Tác động của giá dầu đến nền kinh tế nước Nga và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam



tải về 77.1 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu17.02.2018
Kích77.1 Kb.

Tác động của giá dầu đến nền kinh tế nước Nga

và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam


Hoàng Xuân Trung
Tóm tt: Trong thời gian vừa qua, giá dầu mỏ trên thế giới đã sụt giảm mạnh. Nhiều nưc trên thế giới là những nước xuất khẩu dầu mỏ chính, trong đó có Nga đã phải chịu nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế. Nghiên cứu sẽ xem xét ảnh hưởng ca việc giá dầu giảm từ năm 2014 đến nền kinh tế nước Nga thông qua các biến s kinh tế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi giá dầu giảm tăng trưởng kinh tế Nga cũng giảm theo, đồng thời tiền công, doanh thu thương mại của hàng hóa thực phẩm và phi thực phẩm cũng sụt giảm. Điều này cũng có nghĩa rằng nghèo đói và bt bình đẳng gia tăng. Ngoài ra giá dầu giảm cũng tác động tiêu cực đến ngân sách Liên bang. Từ đó, nghiên cứu này sẽ rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Trên thế giới, nền kinh tế nhiều nước có liên quan mật thiết đến giá dầu. Một sổ nước phát triển thịnh vượng khi giá dầu giảm và chịu tác động tiêu cực khi giá dầu lên, trong khi đó một số nước khác lại có hiệu ứng ngược lại. Các nước thu được lợi từ việc giá dầu tăng cao có xu hướng là nước xuất khẩu dầu; ở chiều ngược lại có xu hướng là các nước nhập khẩu dầu. Trong nửa đầu năm 2014, người Mỹ đã vui mừng khi giá dầu và khí gas giảm mạnh. Giá dầu rẻ có tác động tương tự như việc cắt giảm thuế đối với một nước có lượng dầu nhập khẩu nhiều hơn là lượng dầu xuất khẩu. Tuy nhiên, Nga lại là nước chịu tác động ngược lại. Là nước xuất khẩu dầu lớn có nghĩa là giá dầu càng giảm ngân sách Nga mất đi khoản thu càng lớn.

Tầm quan trọng của xuất khẩu dầu mỏ đối với sự phát triển kinh tế của Nga là vấn đề gây tranh cãi. Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết diễn ra sau sự sụt giảm mạnh của giá dầu thô vào năm 1986, từ 33 đôla Mỹ/thùng vào những năm đầu thập kỷ 1980 xuống còn 16 đôla Mỹ/thùng vào những năm cuối thập kỷ 1980. Gaidar (2007) cho rằng sự sụt giảm doanh thu dầu là một trong những tác nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của Liên bang Xô viết. Sự suy thoái kinh tế của Nga trong thời kỳ Tổng thống Yeltsin cũng gắn liền với giá dầu sụt giảm đến mức thấp nhất trong thời kỳ này (xem Hình 1). Ngược lại giá dầu tăng mạnh thời kỳ Tổng thống Putin đã giúp nền kinh tế Nga tàng trưởng mạnh. Mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong thời kỳ Tổng thống Putin là 7%.

Điều đó cho thấy sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế Nga vào dầu mỏ và khí đốt, đồng nghĩa với việc GDP của Nga có liên hệ mật thiết tới những biến động của loại hàng hóa này. Với sự sụt giảm như hiện nay của giá dầu, nền kinh tế của Nga có nguy cơ suy giảm năm thứ hai liên tiếp. Tốc độ tăng trưởng GDP của Nga năm 2015 là -3,7%. Đây là mức suy giảm mạnh nhất kể từ năm 2009 (CMASF, 2016).
Hình 1: Sự biến động của giá dầu qua các thời kỳ

image4
Tháng 6/2008, giá dầu đạt mức đnh cao 155 USD/thùng. Từ tháng 6/2014, giá dầu liên tiếp giảm mạnh và chạm mức đáy 29,30 USD/thùng vào tháng 1/2016. Bài viết này sẽ phân tích, làm rõ: liệu nền kinh tế Nga có chịu tác động tiêu cực từ sự sụt giảm giá dầu mạnh từ năm 2014 không? Phải chăng nền kinh tế Nga đã điều chnh để phản ứng lại được với sự dao động ln của giá dầu?
1. Sự phụ thuộc của kinh tế Nga vào dầu

Những nghiên cứu thực nghiệm đã ch ra rằng giá dầu có ảnh hưởng khá lớn ti sự tăng trưởng GDP ở Nga. Với vai trò nổi bật của dầu và gas trong ngành xuất khẩu ca quốc gia này, trong một chừng mực nào đó có th nhìn nhận mối quan hệ mật thiết giữa sự tăng trưởng GDP của Nga và giá dầu. Trên thực tế, những nghiên cứu thực nghiệm đã ước tính được giá dầu cứ tăng 10% sẽ dẫn đến GDP của Nga tăng từ 1,5-2% (Benedictow, 2010). Benedictow et al (2010) xây đựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô, bao gồm 13 phương trình được ước lượng - sử dụng các biến liên quan đến tài khoản quốc gia, chi tiêu và thu của chính phủ, lãi suất, giá cả và thị trường lao động. Mô hình được sử dụng để phân tích ảnh hường của sự thay đổi giá dầu và các biến chính sách kinh tế.

Kết quả cho thấy mô hình tổt về mặt thổng kê và nắm bắt các biến lịch sử tốt theo thời gian, từ quý 1/1995 đến quý 1/2008. Mô phỏng mô hình chỉ ra rằng nền kinh tế nước Nga dễ bị tổn thương trước sự dao động lớn của giá dầu, nhưng kết quả cũng cho thấy khả năng tăng trưởng kinh tế của Nga kể cả khi không có sự lên giá của dầu. Xem xét số liệu lịch sử ở các thập kỷ trước cho thấy khi giá dầu tăng lên gấp 4 lần thì nền kinh tế Nga cũng trải qua một thời kỳ tăng trưởng mạnh, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi (xem hình 2); khi giá dầu giảm mạnh thì thu nhập bình quân đầu người cũng bị sụt giảm mạnh.



Hình 2: Mối quan hệ giữa giá dầu và GDP thực bình quân đấu người cùa Nga

image5

Source: World Bank (GDP per capital in 2005 USD) and IMF (real oil price index)
Đ hiểu hơn sự phụ thuộc của nền kinh tế Nga vào dầu, cần xem xét cấu xuất khẩu của Nga. Hình 3 phân tích tỉ phần xuất khẩu của các hàng hóa Nga trong năm 2013. Tổng sản lượng xuất khẩu của Nga có giá trị 526 tỉ đôla trong năm 2013, trong đó riêng dầu đã chiếm hơn một nửa sản lượng này, khoảng 54%. Khí gas cũng chiếm đến 14%. Như vậy, tổng tỉ suất dầu và gas chiếm đến 68% tổng giá trị xuất khẩu. Các mặt hàng xuất khẩu khác chỉ chiếm tỉ phần nhỏ như: kim loại chiếm 10%, hóa chất 6%, máy thu nhập của nền kinh tế Nga phụ thuộc lớn móc 5%, thực phẩm chiếm 3% trong tổng giá trị xuất khẩu. Kết quả phân tích này cho thấy thu nhập của nền knh tế Nga phụ thuộc lớn nhất vào xuất khẩu dầu, tiếp đến là khí gas.

Hình 3: tỉ phần xuất khẩu năm 2013


Gỗ 2%

image6

2. Ảnh hưởng của giá dầu đến nền kinh tế nước Nga

Phần này sẽ xem xét ảnh hưởng đến nền kinh tế Nga khi giá dầu sụt giảm và tác động của nó đến các biến số kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng GĐP, tiền công, doanh thu thương mại của hàng hóa thực phẩm và phi thực phẩm, mức độ thâm hụt ngân sách.



Nền kinh tể Nga đều tăng trưởng dương trong các năm 2010-2014. Tốc dộ tăng trưởng đạt cao, lần lượt là 4,5%, 4,3%, 3,5% tương ứng với các năm 2010,2011 và 2012. Tuy nhiên kinh tế bắt đầu giảm sút từ năm 2013, chỉ đạt 1,3%. Và khi giá dầu sụt giảm vào năm 2014, nền kinh tế Nga bắt đầu có dấu hiệu tăng trưởng âm. Cụ thể: tăng trưởng kinh tế năm 2014 chỉ đạt 0,7%; năm 2015 tăng trưởng -3,7%; năm 2016 là -0,9% (hình 4)

Hình 4: Tốc độ tăng trưởng GDP

image7
Kết quả phân tích của hình 5 cũng cho thấy giá dầu đã có tác động mạnh đến tiền công trên thị trường, tiền công giảm khi giá dầu sụt giảm. Tiền công thực tế ở Nga đã giảm trong năm 2015, mức tiền công thực tế bình quân mỗi lao động trong năm 2015 và 2016 thấp hơn năm 2013.
Hình 5: Tiền công thực tể bình quăn mỗi lao động

image8
Rõ ràng, khi giá dầu trên thế giới giảm sẽ tác động đến thu nhập của Liên bang Nga vì đây là nước xuất khẩu dầu mỏ. Điều này cũng gợi ý rằng khi thu nhập giảm sẽ làm giảm lượng hàng tiêu dùng. Phân tích kết quả doanh thu thương mại thực cửa hàng hóa thực phẩm theo thời gian, hình 6 cho thấy doanh thu thương mại của hàng hóa thực phẩm giảm mạnh trong năm 2015 và 2016. Nếu chỉ số doanh thu trong tháng 11/2014 là còn 96,8; đến tháng 7/2016 chỉ số này chỉ còn 88,1. Phát hiện này cho thấy tỉ lệ nghèo đói ở Nga tăng lên do người nghèo là những người tiêu dùng hàng hóa thực phẩm nhiều.

Hình 6: Doanh thu thương mại của hàng hóa thực phẩm

image9
Hình 7 xem xét sự thay đổi của doanh thu thương mại thực của hàng hóa phi thực phẩm sau khi giá dầu giảm. Kết quả cho thấy chỉ số doanh thu này bắt đầu giảm vào tháng 1/2015. Tuy nhiên mức giảm của doanh thu hàng hóa phi thực phẩm chậm hơn so với doanh thu hàng hóa thực phẩm. Thực tế, những người khá giả và giàu có sẽ có xu hướng tiêu dùng hàng hóa phi thực phẩm nhiều hơn so với nhóm người nghèo, do đó việc giảm giá dầu có tác động ít hơn đến việc giảm doanh thu thương mại thực của hàng hóa phi thực phẩm. Phát hiện này cho thấy giá dầu giảm dẫn đến tác động tiêu cực chủ yếu đối với nhóm người nghèo, và có ít tác động đối với nhóm người giàu. Điều này cũng có nghĩa là bất bình đẳng gia tăng ờ Nga khi giá dầu sụt giảm
Hình 7: Doanh thu thương mại thực của hàng hóa phi thực phẩm

image10
Hình 8 xem xét tình trạng thâm hụt ngân sách Liên bang qua các năm. Kết quả cho thấy ngân sách Liên bang của Nga đạt thặng dư vào các năm 2007 và 2008. Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2009, ngân sách Liên bang của Nga đã bị thâm hụt mạnh, chiếm 5,98% GDP năm 2009. Ngoài ra sự thâm hụt này cũng một phần do tác động của sự sụt giảm mạnh giá dầu diễn ra từ tháng 8/2008-2/2009 (Hoàng Anh và các cộng sự, 2015). Tình trạng thâm hụt ngân sách Liên bang tiếp tục diễn ra bong các năm sau đó, ngoại trừ năm 2011 ngân sách Liên bang đạt mức thăng dư. Thâm hụt ngân sách Liên bang trở nên trầm trọng hơn khi giá dầu giảm vào năm 2014, cụ thể mức thâm hụt chiếm 0,43% và 2,42% GDP lần lượt vào các năm 2014, 2015.

Hình 8: Thâm hụt ngân sách Liên bang (% GDP)image11
3. Kết luận và gi ý chính sách cho Việt Nam

Nga là một trong các nước phát triển hàng đầu về các lĩnh vực như quốc phòng, vũ trụ, năng lượng hạt nhân nhưng ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước Nga lại là dầu mỏ. Xuất khẩu dầu của Nga chiếm ti trọng lớn trong tổng xuất khẩu và đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế đất nước. Điều này cũng cho thấy sự phụ thuộc của Nga vào xuất khẩu dầu. Thực tế, sự biến động của giá dầu sẽ có tác động lớn đến nền kinh tế nước Nga. Năm 2014 giá dầu thế giới sụt giảm đã tác động đến nền kinh tế Nga, làm giảm tốc độ tăng trưởng, dẫn đến tiền công lao động cũng giảm theo, tiêu dùng các hàng lương thực và phi lương thực đều giảm, tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng gia tăng. Thêm vào đó sự tụt giảm giá dầu cũng dẫn đến thâm hụt ngân sách Liên bang, điều này dẫn đến việc tăng chi tiêu cho lĩnh vực an sinh xã hội của Nga trở nên khó khăn hơn.

Trước những tác động tiêu cực của giá dầu đến nền kinh tế đất nước, Chính phủ Nga đã tiến hành đàm phán với các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC nhằm giảm sản lượng cung dầu mỏ, từ đó kích tăng giá dầu lên. Chính phủ Nga cũng lên kế hoạch điều hành tỉ giá tiền tệ tập trung vào kịch bản giá dầu ở mức 40 USD/thùng, Nga sẽ mua ngoại tệ nhằm bảo vệ tỉ giá khỏi biến động nếu giá dầu giảm.

Trong suốt thế kỷ 20, dầu là nguyên liệu khan hiếm và luôn có xu hướng tăng câu Tuy nhiên, trong tương lai có thể các nhà khoa học sẽ tìm kiếm được nguồn nguyên liệu giá rẻ hơn, khi đó dầu sẽ không còn là nguyên liệu mang tính chiến lược nữa. Trong khi nền kinh tế Nga phụ thuộc chủ yếu vào dầu mỏ thì việc phát hiện ra nguyên liệu mới thay thế dầu mỏ sẽ đẩy Nga nói riêng và các nước xuất khẩu dầu nói chung vào tình trạng khó khăn và tất yếu sẽ phải chịu những tác động tiêu cực. Chính vì vậy, về lâu dài Nga cần phải hạn chế tăng trưởng kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào dầu mỏ mà cần phát huy các yếu tố khác như giáo dục, cơ sở hạ tầng, thể chế, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, Nga cần dùng các khoản thu nhập từ dầu để đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, cơ sờ hạ tàng, cải cách cơ cấu kinh tế và đặc biệt vào việc cải cách thể chế. Rõ ràng, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là cần thiết nhằm tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển nền kinh tế. Ngoài ra cơ sở hạ tầng cũng là yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu cũng như nhập khẩu hàng hỏa. Một điểm cần chú ý rằng Nga là nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, do đó nhiều thủ tục hành chính cũng như cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế vẫn còn mang những tồn tại từ thời kế hoạch hóa tập trung. Tình trạng tham nhũng vẫn còn phổ biến ở Nga. Điều này cho thấy việc cải cách thủ tục hành chính, cải cách môi trường kinh doanh là rất cần thiết cho sự phát triển lâu dài của Nga. Những gợi ý chính sách của bài nghiên cứu này không chỉ hướng tới Liên bang Nga mà còn có thể áp dụng cho cả các nước có kinh tế phát triển chủ yếu phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ như Việt Nam.

Theo số liệu niên giám thống kê của Tổng cục Hải quan (2016), kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đã giảm mạnh trong năm 2016 so với năm 2015, trong khi đó các mặt hàng khác của Việt Nam vẫn tăng mạnh. Cụ thể, lượng xuất khẩu dầu thô trong năm 2016 giảm 36,7% so với năm 2015; nhập khẩu xăng dầu năm 2016 giảm 11,7% về kim ngạch bằng với năm 2015 khi chỉ đạt 4,71 tỉ USD.

Thực tế thị trường kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay cho thấy, với cơ chế giá do Nhà nước quy định giá bán lẻ, điều chỉnh thông qua thuế xuất nhập khẩu và bù lỗ/bù giá, khi giá thế giới quá cao sẽ nảy sinh hiện tượng gian lận thương mại rất khó kiểm soát. Nếu thuế nhập khẩu càng cao thì càng làm gia tăng động lực cho các hoạt động nhập lậu xăng dầu. Chính vì vậy, Chính phủ cần thực hiện nới lỏng việc kiểm soát mặt hàng xăng dầu và dần dần để thị trường tự điều tiết. Điều đó có nghĩa là cần phải giảm bớt sự độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực này, cho phép các thành phần kinh tế được tham gia kinh doanh mặt hàng xăng dầu.



Dầu mỏ không phải là tài nguyên vô hạn. Mặt khác Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu các sản phẩm từ dầu. Do đó để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào việc chế biến các sản phẩm từ dầu thô, Chính phủ nên xem xét việc đánh thuế cao vào xuất khẩu dầu thô và hỗ trợ việc sản xuất cũng như xuất khẩu các sản phẩm từ dầu mỏ./.

(Nguồn: Nghiên cứu Châu Âu, số 07/2017)


Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương