Tam thừa chơn giáO



trang14/14
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2017
Kích1 Mb.
#2705
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

Văn hỏa:vi vi chi tức, là nhu, là huởn, là thư thái. Chân Ý không chấp trước vào hơi thở. Nhẹ nhàng, tĩnh tĩnh, dằng dặc không dứt. Tâm hư không, thân bất động, ý bất sanh. Có thở mà như không thở, không thở mà như có thở. Hiệp với tự nhiên, nương theo cơ vận hành tức tức quy căn.

Võ hỏa: là hơi thở có phần trì trọng, có phần mạnh hơn, cấp hơn.  

Văn hỏa, Võ hỏa có khi đơn dụng, có khi kiêm dụng, như:

Thể dược thì trước văn, sau võ; Vận châu thiên thì nửa văn, nửa võ; Luyện nấu thuốc trước võ, sau văn.

Còn các công phu: Đại châu thiên, Ôn dưỡng, Mộc dục, Phong cố, Tịch chiếu hoàn toàn dùng Văn hỏa.

Hỏa là tiếng gọi chung, thật ra có nhiều thứ:

- Hỏa hô hấp (khỉ hỏa dẫn hỏa): Dùng hóa Cốc Tinh, đồ ẩm thực để trợ Nguơn Tinh.

- Thần hỏa (ngưng hỏa, nhập hỏa, ly hỏa, tâm hỏa, lư trung hỏa...): để hóa hô hấp trợ Nguơn Thần.

- Hỏa nguyên thần: là hỏa Tiên Thiên Khí để hóa hình Huờn Hư Trợ Đạo.

Vậy chư Tu sĩ cần lưu ý phân biệt rõ ràng.

THI

Bên trong chủ tể một Thiên Can,

Hai Khí luân hành tiến thối đoan.

Thượng đáo Côn Lôn huờn tử phủ,

Khai thông Thiên Địa chuyển Thần Quang.

HỰU

Quang nhiên diệu hiệp Đao Khuê dung,

Tánh Mạng giao thời chuyển phúc trung.

Chỉ hữu tình lai Chân Chủng sản,

Thể, Huân, Phong, Vận, pháp minh tùng.

ĐẠO LỘ

Đạo lộ là đường âm dương thăng giáng, là Nhâm mạch, Đốc mạch.

- Nhâm mạch là mạch quản nhậm các mạch âm.

- Đốc mạch là mạch quản nhậm các mạch dương.

Hai mạch này rất quan hệ đến cơ sanh tử của con người.

Cơ thể của người mạch Nhâm ở phía trước bụng, khởi hành từ huyệt Hội Âm đến huyệt Thừa Tương.

Đốc mạch ở phía sau lưng, khởi hành từ huyệt Thừa Tương, lên Thiên Môn rồi xuống Trường Cường.

Hai mạch này có hai chỗ đứt đoạn. Một ở miệng, một ở Cốc Đạo, cho nên sự sanh hóa mất căn bản. Công phu Thiền Định chủ trương nghịch chuyển hà xa: tấn Dương hỏa là chiết Khảm; thối Âm phù là điền Ly để trở thành Càn Khôn như thuở Thiên Tiên.

- Đốc mạch có Tam Quan: là Vĩ Lự, Giáp Tích và Ngọc Chẩm. Mỗi quan ải có ba Khiếu nên gọi là Cửu Khiếu hay "cửu khúc minh châu".

- Nhâm mạch có Tam Điền: là Hạ đơn điền, Trung đơn điền và Thượng đơn điền. Mỗi điền có ba vị trí nên gọi là "cửu đãnh huờn đơn".

Công phu vận Châu Thiên với mục đích:

- Khai thông hai mạch Nhâm, Đốc để chờ ngày "quá quan phục thực".

- Công phu tấn dương thối âm để chiết Khảm điền Ly, để điều hòa âm dương, chuyển cơ sanh tử thành cơ bất sanh tử.

Cơ chuyển vận Pháp Luân có quy luật chung thủy theo cơ Hành Trụ khỉ chỉ. Hành khỉ thuộc thủy, Trụ chỉ thuộc chung. Và Hành Trụ khỉ chỉ đều tại Hư Nguy huyệt. Hư Nguy tại cung Khảm ngôi Tý. Chỗ khởi đoan của cơ sanh âm, sanh dương còn gọi là Hà Xa lộ.

Pháp Châu Thiên vận khí luôn luôn đề phòng ở hai điểm gián đoạn giữa hai mạch Nhâm, Đốc bằng cách dùng chót lưỡi chống lên chỗ trũng hàm trên để nối Nhâm, Đốc mạch, gọi là nối "thượng thước kiều" (bắc cầu trên) cho Khí thông xuống Trùng lầu về Khôn cung.

Nhíu hậu môn chuyển Khí từ Khôn cung qua Vĩ Lư, gọi là nối "hạ thước kiều" (bắc cầu dưới) cho Khí thông lên Càn đãnh.

Khi Nhâm, Đốc mạch đã được khai thông thì tất cả các kinh mạch trong châu thân cũng đều thông.

THI

Pháp vận như thời Đạo Lộ minh,

Giáng thăng mộc dục đắc công trình.

Võ văn biến hóa chân huân luyện,

Bửu phẩm kim đơn túc mạng sinh.

HỰU

Sinh cơ hành chỉ tại Hư, Nguy,

Tấn thối âm dương tín hiệp thì.

Nhâm, Đốc truyền thông Lư đãnh chuyển,

Càn, Khôn định vị lập căn ky (cơ).

Tôn sư ban ân chung.

Thăng...

15.- CẢNH BÁO ĐƠN THÀNH

Tý thời, đêm 01 tháng 4 năm Giáp Dần - Đại Đạo 48 (22.4.1974).

THI

Đại dược kim đơn thị nhứt danh,

Khảm Ly giao cấu tử tôn thành.

Phương tri tịnh hội thời cơ hóa,

Thể đắc chơn hề hiệp luyện phanh.

BÀI

Thừa truyền chơn pháp luyện tu,

Phải rành chủ yếu công phu rõ ràng.

Điều dược pháp khởi đoan thành tựu,

Thần Khí quy Linh Thứu hoát khai.

Lần theo tiết tự trong ngoài,

Đúng thời, đúng lệnh có ngày nên công.

Từ khởi thủy tạo dòng Chân Chủng,

Đến đơn thành điều dụng hỏa phong.

Võ văn, động tịnh chuyển thông,

Công phu hiệp luyện Mạng đồng Tánh chơn.

Chân diệu dụng tâm hoàn chí thiện,

Trí giác minh tự hiện ý thành.

Chớ nên chấp trước hình danh,

Ẩn tàng tông tích, trực hành luyện tu.

Nhịp nhàng định hướng công phu.



LÝ THÁI BẠCH GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO Lão chào mừng chư phận sự Hiệp Thiên Đài và miễn lễ đàn trung, an tọa.

Đàn nay Bần Đạo dạy về đề tài: "Cảnh Báo Đơn Thành".

Cơ Đơn Thành chẳng phải tạm thời hay chốc lát mà đắc được cái Đạo chí chơn. Phải trải qua nhiều ngày với công phu Ngưng thần phản chiếu về ngôi chí thiện cho được thuần thục, sau đó mới có được Thiên Cơ chí diệu lai phục.

Có người chỉ trong một tháng mà Nguyên quan hiển lộ, hoặc vài ba tháng mà Đơn điền bặt tiếng.

Sớm muộn khác nhau do ở chỗ công phu có được tinh tiến hay không. Nếu cơ Điều dược được như pháp thì có hiệu nghiệm rõ ràng.

Chân chủng tử đã thành, thì châu thân dung hòa, tâm tự nhiên hư tịnh, khoái lạc. Các Khiếu nhỏ đều ngứa ngáy, ngoại thận đột nhiên dương cử. Đơn điền âm ấm, đột nhiên có tiếng động bên trong. Thần Khí hút nhau, âm dương hiệp nhất. Khảm Ly giao hòa, Nhâm Đốc khai thông, trăm mạch cũng đều thông. Tổ khiếu Huyền quang mở, muôn Khiếu đều mở.

Khi Thánh Thai đã thành thì có một luồng dương quang phát hiện, đó là điểm "Cảnh báo đơn thành" của thời Bá Nhựt Trúc Cơ. Dương quang phát hiện từ huyệt Minh Đường đến huyệt Đơn Điền.

Lúc đầu dương quang phát hiện nhưng hỏa hầu chưa toàn vẹn, dâm căn chưa rút, nên lúc gặp dương sanh tức phải thể luyện rồi vận một Châu Thiên. Vận xong rồi tịnh, tịnh rồi lại vận, vận rồi lại tịnh. Chủ yếu là cho đủ số 360 Châu Thiên rồi nhập định để bồi dưỡng Chơn dương, và lắng nghe dương quang phát hiện lần thứ hai, là thoạt nhiên có một luồng bạch quang phát hiện theo đường cũ. Lúc bấy giờ phòng thất tự nhiên sáng bạch.

Lần này cũng thể, cũng vận, cũng tịnh, cũng nhập định, cũng vận đủ 360 Châu Thiên như lần trước rồi chờ. Chờ cho đến dương quang phát hiện lần thứ ba mới dùng "Pháp quá quan" dẫn Chân Xá Lợi về Đơn Điền.

Nếu dương quang tam hiện mà còn tiếp tục hành hỏa đến tứ hiện là sai pháp, gặp nguy hiểm. Vì Đại Dược đã định mà Hỏa chưa định thì Dương Khí sẽ bị tổn thương, sẽ hóa lại hữu hình Hậu Thiên tẩu lậu ra ngoài, há chẳng nguy hiểm lắm sao!



THI

Luyện đắc huờn đơn Chân Chủng sinh,

Dương quang nhị hiện báo công thành.

Tu dương đình chỉ Châu Thiên hỏa,

Chuyển dụng song mâu diệu pháp hành.

HỰU

Hành trình mật nhiệm đại đơn thành,

Chân tức vi vi, ý bất sanh.

Ôn hỏa huân chưn vô gián đoạn,

Nhật thường tịch chiếu, dạ lưu phanh.

Thăng...


16.- THỂ ĐẠI DƯỢC THIÊN CƠ: QUÁ QUAN PHỤC THỰC

Tý thời, đêm 15 tháng 4 năm Giáp Dần - Đại Đạo 48 (06.5.1974).

THI

QUAN cố u huyền tại bổn tâm,

ÂM truyền dẫn nhập ẩn cơ thâm.

BỒ đài Phật Tử chân nhân xuất,

TÁT hiệp Thiên trình dương phụ âm.

Bần Đạo chào chư phận sự và miễn lễ, an tọa.

Hôm nay tiếp dạy đề tài: "Thể đại dược" tức là "Quá Quan Phục Thực".

Thiên cơ bí diệu, Chư Hiền nên thận trọng, nếu tiết lộ sai lầm ắt phạm Thiên điều khiển trách.

Đại dược có nhiều tên gọi: Chân Chủng Tử, Thánh Thai, Xá Lợi... là một chân bửu vật, sơ chứng sau thời Bá Nhật Trúc Cơ.

Vì Chơn Dương Khí nội động nội sanh nơi khí huyệt chẳng xuất nên gọi Chơn duyên nội dược hay Kim đơn đại dược.

Thể đại dược cần phải nhập định. Cái hỏa hô hấp tự nhiên xoay vần bên trong, không trước ý đến mà chỉ dùng cái công song mâu quang. Ban ngày dùng cái sáng của song mâu chuyên nhìn soi vào Đơn Điền, vào Thánh Thai chẳng gián đoạn. Ban đêm dùng cái sáng của song mâu giữ cầm chẳng trể thì Đại dược tự viên thành, tự xuất lư nên gọi Cơ tại mục dã (cái máy nhiệm ở hai con mắt).

Thánh Thai có đặc tính thượng xung nên khi được hình thành có sự chuyển động thông hượt tự hướng thẳng lên tâm vị. Nhưng tâm vị không phải là nơi tạm trú của Chân Chủng Tử, nên phải trở về vị trí cũ rồi tìm con đường khác mà đi.

Bởi vậy Tu sĩ phải chuẩn bị trước hai mộc tọa yểm Cốc đạo và Tỷ khiếu, là hai nơi mà Chân Chủng Tử thường bị thoát lậu. Lại còn phải đóng chặt các cửa ải quan để hỗ trợ cho pháp "Quá quan" viên mãn.

- Dùng tọa cụ lót trụ Cốc Đạo cho thận căn vô lậu.

- Tai, mắt đều quy trung, tức soi chiếu và lắng nghe vào trong cho nhãn căn, nhĩ căn vô lậu.

- Miệng, răng ngậm kín, lưỡi chống ổ gà cho thiệt căn khỏi lậu.

- Một niệm chẳng sanh, một ý chẳng động cho ý căn chẳng lậu.

Như vậy sự chuẩn bị trong ngoài đã đủ.

Chân Chủng sau khi đã trở về Thần thất rồi theo đường dương quang mà ra. Nhưng cửa dương quang đã được đóng chặt, nên tự chuyển ra Tam Kỳ lộ mà ra Cốc đạo. Cốc đạo cũng đã có mộc tọa bít kín nên xung qua Vỹ Lư quan.

Vỹ Lư quan nếu còn bị Tỷ bít, Chân Chủng liền hạ bôn Cốc đạo trở lại mà xuất ngoại.

Cốc đạo nhờ có yểm bế nghiêm mật nên trở lên lại ải Vỹ Lư và bất động.

Lúc bấy giớ nếu dùng Chân ý mà đạo dẫn liền, tức có sự tác hại là bị hỏa bức, khó qua ải quan. Cho nên phải dùng Chánh công để thiện dẫn. Tức là vừa thấy Chân Chủng Tử bị trở bất động, Tu sĩ lúc bấy giờ một ý chẳng sanh, ngưng thần bất động, chờ cho Chân chủng động mới nhập Chơn ý vào, nhè nhẹ dẫn qua Vỹ Lư theo Đốc mạch, đi lên qua lần ba ải: Vỹ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm, gọi là "quá quan".

Nếu ải Giáp Tích chưa thông như hiện tượng trước, cũng dùng Chánh công mà thiện dẫn. Ngọc Chẩm quan cũng vậy.

Chân Chủng Tử khi về đến Thiên Môn rồi xuống Ấn Đường. Nếu Ấn Đường chưa thông mà Thượng thước kiều, không yểm bế trước tức bị ngoại lậu.

Chân Chủng Tử qua được ải Ấn Đường xem như pháp công phu "quá quan" gần viên mãn.

Qua Ấn Đường hạ qua Thập nhị Trùng lầu và Phục thực về Trung đơn điền để thực hiện công phu Thuần dương hóa Thánh Thai. Qua mười tháng dùng Tiên Thiên Chân Khí để nuôi dưỡng.

Lúc bấy giờ Trung và Hạ điền hiệp một thành một hư cảnh thì mười tháng dưỡng thai mới vẹn toàn.

Khi đã Phục thực được Chân Chủng Tử, ba quan, chín khiếu đều khai thông, nên từ đấy về sau Chân Chủng Tử tự nhiên chuyển động lên xuống, xoay vần theo đường cũ đã đi qua.

Nuôi nấng do hai Khí nơi hư cảnh của nhị điền bồi dưỡng cho Nguơn Thần. Lúc này chẳng nương ý theo tướng Hỏa mà là cái Văn hỏa chẳng có chẳng không của Đại Châu Thiên, như trong cơ nhập định nuôi Thánh Thai vậy.

Nghiệm cảnh theo 10 tháng nơi Quan Khiếu:

Từ lúc sơ nhập định đến 3 tháng nơi hư cảnh tê luân hơi máy động nhẹ.

Giữ định đến 4-5 tháng thì hai Khí nương cơ tịch chiếu của Nguơn Thần mà sự uống ăn cũng không còn.

Nguơn Thần nhơn hai Khí bồi dưỡng nên được dương minh bất muội mà đắc chứng Chân Không.

Lúc này hai Khí đều định, thực tịnh đã dứt, chỉ còn có một cơ tịch chiếu của Nguyên Thần và làm chủ Tiên Thai.

Giữ tịnh được 7 tháng tức hôn trầm cùng ma ngủ toàn vô.

Chủ tịnh được 8-9 tháng tịch chiếu đã lâu nên trăm mạch đều trụ.

Đến 10 tháng thì đã Thuần Dương, Thần quy Đại Định.

Định thì sanh Huệ, tự có hiệu nghiệm Lục Thông.

Lục Thông:Lậu Tận thông (phần sơ chứng), Thiên Nhãn thông, Thiên Nhĩ thông, Túc Mạng thông, Tha Tâm thông, Thần Cảnh thông.

Trong Lục thông có Thần Cảnh thông là dụng sự của Thức thần. Nếu tâm không sáng suốt bảo trì, sẽ bị Thức thần chuyển dụng từ chỗ năng tu năng chứng mà hoan hỷ theo cơ đắc diệu: mừng, vui, nói phúc, nói họa, nói quá khứ, vị lai... tâm trở lại động là rước họa vào mình. Duy chỉ có Huệ mà cũng chẳng dùng mới chuyển Thức thành Trí, mới trọn chứng thành Chánh quả.



THI

Thuần chơn nhập định thể dương minh,

Tịch chiếu Đạo Thai thoát hóa sinh.

Chuyển hướng Thiên môn ly khổ hải,

Đơn thành dẫn hiệp ý khinh khinh.

THI

Khinh khinh vì ý dẫn Đơn hành,

Xung xuất u đồ thoát tử sanh.

Cửu Khiếu, Tam Quan thăng thượng đạt,

Di Lư hoán Đãnh phục Nguyên hanh.

THI

Thập ngoại thai viên nội ngoại minh,

Hôn trầm niệm động tuyệt vô sinh.

Thuần dương chiếu hiện Thần chân định,

Hư bạch thất trung thể diệu linh.

Bần Đạo ban ân chung.

Thăng...

17.- LUYỆN THẦN HUỜN HƯ (TAM NIÊN NHỦ BỘ)

Tý thời, đêm 01 tháng 5 năm Giáp Dần - Đại Đạo 48 (20.7.1974).

THI

HỒNG mông hỗn độn nhứt Nguyên Chân,

QUÂN hỏa huân thành Khí chủng phân.

LÃO đức hồn nhiên sanh đại bản,

TỔ tôn thừa thọ tiếp Thiên ân.

Tôn Sư mừng chư môn sanh và miễn lễ, an tọa.

Giờ nay Tôn Sư dạy tiếp đề tài "Luyện Thần Huờn Hư".

Mười tháng tại Hư cảnh, nhị Điền nhờ hai Khí nuôi dưỡng mà Thai tròn Tánh định, trí tuệ quảng đại, ánh quang chiếu sáng khắp cả Pháp giới không đâu chẳng thấy, chẳng biết. Thai Thần đã thuần toàn thì lập tức chuyển lên Thượng đơn điền, là Nê Huờn cung để nuôi dưỡng ba năm, gọi là "Tam niên nhũ bộ".



  • Tam niên nhũ bộ (Xuất Dương Thần):

Lúc mới về Thượng cung, Dương thần chưa tráng kiện, tợ như anh nhi còn nương nhờ sự bú mớm, chăm sóc của mẹ nên mới có danh là nhũ bộ.

Nuôi dưỡng chẳng trước ý nơi Nê Huờn mà chỉ một Dương thần lặng soi nơi đó, dung hóa lẫn lộn thành một đại cảnh giới trống không. Ấy là việc đầu tiên của công phu nhũ bộ.

Công phu nhũ dưỡng đã thuần thục tức có cảnh xuất Thần mà là hiện tại Thần sẽ xuất.

Nếu đúng thời xuất Thần mà không xuất là chẳng siêu chẳng thoát, tức khó nhập về cõi Thánh.

Đang lúc công phu tồn dưỡng, trong cơ tồn định thấy nơi không trung có cảnh hoa trời xuất hiện khắp cùng, đó là cảnh "xuất Thần". Lúc bấy giờ Chân ý lập tức điều Thần xuất ngoại.

Thần ra khỏi Thiên môn mà có dạng Triền Cơ nên liền thâu về.

- Cơ xuất thì lấy Thái Hư làm cảnh siêu thoát.

- Cơ thâu thì lấy Thượng Đơn Điền làm cơ sở tồn dưỡng.

Cần phải biết: thời xuất thời thâu thì ít mà thời tồn dưỡng thì nhiều hơn.

Cơ xuất nên tạm mà chẳng nên lâu, nên gần mà không nên xa, lập tức thâu về mà dưỡng thuần một thất (7 ngày) rồi tái xuất. Cứ như thế, từ một thất đến hai thất, đến ba thất... đến bảy thất, tức 7 x 7 = 49 hôm như vậy. Trong đó tập đi lần lần từ gần đến xa... Từ 1 đến 100, đến 1000 dặm, cho Chơn Thần vững mạnh mới có cơ xuất định lâu dài.

Lúc mới xuất định hoặc thấy Phật, thấy Tiên, thấy cảnh tốt lạ, nhất thiết chẳng nhận, chẳng động tâm, chẳng dính mắt. Vì đó là Thiên Ma biến hóa để khảo thí, gây nên bát loạn quân tâm. Chẳng những chỉ có Thiên Ma đến khảo đạo hạnh, mà còn Thức Thần biến hóa ra ma, ra quỷ chặn đường cũng đừng lo sợ hoảng hốt. Hoặc gặp ngoại cảnh mến ưa cũng đừng nhận, chỉ chờ trong mình một vừng ánh quang hiện ra trên không trung, hãy dụng niệm trực tiếp thâu nhiếp vào đó. Ấy là cơ hóa hình vi diệu căn bản.

Nếu pháp nuôi dưỡng trọn đủ huờn hư trong ba năm, Dương Thần đã được trưởng thành thì cơ xuất nhập trong tự nhiên. Tuy pháp thân có thể đi lại, vào ra dễ dàng nhưng chẳng có thể rời thân xác đi chơi xa lâu ngày được. Đến khi nào chỉ trong khoảnh khắc đi được ngàn dặm mà chẳng hôn mê, thì tụ ắt thành Hình, tán ắt thành Khí, đạt đến chỗ "thân ngoại hữu thân", tức đã đến địa vị bất sanh bất diệt.



Tóm lại: Đạo pháp đã thâm vi lại càng thâm vi, đã u huyền lại càng u huyền không thể cùng tận.

Thời gian công phu nhũ dưỡng nếu trụ được lâu, gọi là Chân Trí Niệm; thì nên định trụ, gọi là Đại Định. Có định trụ được lâu, cơ sanh diệt mới đoạn dứt, mới đến độ hư không toàn nhiên bất động.

Công phu tiến mãi chẳng dừng, làm cho Không mà lại Không, Hư mà lại Hư, gọi là Hư không giới tận.

Thời Đại Định: hoặc là một định 3 năm, hoặc là một định 9 năm. Nhập định chín năm gọi là "Cửu niên diện bích".


  • Cửu niên diện bích:

Cửu niên diện bích là 9 năm ngồi xoay mặt vào vách tường để nhập định. Có nghĩa là không biết gì đến ngoại cảnh vật bên ngoài mà thuần định.

Trong 9 năm Đại định, huờn vô tận Tánh, đối cảnh vô tình, vạn tượng giai không; cho đến tâm chẳng còn có tâm, ý không còn có ý.

Không không, lộng lộng, hoảng hoảng, hốt hốt như Thái Hư. Mờ mờ, mịt mịt như thuở trước hồng mông chưa phân Trời Đất. Như anh nhi trong bụng mẹ, không biết trời, đất, nhơn, vật chi hết. Vậy mới gọi là Đại Định. Như vậy chẳng những Thần đã quy Vô Cực, mà Thể cũng đã chứng Hư Không, duy còn cái hằng Tánh trải qua vô số kỳ kiếp phải luyện cho "huờn vô", mà chỉ có 9 năm diện bích đã đủ sao?

Cho nên hoặc 3 năm hoặc 9 năm Đại Định rồi còn phải đi hành đạo để bổ túc phần công quả, và cũng để thực chứng cái ánh quang Phật Tánh chơn không với mọi trường hợp khảo nghiệm theo cơ hành đạo, rồi trở về tiếp tục nhập định hoặc 100, hoặc 1000 năm cho đến khi viên mãn.

Thượng đơn điền là nơi luyện Thần huờn hư mà cũng là nơi định Tánh huờn vô nên còn có cái biệt danh là "Tánh hải".

Chư Phật, Tiên đều đem Chơn Tánh trụ nơi đây theo thời gian mà huờn vô tận Tánh.

Nếu có Tánh quang hiện ra thì thâu liểm vào trong. Lâu thời Tánh quang hóa làm Xá Lợi. Quang ấy từ Tánh hải xung xuất vạn đạo hào quang trùm thái không. Đó là đã đến lúc "huờn vô". Tất cả thinh sắc đều hóa, không mà chẵng có chỗ không, là đạt đến chỗ cực định, cực công.

Nếu chưa đạt đến chỗ cực công này ráo rốt, còn một hào âm khí chưa hóa hết, là chưa thành Tiên vị. tức còn có hóa căn. Vậy luyện Đạo phải luyện đến thuần dương vô âm mới hiệp về nơi Đạo nguyên là Tiên Thiên Hư Vô Chơn Nhứt mới thực chứng Đạo quả vậy.



Đàn đến đây đã mãn. Tôn Sư ban ân chung.

Thăng...


Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương