Thơ CỔ Á RẬP



tải về 428 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích428 Kb.
#3352
  1   2   3

THƠ CỔ Á RẬP
Người Ả Rập làm thơ từ thời du mục , họ sống trên sa mạc cát trải nắng thiêu, từng đoàn lạc đà chở hàng trao đổi từ vùng này sang vùng khác, ban đêm, căng lều, gần nguồn nước, nhóm lửa ca hát ăn uống...thi sĩ thời ấy được sùng kính như nhà tiên tri bốc phệ, như pháp sư, có khả năng biến hóa thần thông, như cây đũa thần ngôn ngữ âm điệu, lúc yên bình thì chỉ dạy cho bộ lạc, lúc chiến tranh thì tham vấn cho các chiến sĩ ! Các thầy pháp thi sĩ này nhiều khi ăn mặc dị thường để phân biệt với người khác : một chân đi dép một chân đi đất, tóc vuốt sang một bên...
Sinh sống trên vùng cát bụi, ngày nóng đêm lạnh, chịu đựng liên tục hạn hán và khí hậu khắc nghiệt, người Ả Rập không thể sống an cư một nơi mà phải di chuyển luôn luôn tìm nơi đồng cỏ tạm cư và, để sinh tồn, phải cướp bóc lẫn nhau. Sa mạc là quê hương thân yêu của họ, kẻ lạ mặt xâm phạm phải chấp nhận luật giang hồ nộp của cải mãi lộ ! người Ả Rập chân chính –Bedouins- có máu phiêu bạt hiên ngang kiểu lục lâm Lương Sơn Bạc, không thích sống khuôn phép trong thị trấn, tàn bạo nhưng cũng có thể rất trung tín với đồng bọn.

Mãi tới thế kỷ thứ III trở đi mới thấy xuất hiện những sắc tộc định cư yên ổn và chữ Ả Rập cũng bắt đầu hình thành vào thời này. Văn minh Ả Rập phát triển từ những ốc đảo có cỏ xanh nguồn nước, có bóng cây chà là, từ ven biển Hồng hải, nóng chói chang, mưa đột ngột...nhưng bao quanh tứ phía vẫn là bãi cát mênh mông và bầu trời lúc nào cũng sáng loáng như tăm ruợu-sparkling wine- nổi lên ! Trên cao nguyên cát nóng này, hơn ba phần tư bộ lạc với các tù trưởng –sheiks- dẫn lộ, sống đời du mục, ăn trái trà là, uống ít sữa, tu chút ruợu chà là, là đủ sức đi hàng ngày đường. Họ lấy nước đái lạc đà tắm cho trẻ sơ sinh thêm mạnh khỏe, trai gái lấy nước này thoa lên đầu cho mịn tóc ! Họ sống như thế, trai ngang tàng đạo tặc, gái sắc xảo mặn mà, tạo nguồn cảm hứng cho hàng vạn dòng thơ !

Những vần thơ đầu tiên là những bài phong dao cất lên bên nguồn nước, những bài thơ tình, những vần thơ chiến đấu, những đoạn anh hùng ca, cả những bài ca châm biếm có tác dụng tâm lý chiến làm mọi người hăng say diệt thù.

Thời phôi thai, thể thơ Saj hay Razaz, là văn xuôi có nhịp điệu tương tự như văn biền ngẫu, vua Malik Azdite (tk III) đóng đô ở Babylonia ( thuộc Iraq) để lại vần thơ sau đây trước khi nhắm mắt vì mũi tên của chính con mình :


Hàng ngày ta dạy nó cách bắn cung

lúc nó dương lên nhắm đích

lại trúng tim ta đích cuối cùng !
Một bài thơ loại anh hùng ca từ thế kỷ thứ V còn giữ lại trong Cổ thi hợp tuyển Hamasa:
Vợ ta ơi ! con gái ta ơi !

nhớ khi ta chết

lấy cát sa trường thay dầu tẩm liệm

thoa lên đầu lên tóc cho ta


hãy đặt xác ta gần đoàn kỵ mã

cắt hết tóc tai

nếu ta không cùng chiến sĩ tung hoành hồ thỉ chí trai !
To wife and daughter

Henceforth I am dead

Dust for oinment

On my hair is shed


Let me close with the horsemen

Who hither ride

Cut my locks from me

If I stand aside !

(lời nguyện của Jahdar Dubaya’a trong chiến tranh Basus, vùng Syria)

R.A. Nicholson


Từ thế kỷ thứ VI tới thời Umayyad ( 661- 750), trong gần 100 năm, thơ Ả Rập đã bước vào thời kỳ phồn thịnh với thể thơ trữ tình Qasida ( tức thể thơ tình odes ) trong đó nhịp điệu luôn luôn giữ phần quan trọng rất tiện cho ca ngâm.
Song song với thể thơ tình Qasida có thể thơ Muallaqat (số ít là Mullaqa) còn gọi là thơ “treo cao” ( Anh ngữ dịch là suspended poems), có nghĩa là những thi bảo được gìn giữ hàng cao trong kho tàng hoặc là vì người ta nâng cao giá trị những thi phẩm đó. Sau này có người nhầm với các bài thơ trúng giải ở Mecca do các thẩm quan lựa chọn và cho thêu bằng chữ kim tuyến trên lụa treo ở cổng Kaba.
Bảy bài trường thi hay nhất được ghi lại trong tập thi tuyển của Hammad (mất năm 772) cho thấy Trường Thi Thất Bảo được lựa tuyển vào thời đại Abbasids dưới triều vua Mahdi (Caliph Mahdi, cũng là giáo chủ) là thời đại kế tiếp Umayyad. Thời đại Abbasids (750-1258) là thời hoàng kim của Hồi Giáo nhất là triều vua Harun al Rashid (786-809) với khuynh hướng Thơ mới có ít nhiều ảnh hưởng từ Ba Tư . Ba Tư đã bị Ả Rập chiếm vào năm 642 trước thời Umayyad vì thế tiếng Ả Rập ảnh hưởng sâu đậm trên ngôn ngữ Ba Tư. Khi triều đại Umayyad bị phe Abbassids tức tôn thất của giáo chủ Mohamet lật đổ thì một nhóm chạy thoát sang Tây Ban Nha và thiết lập triều đại Ả Rập mới ở đây (756- 1031). Hồi giáo Ả Rập lại chia làm hai phe : phe Sunnites có nghĩa là đường lối chính thống của giáo chủ và phe Shiites, do nhóm ủng hộ Ali, con rể Mohamet, lập ra sau khi Ali bị ám sát.

NIÊN BIỂU CỔ VĂN HỌC SỬ Ả RẬP YẾU LƯỢC

1- Thời Tiền Hồi Giáo ( PreIslamic) : một số thơ vô danh, bảy bài trường thi, Mullaquat của Qays, Tarafa, Labid...

570- 632 Mohammed- 610 Mặc khải Mohammed giữa sa mạc, nhà tiên tri.

2- Thời Các Giáo Chủ Hồi giáo ( The Age of the Caliphs) từ 632- 1050

757- 847 Các triết gia môn phái Mutazilite

803 Triết gia Al Kindi

809- 877 Học giả Hunain ibn Ishaq

830 Đại Số Algebra của Al Khwarizmi

870- 950 Triết gia Al Farabi

915 Sử gia al Tabari

920 Thi sĩ Rudaki-Ba Tư

915- 965 Đại Thi hào Mutanabbi ( sau Hàn Dũ, Lý Bạch tk thứ VIII )

973- 1058 Thi sĩ Al Ma’arri ( vào đời Lý bên ta, Tô Đông Pha đời Tống)

980- 1037 Triết gia Ibn Sina

3- Thời Thổ, Tây Ban Nha, Mông Cổ (Turks, Franks, Mongols) từ 1050-1350

1038- 1123 Đại Thi hào Omar Khayyam ( so với Tô Đông Pha 1036- 1101)

1201- 1273 Đại Thi hào Jalal -ud- Din Rumi

12 ?- 1292 Thi hào Sa’di

4- Thời Tân biên cương Hồi giáo ( Islam’s New World) từ 1350- 1800.

13 ?- 1390 Thi hào Ba Tư Hafiz.
*
THỜI TIỀN HỒI GIÁO
Dựa trên bản Anh ngữ của chuyên gia văn học sử Ả Rập, R.A.Nicholson (Cambridge University Press, 1929), chúng tôi phỏng dịch sau đây vài đoạn trường thi, của Imru'ul - Qays, của Tarafa, bản Anh ngữ R.A.Nicholson, H.A.R Gibb, và Kritzek..., cũng chỉ trích đoạn và hiếm thấy dịch giả nào dịch toàn bản bảy bài trường thi.

Trường thi Imru'ul – Qays


Thi hào Qays (mất năm 540) thuộc dòng vua Yemen, có biệt danh là vị hoàng tử lang thang, không thích sống trong cung điện, thường bỏ đi ngao du với các bộ lạc và các thi hữu. Bị vua cha phế bỏ và giáo chủ Mô-ha-mét sau này gọi Qays là ”lãnh tụ dẫn tới lửa Địa ngục”, nhưng thi tài của Qays được thừa nhận là đệ nhất của thời tiền Hồi giáo (Pre-Islamic).
Lần nao

trên đồi cao

nàng trách móc ta và thề nguyền:

“em sẽ đi ngay, không bao giờ trở lại”

êm ái quá nhỉ! nếu lòng em đã muốn giã biệt

xin cũng đừng làm anh đau đớn chua cay!

bởi đam mê còn day dứt lòng ta, sao nàng nỡ đi ngay

bởi ý muốn của em đã trở thành định luật trong trái tim này!


nỡ lòng nào, nếu em ghét bỏ ta

hãy giựt đứt áo anh, cho áo bay theo gió

ôi! cặp mắt dao cau, ôi đôi dòng suối ướt

đâm thấu tim ta, thuơng tích đã ngổn ngang!


Đã bao lần, ta vơ đầy châu báu bạc vàng

chốn lều son màn tía vẫn vào ra

đã bao lần, trạm canh lính gác gươm dáo

vượt qua


dưới trời đêm, vòm thất tinh rực rỡ nguy nga

như dây lưng nạm vàng ngọc mở dài Đông phương kiêu sa


ta từng lẻn vào

nàng đứng bên rèm lụa

khoác áo mỏng manh vạt áo ngủ toàn tơ
“trời ơi! sao chàng dám liều lĩnh vào đây

tính điên rồ xưa nay vẫn còn nguyên đấy!”


ta kéo nàng đi, tấm váy thêu lượt là xóa hết dấu chân trên cát,

tơi thung lũng xa, khuất hẳn khu màn tía lều son

cồn cát bao quanh, đôi ta dừng lại

ôm đầu nàng ngả giữa vòng tay,

tấm lưng ong êm ái, đôi chân mũm mĩm

dáng mặn mà, da láng mịn hồng

ngực như gương

lồ lộ dưới ánh trăng vằng vặc soi trông


nàng đào tơ liễu yếu,

ta nâng niu như ngọc trân châu

ăm ắp đầy thân dòng suối tiên chưa dính bụi một lần!
nàng ngả đầu,

ôi bờ má tuyệt trần

cặp mắt nai tơ sợ sệt nằm cạnh gã nam nhân
trời đất ơi! cổ nàng trắng như trứng gà bóc

đầy đặn như lộc bình,

chẳng một vết tàn nhang,

chẳng cần vòng xuyến,

áng tóc xõa xuống,

từng lọn đen mun chảy dài

những lọn dừa cuồn cuộn bờ vai...
trích dịch theo RA Nicholson

Trường thi Tarafa


Thi sĩ Tarada (khoảng 554) thuộc bộ lạc Bakr vùng vịnh Ba Tư, có tài châm biếm và nhiều lần mang tai họa vì tài đó. Từng chăn dê và dự trận chiến Basus, được vua Hind mến chuộng một thời gian ngắn, sau cũng vì bản tính phóng túng phạm thượng nên bị hành quyết năm chưa đầy 20 tuổi.

Người có thể làm ta bất tử chăng?

hay người trách ta mải mê chém giết,

hoặc chạy theo lạc thú phù du,

nếu người chẳng ban cho ta

đặc ân Thần Chết tránh xa

thì xin hãy để ta đi gặp Diêm Vương

chia hết của cải từ bàn tay này

trươc khi giã biệt thế gian hôm nay!
nhưng ngoại trừ ba báu vật ta chẳng thể chia

của tuổi xanh mộng ước bất khả lìa

dù vòng tử sinh có hiện rất sớm trên trời cao kia!
Một Là

Rượu ngon, bọt rượu đỏ hồng

nốc một hơi, cuớp giựt từ đám tửu đồ ngơ ngác đứng trông!

Hai Là


Cưỡi lưng ô mã phi lồng

bốn vó cong lên tựa cánh cung

như chó sói đói khát run sợ vô cùng!

Ba Là


nằm dài cả ngày trong túp lều mái lợp lông dê

ôm ấp một cô gái quê

nghe mưa rơi quyến rũ thời gian chậm chạp dầm dề

Trường Thi AMR IBN KULTHUM


Ông thuộc sắc tộc Taghlib, mẹ dòng dõi chiến sĩ , ông từng rút gươm treo trên tường giết vua Hind để bảo vệ danh dự cho mẹ, tuy vậy thơ ông vẫn nhẹ nhàng đầy tình ái và rượu :
Truyền bình rượu từ tả sang hữu

cô hàng ơi, cổ chúng ta khan!

sáng nay cô chẳng chuốc tràn

ta nào đâu tệ, bạn dăm ba thằng


từng chìm hũ Đa Mang, Ba Bể

từng cạn be Quảng Sị, ma cung

Diêm vương ban rượu cuối cùng

chết rồi ai cũng hưởng chung men này !


Pass round from left to right! Why let’st thou, maiden,

Me and my comrades thirst ?

Yet am I, whom thou wilt not serve this morning,

Of us three not the worst!

Many a cup in Baalbec and Damascus

and Qasirin I drained

Howbeit we, ordained to death, shall one day

meet death, to us ordained.


trích dịch theo R.A. Nicholson
Cũng có loại trường thi nghiêng về chiến đấu ca, như đoạn sau đây của Antara ( sinh năm 550), tả cảnh chiến trường ở Dahis :
Cô Malik, hãy nghe đây

khi ta xung trận, lòng này quyết tâm

ra đi ta quyết một lần

trở về thắng lợi chiếm phần cho ta


trên yên ngựa, cưỡi chẳng rời

tung hoành chiến mã bời bời giáo gươm

chung quanh chiến sĩ coi thường

lấy thân bao bọc can trường sá chi


cầm dáo thẳng đâm vào quân địch

chém ngang lưng xối xả máu tuôn

đêm nay chó sói chẳng thương

chân tay rỉa thịt chiến trường gặm thây!


Learn, Malik’s daughter, how

I rush into the fray

and how I draw back only

at sharing of the prey

I never quit the saddle

My strong steed nimbly bounds

Warrior after warrior

have covered him with wounds.

With straight hard shafted spear

I dealt him in one side

a sudden thrust which opened

two streaming gashes wide


Two gashes whence outgurgled

his life blood : at the sound

night roaming ravenous wolves

flock eagerly around


And left him low to banquet

the wild beasts gathering there

They have torn off his fingers

his wrist and fingers fair !


Antara mang dòng máu da đen Phi châu của mẹ, người đương thời gọi ông là Achilles Ả Rập, một anh hùng dũng cảm không sợ chết.
Trường thi LABID –

Labid Ibn Rabia, sinh khoảng giữa tk thứ VI, mất năm 661, là thi sĩ trẻ nhất trong nhóm Trường Thi Thất Bảo. Ông là một du mục Ả Rập, mô tả trung thực cảnh trí và lối sống trên sa mạc cát nóng ban ngày, giá lạnh ban đêm. Bài trường thi Mullaqua của ông tả khu cắm trại dựng lều của bộ lạc người yêu nay đã bỏ đi du mục nơi khác, với lòng nhung nhớ lẫn tự ái trong tình yêu :


Phân ngựa phân cừu đầy đất

ngày tháng qua, vết người vật đều qua

xóa tan đi vết chiến lẫn vết hòa!
mưa xuân trải vũng sao hoa

chớp lòe mưa giật hay là mưa bay

bụi phun mưa lụa phủ đầy.
suối róc rách như tờ câu đối

mờ mờ phai chấm phá nét pha

sậy lau múa bút điểm qua.
đất trơ trụi, xưa kia bộ lạc

ở rồi đi một sáng tinh sương

còn đây rơm rác rạch mương.
bóng họ đi sương mù thấp thoáng

tựa bụi cây mốc đá xa xa

mờ mờ triền núi rặng Bi Sa

tại sao lại nhớ Na Hoa

nàng đi

là hết, duyên ta tan tành


hãy dứt bỏ

dây tình chẳng buộc

ước thề chi, đoạn tuyệt mới hay
nàng như đàn ngựa đóng cương

như mây đỏ riềm hồng

chẳng mang mưa tuôn

là là bay theo gió Nam một luồng


chảy dài sau dáng nàng

suối nước mấy nguồn

ngước mắt đêm đầy sao

mây buông rèm che khuất.


em có thấu, Na Hoa!

dây tơ hồng đã buộc

nay lại tháo tung ra?
trích dịch 10 đoạn (toàn bài 55 đoạn)
... Dung-stained ground

that tell the years passed

since human presence, months of peace

gone by, and month of war.


.... Replenished by the rain stars

of spring, and struck

by thunderclap downpour, or steady

fine-dropped, silken rains.


...The rills and the runlets

uncovered marks like the script

of faded scrolls

restored with pens of reed.


... Stripped bare now,

what once held all that tribe-

they left in the early morning

leaving a trench and some thatch,


....They faded in the distance

appearing in the shimmering haze

like tamarisks and boulders

on the slopes of Bishah

But why recall Nawar?

She’s gone.

Her ties and bonds to you

are broken.


.....Cut the bond

with one you cannot reach!

The best of those who make a bond

are those who can break it .


...She is as fleet in the bridle

as a reddish cloud

emptied of water

skimming along on the south wind.


....Flowing along the line of her back

runlet on runlet,

on a night the stars

reveiled in cloud.

... Or didn’t you know, Nawar

that I


am who ties a love knot

and cuts it free?


trans. by Michael Sells (World Poetry)

Sau Trường thi Thất bảo, một số thi sĩ khác, như Alqama, hỗn danh là Tuấn Mã ( stallion), để lại một bài thơ, sau trận chiến Halima, xin tha cho mấy tù nhân của bộ lạc ông, kể cả em ruột ông :


.....Người hỏi ý ta về đàn bà? ồ! rất dễ

mắt danh y ta định bệnh các nàng:

đàn ông tóc bạc, nghèo nàn

các cô khinh rẻ chê bàn chẳng thương

đàn bà hau háu những phường

tiền rừng bạc bể trẻ trung sang giầu...


Of women do ye ask me? I can spy

Their ailments with a shrewd physician’ eyes

The man whose head is grey or small his herds

No favor wins of them but mocking words

Are riches known, to riches they aspire,

and youthful bloom is still their heart’s desire

R.A. Nicholson

Nữ sĩ thời tiền Hồi giáo thường làm thơ loại Ai Tư Vãn như Ngọc Hân Công Chúa, như Chinh Phụ Ngâm, thương khóc than van chồng, con hay anh em chết trận :


Khổ đau lắm nỗi phù sinh

lòng ta nghiêng ngả dáng hình kẻ say

đứng lên gắng gượng phút giây

tay chân rời rã quỵ ngay bên đường


Sáng mai thương nhớ ngẩn ngơ

chiều về lởn vởn lại mơ thấy người


...In my misery and despair I seemed as a drunken man

Upstanding awhile-then soon his tottering limbs subdide

......Sunrise awaken in me the sad remembrance

Of Sakhr, and I recall him at every sunset.


(thơ Khansa khóc hai em chết trận- trích dịch theo Nicholson)
Abu Dhu’ayb Al-Hudhali (mất năm 649) thương khóc năm đứa con cùng chết vì bệnh dịch :
Định mệnh oái oăm

thân rã rời như mảnh áo treo cán chổi

trằn trọc nằm sấp nằm ngửa

lật qua lật lại nằm ngả nằm nghiêng

Ai rải đá cuội trên ghế ta nằm?

khi đàn con năm đứa chết cả năm!


gai đâm rách mắt

nằm nhoài

thân mòn đá xanh lót chân Thời vận bi ai .
Run down by fate’s spite

my body hangs a mantle on a broom;

...I turn at night from back to belly

side after side after side.


Who put pebbles on my couch when my sons died ?
... Thorns tears out my eyes. I lie

a flagstone at the feet of Time...

Omar S.Pound ( trích trong World Poetry)

Bài thơ loại Cung Oán sau đây của Maysun, vợ vua Muawiya, thời đại Umayyad, khoảng năm 680, cho thấy hứng thơ vẫn còn chất chứa tình cảm hồn nhiên của một đệ nhất phu nhân xuất thân du mục, thèm tự do trên sa mạc hoang vu :


Túp lều đơn sơ

thoang thoảng gió mát

lòng ta vui hát

cần chi gác tía lầu son


khoác áo len sờn

hơn gấm vóc che dấu tủi hờn


bánh đa gặm ở quê nhà

cao lương mỹ vị thịt thà nào hơn


tiếng gió thổi vo vo đồi cát

nghe vui tai hơn trống thập thùng


oang oang chó sủa đôi khi

nhớ hơn bước nhẹ mèo đi quanh mình

thương chàng cưỡi ngựa chiến chinh

hơn thằng phì nộn ký sinh ra vào.

Noldeke (trong Delectus trích theo R.A. Nicholson)
Cũng vào thời đại này, xuất hiện loại thơ tình bình dân kể lại chuyện tình giữa người hùng Majnun và tình nhân Layla, những bài thơ phổ biến như phong dao ghi lại trong Đêm Ả Rập Arabian Nights cho tới ngày nay vẫn còn được ngâm nga ở Beirut, ở Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ ..tương truyền tác giả các khúc tình ca (love ballads) này là Jamil (mất năm 701) :
Ôi! tuổi hoa có lần nào nở lại

trả đôi ta ngày tháng đẹp, Buthayna!

...có bao giờ riêng gặp nàng với ta

lòng nặng yêu đương như mây nặng sũng mưa sa?


từ độ thiếu niên vướng lưới tình thấm thoắt

tình hôm nay càng lớn dậy lâu bền

suốt đời ta, chờ một câu nàng thốt

cả tuổi hoa, tàn hốc má nhạt nhòa

nhưng tình yêu trong lòng này bất diệt

tránh cơn đau, lời thốt chối từ ta !


Oh, might it flower anew, that youthful prime

And restore to us, Buthayna, the bygone time!

And might we again be blest as we wont to be,

When thy folk were nigh and grudged what thou gavest me!


Shall I ever meet Buthayna alone again

Each of us full of love as a cloud of rain?

Fast in her net was I when a lad, and till

this day my love is growing and waxing still.

I have spent my lifetime, waiting for her to speak

and the bloom of youth is faded from off my cheek;

But I will not suffer that she my suit deny

My love remains undying, though all things die!


R.A. Nicholson

Ước mơ đôi ta sống bạc đầu

chẳng may chết, xin chôn vùi mộ sâu

thế nhân có san mồ làm rẫy

ta vẫn theo em, nằm cạnh bên em

Trời xanh kia không cho ta sống dưới ánh dương

hồn đôi ta vẫn dìu nhau luân vũ dưới bóng trăng Nghê Thường

tim này câm nín

tình đau thương thầm kín đáy lòng ta.

Một số bài thơ cổ khác được ghi lại và tuyển dịch trong tập Văn Học Sử Ả Rập (1929) của R.A. Nicholson và sau này trong tập Thi Văn Hợp Tuyển của J. Kritzeck (1964). Chúng tôi trích dịch sau đây một vài đoạn hay :

Tình ta cùng đoàn lữ hành Yemen lên đường

nhưng thân này còn ràng buộc ở Mecca


chợt khi nàng đến bên ta

chạy theo đoàn lạc đà vội vã

nàng vẫy tay nhón gót

nàng quay đi quay lại

và từ giây phút này

nàng quay tròn cuộc đời kẻ du mục đường xa!

My love is ascending with the Yemen caravan

My body is in Mecca in chains

But once she came eddying towards me

The bars were fast but she came

Came and gave me greeting, and rose

And turned and pivoted my life that way...

Khuyết Danh

bản Anh ngữ của H.Howarth và Ibrahim Shukrallah

THƠ Abu al-Ata al-Sindi
Trong cơn mơ

ta thấy em

như ngọn dáo

run rẩy giữa hai dòng máu

sinh đôi

tuôn chảy trên bãi cát nóng cháy hừng hực


Lạy Trời,

tôi chẳng hiểu vì sao

lại ghê gớm như vậy

chắc không phải tình yêu

thì cũng là quỷ quái

ví dù là quỷ quái

hãy ví von gọi nó là tình yêu

I dreamt of you

as tawny spears

between us shook

with our twin bloods

spilling on the toasted sand.


By God, I do not know

the cause of that:

it must be either love or magic

Supposing it is magic,

let us suppose that it is love;
bản Anh ngữ J. Kritzeck

*
Thời Đại ABBASIDS


Thời đại gần 100 năm này, 750- 847, tuy ngắn nhưng là thời hoàng kim sáng chói của Hồi giáo với các vị vua kiêm giáo chủ sáng suốt trọng văn hóa và cởi mở, người sau tiếc rẻ :

Đời là chiếc áo đẹp rực rỡ, chỉ tiếc là hơi ngắn !

Life is a very splendid robe, its fault is brevity.

Abu Nuwas


Abu Nuwas sinh khoảng đầu thế kỷ thứ VIII và mất năm 810. Thuở nhỏ học ở Basra, khi lớn ông tới kinh đô Baghdad và nổi tiếng trong thời đại Abbasids. Ông thường làm thơ “mới” lấy cảm hứng từ rượu, đàn bà và mọi lạc thú tiêu dao. Những mảnh đời nhiều vòng cương tỏa trở thành giai thoại được kể lại trong truyện “ Nghìn Lẻ Một Đêm “, nhất là chuyện xuất điện ngao du cùng với vua Ả Rập Harun và Amin đi lùng giai nhân trong chốn dân dã. Ông giống như Lý Bạch đời Đường ( cùng thế kỷ VIII) : say sưa phóng túng ngay giữa cung đình, nhiều lần bị vua Harun phạt tù dọa giết, nhưng rồi lại được vị minh quân mến chuộng thi tài thả ra.

Ông thường ví rượu như một “ hồ vàng ròng “ ( a lake of liquid gold) khi mắt nhìn vào thấy lóng lánh như một chuỗi ngọc, ông tự hào “ không bao giờ uống rượu trong bóng tối, nếu có thể được uống dưới ánh sáng mặt trời “:


Ho! a cup and fill it up, and tell me it is wine

For never will I drink in shade if I can drink in shine


Ông tên thật là Hasan Hani, họ ngoại mang dòng máu Ba Tư, Abu Nuwas là danh hiệu gia truyền có nghĩa là ông có lọn tóc xoăn, dài trễ xuống vai.

Những bài thơ tửu tụng –khamriyyat- của ông được coi là không tiền khoáng hậu trong văn chương Ả Rập, bên cạnh những thể loại phong phú tuyệt diệu khác. Khi già, ông trở về với đạo đức kinh kệ, nhung dân gian vẫn thích truyền tụng những vần thơ ngạo nghễ của ông khắp xó xỉnh Baghdad :


Tội lỗi có bao nhiêu, cứ chất chứa thêm

Thượng đế khoan dung, ngài chí thiện chí từ

tới ngày giã biệt thế gian ngươi sẽ thấy

Trời cao xanh ban vô lượng hồng ân

lúc ấy,

ngươi sẽ cắn ngón tay,



hối hận vô cùng

bao cuộc chơi lỡ bỏ vì sợ lửa Diêm Cung !


Accumulate as many sins as thou canst

The Lord is ready to relax His ire

When the Day comes, forgiveness thou wilt find

Before a mighty King and gracious Sire;

And gnaw thy fingers, all that joy regretting

Which thou didst leave through terror of hell-fire

R.H. Nicholson
Đoạn thơ sau đây tiêu biểu cho thi hứng của ông :
Bên dòng suối

rượu một chai

một chiếc ghế nằm dài

đợi chờ một thuở :

tứ khoái,

thân này lịm mềm men ngọt,

quỷ ma tới khuấy !
A brook, a bottle, a bench, a way of waiting,

The body sweetens, the ghost stirs,

Golden four.

Thơ ta luôn luôn tán tụng

càn khôn chuyển biến không ngừng

tư nhiên chất phác

như ăn như uống

như tiếng phì phò

dê bò chuồng đêm

chớ mang thần thánh nộ cuồng

chính trị bàn xuông

nhớp nhơ thi hứng;


So my poems are always about it,

Motion’ conduit,

Whose consistent simplicity

The agon and cathartics

The elegiacs of evening cattle



tải về 428 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương