Tap chi ql&ktqt 134 Bông cuá ‚i pdf



tải về 0.68 Mb.
Chế độ xem pdf
Chuyển đổi dữ liệu21.04.2022
Kích0.68 Mb.
#181847
835-Article Text-2628-1-10-20210309


Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ:

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO

NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS VIỆT NAM

Nguyễn Thị Bình

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Trịnh Thị Thu Hương

Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam

Ngày nhận:

Ngày hoànthànhbiên tập:

Ngàyduyệtđăng:

Tóm tắt: Mục tiêu của bài viết là phân tích thực trạng và xu hướng phát triển

thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam hiện nay, từ đó đánh giá các cơ hội và

thách thức đối với phát triển dịch vụ logistics. Nhóm tác giả đã sử dụng phương

pháp phân tích tài liệu thứ cấp, thực hiện tính toán từ số liệu khảo sát của Cục

Thương mại điện tử và Kinh tế số và Cục Xuất khẩu - Bộ Công Thương năm 2019

về các nội dung liên quan đến thương mại điện tử và logistics để nhận diện các cơ

hội và thách thức của sự phát triển TMĐT đến ngành dịch vụ logistics. Kết quả

nghiên cứu chỉ ra rằng, cơ hội cho ngành dịch vụ logistics có thể được nhận thấy

thông qua phân tích sự gia tăng của người dùng trực tuyến và doanh nghiệp (DN)

tham gia chuyển đổi sở hữu website, lựa chọn tên miền khi xây dựng website. Các

thách thức mà ngành logistics sẽ phải đối mặt là yêu cầu của khách hàng ngày càng

cao, có nhiều đối thủ lớn của nước ngoài tham gia vào thị trường logistics trong

TMĐT. Ngoài ra, các vấn đề về ứng dụng công nghệ thông tin và hành lang pháp

lý cũng là những thách thức lớn của ngành logisics trong TMĐT của Việt Nam

trong tương lai.

Từ khóa: Thương mại điện tử, Logistics, Mua hàng trực tuyến, Giao hàng

chặng cuối

E-COMMERCE DEVELOPMENT: OPPORTUNITIES AND

CHALLENGES FOR LOGISTICS SEVICE SECTOR IN VIETNAM

Abstract: The goal of this study is toclarify the current situation and development

tendency of e-commerce in Vietnam, thereby, analyzing the opportunities and

challenges for the Vietnam's logistics service sector. The study team collected

secondary data from Vietnam e-Commerce and Digital Economy Agency and

Import and Export Department with relevant information on e-commerce and

logistics. The paper analyses and de nes the opportunities and challenges facing

the logistics service sector in the context of e-commerce devevelopment. The

results show that the opportunities for the logistics service sector development

would be the signi cant growth of online users and businesses involved in

Tác giả liên hệ, Email: ntbinh@ftu.edu.vn

Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế

Trang chủ:

http://tapchi.ftu.edu.vn

661


TẠP CHÍ

QUẢN LÝ


KINH TẾ QUỐC TẾ


Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

1. Đặt vấn đề

Ngành TMĐT của Việt Nam trong thời gian gần đây đã có nhiều bước phát triển

đáng kể. Năm 2019, số lượng người tham gia vào TMĐT là 35,4 triệu người và tạo ra

doanh thu khoảng hơn 8 tỷ USD, nằm trong danh sách 10 nước có tốc độ tăng trưởng

ngành TMĐT nhanh nhất thế giới. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường

TMĐT, các DN cũng đã bắt đầu chú trọng đến phát triển logistics trong TMĐT bởi

đây là một yếu tố quan trọng quyết định tới thành công hay thất bại của DN trong lĩnh

vực này. Muốn phát triển mạnh TMĐT thì không thể thiếu các dịch vụ logistics chất

lượng. Sự phát triển của dịch vụ logistics sẽ giúp cho quá trình lưu thông, phân phối

hàng hóa được thông suốt, chuẩn xác và an toàn và là cơ sở nâng cao năng lực cạnh

tranh của DN TMĐT. Tuy lĩnh vực logistics phát triển khá nhanh, theo các tác giả, các

nghiên cứu mang tính học thuật về lĩnh vực e-logistics ở Việt Nam còn rất hạn chế.

Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào hoạt động cũng như tác động của ngành dịch

vụ logistics nói chung ở cấp độ quốc gia hay cấp độ tỉnh (Ngô, 2002; Đặng, 2011;

Nguyễn, 2015; Nguyễn, 2017; Lê, 2018). Trong lĩnh vực e-logistics, Nguyễn & cộng

sự (2019) đã có khảo sát và đánh giá tương đối cụ thể về thực trạng e-logistics tại

thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ này cho thành

phố. Một số nghiên cứu khác như Hồ (2017) đã đề ra những điều kiện then chốt để

các doanh nghiệp phát triển mô hình logistics điện tử đó là hạ tầng cơ sở của logistics

điện tử. Tuy nhiên, có thể thấy hầu như tất cả các đề tài trên chưa đề cập cụ thể mối

quan hệ giữa TMĐT và hoạt động logistics, đặc biệt là sự phát triển của TMĐT sẽ đặt

ra các vấn đề gì cho sự phát triển của hoạt động logistics.

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2020), hiện

nay, mặc dù sự nhận thức về lợi ích giao dịch qua sàn TMĐT của chính phủ và các

DN Việt Nam đã cải thiện đáng kể nhưng thực trạng về việc ứng dụng các phần

mềm liên quan đến mua hàng của các DN Việt Nam còn khá hạn chế. Chính phủ

và các DN vẫn chủ yếu áp dụng hình thức mua hàng truyền thống. Hay nói cách

khác, các hình thức TMĐT như B2B hay B2G còn khá mới và chiếm thị phần chưa

lớn trong tổng quy mô thị trường TMĐT ở Việt Nam. Ngoài ra, cũng theo công bố

Cục Thương mại điện tử và kinh tế số Việt Nam (2020), tỷ lệ người dùng Việt Nam

mua hàng qua các website nước ngoài chiếm chưa đến 30% tổng số lượng giao dịch

TMĐT. Điều này có nghĩa, hiện nay, hoạt động TMĐT xuyên biên giới của Việt

Nam tuy được đánh giá là có bước phát triển nhưng quy mô thị trường TMĐT của

Việt Nam vẫn được quyết định bởi các giao dịch TMĐT nội địa. Bên cạnh đó, theo

converting website ownership and choosing domain names when building

websites. The challenges would be the increase in customer requirements, and

the rising number of big foreign competitors entering the logistics market in

e-commerce. Besides, the low level of information technology application and

a lack of legal basic would hinder further development of the e-logistics system

of Vietnam in the future.

Keywords: E-commerce, Logistics, Online shopping, Last-mile delivery




Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

các công bố trong Sách trắng về logistics (Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics

Việt Nam, 2018), hoạt động giao hàng chặng cuối (last-mile delivery) có thể chiếm

tới 60% tổng chi phí của chuỗi cung ứng hàng hóa trong giao dịch TMĐT. Do vậy,

mục tiêu của nghiên cứu này sẽ tập trung làm rõ thực trạng và xu hướng phát triển

TMĐT nội địa ở Việt Nam hiện nay, từ đó phân tích các cơ hội và thách thức đối

với phát triển dịch vụ logistics trong xu hướng này. Phạm vi và đối tượng nghiên

cứu của bài viết sẽ là hoạt động TMĐT nội địa và các DN cung cấp dịch vụ giao

hàng chặng cuối trong chuỗi cung ứng hàng hóa TMĐT hiện nay ở Việt Nam. Với

mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã đề cập ở trên, bài nghiên cứu sẽ bao gồm bốn

nội dung: Ngoài phần đặt vấn đề, bài viết sẽ bao gồm các nội dung cụ thể là cơ sở

lý thuyết và mô hình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và kết luận.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Khái niệm logistics

Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về logistics, được xây dựng dựa

trên từng góc độ và mục đích nghiên cứu khác nhau về logistics. Theo nghĩa rộng,

logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặt

chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành

phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến

điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng

(CSCMP, 2013). Theo nghĩa hẹp, logistics được hiểu như là các hoạt động dịch

vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và logistics là hoạt động

thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể (Luật Thương mại Việt Nam, 2005).

Cho dù được định nghĩa trên phạm vi rộng hay hẹp, thì logistics luôn được hiểu

là chuỗi các hoạt động được tổ chức và quản lý khoa học gắn liền với các khâu của

quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng trong nền sản xuất xã hội.

2.1.2 Logistics trong thương mại điện tử

Các nghiên cứu về logistics trong TMĐT (e-logistics) cả về khía cạnh lý luận

và thực tiễn. Theo Bayles (2002), thì logistics trong TMĐT, hay e-logistics là các

hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua Internet. Tiếp cận trên quan điểm

này thì mục tiêu của logistics trong TMĐT là tự động hóa các quy trình logistics,

cung cấp dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng và thực hiện tích hợp từ đầu đến cuối

cho tất cả các quy trình này. Dębkowska (2017) đã chỉ ra hoạt động e-logistics

thường tập trung vào các nghiệp vụ sau trong TMĐT: thực hiện đơn hàng, quản lý

kho bãi, phân phối và đóng gói sản phẩm phục vụ giao dịch TMĐT. Để hiểu được

hoạt động logistics trong TMĐT, Lazada Group - một trong những công ty TMĐT

lớn nhất ở ở Việt Nam hiện nay đã mô phỏng lại một giao dịch TMĐT điển hình

theo mô hình B2C như sau:



Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

Hình 1. Mô phỏng giao dịch thương mại điện tử theo mô hình B2C

Nguồn: Lazada (2018)

Sau khi khách hàng truy cập vào website bán hàng trực tuyến và tìm kiếm các sản

phẩm cần mua, cho các sản phẩm đó vào giỏ hàng hóa, thì họ sẽ tiến hành thủ tục

thanh toán cho các sản phẩm này. Thanh toán xong, khách hàng sẽ nhận được thư

xác nhận đơn hàng từ phía DN bán hàng, đồng thời DN này sẽ chuyển thông tin đơn

hàng đến bộ phận người bán hàng/trung tâm phân phối/nhà kho/trung tâm chia chọn.

Các đơn vị vận chuyển sẽ đến các vị trí trên để lấy hàng và chuyển tới khách hàng.

Như vậy, trong một giao dịch TMĐT điển hình (ví dụ như theo mô hình B2C), hoạt

động logistics được hiểu đơn giản là quy trình hoàn tất đơn hàng, bao gồm các khâu

đóng gói, vận chuyển, thu tiền và chăm sóc khách hàng sau bán hàng. Với hàng hóa là

các sản phẩm hữu hình, dù cho các khâu tìm kiếm sản phẩm, ký kết hợp đồng, thanh

toán… có thể thực hiện trên môi trường trực tuyến nhưng công đoạn giao hàng từ nhà

sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng vẫn phải gắn chặt với dịch vụ logistics (giao

nhận, chuyển phát). Mục tiêu quan trọng của hoạt động logistics trong TMĐT là cung

cấp đúng hàng hóa, đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời gian cho khách hàng.

Các hình thức logistics phổ biến trong TMĐT hiện nay có thể kể đến như:

- Dịch vụ chuyển phát nhanh thư, tài liệu, vật phẩm, hàng hoá từ người gửi đến

người nhận. Dịch vụ này có một số tiêu chí kỹ thuật như (i) Khối lượng bưu gửi thông

thường tối đa 31,5kg/bưu gửi; (ii) Hàng nguyên, không thể tách rời; và (iii) Hàng nhẹ.

- Dịch vụ giao hàng - thu tiền (COD). Nhận biết được những khó khăn trong

kinh doanh hàng hoá trực tuyến tại Việt Nam là khâu giao hàng và thanh toán, nhiều

công ty đã thiết kế dịch vụ “Giao hàng - Thu tiền hộ” cho những chủ hàng kinh

doanh online. Hầu hết các công ty chuyển phát - giao hàng trên thị trường đều đang

áp dụng dịch vụ này.




Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

- Dịch vụ giao hàng chặng cuối (last-mile delivery), bao gồm hai thành phần

dịch vụ tích hợp với nhau là vận tải - giao hàng và trung tâm phân loại - chia chọn.

Trong đó, việc tổ chức hoạt động phân loại - chia chọn đóng vai trò quan trọng đối

với chất lượng và năng lực (quy mô) thực hiện dịch vụ.

Nhận định về xu hướng phát triển của e-logistics trên thế giới, Miscevic & cộng

sự (2018) cho rằng các ứng dụng công nghệ thông tin mang tính bứt phá sẽ là xu

hướng chính trong phát triển của ngành e-logistics trong thời gian tới. Đó là các ứng

dụng tự động hóa và robotics, đầu tư công nghệ thực tế ảo (VR - Virtual Reality) và

thực tế tăng cường (AR - Augmented Reality) kết nối e-logistics, mạng lưới vạn vật

kết nối Internet (IoT - Internet of Thing) có thể được tích hợp trong kho bãi thông

qua các cảm biến cài đặt tại các kệ, hàng hóa. Đối với một số nước đang phát triển

(như Việt Nam), xu hướng mua lại và sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực TMĐT nói

chung và logistics nói riêng được xem là một trong các xu hướng chủ đạo trong thời

gian gần đây (Nguyễn, 2019). Các thương vụ M&A trong lĩnh vực này thường tập

trung vào các dịch vụ như thanh toán điện tử, giao nhận hay giao hàng chặng cuối.

Cho đến thời điểm hiện nay, Amazon là một trong các trường hợp điển hình cho sự

thành công trong ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực e-logistics, từ đó tối

ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, nâng cao chất lượng quá trình, hiệu suất để tăng tốc

độ và minh bạch trong việc ra quyết định, đồng thời cải thiện hiệu quả hoạt động

của DN (Ying & cộng sự, 2016; Miscevic & cộng sự, 2018).

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ đạo trong đề tài này là phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp,

tập trung chủ yếu vào các nội dung sau: (1) Hệ thống báo cáo, số liệu và website

niên giám thống kê về thực trạng phát triển TMĐT của Việt Nam; (2) Hệ thống báo

cáo, số liệu, niên giám thống kê về thực trạng phát triển e-logistics của Việt Nam;

(3) Một số kinh nghiệm trong phát triển e-logistics. Ngoài ra, đề tài thực hiện tính

toán số liệu từ bộ số liệu khảo sát của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số và Cục

Xuất khẩu - Bộ Công Thương năm 2019 về các nội dung liên quan đến TMĐT và

logistics. Điểm mạnh của phương pháp này là có thể khai thác tối đa cơ sở dữ liệu

cũng như kết quả nghiên cứu tin cậy đã thực hiện trong lĩnh vực TMĐT và logistics,

từ đó làm cơ sở định hướng cho việc phân tích, giải thích và đề xuất các kiến nghị có

liên quan. Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng nhận thấy việc thu thập và phân tích các tài

liệu thứ cấp là tương đối khó khăn bởi các lý do phát sinh từ việc dữ liệu không đầy

đủ, thống nhất hay ý kiến đánh giá/nhận định đôi khi mang tính chủ quan. Nhằm

khắc phục các hạn chế này, việc thu thập thông tin số liệu được tiến hành như sau:

- Cơ sở dữ liệu tìm kiếm: Danh mục các tạp chí khoa học uy tín của Việt Nam

được hội đồng giáo sư nhà nước công nhận; Scopus.

- Thời điểm thu thập: Ngày 19/07/2020.

- Cú pháp tìm kiếm: E-logistics, e-commerce, logistics trong TMĐT, B2C.




Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

- Giới hạn tìm kiếm: Chỉ nhận kết quả những bài viết từ các báo cáo chuyên ngành

về TMĐT và Logistics các Bộ chuyên ngành công bố; các tạp chí khoa học uy tín của

Việt Nam, các báo cáo khoa học uy tín đã nghiệm thu, bài báo tiếng Anh trong nguồn

Scopus trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến thời điểm tìm kiếm là 19/07/2020.

- Câu hỏi nghiên cứu đặt ra: Thực trạng và triển vọng hoạt động TMĐT ở Việt

Nam? Vị trí của hoạt động logistics trong giao dịch TMĐT là như thế nào? Khi

ngành TMĐT phát triển thì hoạt động logistics sẽ thay đổi như thế nào?

3. Kết quả nghiên cứu

3.1 Thực trạng phát triển thương mại điện tử và logistics trong thương mại điện

tử ở Việt Nam

3.1.1 Thực trạng phát triển thương mại điện tử của Việt Nam

Ở Việt Nam, hoạt động TMĐT theo mô hình B2C đã có nhiều bước phát triển

đáng kể trong vòng 5 năm trở lại đây. Với điểm xuất phát thấp, khoảng 2,2 tỷ USD

vào năm 2013 nhưng nhờ tốc độ tăng trưởng trong 5 năm liên tiếp ở mức gần 25%/

năm nên quy mô thị trường TMĐT B2C năm 2019 đạt mức khoảng 10,08 tỷ USD.

Đơn vị: tỷ USD

Hình 2. Quy mô thị trường TMĐT B2C của Việt Nam giai đoạn 2013-2019

Nguồn: Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2020)

Tỷ lệ người dùng Internet đã từng mua hàng trực tuyến ít nhất một lần chiếm

tới 67% quy mô dân số và đặc biệt có tới gần 65% trong số họ là hài lòng với hình

thức mua bán này.

Hình 3. Tỷ lệ người dùng Internet đã

từng mua hàng trực tuyến ít nhất 1 lần

Hình 4. Mức độ hài lòng của

mua hàng trực tuyến

Nguồn: Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2020)



Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

Số liệu về các loại hàng hóa được mua trên mạng và hình thức thanh toán được

thể hiện ở sơ đồ dưới đây:

Hình 5. Loại hình hàng hóa

được mua trên mạng

Hình 6. Hình thức thanh toán

Nguồn: Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2019)

Loại hàng hóa được mua bán nhiều nhất trên mạng đó là quần áo, giày dép, mỹ

phẩm (61%), sau đó đến sách, văn phòng phẩm, quà tặng (46%)… Các dịch vụ spa

ít sử dụng hình thức giao dịch TMĐT nhất. Khi thanh toán cho các loại sản phẩm

này, 82% người tiêu dùng vẫn sử dụng hình thức thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt

(COD), 48% sử dụng hình thức thanh toán ATM và Internet Banking. Các loại hình

ví điện tử dường như còn khá mới mẻ đối với người tiêu dùng Việt Nam.

Hình 7. Những trở ngại khi mua sắm trực tuyến tại Việt Nam

Nguồn: Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2020)

Khi nhận định về các trở ngại đối với hình thức mua sắm trực tuyến thì có tới 77%

người được khảo sát cho rằng, điều họ lo ngại nhất đối với hình thức mua bán này là

sản phẩm kém chất lượng so với quảng cáo. Ngoài ra, các trở ngại khác liên quan đến

bảo mật thông tin, giá cả niêm yết không rõ ràng, hay dịch vụ khách hàng kém… cũng

là những mối quan tâm rất lớn của người tiêu dùng khi tham gia hình thức TMĐT.

3.2 Thực trạng hoạt động logistics trong thương mại điện tử ở Việt Nam

Trong TMĐT, logistics luôn là nền tảng cơ sở rất quan trọng, là một trong những

nhân tố chủ đạo quyết định đến lợi nhuận của DN. Sự gia tăng số lượng hàng hóa

giao dịch trực tuyến ở Việt Nam đã dẫn đến nhu cầu logistics trong TMĐT tăng cao,

thậm chí có giai đoạn vượt quá khả năng đáp ứng. Hiện nay, một số công ty lớn về

lĩnh vực logistics trong TMĐT ở Việt Nam có thể kể đến như:




Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

Bảng 1. Thống kê một số công ty lớn về lĩnh vực logistics trong TMĐT ở Việt Nam

Tiki

DHL


Lazada

FedEx


Shopee

TNT


Sendo

Scommerce

VN Post

Ninja Van

Viettel Post

Giaohangtietkiem

Nguồn: Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2020)

3.2.1 Các loại hình dịch vụ

Các dịch vụ điển hình của các công ty logistics trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam

bao gồm:


(1) Dịch vụ chuyển phát nhanh (CPN): thư, tài liệu, vật phẩm, hàng hóa trong

nước và quốc tế của Viettel Post, VN Post…

(2) Dịch vụ giao hàng tức thời: dành riêng cho khách hàng có nhu cầu vận

chuyển hàng hóa nội thành với 3 tiêu chí: Tiết kiệm - Hỏa tốc - Đảm bảo, ví dụ như

dịch vụ “NowShip” của Foody.vn, Giao hàng siêu tốc của Sendo, Tiki Now của Tiki

và Giao hàng siêu tốc của Lazada.

Tùy vào các mốc thời gian đặt hàng khác nhau mà khách hàng sẽ nhận được

hàng vào các khung giờ tương tự, chi tiết có thể xem bên dưới bảng thời gian đặt

và giao hàng.

Bảng 2. Chính sách giao hàng của các đơn vị chuyển phát nhanh

Thời gian đặt hàng

Thời gian giao hàng

00:00  07:59

Trước 11h cùng ngày

08:00  16:00

Giao hàng trong 3 tiếng

16:01  23:59

Trước 11h ngày hôm sau

Nguồn: GHN (2018)

(3) Các công ty đảm nhận hoạt động giao hàng chặng cuối: liên quan đến hai tác

nghiệp logistics quan trọng là vận tải - giao hàng và trung tâm phân loại chia - chọn.



Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

9

Trong đó, hoạt động phân loại chia - chọn đóng vai trò quan trọng đến năng lực và



chất lượng dịch vụ của các công ty này. Một số DN logistics trong TMĐT đã xây

dựng và vận hành trung tâm phân loại - chia chọn hàng hóa như:

- LEL Express: đơn vị giao nhận thuộc thương hiệu Lazada đã xây dựng và vận

hành trung tâm phân loại hàng hóa tự động tại Trung tâm logistics Hateco, Sài

Đồng, Long Biên;

- Vietnam Post: khai trương trung tâm phân loại hàng hóa tại Hiệp Phước;

- Giao hàng nhanh (GHN): sở hữu trung tâm phân loại tự động hàng hóa tại

TP. Hồ Chí Minh.

3.2.2 Chi phí đơn hàng và thời gian giao hàng

Theo tính toán nội bộ của Công ty cổ phần dịch vụ GHN, chi phí vận chuyển tính

trên 1 đơn hàng có xu hướng giảm nhanh, trong khi thời gian giao hàng đã có sự cải

thiện rất đáng kể trong giai đoạn 2015-2017. Cụ thể:

Hình 8. Thay đổi về chi phí đơn hàng

Hình 9. Thay đổi về thời gian

hoàn thành đơn hàng

Nguồn: GHN (2018)

Chi phí trung bình cho một đơn hàng năm 2015 là khoảng 45.000 đồng/đơn và

thời gian giao hàng bình quân là 4,3 ngày/đơn. Đến năm 2017, chi phí trung bình

cho một đơn hàng giảm xuống 33.000 đồng/đơn và thời gian giao hàng trung bình

2,4 ngày/đơn. Rõ ràng yêu cầu đối với hoạt động logistics ngày càng có xu hướng

tăng và phức tạp hơn.

4. Cơ hội và thách thức đối với phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam

Với tốc độ tăng trưởng bình quân lên đến gần 30%/năm, thị trường TMĐT dự

kiến doanh số đạt 15 tỷ USD trong năm 2020. Sự tăng trưởng nhanh của thị trường

TMĐT cả về quy mô lẫn chất lượng đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho

ngành dịch vụ logistics. Phần trình bày dưới đây sẽ phân tích cụ thể các cơ hội và

thách thức đối với phát triển dịch vụ logistics trong TMĐT của Việt Nam.

4.1 Cơ hội

(i) Xét trên góc độ là người tiêu dùng trực tuyến: Tỷ lệ người dân sử dụng

Internet, số lượng người tiêu dùng trực tuyến và chi phí mua sắm của người tiêu




10

Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

dùng ở Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua và xu hướng này tiếp

tục duy trì trong tương lai. Số liệu cụ thể như sau:

Bảng 3. Tốc độ gia tăng của thị trường TMĐT Việt Nam giai đoạn 2015-2018

2015 2016 2017 2018

Tốc độ tăng bình

quân 2015-2018 (%)

Tỷ lệ người dân sử dụng internet

(%)


54,0 54,2 58,0 60,0

2,7


Số lượng người tham gia mua sắm

trực tuyến (triệu người)

30,3 21,7 33,6 39,9

7,1



Chi phí mua sắm của người tiêu



dùng (USD)

160 170 186

6,0



Nguồn: Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2020)



Dự báo mức chi tiêu trực tuyến tại Việt Nam sẽ tăng gấp 6,5 lần vào năm 2025

và đây là tốc độ phát triển nhanh nhất khu vực Đông Nam Á trong thời gian tới.

Hình 10. Dự báo mức tiêu dùng trực tuyến của các nước tại khu vực Đông Nam Á

Nguồn: BVSC (2019)

Về bản chất, hiện nay, dịch vụ logistics của Việt Nam đang có nhiều tiềm năng

để phát triển. Dự báo về sự gia tăng nhanh chóng của thị trường TMĐT trong thời

gian tới sẽ là động lực, là cơ hội lớn cho phát triển dịch vụ logistics.

(ii) Xét trên góc độ doanh nghiệp tham gia chuyển đối số, sở hữu website, lựa

chọn tên miền khi xây dựng website: trong hai năm trở lại đây, số lượng doanh

nghiệp tăng nhanh và xu hướng này dự báo tiếp tục duy trì trong tương lai.

Theo khảo sát của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) thì có tới

67% khách hàng cá nhân lựa chọn website hay ứng dụng di động để mua sắm sau khi

xem bình luận, đánh giá trên mạng; 38% DN cho rằng đơn hàng của họ tới từ website,

29% tới từ các sàn thương mại điện tử, 13% từ Facebook và 4% tới từ các kênh khác.

Điều đó cho thấy website tiếp tục là một trong các kênh bán hàng trực tuyến hiệu quả

nhất. Xu hướng gia tăng tỷ lệ DN sở hữu website, hay lựa chọn tên miền khi xây dựng

website và tham gia sàn giao dịch TMĐT sẽ tạo tiền đề hiệu quả trong việc chuyển



Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

đổi mua hàng, từ đó sẽ làm cho thị trường TMĐT ngày càng sôi động hơn. Đó chính

là cơ hội cho hoạt động logistics trong TMĐT tiếp tục phát triển.

Hình 12. Tỷ lệ doanh nghiệp chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2017-2018

Nguồn: Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2019)

4.2 Thách thức

Song song với các cơ hội do sự phát triển của thị trường TMĐT mang lại, hoạt

động logistics trong TMĐT cũng đang và sẽ đối mặt với một số thách thức như:

(i) Yêu cầu của khách hàng đang là một trong những thách thức lớn đối với

DN logistics.

Theo khảo sát của GHN (2018), khách hàng của TMĐT luôn mong muốn giao

hàng nhanh, chi phí thấp và dịch vụ tốt. Cụ thể thời gian và chi phí khách hàng

mong muốn như sau:

Hình 13. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ logistics

trong thương mại điện tử ở Việt Nam

Nguồn: GHN (2018)

Trong bối cảnh đó, hầu hết các DN e-logistics Việt Nam hiện nay mới chỉ đang

tập trung cạnh tranh với nhau về giá. Các dịch vụ cung cấp của các DN chưa thực

sự có sự khác biệt, phương tiện vận chuyển không đa dạng, chủ yếu giao bằng xe



Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

máy, sức chứa nhỏ. Ngoài ra, việc tiếp cận các mô hình mới về e-logistics (ví dụ

như drop o network, click&collect) của DN còn khá dè dặt, các dịch vụ hỗ trợ như

cho thuê phương tiện chuyển phát, phát triển phương tiện vận chuyển đặc thù, vận

chuyển hàng không cũng khá hạn chế.

(ii) Ngày càng nhiều các đối thủ lớn của nước ngoài tham gia vào thị trường

logistics trong thương mại điện tử của Việt Nam.

Trên thực tế trong 5 năm trở lại đây, xu hướng M&A trong TMĐT của Việt Nam

tăng nhanh cả về số lượng và giá trị các thương vụ. Các thương hiệu hàng đầu trong

hệ sinh thái TMĐT của Việt Nam như Lazada, Tiki, Shopee, Chợ Tốt, Zalora đều bị

các doanh nghiệp TMĐT lớn của nước ngoài mua lại.

Bảng 4. Một số thương vụ M&A trong lĩnh vực thương mại điện tử của Việt Nam

Năm Thương hiệu thâu tóm Thương hiệu bị thâu tóm

Lĩnh vực


2017

Telenor đến từ Na Uy

Chợ Tốt

Rao vặt


2017

JD.com (TQ)

Tiki

Bán hàng


2016

En-Japan


Vietnamworks

Việc làm trực tuyến

2016

Alibaba (Temasek)



Lazada

Bán hàng trực tuyến

2016

Central Group



Zalora (Robins)

Bán hàng trực tuyến

2016

JD.com


Shopee (40% của Tancent)

Bán hàng trực tuyến

Nguồn: Nguyễn (2019)

Bảng 5. Các nhóm công ty đang hoạt động trong lĩnh vực logistics

trong thương mại điện tử của Việt Nam

STT


Lĩnh vực

Công ty


Nhóm công ty truyền thống

- Viettel Post

- VN Post

Nhóm công ty nước ngoài

- FedEx

- UPS


- DHL

3

Nhóm công ty công nghệ nước ngoài



- Ninja Van

- Lalamove

4

Nhóm công ty công nghệ trong nước



- GHN

- Giaohangtietkiem

5

Nhóm công ty siêu ứng dụng



- Grab

- Go-Viet

6

Nhóm công ty tự vận chuyển



- Tiki Express Delivery/Tiki Now

- Lazada Express

Nguồn: Nghiêm (2019)



Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

Hệ quả của M&A trong ngành TMĐT là nhiều công ty logistics, công ty vận

chuyển nước ngoài đã bắt đầu tham gia thị trường logistics phục vụ TMĐT của

Việt Nam.

Sự tham gia của các đối thủ nước ngoài trên thị trường logistics trong TMĐT của

Việt Nam đã tạo ra sức ép rất lớn cho các DN trong nước trong việc không ngừng

nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đồng thời giảm cước phí vận chuyển.

(iii) Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong thương mại điện tử còn rất cao.

Hiện nay, 82% người mua hàng trực tuyến vẫn lựa chọn hình thức thanh toán

tiền mặt cho đơn hàng của mình. Điều này dẫn đến rủi ro cho nhân viên giao nhận

khi phải mang theo lượng tiền mặt lớn, đồng thời tỷ lệ giao hàng không thành công

cao (khách hàng không chấp nhận gói hàng đã đưa đến hoặc hủy đơn hàng trước

khi được giao). Một ví dụ cho thấy, khi hạ tầng tài chính và thanh toán di động tốt,

trang TMĐT Tokopedia của Indonesia đã giúp chuyển đổi tỉ lệ thanh toán trực tuyến

cho quốc gia này lên 70% - 80%, trong khi tỉ lệ COD ở Việt Nam vẫn cao (ước tính

chiếm hơn 80% tỉ lệ thanh toán). Vì vậy, các DN logistics trong TMĐT phải chịu

thêm sức ép giá thành gói vận hành 5% - 10%/năm (Lazada, 2018).

(iv) Tỷ lệ ứng dụng công nghệ thông tin trong e-logistics còn thấp.

Theo khảo sát Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (2018), trong lĩnh

vực e-logistics chỉ có khoảng 10,8% số lượng DN đang sử dụng các CNTT cơ bản

liên quan theo dõi và truy xuất hàng hóa, hệ thống quản lý giao nhận, kho bãi. Phần

nhiều các DN còn lại vẫn duy trì hình thức thủ công trong khâu phân loại/chia chọn

hàng trong kho dẫn đến sai sót, chi phí cao, nhất là khi sản lượng TMĐT tăng trưởng.

(v) Thiếu hành lang pháp lý cho hoạt động e-logistics tại Việt Nam.

Trên thực tế, các văn bản pháp lý liên quan đến TMĐT là tương đối đầy đủ như

Luật giao dịch điện tử của Việt Nam có hiệu lực từ 1/3/2006, Luật Công nghệ thông

tin ngày 29/11/2015, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ

về thương mại điện tử…Tuy nhiên, Việt Nam chưa có văn bản pháp quy nào quy

định cụ thể về e-logitsics. Cụ thể, pháp luật hiện hành còn thiếu quy định về khái

niệm e-logistics, chưa thực sự phân biệt được hai khái niệm logistics và e-logistics,

dẫn đến việc triển khai hoạt động này trên thực tế còn nhiều khó khăn.

5. Kết luận

TMĐT đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các mô hình kinh doanh

sáng tạo và đáp ứng hiệu quả sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng, TMĐT

cũng được coi là một trong các công cụ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh,

nhất là với các DN nhỏ và vừa. Sự bùng nổ phát triển TMĐT của Việt Nam trong

thời gian qua đã thực sự tạo ra động lực, cơ hội lớn cho phát triển dịch vụ logistics

trong TMĐT. Mặc dù nhu cầu thị trường logistics trong TMĐT rất lớn nhưng hiện




Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

nay hầu hết các DN logistics Việt Nam vẫn chỉ tập trung cạnh tranh về giá, các dịch

vụ cung cấp chưa có sự khác biệt rõ rệt và thiếu tính liên kết giữa các công ty với

nhau. Trong khi nhu cầu về logistics trong TMĐT ở Việt Nam tăng cao hơn khả

năng đáp ứng, thì rất cần các DN trong ngành tập trung vào thế mạnh của mình và

mở rộng hợp tác, đầu tư nâng cấp dịch vụ, công nghệ và mạng lưới để tối ưu hóa chi

phí, nghiên cứu phát triển và đa dạng hóa phương tiện vận chuyển theo hướng thân

thiện môi trường. Bên cạnh đó, các DN cũng cần chú trọng hơn đầu tư vào nguồn

nhân lực, phối hợp với các trường đại học đào tạo chuyên sâu về e-logistics. Trên

góc độ quản lý nhà nước, việc hoàn thiện khung pháp lý về e-logistics từ cách tiếp

cận về nội hàm e-logistics đến các hóa đơn chứng từ hàng hóa đi đường cũng như

các hướng dẫn cụ thể về phương tiện vận hành trong e-logistics là một trong những

nội dung vô cùng cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Cùng với đó, nhà nước cũng cần

tạo điều kiện để khuyến khích hơn nữa các DN ứng dụng và phát triển công nghệ tự

động, phát triển các phương tiện “xanh” phù hợp với e-logistics.

Lời cảm ơn

Đây là sản phẩm của

Nhóm nghiên cứu Logistics, Trường Đại học Ngoại thương.

Chúng tôi cảm ơn các phản biện và Ban biên tập đã có góp ý sâu sắc về chuyên môn

và hỗ trợ nhóm tác giả rất nhiều trong quá trình hoàn thành bài nghiên cứu này.

Tài liệu tham khảo

Bayles, D.L. (2002), “E-logistics and E-ful llment: beyond the “buy” button”, UNCTAD

Workshop 25-27 June 2002, CURAÇAO.

Bộ Công Thương. (2017), Báo cáo logistics Việt Nam năm 2017: Logistics: Từ kế hoạch

đến hành động, Nhà xuất bản Công Thương.

Bộ Công Thương. (2018), Báo cáo logistics Việt Nam năm 2018: Logistics và thương mại

điện tử, Nhà xuất bản Công Thương.

Bộ Công Thương. (2019), Báo cáo logistics Việt Nam năm 2019: Logistics nâng cao giá trị

nông sản, Nhà xuất bản Công Thương.

BVSC. (2019), “Thương mại điện tử Việt Nam được dự báo đạt 24,4 tỷ USD vào năm

2025”, Bảo Việt Securities, https://bvsc.com.vn/News/20191220/729655/thuong-

mai-dien-tu-viet-nam-duoc-du-bao-dat-24-4-ty-usd-vao-nam-2025. aspx, truy cập

ngày 25/07/2020.

Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP. (2013), Supply chain

management de nitions and glossary, De nitions compiled by: Kate Vitasek.

Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số. (2020), Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam

năm 2019, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số.

Dębkowska, K. (2017), “E-logistics as an element of the business model maturity in

enterprises of the TFL sector”, Procedia Engineering, Vol. 182, pp. 143 - 148.

Đặng, Đ.Đ. (2011), Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc

tế, Đề tài NCKH Cấp Nhà nước-Mã số ĐTĐL-2010T/33.

EU. (2018), “A guide to e-commerce in Europe”, Enterprise Europe Network, https://een-

sachsen-anhalt.de/ leadmin/user_upload/Sachsen_Anhalt/Seiten/Testformular/

een_guide_ecommerce_2018.pdf, truy cập ngày 05/04/2020.




Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 134 (01/2021)

GNH. (2018), “Logistics - TMĐT cơ hội cho các SME”, Bài tham luận của Công ty giao

hàng nhanh tại Hội thảo “Logistics và thương mại điện tử của Việt Nam năm 2018”

tổ chức tháng 4/2018 tại Hà Nội.

Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam. (2018), “Sách trắng VLA 2018”, http://

mrlogistics.xyz/tvtl/sach-trang-logistics-va-chi-so-lpi-cua-viet-nam-2018/, truy cập

ngày 15/04/2020.

Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam. (2020), “Báo cáo chỉ số thương mại điện tử 2019”,

https://www.vecom.vn/tai-lieu/bao-cao-chi-thuong-mai-dien-tu-viet-nam-2019,

truy cập ngày 10/08/2020.

Hồ, T.H.T. (2017), Logistics điện tử ở Việt Nam: cơ hội và thách thức, Hiệp hội các nhà

bán lẻ Việt Nam.

Lazada. (2018), “E-logisics Việt Nam: Nâng cao năng lực cạnh tranh với phát triển bền

vũng”, bài tham luận của Công ty Lazada Việt Nam tại Hội thảo “Logistics và

thương mại điện tử của Việt Nam năm 2018” tổ chức tháng 4/2018 tại Hà Nội.

Lê, Đ.P. (2018), Nghiên cứu đề xuất mô hình và các giải pháp đầu tư xây dựng trung tâm

logistics phục vụ cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện, Luận án Tiến sỹ

- Đại học Hàng hải Việt Nam.

Luật thương mại Việt Nam. (2005), “Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp”, https://moj.gov.

vn/vbpq/Lists/Vn%20bn% 20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=18140, truy

cập ngày 10/05/2020.

Miscevic, G., Zgaljic, D., Tijan, E. & Jardas, M. (2018), “Emerging trends in e-logistics”,

International Convention on Information and Communication Technology,

Electronics and Microelectronics (MIPRO), 21-25 May 2018, Opatija, Croatia.

Nghiêm, C. (2019), “Logistics Thương mại điện tử Cơ hội cho người mới”, Tạp chí Forbes

Việt Nam, Số 74, https://forbesvietnam.com.vn/kinh-doanh/logistics-thuong-mai-

dien-tu-co-hoi-cho-nguoi-moi-7097.html, truy cập ngày 20/07/2020.

Ngô, Q.Q. (2002), Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống forwarder tại TP. Hồ Chí Minh,

Luận văn thạc sĩ - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Nguyễn, H.Q. (2019), “M&A trong thương mại điện tử - cơ hội và thách thức trong hệ

sinh thái thương mại điện tử của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 113, tr.

29 - 42.


Nguyễn, T.M.V. (2017), Nghiên cứu sự ảnh hưởng của logistics đến hiệu quả hoạt động

kinh doanh của các doanh nghiệp may mặc trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, Luận

văn Thạc sĩ - Đại học Đà Nẵng.

Nguyễn, X.H. (2015), Tác động dịch vụ logistics đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của

các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Luận án Tiến sĩ Kinh tế.

Nguyễn, X.Q. & Trần, T.N.L. (2019), Nghiên cứu thực trạng dịch vụ hậu cần điện tử

(e-logistics) tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài NCKH cấp Trường Đại học Công

nghiệp Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh theo Hợp đồng số 56/HĐ-DCT.

Ying, Y., Xin, W., Ray, Y.Z. & George, Q.H. (2016), “E-commerce Logistics in Supply

Chain Management: Practice Perspective”, Procedia CIRP, Vol. 52, pp. 179 - 185.



tải về 0.68 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương