Tam thừa chơn giáO



trang12/14
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2017
Kích1 Mb.
#2705
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

THI BÀI

Trường tu tịnh hư vô Chân Pháp,

Điểm môn đồ quy nạp Linh Căn.

Công phu vi diệu vô ngần,

Thừa hành còn phải chí chân nguyện thành.

Đủ nguyện lực mới hành Đại Đạo,

Có thiện căn mới bảo toàn công.

Có cầu lý Đạo tinh thông,

Mới đem Tánh, Mạng vào trong Thượng Thừa.

Phần Sơ thiền sớm trưa luyện kỹ,

Vì Đạo là trực chỉ chân tâm,

Đạo không ảo tưởng xa tầm,

Mà trong nội thể thâm thâm diệu huyền.

Nếu còn nặng nghiệp duyên khó thấy,

Nếu còn mang phải quấy biện minh,

Còn ham quyền tước, lợi danh,

Còn theo sắc tướng, còn sanh giả hình,

Còn phóng túng thất tình lục dục,

Còn sân dâm, còn lúc mê si,

Còn vương vật dục kéo trì,

Còn trong tứ khổ, còn đi lạc lầm.

Tu luyện Đạo là tầm nội thể,

Xét biết mình phục chế bên trong.

Tâm, Thần là chủ nhân ông,

Là chân chân giác, là không không trần.

Tâm tức Phật, Tâm chân là Phật,

Phật tức Tâm, Tâm thất là Ma.

Phật Tâm giác chiếu chan hòa,

Như như bình tịnh chẳng xa, chẳng gần.

Chân thiện hóa thu lần Tánh Đạo,

Tánh bổn lai hạo hạo nhiên không.

Thuần thành trí giác khai thông,

Sáu căn đóng cửa, ba lòng toàn vô.

Cơ nghịch vận pháp đồ thể tượng,

Quy vạn thù hiệp chưởng nhất nguyên.

Công phu kính cẩn kiền thiền,

Luân hành máy tạo cơ huyền diệu năng.

Công khởi nhập điểm phần sơ bộ,

Giải nghiệp trần điều độ thân tâm.

Tâm hư, Tánh định, Thần chân,

Bảo nguơn tam thể tiếp vâng thường hành.

Đoạn tứ tướng phân rành ảo tưởng,

Thâu phóng tâm quên chướng ngại hình.

Để cho nội giới linh minh,

Cho Thần Khí hiệp, cho tình Tánh quy.

Ấy mới gọi sơ kỳ kiến tạo,

Trúc Cơ cho bảo nguyên hanh.

Là công Tánh Mạng thuần thanh,

Diệu nhiên dung hóa tượng thành Đao Khuê.

Bảo linh căn hiệp tề nhất chũng,

Tam bửu quy chuyển dụng lò vàng.

Ngưng Thần, tụ Khí hồi quang,

Tức tâm, tâm tức nhịp nhàng ôn nhu.

Ly âm hỏa tiếp thu Khảm nội,

Long hổ giao chung hội nhứt đoàn.

Đãnh lư lập hướng Khôn Càn,

Chuyển xoay máy tạo, dinh hoàn định phân.

Thủ dược vật hạ tần hải để,

Tải huỳnh kim lên bệ Càn cung.

Trục Duyên thêm Hống đến cùng,

Hống thành Càn tượng, Duyên tùng Khôn diêu.

Tụ hỏa pháp là phiêu bí chỉ,

Lửa ấm thường Duyên Khí mới thăng.

Hấp, để, toát, bế làm căn,

Điền Ly, chiết Khảm hóa hoằng công phu.

Sơ tý thời hành chu vận số,

Tạo hóa dung là độ dương sanh.

Thiên nhân hiệp nhất tự thành,

Tu đơn phải biết, phải rành cơ Thiên.

Nội ngoại Khí huyền huyền tương tiếp,

Luyện phách hồn hóa hiệp Tiên Thiên.

Giải cơ thất chánh Khôn Kiền,

Chuyển cơ an định, chí huyền hư linh.

Thiền cực tịnh chờ sinh Chân động,

Thiên cơ triền hộ tống dương lai.

Quan môn đóng chặt bên ngoài,

Nhập thần điều hóa, nghịch khai dẫn hồi.

Nơi khiếu trung chỉnh ngôi ôn dưỡng,

Giữ ngoài trong chẳng chướng ngại tâm.

Chẳng còn niệm lự sai lầm,

Minh minh, ảo ảo, thâm thâm bảo toàn.

Châu thiên vận Khôn Càn mấy độ,

Cho hóa thuần khỏi chỗ lậu sanh.

Thiền tịnh, tịnh mãi động hành,

Động hành, tịnh vận, động sanh thời hầu.

Chừng nào hoán thể quy đầu,

Là Chân tiểu dược Minh châu sắp thành.

THI

Pháp đạo Tiên gia chuyển ngũ hành,

Huyền quan Tổ Khiếu tự quy sanh.

Định thần hội nhập song mâu chiếu,

Chân ý thông linh lưỡng Khí hành.

Diệu ứng huyền cơ Tiên Hậu hóa,

An nhiên Khiếu nội Khí Thần thanh.

Tu đơn rõ lý minh tinh hiện,

Chỉnh định Càn Khôn tại bản doanh.

Chư phận sự Hiệp Thiên Đài chú ý: Tất cả các đàn ban kinh được đọc và giảng tại Thánh Thất. Việc ban hành phải chờ lệnh sau.

Giải bốn chữ: Hấp, Để, Toát, Bế trong bài:

- Hấp: Mũi hít khí Hậu Thiên để tiếp Tiên Thiên.

- Để: Lưỡi trụ thượng ngạc để rước cam lồ.

- Toát: Giữ kín Cốc Đạo cho hỏa tụ.

- Bế: Xũ rèm mắt, chiếu ngược vào trong cho Dược ngưng Đơn kết.

Giờ mãn đàn, Ngô huynh ban ân chung.

Thăng...

7.- PHỤC HỒI TIÊN THIÊN: TINH, KHÍ, THẦN

Tý thời, đêm 01 tháng 6 năm Quý Sửu  - Đại Đạo 47 (30.6.1973)

THỔ ĐỊA CHÁNH THẦN chào Chư Thiên Mệnh.

Thần thừa lệnh báo đàn. Có Lão Tổ lai lâm truyền giáo. Tôn Thần xin kiếu, hầu lịnh...



THI

THÁI hư hiệp thể Đạo viên thành,

THƯỢNG phẩm phanh tu mạc vọng sanh.

LÃO chuyển thời lai nhân địa chủng,

QUÂN hành luân pháp cực tinh anh.

Tôn Sư chào chư môn đồ.

Giờ này Tôn Sư lâm đàn điểm đề: "TAM BỬU LUYỆN PHÁP" theo chương trình đạo học Thượng Thừa: Phục Huờn Tiên Thiên: Tinh, Khí, Thần.

THI

Phục hồi Tinh Khí luyện huờn hư,

Vô lậu sơ nguyên tạo hóa lư.

Hạ chủng lai thời do tịnh cực,

Phương tri đãi ngộ hội Chân Như.

(Cười...) Trong thân con người có ba món chí bửu sánh cùng Trời Đất là Tinh, Khí, Thần.

Trong trạng thái Tiên Thiên, ba món báu này đều thuần chân, là: chân Tinh, chân Khí, chơn Thần.

* Chân Tinh còn gọi là Chân dược, do cơ Chân động mà sinh. Chân động là Thận Mạng động mà Tâm không động. Lúc Chân Tinh sanh là lúc vi dương triền động.

* Chân Khí cũng là Chân dược, Cũng do Chân động mà sinh. Chân Khí sanh vào lúc vi dương sơ động.

* Chơn Thần là Thần Tiên Thiên, còn gọi là Thuần Dương Thần hay Càn Nguyên Thần.

Vạn vật nhờ Chơn Thần mà được thống hệ cùng Thiên Tính (Thiên địa dữ vạn vật đồng nhất thể), rồi nhờ có mây vận hành, có mưa móc chan rưới mà phẩm vật lớn nên hình.

Chơn Thần làm sáng tỏ cho cơ âm dương chung thủy vận hành và sáu ngôi được trưởng thành từng thời gian.

Đến thời Cực chứng là đạt quả thuần dương, Chơn Thần cưỡi sáu rồng mà ngao du khắp chín tầng Trời.

Nếu là thời Hậu Thiên, Càn Khôn thất chánh thì Chơn Thần có sứ mạng là Chánh tại Tánh Mạng con người, chỉnh định Càn Khôn và tái tạo dinh hoàn của Tiểu Thiên Địa.

Chơn Thần còn tạo nên cơ Thái hòa cho thân tâm để hoàn chỉnh một thế giới bên trong thành LợiTrinh.

Phục hồi Tiên Thiên Tinh Khí Thần phải am tường Thiên cơ Huợt Tý thời.

- Huợt Tý thời là cơ dương sanh, dương động, là cơ phục dương của Tạo Hóa, của con người.

- Huợt Tý thời của Tạo Hóa nằm trong tứ chánh, cực âm dương phục. Cuối giờ Hợi, đầu giờ Tý là thời dương sanh của Tạo Hóa. Tu luyện Đạo phải lưu ý để thu nhận Huyền Khí của Trời Đất mà bổ túc cho Huyền Khí của nội thân đã tổn thất.

- Huợt Tý thời cơ thân con người không thời hạn nhất định nên phải cực tịnh mà chờ, gọi là thời hầu thể thủ.

- Trường hợp đi, đứng, nằm, ngồi, tâm không động mà tự nhiên ngoài thận động là Huợt Tý thời, phải ra công luyện vận, hết động thời nghỉ.

- Huợt Tý thời còn có tên là Huyền Quang hiện.

Còn Tinh, Khí, Thần thất chân:

* Tinh thất chân sanh ra trược Tinh, ảo Tinh. Tinh này do dâm tâm khởi động mà có.

- Có một loại Dâm Tinh rất nguy hiểm có tên là Đại Ma Đầu nơi cung Khảm Hậu Thiên. Tinh này do dâm tâm và thực phẩm huyết nhục biến sanh.

- Loại Âm Tinh do người ăn ngũ cốc mà có.

- Loại Trược Tinh nhẹ nhàng hơn các loại trên, loại Tinh này do tâm khởi niệm mà có.



* Khí thất chân đặc tính cũng tương tự như Tinh thất chân. Chỉ có Khí hô hấp có lợi ích cho cơ tu luyện là lấy Khí hô hấp Hậu Thiên để biến thành Khí Tiên Thiên.

* Thần thất chân là Thức Thần, là Thần tư lự, niệm tưởng, là Thần đối tượng, Thần bản ngã... Thần thất chân trở nên hôn muội, tội lỗi, sanh tử triền miên chẳng dứt.

Công phu tu luyện chủ đích là phải phục nguơn ba báu:



* Phục nguơn Tinh: lúc động mới có Tinh. Lúc tịnh thì Tinh ở trong Khí, nên nói chỉ có Chân Khí mà thôi. Cho nên phục nguơn lại Tinh là phục nguơn lại Khí.

- Khí sung mãn, gặp cơ động Tinh mới sanh.

- Khí đã kiệt, dù có động Tinh cũng chẳng sanh.

Khí tuyệt thì người phải chết.

- Lúc động thì Khí bàng bạc khắp cả vũ trụ Càn Khôn.

- Lúc tịnh thì Khí quy tụ về Tử Vi Cung.

Thần cũng chẳng khác Khí. Thần Khí tuơng quan.

- Thần mà bỏ cung thất ra bên ngoài thì khí cũng tán lạc khắp cùng và đều bị thất chân.

- Lúc nào Thần về an trụ nơi chánh cung, thì Khí cũng quy tụ về, gọi là Chân Thần Khí.

Cho nên vào trường tu luyện, không nên chú tâm ra ngoại giới, mà lúc nào cũng trụ tâm nơi Khí huyệt, gọi là Thần quy vô cực.



Tam Bửu có nội, có ngoại.

Phục nguơn Tam Bửu, trước phải phục luyện Tam Bửu bên ngoài:

- Luyện hai con mắt vô lậu: không buông theo ngoại vật, ngoại cảnh thì Thần quy tàng. Nếu để mắt lậu thì Thần tán.

- Luyện tai vô lậu: không để ý nghe việc thị phi bên ngoài thì Tinh quy tàng. Nếu để tai lậu thì Tinh tán.

- Luyện cho miệng vô lậu: không nói nhiều, không bàn cải nhiều thì Khí quy tàng. Nếu để miệng lậu thì Khí tán.

Tam Bửu bên ngoài đều vô lậu là cơ bổ túc cho Tam Bửu bên trong ngày càng sung mãn.

Nếu để Tam Bửu bên ngoài đều lậu, thì Tam Bửu bên trong cũng phải chịu hữu lậu.

Luyện phục Tam Bửu bên trong, chủ đích là luyện phục Thần Khí.

Thần Khí phải đồng luyện thì công phu mới viên mãn.

THI

Người có báu linh gốc ở Trời,

Chơn dương Thần Khí sáng phơi phơi.

Hư vô chiếu diệu ngàn muôn kiếp,

Chẳng định tử sanh, chẳng đổi dời.

THI

Đổi dời cõi tục sắc trần pha,

Nhuộm thắm tình duyên tưởng mặn mà.

Luyến ái nghiệp oan chồng chất mãi,

Tinh thần mờ ảo chẳng đường ra.

HỰU

Ra ngoài tình tục thấy Linh Sơn,

Cầu pháp chân như để phục huờn.

Tìm lại báu nhà gìn luyện kỹ,

Thần ngưng, Khí kết hoá kim đơn.

Đàn dạy "Phục nguơn Tam Bửu" đến đây đã hết. Đàn sau dạy tiếp: "Tam Bửu hiệp luyện".



THI

Đạo truyền từ thuở mới khai nguyên,

Môn hạ cần nên lập chí hiền.

Khắc kỹ ứng hành công diệu dụng,

Siêu Phàm, nhập Thánh, tiếp cơ Thiên.

Tôn Sư ban ân chung.

Thăng...

8.- TAM BỬU HIỆP LUYỆN

Tý thời, đêm 15 tháng 6 năm Quý Sửu  - Đại Đạo 47 (14.7.1973).

THI

ĐẠO hóa môn sanh hiệp pháp huyền.

TỔ an thường tại nhật quang thiên.

LÃO hành châu vận cơ luân chuyển.

QUÂN phục thuần dương tiếp bổn nguyên.

Tôn sư tiếp dạy: "Tam Bửu Hiệp Luyện".

- Trời có ba báu là: Nhựt, Nguyệt, Tinh.

- Đất có ba báu là: Thủy, Hỏa, Phong.

- Người có ba báu là: Tinh, Khí, Thần.

Tuy nói ba báu nhưng chỉ có Thần và Khí, vì trong Khí có Tinh nên Khí với Tinh là một.

Thần Khí là âm dương, nên có biến hóa, thuận nghịch.

- Thuận thì có biến, là Dương biến ra Âm, Thần biến ra Khí, Khí biến ra Tinh, Tinh biến ra Người.

- Nghịch thì có hóa, là Âm hóa ra Dương, Tinh hóa ra Khí, Khí hóa ra Thần, Thần hóa thành Tiên, Phật.

Tam Bửu vốn tương hiệp, nếu chẳng tương hiệp thì chẳng thành Chân Đạo, tức không siêu Phàm nhập Thánh. Thành Tiên, tác Phật đều do diệu pháp "luyện Tinh hóa Khí" ở Hạ đơn điền.

Luyện Tinh phải phân biệt Tinh thanh hay trược. Tức tâm động hay tâm bất động trong lúc Tinh sanh.

Thể dược phải biết thuốc già, thuốc non.

Phải rành công phu Khỉ hỏa và cảnh Chỉ hỏa.

Phải biết rõ công pháp quy lưôn lư.

Tùy theo cơ dương sanh và tùy theo đó mà luyện.

Tùy theo cơ huân luyện rồi tùy theo đó mà bổ phá thể.

Công phu lâu ngày thì Tinh trọn hóa thành Khí.

Cần chú ý: lúc Thánh Thai đã kết phải lập tức chấm dứt võ hỏa.

Lúc này dâm căn mới tự rút, đường dương quan mới tự đóng, nên lòng dục cũng chấm dứt từ đây, và gọi Trúc cơ đã thành đến công trình thứ tư.

Thánh Thai đã thành, phải lập tức Quá quan phục thực và dụng Thượng Thừa Thiên Cơ.

Lúc này Tam Quan Kim Môn mới mở hoát và khai thông Cửu Khiếu. Trên thông với Côn Lôn Càn Đãnh, dưới thông Thập Nhị Trùng Lầu, và về nơi Trung đơn điền.

Đến đây chấm dứt Tiểu Châu Thiên mà dùng Đại Châu Thiên hỏa hầu để ôn dưỡng Thánh Thai.

Thời gian này phải lo thâu phục Chân Khí để nuôi Thánh Thai cho viên mãn. Trong Thánh Thai phải luôn luôn tiềm phục Chân Khí nên còn gọi là thời kỳ "luyện Khí hóa Thần".

Trong 10 tháng dưỡng thai, thường nhập Đại định. Khi thai Thần đã viên túc, không được lưu lại lâu ngày nơi Trung điền, khiến cho hình thần khó siêu thoát mà phải di chuiyển lên Thượng điền, dụng công "luyện Thần huờn Hư"

Sau ba năm nuôi dưỡng luyện Thần huờn Hư tại đây, Chơn Thần mới có được thần thông biến hóa, xuất thần, nhập thần.

Rồi tiếp đến là "luyện Hư huờn Vô" theo pháp "Tối Thượng Nhất Thừa".

Sau đó Chơn Thần mới phóng hào quang lên cõi Đại La Thiên hoặc nhập vào Cực Lạc Quốc.

Tới đây Kim Đơn Đại Đạo đã thành, Chứng quả Kim Tiên.

Thời gian chung thủy công phu chủ yếu là ở ba vị trí quan trọng là: Hạ điền, Trung điền và Thượng điền. Mỗi vị trí có một diệu dụng riêng. "Đạo tại tam điền" nên thứ lớp công phu không được sai thất. Chư môn đệ đọc kỹ toàn bài sẽ tự biết.

THI

Một gốc chia ba lập bửu thân,

Ấy là nguyên thể: Khí, Tinh, Thần.

Người người có sẵn trong mình đủ,

Biết hiệp luyện thành Đạo chí Chân.

THI

Trụ nơi phương thốn nhớ đừng quên,

Tai mắt chú chăm đúc móng nền.

Thư thái xem chừng cơ động thủ,

Chập chờn trăng nước quyện cuồng lên.

THI

Tu Đơn Đại Đạo phải truy nguyên,

Tổ Khiếu là nơi luyện Hống Diên.

Thiên Địa tuần huờn nguồn chí thiện,

Thậm thâm pháp giới chủ Tiên Thiên.

THI

Chân Tinh, Dược vật thị dương Tinh,

Long Hổ giao thời tự xuất sinh.

Hội đắc chân truyền hành nghịch chuyển,

Thần lai nhập nội thủ công trình.

THI

Luyện Dươc tinh tường chuyển pháp luân,

Giáng thăng kích động hỏa phong huân.

Đãnh lư tiến thối châu lưu phục,

Hạp tịch quân bình lưỡng Khí tuân.

THI

Lưỡng Khí huân chưn tạo thể chân,

Thượng thăng Càn Đãnh hộ dương Thần.

Trục thiêm Ly Khảm Càn Khôn định,

Đại Đạo Kim Đơn hiển pháp thân.

Đàn đến đây đã mãn. Bần Đạo ban ân chung. Thăng...



9.- CƠ ĐỘNG TỊNH, TIẾN THỐI VÀ GIAO HIỆP CỦA ÂM DƯƠNG

Tý thời, đêm 15 tháng 7 năm Quý Sửu  - Đại Đạo 47 (13.8.1973)

THI

THÀNH tâm ứng hiệp Đạo vô vi,

HOÀNG thiện chân cơ báo lịnh kỳ.

BỔN thể như như vô thiện ác,

CẢNH đồng nội ngoại khứ lai quy.

Tôn Thần chào mừng Chư Thiên Chức đàn tiền. Tôn Thần báo cơ có Lão Tổ lâm đàn dạy Đạo.

Tôn Thần xin chào...

THI

ĐÔNG đảo lại qua đủ lớp người,

PHƯƠNG hành bận rộn khắp nơi nơi.

LÃO, sanh, bệnh, tử màn nhân thế,

TỔ trái tôn thừa chủng nghiệp rơi.

HỰU

Rơi rơi chủng tử nghiệp tham sân,

Biết thuở nào xong cái nghiệp trần?

Bể khổ nhấp nhô vùi khách tục,

Nguồn Thiên phẳng lặng đợi truyền nhân.

Đem thân phối chiếu dòng thanh thủy,

Đạt lý thành toàn đức nghĩa nhân.

Khuyên nhủ trường tu mau định giới,

Cho phần Chơn Mạng hiệp Chơn Thần.

Tôn Sư chào mừng Chư Ân Thiên đàn tiền.

Giờ nay Tôn Sư giải đề tài: "Cơ động tịnh, tiến thối và giao hiệp của âm dương".

Miễn lễ đàn tiền tịnh tâm, an tọa.

Cơ động tịnh, tiến thối và giao hiệp của âm dương có hai quy luật: Quy luật của Hậu Thiên và quy luật của Trung Thiên Đạo tức cơ Thiền Định.

+ Quy luật của Hậu Thiên về cơ động tịnh lại cũng có hai quy luật: Động tịnh theo cơ biến hóa âm dương ở bên trong con người; Cơ biến hóa âm dương động tịnh của thế giới bên ngoài do quy luật tự nhiên mà có.

- Đặc tính động tịnh của Hậu Thiên trái ngược với đặc tính của Trung Thiên Thiền Định.

- Hậu Thiên động thì sống, tịnh thì chết.

- Thiền Định động là chết, tịnh là sống.

Con người Hậu Thiên sống hoàn toàn lệ thuộc vào cơ động tịnh của Hậu Thiên.

- Hễ Trời đến thì sống động, con người cũng sống động.

- Hễ Đất đến thì chết tịnh, con người cũng lặng chết theo.

Con người Hậu Thiên còn có cái Tâm động tịnh. Tâm động do sự cảm xúc ngoài cảnh sắc, ngoại âm thanh, do thức thần tư lự điều khiển, không làm chủ được cơ tịnh. Cơ tịnh lại do thiên nhiên chi phối.

Sự sống động của con người hoàn toàn lệ thuộc, hoàn toàn giả tạm, không tự chủ được. Do đó mà cơ sanh tử của con người cũng tùy thuộc theo Thần âm dương điều phối.



- Cơ thiền định Trung Thiên Đạo là nghịch chuyển cơ biến hóa âm dương của Hậu Thiên để khử trược lưu thanh, để thuần dương hóa Tánh Mạng Hậu Thiên thành Chân Tánh Mạng Tiên Thiên, tức là hoàn toàn làm chủ cơ động tịnh của âm dương.

-Làm chủ về cơ động, tức biết tạo nên cơ Chân động.

-Làm chủ về cơ tịnh, tức biết tạo nên cơ Chân tịnh.

Cả hai cơ động tịnh hoàn toàn tự chủ, không bị lệ thuộc vào đâu cả. Như vậy là đã nắm lấy cơ diễn biến của âm dương động tịnh, tức là đã đoạt được quyền Tạo Hóa.

Chư môn sanh đã quyết tâm bước vào ngưỡng cửa Thượng Thừa cần phải suốt thông về cơ động tịnh của âm dương này.

+ Cơ tiến thối của âm dương:

- Cơ diễn biến của âm dương Hậu Thiên còn có cơ tấn thối, tồn vong, dinh hư, tiêu trưởng. Cơ diễn biến này kể cả bên trong lẫn bên ngoài của con người và vũ trụ.

- Hễ một dương tiến là một âm thối.

- Hễ một âm tiến là một dương thối.

Quy luật tồn vong, dinh hư, tiêu trưởng cũng do tấn thối này mà có.

- Dương tượng cho hiền nhân quân tử, cho thiện từ, cho chánh lý, cho giác ngộ, cho trí tuệ, cho Tâm, cho Tánh, cho Thần, cho hồn, cho khỏe mạnh.

- Âm tượng cho sự nham hiểm, cho tiểu nhân, cho tà thuyết, cho si mê, cho vật chất, cho Thức thần, cho Thân, cho Mạng, cho Khí, cho phách, cho bệnh hoạn v...v...

Con người Hậu Thiên, Chơn Thần bị màn vô minh (dục vọng bản ngã) chi phối nên phần lương tri, lương năng giảm sút mà phần tư lự niệm tưởng tiến tới. Tinh thần ra ngoài hàng khách quan, còn vật chất tiến vào bên trong, hàng chủ yếu.

- Cơ Thiền Định thì ngược lại, không chú trọng, không thuận tùng theo cơ tiến thối, tồn vong của âm dương Hậu Thiên, mà chuyển phục về Tiên Thiên, tức là đưa tâm thần quy tàng yên tĩnh bên trong. Biết thời dương sanh mà tấn dương, biết thời âm sanh mà thối âm, cho âm dương quân bình để chỉnh định Càn Khôn, đoạt cơ Tạo Hóa mà tạo nên chủng tử Tiên Phật.

+ Cơ giao hiệp của âm dương:

Cơ giao hiệp của âm dương cũng có hai quy luật:

- Quy luật giao hiệp âm dương của Hậu Thiên có hai trạng thái: trạng thái của thiên nhiên và trạng thái của con người.

* Trạng thái giao hợp của thiên nhiên là thời Thái Cực.

- Trong một ngày đêm, giờ Tuất và giờ Hợi là hai giờ Thái Cực, hai thành phần âm dương của thế giới bên ngoài mới giao hiệp. Con người và vạn vật cũng đều như vậy. Nhờ có hai giờ âm dương giao hiệp này mà có cơ tiếp nối của sự sống còn.

- Trong một tháng có năm ngày Thái cực là những ngày từ 26 đến 30.

- Trong một năm có hai tháng Thái Cực là tháng Tuất và tháng Hợi.

- Trong một đại nguơn hội có hai hội Thái Cực là hội Tuất và hội Hợi.

Thời của Thái Cực là thời của âm dương giao hiệp.

* Còn về con người: Ngoài sự giả tá của cơ âm dương giao hiệp theo thiên nhiên, con người còn có cơ âm dương giao hợp, đa phần do dâm tâm dấy động rồi sanh ra con dâm, cháu dâm, thành một lớp người dâm, nên bị mắc tội Tổ Tông về Mạng căn.



- Còn quy luật giao hiệp âm dương của cơ Thiền Định Trung Thiên Đạo là căn bản của cơ tu luyện để phục nguyên.

Trong con người đã có đủ âm dương, tức có Tánh, Mạng, có Thần, Khí, có Tâm, Tức.

Tu luyện chủ đích là đem hai thành phần này hợp lại một nơi Tổ Khiếu, gọi là cơ âm dương giao hợp.

Thái Cực được xuất hiện từ đây, gọi là Cốc Thần bất tử.

Thái Cực hiện nơi Cốc Thần lâu ngày thì Xá Lợi kết.

Thiên Cơ là cơ dương động, là trạng thái vô cùng trọng đại trong cơ thể con người.

Chư môn sanh nếu không biết được Thiên Cơ này thì công phu tu luyện không thể tựu thành.

Tu luyện Thượng Thừa là công phu vô cùng trọng đại, có được thành công là nhờ ở bước đầu có sự học hỏi, suy nghiệm suốt thông yếu lý, mới vượt qua mọi trở ngại trong công việc công phu thường nhựt.

Trong sự học vấn Dịch lý, phần Tâm học là phương tiện tất yếu cho công phu tu luyện.

Giờ đây Tôn Sư lược qua một số điểm cần phải biết để chư môn sanh làm đề tài tham khảo.



Dịch lý Khai nguyên: Vô Cực nhi Thái Cực.

Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái, 64 quẻ, tổng thể 384 hào.

Vô Cực còn gọi là tự nhiên vốn cao, vốn tột, trên tất cả, lớn hơn tất cả nên không thể dùng lời nói hay văn tự để diễn tả được. Chỉ có những bậc đã chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mới thông suốt được ngôi Vô Cực.

Thái Cực hiện nơi cung Vô Cực là Hoa Khai Kiến Phật.

Thái Cực có được hiện nơi cung Vô Cực, thì Vô Cực mới thành chí huyền chí diệu. Lão Tử đã nói: "huyền chi hựu huyền" là nói điểm này vậy.

Thái Cực có đặc tính là tịnh, nhưng đã cực tịnh thì có động sanh, là sanh khối Thái Dương.

Trong khối Thái Dương có ngôi Thiếu Âm.

Qua thời gian, ngôi Thiếu Âm trưởng vượng cực độ hóa thành ngôi Thái Âm. Trong Thái Âm lại có hàm tàng ngôi Thiếu Dương. Tức là Lưỡng Nghi, Tứ Tượng hiện đủ từ đây, đều do âm dương động tịnh biến hóa mà có.

Tiếp sanh Ngũ Hành và hiển bày Bát Quái, 64 quẻ, 384 hào, để diễn tả ba hiện tượng: Tiên Thiên, Hậu Thiên và Trung Thiên Thiền Định.

- Tiên Thiên là hiện tượng tịch tịnh như nhiên, bất sanh bất diệt.

- Hậu Thiên là hiện tượng luôn luôn biến dịch và có cơ biến hóa hai chiều: chiều sanh và chiều tử.

Đại diện hai hiện tượng này là quẻ "Hỏa Thủy vị tế", Thánh nhơn xếp vào quẻ 64, là quẻ cuối cùng của Hậu Thiên. Hỏa Thủy vị tế là hiện tượng của lớp người Hậu Thiên sanh tử, tử sanh.

Sở dĩ có hiện tượng sanh tử này là vì tâm Càn của con người Tiên Thiên bị động nên biến thành "Ly Âm Tâm Hỏa" Hậu Thiên. Thận Khôn cũng bị động nên biến thành "Khảm Dương Thận Thủy".

Lửa ở trên tâm, hằng thượng đằng, thượng lậu, hằng náo động Thiên cung, hằng tạo nên lửa sân hận, hằng đốt cháy Linh Đơn mà tạo ra cơ sanh tử.

Nước ở dưới thận, thường hạ thấm, hạ lậu, hạ sanh tạo nên bể khổ và đắm chìm biết bao khách đa tình và tạo ra cơ lai lai, khứ khứ.

Trong 64 quẻ, chỉ có hai quẻ: Bát Thuần CànBát Thuần Khôn là hoàn toàn thuần dương và thuần âm.



- Còn Trung Thiên Thiền Định có hóa mà không có biến, có sanh mà không có diệt. Chủ đích là thuần dương hóa tất cả để phục quy Thái Cực, phục quy Vô Cực. Như quẻ "Thủy Hỏa vị tế" chủ đích là giao hiệp âm dương, tạo cơ vô lậu. Bởi thế, dụng công thiền định phải biết cách lấy lửa đun cho nước bốc hơi, cho nước lửa đều vô lậu, tức vô sanh vô tử.

Đó là pháp môn "Thần ngự Khí". Thăng...





Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương