
Người con gái mắt cung trăng lại lấy mất tim ta lần nữa

ta được gì, ngoài hận sầu, hứa hão, đầy vơi!


bán ruộng bán nhà, mua tơ mua lụa,

đổi nụ cười, khuôn mặt đẹp như trăng!


những cám ơn Trời, cho ta kề bên ả Hằng

còn hơn ngồi thánh thất, cạnh mấy thằng nồng nặc mồ hôi


hỡi du nữ ! ta cho nàng tất cả cuộc đời

hãy thương tình tên ăn mày say khướt chờ đợi cửa hồng lâu!


Em hãy nói đôi lời, dục cuồng ái ân yêu dấu

nhưng xin đừng giội gáo nước lạnh tắt lửa trái tim đau!


...Nàng và ta, đôi chim liền cánh một vần thơ

định mệnh ghi, rành rẽ sách Kinh Mơ !


...Khi ta chết, đặt một ly trên xác

lúc hồi sinh, ta khát nốc men say!


Hỡi chàng Hafiz, quá đà yêu đã mấy lần?

khác gì thỏ non lấy hắc ín tạc bóng dáng giai nhân!


HÃY HỎI NƯỚC MẮT TA !
....Tim bốc cháy, nói làm sao đôi mắt thấy chi?

Giọt lệ này, vô nhiễm, thuần thành, bạn hỏi đi!


Bài thơ lửa bùng ta ca dâng Chúa

chớp nhoáng lưng trời,

hơi Vệ Nữ cũng chẳng mang xuống được như Hafiz!
RƯỢU MẠNH
Gươm Hỏa tinh dính máu, đàn Vệ Nữ êm đềm

dưới trời này, bất trắc, mấy khi yên !


quanh bàn tiệc thế nhân tìm hạnh phúc

món ăn nào cũng muối mặn, ai nêm?


...Hãy ngồi đây, xem nhà tu Sufi nhảy múa

Solomon Đại Đế thuở xưa thích ngắm kiến bò quanh,


Huyền bí Thời gian, riêng mình ta với bạn,

nói nhau nghe, trong sóng rượu hũ sành!


Rượu biêng biếc, ta chọn ly hồng ngọc

Lửa rắn phun, suối rượu đỏ dập tan


Trời giương cung nhắm Hafiz tên độc

ta cả cười, nhìn tay bắn chẳng than!

SÁCH NHẠC CHIM CA

Vừa đưa rượu thánh lên môi

họa mi chợt hót mấy lời thiên thu
thử vào thư viện lục thơ

rồi ra sa mạc, đọc tờ chim ca


thầy đồ sách vở tránh xa

líu lo chim hát quanh ta học bài...


RA VƯỜN HỒNG
Sáng tinh sương, dạo vườn hồng

nhụy hoa ta ngửi, nhớ thương dịu dần


Ngay giữa đêm, ngắt một bông

bừng lên vườn tược như lồng đèn soi


sáng rừng rực, oanh cất lời

điệu ca thánh thót cả trời cũng êm


thủy tiên lòng cũng ướt mềm

kim hương uống lệ rơi thềm đam mê


lưỡi dài hoa huệ gươm kề

mẫu đơn kể lể bốn bề tình lang....


THE ROSE GARDEN
This morning I went into the rose garden seeking nectar

As a cure-all for my love -sick brain.


Even on this dark night, the red rose I found

Lit up the garden like a lamp.


The light from the rose was so bright it woke the nightingale,

And it began singing one of its thousand songs.


The nightingale’s song was so sweet that the narcissus began to cry,

And the tulip drank the narcissus’s tears in passion and in pain.


To show her disapproval, the lilly stuck out her tongue like a sword,

And, like a bigamist’s wife, the anemone opened up her mouth to tell

the world of her travails.

..........

trans. by Thomas Rain Crowe

NHẬT THỰC


Rượu ngon là thuốc giải phiền

chữa thêm được cả nỗi niềm già nua


Nếu vầng dương là rượu, cung trăng là cốc

đổ mặt trời một góc vào ly

tạo ra nhật thực tức thì!
Chân lý ấy chẳng gì lay chuyển

dây rượu đâu, thắt thòng lọng buộc lên


đổ đầy chất lửa vào tim

như nguồn giếng nước đi tìm cạn khô


cánh hồng đã bỏ người thơ

sương hoa xin hãy tưới bờ quạnh hiu


đất ngừng quay, chim ngủ chiều

gượng vui nghe rượu rót đều lỗ tai

Vài hàng về thơ thời Ấn Hồi thế kỷ XVI
Thời vua Akbar 1556-05 ở Ấn, đế quốc Hồi Mughal thơ văn mang nặng ảnh hưởng Ba Tư, văn minh kiến trúc rất cao như xây Taj Mahal kỳ quan chiêu niệm giai nhân đời vua Shah Jahan, thi văn cũng chứa đầy chất lãng mạn qua thể thơ ghazal, ngắn gọn, như thơ hài cú Nhật Bản :
Năm mới, xuân về, rượu ngon, tình ái

hưởng hết đi, xuân bất tái lai

hoặc :

Cú hôn trộm nàng



mẻ trộm tuyệt vời

dẫu nàng đòi lại

ta được gấp đôi!
Stealing a kiss is a wonderful theft

how pleasing the end in any case

For should it be taken back, it is double!

Thơ Saib, Massani dịch

Bài thơ sau đây chứa đầy thiền vị, phải chăng vì Hồi giáo ở Ấn mọc trên đất Yoga và Thiền ?

Cần chi phải dạo vườn hoa

bản tâm cây lá trong ta mọc đầy

cánh sen an trụ tọa đài

Vạn xuân tuyệt mỹ búp tay vẹn toàn
Do not go to the garden

O brother do not go there

In thy self is the garden

Take thy seat on the petals

of the lotus, and then behold

The Eternal beauty,


Thơ Kabir- A. Ghani dịch

*
Những Tia Lửa Thơ Bắn Ra Từ Cơn Múa Thánh


Jalal al-Din RUMI

Thi hào Ba Tư -1207- 1273- được thế giới Hồi Giáo xưng tụng là tôn sư Rumi, Mevlânâ Rumi, Mevlânâ có nghĩa là tôn sư, Rumi là ”Roman” chỉ địa danh vùng Byzantine khi xưa. Ông da dẻ xanh xao gầy yếu, chỉ có cặp mắt sáng mạnh như thôi miên, ưa mặc áo thụng xanh và quấn khăn mầu xám.

Con người ăn nói nhỏ nhẹ này đã để lại cho hậu thế vài ngàn bài thơ viết theo thể tứ tuyệt Roubayat rất thịnh hình thời đó, và nếu Đại tuyển tập Mathnavi được gọi là bộ kinh Koran của tiếng Ba Tư ( thơ tâm linh, gồm sáu cuốn dài cả thơ lẫn văn), thì bộ Divan Tabriz gồm thơ trữ tình (odes) và nhất là tứ tuyệt, mới thật sự phản ảnh trái tim thi nhân, tự do phóng khoáng, không bờ không bến.
Nhưng Rumi không dám ký tên thật trên bộ Divan Tabriz mà lại đề tên Tabriz, một du sĩ (derviche errant) mà ông đã hạnh ngộ, một tu sĩ đã đốt cháy lên ngọn đèn siêu linh trong ông, đã đưa ông vào tông môn Sufi, một phái Hồi giáo ”áo len” (Suf là tấm áo giản dị khoác trên mình tín đồ) thường bị phe chính thống lên án. Tông phái Sufi là tất cả nguồn cảm hứng của Rumi và gia đình ông. Vì theo đạo Sufi nên cha ông bị phái Hồi giáo chính thống đuổi ra khỏi quê hương Balkh ( nay thuộc Afghanistan, gần Majar e Sharif một căn cứ của bọn Taliban trong chiến trận 2001), cả gia đình phải di cư sang mãi Konya, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay ( cũng có tài liệu cho rằng gia đình ông phải chạy vì quân Mông Cổ xâm lăng). Rumi sống ở đây, thay cha giảng đạo và chết ở đây năm 1273.
Một tâm hồn thơ như Rumi tất không thể gò bó trong giáo điều chật hẹp, ông tìm thấy trong môn phái Sufi những nét nhân bản tâm linh, huyền diệu và thanh khiết. Môn phái Sufi chống lại giáo lý duy lý, đề cao thể hiện cá nhân như là pháp môn nối kết với Thượng đế. Trong Sufi có những dấu ấn của truyền thống Zarathushtra xứ Ba Tư, của Kytô giáo, của triết lý Vệ đà Ấn Độ... và rất có thể của Phật giáo, cũng có các tu sĩ đi du hành như khất sĩ Phật giáo, cũng có tu viện để tập thiền (meditation), tập sống khổ hạnh, từ bỏ thế tục để hòa điệu vơi siêu linh qua thánh lễ, thánh ca và nhất là múa thánh: các tín hữu múa luân vũ quanh tôn sư theo thế” Luân tinh chầu nhật”, múa tới lúc hồn và xác nhất thể thăng hoa nhập một với thánh thể. Đây chính là cơn say sưa của tâm hồn, cơn lên đồng của xác thịt, để con người bốc từ thế gian lên thiên giới :

Một cái gì huyền bí

quay lộn trong ta

quay luôn vũ trụ thiên hà

đầu lộn đuôi

đuôi lộn đầu

đầu đuôi bất kể cùng nhau quay cuồng !
A secret turning in us

makes the universe turn

Head unaware of feet,

and feet head. Neither cares,

They keep turning.

Barks & Moyne


Trong lòng biển, một bánh xe quay đảo

trên vòm mây, chuyển tinh tú trăng sao

đêm đại dương, thế nhân nhìn ngơ ngác

ánh sao kia , ánh sáng đến từ đâu ?

Inside water, a waterwheel turns

A star circulates with the moon.


We live in the night ocean wondering,

What are these lights?

Moyne and Barks

Những vần thơ của Rumi là những tia lửa xẹt ra từ cơn say sưa lên đồng ấy. Nó là tình yêu cuồng nhiệt, là say đắm thân xác, là hiến dâng, là tình thuơng lý tưởng, là cơn mê trừu tượng thiên đình, là hoan lạc, là gặp gỡ, là chia ly... là đôi môi ngọt như mật, là áng tóc huyền họăc... ” tình yêu là yếu tính của con người, nó làm các nguyên tử nhảy múa gây giông tố đại dương...” Đối vơi Rumi, tiểu ngã là tình yêu mà đại ngã cũng là tình yêu... ” là một đại dương không bờ mé, từ một con sóng đẻ ra muôn ngàn con sóng... có khi gọi là rượu, rượu vô hình, có khi gọi là ly say, có khi gọi là cạm bẫy, có khi gọi là con mồi...” Phối hợp giữa tiểu ngã Yêu và đại ngã Yêu tạo thành Thiên đường, chia cắt giữa tiểu và đại là Địa Ngục, là tan vỡ nguồn sống huyền diệu của vũ trụ.


Một ngàn sáu trăm bốn sáu 1646 bài tứ tuyệt đã được con cháu của thi hào cho in lại vào năm 1894. Dịch giả Assâf Hâlet Tchélébi đã tuyển dịch 275 bài sang Pháp ngữ năm 1946 ở Istanbul, Thổ Nhĩ Ky, để giới thiệu vơi Âu Châu. Chưa kể 3438 bài thơ dài odes đã được dịch sang Anh, Pháp ngữ từ lâu.

Vì ngôn ngữ Ba Tư rất hàm xúc nên ngôi thứ hai, u không hoàn toàn đồng nghĩa với you hay vous, tu ,trong Anh, Pháp ngữ, chúng tôi phóng dịch sang Việt ngữ và nghiêng theo nghĩa trữ tình khi gặp các đại danh từ hàm hồ có thể chỉ thánh thần, tôn sư kính yêu hay mỹ nhân.

Chúng tôi lựa chọn một số bài tiêu biểu, sau khi đối chiếu với các bản Anh ngữ của R.A. Nicholson, J.Kritzeck, H.A.R. Gibb, và hai bản gần đây,1984 và 1995, của Coleman Barks & J.Moyne.
*

Ngay lúc vào đời, đã có cái thang

đặt trước mặt ta, vượt thoát nỗi kinh hoàng

còn nguồn còn suối, sông còn chảy

chớ lo âu, nước vô tận nốc tràn !
Chết như đá, mọc thành cây

chết như cây, sinh ra thú

chết như thú, hóa thành người

chẳng thiệt gì, chết sợ chi ?


hành trình từ kiếp người đi

thành tiên một giọt nước lưu ly

nước về biển cả, tiên nhập biển

nhất thể một nguồn, sinh hóa vô biên !


...While the fountains flow, the rivers run from it

Put grief out of your head, and keep quaffing this river-water;

Do not think of the water failing, for this water is without end

From the moment you came into the world of being

A ladder was placed before you that you might escape.
I died as mineral and became a plant

I died as plant and rose to animal

I died as animal and I was man

Why should I fear ? When was I less by dying ?


....Whe you traved on from now, you will doubtless become an angel...

Pass again from angelhood, enter that ocean,

That your drop may become a sea...

Leave aside this Son; say ever One with all your soul.

trans. by R.A. Nicholson
Biết làm sao, hỡi tín đồ

thân ta ta cũng hồ đồ chẳng hay

chẳng Do Thái, Chúa, hay Hồi

chẳng từ quặng đất, tám trời vần xoay

chẳng cõi tới, chẳng cõi này

Thiên đường Địa ngục đặt bày cả hai


A dong lẫn với Ê Va

Địa đàng Tiên giới toàn là đảo điên

Chốn ta vô trụ, không tên

đất trời là một, nhị biên ta từ .


What is to be done, O Moslems ? for I do not recognize myself,

I am neither Christian, nor Jew, nor Gabr, nor Moslem,

I am not of Nature’ s mint, nor of the circling heavens

I am not of earth, not of water, nor of air, nor of fire

....I am not of this world, nor of the next, nor of Paradise, nor of Hell;

I am not of Adam, nor of Eve, nor of Eden, and Rizwan

My place is the Placeless, my trace is the Traceless;

... I have put duality away, I have seen that the two worlds are one....


R.A Nicholson

Rizwan= thần giữ chìa khóa Thiên đường đạo Hồi

Gabr= a Zoroastrian, đạo cổ Ba tư
Tạo hóa sinh ta hồng lẫn gai

lúc thơm lúc sắc có cả hai

khuôn thiêng trời nặn hồn ta thế

yêu ghét trong lòng, ta là ai ?


Thou mak’st grow out of me now a thorn and now a rose

Now I smell roses and now pull thorns

...In the vessel where thou givest colour to the soul

Who am I, what is my love and hate ?


R.A. Nicholson
BẤT LẬP VĂN TỰ...
Có chữ nào đặt ra mà không ám chỉ một cái gì không?

Có bao giờ bạn ngắt bạn cầm được một đóa hồng từ chữ H,Ồ,N,G, không?

Bạn nói chỉ là nói cái TÊN rỗng,

Bây giờ thử tìm Thực chất cái được đặt tên,

Nhìn thẳng lên mặt trăng, chớ tìm trăng đáy nước

nếu bạn muốn giải thoát cái đầu bị ước lệ ngôn từ mầu mè ám ảnh

hãy xổ xuống một nét,

vô ngã, không chữ không vần

một trụ điểm sáng ngời

tỏa ra lương tri như nhà Tiên Tri không cần sách cần lời.


THE NAME
Do you know a word that doesn’t refer to some thing?

Have you ever picked and held a rose from R,O,S,E?

You say the NAME.Try now to to find the reality it names.

Look at the moon in the sky, not the one in the lake.

If you want to be free of your obsession with word

and beautiful lettering, make one stroke down.

There’s no self, no characteristics,

but a bright center where you have the knowledge

the Prophet have, without books or interpreter.
trans. by Nicholson in Mystics of Islam
( Tư tưởng RUMI trong bài này không khác gì kinh Kim Cương hoặc kinh Lục Tổ, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm... của nhà Phật, Phật giáo đã lan tới vùng A Phú Hãn từ tk thứ II, có tượng Phật vĩ đại trong hang núi mà rợ Taliban đã phá, phải chăng Rumi khi sống ở vùng này đã hấp thụ kinh kệ Thiền ?)
Thơ Rumi phỏng dịch từ bản Pháp ngữ :
Hỏi ống sáo, cớ sao than

Ngươi không có lưỡi kêu van thế nào?

Sáo rằng người chặt trúc cao

Ta xa cây mẹ đời nao nao buồn.


J’ai demandé au Ney : De quoi te plains –tu ?

Comment peux -tu gémir sans avoir une langue ?

Le Ney répondit : On m’a séparé de la canne à sucre

Et je ne puis plus vivre sans gémir et me lamenter.

(Ney = flute mystique en roseau)
Hỡi lữ khách, đi về đâu ?

đi đâu người cũng như hầu còn đây

biển cao sóng cả mặc thây

trượng phu như cá ngậm đầy nước non !


O voyageur, où pars-tu donc, où ?

Où que tu ailles, tu restes dans notre coeur

Dans la mer, il y a bien des dangers, mais toi, comme un poisson,

Tu peux dans l’eau ouvrir tes lèvres sans boire.

Đêm rằng ta bạn tửu đồ

Cố tri của trái tim thờ lửa men

Ví dù số mệnh đánh ghen

Không tình, Thần Chết ta bèn tới ngay!


La nuit dit : “ Je suis le compagnon des buveurs

Je suis l’âme de ceux qui ont le coeur brulé,

Et pour ceux à qui le destin n’a pas accordé l’amour

Je suis chaque nuit l’ange de la mort.


Ngàn mùa màng chứa trong hạt thóc

giải Ngân hà chui lọt lỗ kim

trong trái tim

nàng chiếm riêng một cõi

hình hài ta chất muôn vạn hồn người !
Il est étrange que mon aimeé tienne dans mon coeur

Mais l’âme de deux mille corps tient dans mon corp

Dans un grain de blé tiennent mille moissons,

Et mille mondes tiennent dans le trou d’un aiguille.

Bản Pháp ngữ trên có lẽ gần với nguyên bản Ả Rập hơn bản Anh ngữ sau đây:
This moment this love comes to rest on me

many beings in one being

in one wheat grain a thousand sheaf stacks

inside the needle’eye a turning night of stars

Barks & Moyne

Biển dâng giông bão ái tình

Mây kia rắc ngọc xuống hình bóng ai

Tình em sấm sét địa đài

Bốc lên làn khói Thiên Thai bay về.
La mer est agiteé à cause de ton amour,

Les nuages répandent des perles à tes pieds.

La foudre de ton amour est tombeé sur la terre;

Assi cette fumée s’élève-t-elle vers les cieux


Nàng là công chúa tuyệt vời

tim ta đã vướng bời bời tóc mây

lòng ta nhỏ máu thềm này

máu ta chẳng đáng bụi bay gót nàng !


Mon amante est la sultane de beauté à la taille admirable

Mon coeur , fou d’amour est enchainé dans ses cheveux

Je verse le sang de mon coeur sur la poussière de son seuil,

Bien que cette poussière soit plus précieuse que mon sang.


Nàng núi cao

lửa hồn ta đốt cháy

Nàng biển xanh

ta uống cạn vào lòng
Si tu deviens la montagne, je te brulerai de ma flamme

Et si tu deviens la mer, je te boirai toute


Ngắm nàng ai thiết ngắm hoa

yêu nàng ai thiết đuốc nhà đèn giăng ?

ngủ ngon đầu óc quân bằng

đố ai ngủ được, đầu quăng mất rồi !


Qui a ton visage, se soucie-t-il du jardin ?

Qui a ton amour, se soucie-t-il de la bougie ou du flambeau ?

On dit que le sommeil est la nourriture du cerveau;

Un amant se soucie-t-il d’avoir un cerveau ?


Mượn tóc em, giây huyền cầm ta gảy

Địa ngục vui hơn cả cõi Thiên đường

dẫu em nhắc tầng mây xa Thánh gọi

xin nhớ cho ta Tiên giới chán chường !


Si dans l’enfer tes cheveux deviennent les cordes de ma harpe

Quelle honte pour moi d’être au Paradis

Tu dis qu’on m’appelle du desert du Paradis,

Mais mon coeur s’ennuiera là-bas


Khuyên giải ích chi khi ta đã mê tơi trong tình yêu,

kẹo đường ích chi, khi ta đã nếm chất độc ân ái,

Có kẻ nói:

“Hãy cột chân hắn lại”

Con tim lồng lộn cuồng điên, buộc gót ích cho ai!
A quoi bon conseils et avis, je suis anéanti en ton amour

A quoi bon le sucre; j’ai gouté le poison

On a dit : “ Enchainez ses pieds!”

Mon coeur est fou; à quoi bon enchainer mes pieds !


Vì em ngự đáy tim này

là nguồn hạnh phúc sáng ngày lo âu

đất trời dung chứa nổi đâu

tình sầu theo lỗ kim khâu lọt vào !


Je suis heureux d’avoir le souci de toi dans mon coeur

Car le souci de toi ne reside que dans les endroits clairs

Ce chagrin qui ni le ciel ni la terre ne sauraient contenir

Peut pénétrer dans mon coeur comme par un trou d’aiguille.

Ta đi tảo mộ người tình

nẩy từ lòng đất hiện hình đóa hoa

“ Thổ thần xin hãy buông tha

đừng làm tan nát quần thoa má hồng! “


Je suis allé à la tombe de ma compatissante bien aimée,

Je l’ai vu surgir de terre comme une rose.

Je m’écriais : “ O terre, prends garde,

Ne fais pas de mal à mon amante fidèle!”

Nói tình yêu đặt ở chữ danh....là nói dối!

Nói tình yêu tuyệt vọng không thành...là nói dối!

Lâu đài hạnh phúc, theo tôi, xây trong tâm hồn

Nói là trên đỉnh bẩy tầng lầu cao,..là nói dối!


On dit que l’amour est dans la réputation...mensonge!

On dit que l’espoir de l’amour est irréalisable...mensonge!

Le palais du bonheur selon moi est dans l’âme

On dit que c’est le sommet de sept toits... mensonge!

Tình êm ái, nguồn tình đau

đường tình ai cũng qua cầu sợ chi !

vòng tình vây kín đôi khi

đầu hàng là kẻ được si mê tình !


L’amour est un grand bien qui produit de grand maux

L’amoureux ne doit pas éviter ces maux.

Dans l’amour, le vaillant c’est celui

Qui, lorsque l’amour l’attaque, capitule.


Ngày xưa bằng hữu vui đùa

hôm nay tóc đã tới mùa phong sương

Hành trình, này bạn, cuối đường,

tựa mây tựa gió muôn phương bay về !

Autrefois, nous étions des enfants, puis nous fumes maitres;

Autrefois, nous étions heureux de voir des visages amis.

Ecoute la fin de notre aventure:

Nous sommes devenus pareils aux nuages, pareils au vent.


Say tình, chẳng thuốc chẳng men

ta cuồng xin chớ mang chen lý bàn

lòng muôn con nước dâng tràn

ta quay vũ trụ tuần hoàn đều quay


Je suis ivre de toi...non de vin, ni d’opium

Je suis fou, ne cherche pas la raison chez un fou

De mon âme débordante naissent mille fleuves

De ma danse tournoyant le monde est étourdi.


Ta nguyên tử, em mặt trời

ta ốm tương tư, em thuốc giải cấp thời

chẳng chắp cánh, cũng bổng bay

nam châm em hút kim này theo đuôi !


Je suis un atome et tu es mon soleil

Je suis malade de chagrin, et tu es mon remède

Je vole sans ailes derrière toi,

Comme si tu était l’amant et moi l’aiguille

Không phải mùa Xuân, không, đúng là mùa khác

mắt thế nhân, niềm hoan lạc tư riêng,

cỏ cây nhảy múa nhịp thiêng

từng cành thăng bằng

có lý do không ngả không nghiêng.
Ce n’est pas le Printemp...non, c’est une saison différente

Chaque oeil doit sa langueur à une jouissance différente

Bien que toutes les branches dansent

Chacune se balance pour une raison différente

Trong mỗi thiên hà, ta thấy một hạt nhân

trong mỗi hạt nhân lại ẩn một thiên thần

mờ mờ nhân ảnh một hóa thành hai

thấy hai thành một mặc ai cõi trần !


Dans chaque sphère céleste je vois une prunelle

Dans chaque prunelle je vois un ange

O toi qui louches ! si tu vois double une seule chose,

Moi je vois en dépit de toi les deux choses en une !

Ngàn mũi dao tình ái

đâm vào tim mạch

để lấy ra

chỉ một giọt tim ai!


Les mille lancettes de l’amour ont piqué les veines de l’âme

Pour y prendre une goutte; et cette goutte s’appelle : le coeur


Một lần say hỏi tôn sư đâu tá

lằn ranh nào giữa Có và Không?

Tôn sư: ”Con hãy yên lòng

Thoát qua bể khổ thấy dòng Hữu, Vô”


Un jour que j’étais ivre, j’ai demandé à mon maitre :

“ Fais-moi comprendre l’être et le non-être

Voici sa répondre : “ Va

Quand tu seras loin des peines de ce monde, tu l’apprendras”


Suối tình là giọt mồ hôi

má nàng lấp lánh cả trời lẫn trăng

ước sao trăng sáng một vầng

mặt em vằng vặc, đêm bằng tóc mây


O toi! l’eau de Jouvence n’est q’une goutte de la sueur de tes joues,

O ma lune! L’univers n’est q’une trace de scintillement de tes joues,

Je disais que je voulais une longue nuit de clair de lune,

Cette nuit est la nuit de ta chevelure, et le clair de lune ton visage.


Ta giọt nước, chứa cả đại dương

chẳng phải ta kiêu ngạo mê cuồng

lân la dò hỏi từng nguyên tử :

chúng chồm lên từ chối phận đơn phương !


Je suis l’Océan tout entier, non pas une goutte

Je ne suis pas un orgueilleux aux faux regards.

Chaque atome à qui je parle en mon muet language,

S’ exclame sans tarder : “ Je ne suis pas un atome”.


Ôm vai ve vuốt tóc nàng

ta thề thấy cả tim chàng tình si

vướng trong lọn tóc kiêu kỳ

yêu là đùa giỡn đôi khi tim mình


Si j’allonge mes bras vers ta chevelure

Je jure que ce n’est point une phrase de rhéteur,

Je vois mon coeur parmi les boucles de ta chevelure,

Et je joue à l’amour avec mon propre coeur.


Gió thơm hương ngọt môi nàng

muôn hoa rực rỡ huy hoàng bóng ai

tên em ta gọi bên tai

mình ta nghe tiếng u hoài trong ta


Je sens dans le gazon l’odeur de tes lèvres

Je vois, dans les jasmins et les tulipes, tes couleurs,

Je n’ai nul besoin de tout cela

j’ouvre ma bouche pour prononcer ton nom

afin de m’écouter moi-même

Ra vườn hồng, lén hái một bông

Sợ chủ nhân, ta định dấu đóa hồng

vẳng bên tai, tiếng ai đồng vọng

“ một bông ư ? xin tặng cả vườn trồng “

J’ai couru au jardin et j’ai cueilli une rose.

Je craignais d’être vu par le jardinier.

J’entendis la voix du jardinier me dire:

Qu’est- ce qu’ une rose, je te donnerai tout le jardin.

Tóc óng ả, tim ta nằm đấy

ngả bên đầu, hồn dậy nồng môi

tình ta dường đã lên ngôi

miệng em ta thả trọn đời lòng ta
J’ai posé ma tête sur ton seuil

Et j’ai laissé mon coeur entre tes boucles ravissantes

Mon âme est venue à mes lèvres, donne- moi les tiennes,

Pour qu’ainsi dans ta bouche je mette mon âme.

Vừa là gương vừa là mặt soi gương

vừa say sưa trong ly rượu thiên đường

bệnh lành thuốc giải ta trùng hợp

vừa suối xanh vừa tưới suối yêu đương


Nous sommes le miroir et le visage à la fois,

Nous sommes ivres de la coupe éternelle

Nous sommes le baume et la guérison,

Nous sommes l’eau de Jouvence et celui qui la verse.


*

Từ hư vô


đoàn lạc đà chuyên chở tình yêu khởi hành

Men Hợp Hòa

cháy muôn thuở đêm nay

Ly rượu say Đạo Yêu không cản cấm

Uống mềm môi tới tận sáng Hư vô!
Du néant est partie notre caravane, porteuse d’amour

Le vin de l’union illumine éternellement notre nuit.

De ce vin que n’interdit point la religion d’Amour,

Nos lèvres seront humectées jusqu’à l’aube du néant.

*

Xác thân trần tục này là ánh sáng linh diệu



Thiên thần giận ghen vì chói sáng quang minh;

Loài quỷ sứ có khi tránh xa sợ hãi

Cũng trong ta ô trọc chứa thân mình!
Notre corps pétri de terre est la lumière des cieux

Les anges sont jaloux de notre pénétration

Tantôt notre pureté rend jaloux les esprits célestes,

Tantôt les démons s’enfuient loin de notre impureté


Nàng đi, nhổ mắt máu này

nhớ nhung lệ chảy mắt đầy lụt dâng

biệt ly đôi mắt bâng khuâng

ta không còn mắt, lệ dâng cách nào ?

Tu es partie; ton depart m’arrache des larmes de sang,

Mon angoisse toujours accrue accroit mes larmes

Tu n’es pas partie seule, mes yeux sont partis avec toi;

Puisque je n’ai plus d’yeux, comment verser des larmes ?


Ta say hồ mắt yêu tinh

Sao em nỡ chặn bước tình khát khao

Ta chưa thỏa thích môi đào

Xin em hãy đắm ta vào suối tiên.


Je suis ivre de ton regard sorcier,

Pourquoi me repousses-tu, quand je viens dans ton quartier?

Je ne me rassasierai jamais d'y tremper mes lèvres;

Mieux vaut que tu me jettes dans ton ruisseau.


Tình nhân, nhân ngãi là ta

họa mi trên một bó hoa xuân về

cánh hồng tô điểm bốn bề

là ta, tất cả cơn mê địa đàng


Je suis à la fois l”Amant et l’Aimé

Je suis à la fois le bouquet, le rossignol et la rose de moi- même.


***
Ô MÃ KHUÊ ÂM

tìm tinh tú trong bầu rượu
Omar Khayyâm * 1040-1123 ?

Nhà thơ và Thiên văn học xứ Ba Tư


Thi hào vang danh quốc tế xứ Ba Tư, sinh vào khoảng năm 1040 tại đô thị sầm uất Nishapour trên con đường Tơ Lụa Silk Road gần A Phú Hãn ngày nay, và mất khoảng năm 1123. Tên họ Khayyâm nghĩa gốc là người chuyên nghề làm lều, một nghề thịnh hành vùng Trung Đông thời xưa, mặc dù chính ông không theo nghề đó.Từ nhỏ ông theo học về Toán số, Thiên văn và để lại 2 tập sách về Đại số (Démonstration de problèmes d’Algèbre- dịch và in năm 1851) và Toán Euclide (Traité sur quelques difficultés des définitions d’Euclide). Chữ Algebra bắt nguồn từ gốc Ả Rập al-djbar, có nghĩa là xếp đặt lại thành thứ tự, bổ sung bổ khuyết, tìm ra ẩn số của một phương trình, chính Omar Khayyam từ năm 26 tuổi đã đặt ra phương trình bậc hai, bậc ba và đưa ra cách giải hình học géométriques, cùng cách rút căn số Ấn Độ..., ông từng viết “ Đại số là một nghệ thuật khoa học..” là tìm ra tương quan giữa cái biết và không biết ( connus và inconnus).
Truyền thuyết ghi lại ông có hai người bạn học kết nghĩa anh em cùng theo học danh sư Muvaffiq ed Din vùng Khorasan : Nizam Mulk, dòng dõi triều vua Seljucides danh gia vọng tộc có ảnh hưởng và giữ chức vụ cao, và Hassan Sabbah, hỗn danh cáo già sơn lâm ( vieillard de la montagne) trưởng phái dị giáo hashâshins ( từ assassins của Anh, Pháp ngữ bắt nguồn từ đây), chuyên nghề cướp bóc, ám sát, về sau một tín đồ cuồng tín của phái này đã đâm chết Nizam Mulk !... Omar Khayyâm sống đời bình dị một nhà khoa học, một thi sĩ. Nhờ Mulk, ông được coi đài thiên văn Merw của vương triều Seljucides, một vương triều thịnh trị với 10 thư viện và rất nhiều đại học viện. Chính người anh em kết nghĩa Hassan Sabbah mới đầu cũng làm quan cho vương triều, sau bất mãn và bị mất chức mới sang Syria kết hợp với phe dị giáo Ismaélite, rồi trở về hùng cứ vùng núi non Alamout, phía nam biển Caspienne. Phe dị giáo này chuyên dùng thuốc mê hoặc thanh thiếu niên và những kẻ phiêu lưu mạo hiểm vào con đường hảo hán Lương Sơn Bạc, chống lại triều đình, lập giáo phái, xây dựng một phương thiên đường trên vùng núi hoang vu, một pháo đài kiên cố với các khu vườn tuyệt mỹ như cảnh trí Đào nguyên mà Marco Polo trên đường từ Trung Hoa trở về, đã ghé thăm và mô tả lại, nơi đây các thanh thiếu niên bị thuốc mê mệt, lúc tỉnh dậy thấy mình như lạc vào cõi Tiên !

Trong ba người đồng môn, Omar sống đời bình dị, năm 27 tuổi đã cùng với 8 nhà thiên văn học khác, sửa lại lịch pháp Hồi giáo năm 1074, lịch này chính xác ngang với lịch Grégoire năm trăm năm sau, 1582 của La Mã. Công trình thiên văn lịch pháp tiên liệu khí hậu thời tiết của Omar được vua Sultan Malik Shah ban thưởng trọng hậu, nhất là sau lần ông đoán trúng trời đẹp không mây mưa suốt 5 ngày cho vua đi săn, mặc dù mới đầu trời có mây mù gió tuyết. Nhưng sở dĩ các nhà thiên văn Ba Tư đạt được thành tích đó là nhờ các thương nhân qua lại vùng này, ngoài tơ lụa, trà, giấy, còn mang cả các dụng cụ thiên văn như địa bàn từ Tầu, gương thiên văn, bảng toán, đẩu số...từ Ấn, Tây Tạng sang. Thời đại Omar Khayyam là thời văn hóa cực thịnh khắp vùng Trung Đông : Bagdad có 30 học viện, 4 trường luật, vùng Tây Hồi ( Tây Ban Nha) có 70 thư viện, sử sách đầy đủ từ Triết học tới Y khoa, Tôn giáo lẫn Thi Ca ( tập thi sử 1228 của Awfi chép tiểu sử 300 thi sĩ Ba Tư, nhưng không có tên Omar Khayyam!). Nhưng từ ngắm sao tới ẩn số, từ vật lý sang siêu hình, physic sang metaphysic, đối với Omar chỉ là một khoảng cách ngắn , những ẩn số của toán học và những ẩn số của kiếp nhân sinh cũng chẳng mấy khác nhau :

Kẻ mang khoa học cao xa

kẻ đưa kiến thức bao la tận trời

cũng đều chóng mặt hết thôi

quay đầu lật úp như ngồi đáy vung !


Ceux qui par la science vont au plus haut du monde

Qui, par intelligence, scrutent le fond des cieux

Ceux-là, pareil aussi à la coupe du ciel

La tête renversée, vivent dans leur vertige.

Trong tập Luận Về Siêu Hình Học Traité de Métaphysique, ông viết “ Hãy bảo các nhà hiền triết rằng trong tình yêu, cuồng nhiệt dẫn lối chứ không phải ý tưởng chỉ đường !” ( Dis aux sages que, pour les amoureux, l’extase est le guide, et que ce n’est pas la pensée qui montre le chemin).

Trong thực tế, Omar Khayyam đã kín đáo ôm ấp truyền thống Ba Tư, cố gìn giữ hồn nước sau 400 năm bị văn hóa Ả Rập tràn ngập, từ tôn giáo Hồi đè bẹp tín ngưỡng cổ Zarathoustra, tới ngôn ngữ bị Ả Rập hóa, nhưng gần như định luật sinh tồn, trái tim thi nhân tinh tuyền Omar vẫn là nơi ẩn náu an toàn nhất của dân tộc, là nơi tiềm tàng đề kháng ngoại lai. Người anh em kết nghĩa Hassan kia chọn con đường chống đối xương máu quyết liệt, chọn cho mình một khu vườn mê hoặc trên núi cao, còn Omar cũng lựa chọn một khu vườn riêng, ông chơi với sao, giải ẩn số, ông ngụp lặn trong sóng rượu, ông tự do phóng khoáng chẳng nhận một thần quyền đè nén từ tầng cao xanh...chung quanh ông 400 năm Ả Rập tín điều Mô Ha Mét cứng như đá Kaba, vây trùm ông bọn Thổ Nhĩ Kỳ cũng vừa xâm lấn quê hương thiên đường hạ giới Nichapur năm 1038, nhưng ông vẫn có lối thoát bằng rượu, bằng thơ, bằng tình yêu, trong khu vườn tường cao cổng kín yên tĩnh quê nhà, với bình rượu thân yêu mà người dân xứ ông gọi là cô gái nho mơn mởn (fille de la vigne), ông sống như thế, với nhóm bạn thân thuần túy dân tộc “ nằm như những ngôi sao rải rác trên bãi cỏ xanh”, chiều hè họp quanh hiên mát, nghe đàn , thưởng hoa, ngắm trăng...những bông hoa hồng thắm minh họa vinh quang của Trời Cao (la gloire de Dieu se voit dans une rose rouge), những bông tu líp mũm mĩm mơn mởn như thân hình mỹ nữ :

Hàng ngày sương rơi lóng lánh trên đóa uất kim hương

hàng ngày hạt nước trong veo rắc hoa tím đầy cành

Nhưng chẳng hoa nào hơn hoa hồng thắm

phập phồng hé từng hơi rồi bung nở vườn xanh

Chaque jour la rosée emperle la tulipe

Chaque jour la violette cède sous les grains d’eau

Mais rien en vérité, ne vaut la rose rouge

qui s’ouvre en palpitant pour mieux s’épanouir

Nhưng hoa hồng đẹp như má hồng, thì rượu nồng cũng bừng lên tình ái say sưa, như cổ nhân xứ này từng nói “ rượu ngon là sợi tơ hồng kết duyên “ ( le vin facilite les fiancailles). Rượu nơi đây, tuy chẳng phải là tiên tửu, những cũng nâng lên tửu đạo, đựng trong hũ rượu cổ tròn nhỏ, nặn bằng đất đỏ như má đào, chở qua sa mạc trên lưng lạc đà, men rượu nồng ướp thêm hàng dặm đường lửa nắng, quí hơn vàng, uống vào một ngụm thì “ cửu hoàn coi cũng nhỏ “ ( Cao Bá Quát tk 19) :

Tu một ngụm, cả hoàng triều Ca Vu coi cũng nhỏ,

Nốc dăm hơi, đất Cô Ba, ngôi báu Thục, chẳng màng !

Une seule gorgée de vin vaut le royaume de Kavous

Mieux que la terre de Kobad, l’empire de Thous, je préfère



tải về 428 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương