Tam thừa chơn giáO



trang11/14
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2017
Kích1 Mb.
#2705
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

THI

Đại Đạo là gì? Đạo ở đâu?

Đó là cương yếu đặt từ lâu,

Thân, tâm "đóng - mở" Trời ban phú,

Tánh, Mạng "sanh - huờn" pháp hiệp thâu.

Khải ngộ an nhiên cơ định giác,

Viên dung chiếu hiện tợ minh châu.

Thoát vòng cương tỏa vô lai khứ,

Chẳng bận tử sanh, chẳng nguyện cầu.

Con người có Tâm và Thân, có Tánh và Mạng, có Thần và Khí, tức là có âm và dương. Thiếu một thành phần là không thành con người, do đó phải có cả hai. Nếu tu Tánh mà không tu Mạng, hoặc tu Mạng mà không tu Tánh là không đúng với chân pháp Đại Đạo, uổng phí công lao.



THI

Đạo tại nhãn tiền, tại bản thân,

Luyện tâm hư cực, Tánh huờn chân.

Luyện Thân giả hiệp thành thân Pháp,

Luyện nội ngoại công tụ Khí Thần.

Công phu tu luyện đều nhắm vào Tánh, Mạng nên Bổn Sư nhắc đi nhắc lại nhiều lần cho hàng Tu sĩ lưu ý hầu khỏi lạc vào nẻo bàng môn ngoại đạo.

Tánh tức là tâm. Tâm thường an thì Tánh thể thường minh. Thân không lậu thì Mạng căn vĩnh cố. Tánh thể thường minh thì vô lai vô khứ. Mạng căn bền vững thì chẳng tử chẳng sanh.

Công phu Tánh, Mạng phải qua từng trình tự gọi là 5 bước công phu, hay gọi là "Ngũ Thiền", từ khởi thủy đến thực chứng.



1. Sơ thiền: Luyện kỹ Trúc Cơ.

Luyện kỹ là luyện cái tâm cho thuần nhất, không còn nghĩ thiện nghĩ ác, nghĩ có nghĩ không, nghĩ phúc nghĩ họa, nghĩ hơn nghĩ thua... tức là không còn những đối tượng nhị nguyên nữa. Tịch nhiên bất động. Thức thần không còn chỗ nương. Chơn thần trở về chủ vị như thuở Tiên Thiên, gọi là tâm thuần dương, bất sanh bất tử.



2. Nhị thiền: Luyện Tinh hóa Khí.

- Nam giới thì luyện Tinh hóa Khí.

- Nữ giới thì luyện Huyết hóa Khí.

* Luyện Tinh hóa Khí: là luyện cho tinh thông không còn tẩu lậu. Thể thủ Chân Tinh đem về chỗ vị sanh thân rồi dùng Chân Hỏa huân hóa cho Tinh này trong sạch như nước thanh nguyên (nguồn nước trong sạch) rồi hóa thành Khí.

Tinh thủy hạ lậu chỉ có một đường dương quang nhưng sau khi đã hóa thành Khí thì lậu khắp chín cửa do đó phải đóng kín chín Khiếu bên ngoài và một Khiếu bên trong là ý bất động.

Lúc này Chân Khí không còn vọng xuất nữa mà tụ về Tổ Khiếu mà chầu Chơn Thần, và lúc này Thần Khí mới tạm thời hiệp nhứt, mà phải chờ đến lúc Chân Khí kết thành Chân Chủng Tử mới thật hiệp nhất và hiệp mãi mãi.

Tuy Chân Khí đã quy tụ nơi Tổ Khiếu nhưng chưa được hoàn toàn thanh chân, nên Chân Ý phải hướng dẫn nó theo con đường về Tây Phương và xuống Địa Phủ vài mươi hiệp để dung hóa với nội dược là chơn Âm và chơn Dương cho thành một loại chân dược vô giá bửu.

Rồi còn phải tiếp theo một thời công phu nữa mới viên mãn thời Tiểu Châu Thiên, Chơn Thần không giây phút xa lìa Cốc Thần, gọi là Cốc Thần bất tử. Công phu này vừa huân chưng vừa thể thủ.

* Luyện Huyết hóa Khí: còn gọi là: "Thái âm luyện hình". Cùng với pháp tu luyện của nam giới. Đại thì đồng, tiểu thì dị.

Sơ công hạ thủ, bế mục tồn thần đại thể là một. Là khiến cho tâm an tịnh, cho tức điều hòa. Sau đó mới ngưng Thần nhập Khí huyệt (tại lưỡng nhủ gian). Pháp nữ tu có bài dạy riêng.



3. Tam thiền: Luyện Khí hóa Thần.

Luyện Khí hóa Thần, còn gọi là pháp "Dưỡng thai thần hóa" mười tháng công phu.

Nói luyện Khí nhưng không phải luyện Khí mà là nuôi dưỡng Thánh Thai cho thật sung mãn, chẳng khác mẹ nuôi con mười tháng trong thai.

Nói là Thánh Thai nhưng là Chân Chủng Tử tợ như hạt ngọc minh châu.

Lúc đầu viên ngọc minh châu mới kết, hình dáng chưa viên mãn, ánh bạch quang chưa được sáng rõ nên nói luyện Khí tức là luyện cho viên ngọc này thật viên mãn, thật sáng rỡ. Sáng cho đến ám thất (nhà tối) thành bạch quang, cho ánh thái dương không còn tác dụng.

Vậy luyện hạt minh châu như thế nào?

Tuyệt đối không dùng võ hỏa mà chỉ dùng chân hỏa kết hợp với Tiên Thiên Chân Khí mà huân hóa, mà tu dưỡng.

Châu Thiên Vận không còn độ số như thời Tiểu Châu Thiên mà vận hành Chân Tức như lúc còn trong bụng mẹ.



4. Tứ thiền: Luyện Thần huờn Hư.

Luyện Thần huờn Hư, còn gọi là "Tam niên nhủ bộ". Tức là luyện xuất Thần thâu Thần.

Công phu Tứ Thiền chẳng khác người mẹ nuôi con ba năm cho bú mớm, dạy đứng, dạy đi, mẹ không rời con một bước.

Luyện xuất thần thâu thần cũng vậy, chân ý không lìa dương thần. Thần một xuất thì liền thâu. Tuần tự từ gần đến xa, cho đến lúc Thần đi thật xa thì chân ý không còn thâu nữa mà để cho dương thần tự nhiên xuất hóa.



5. Ngũ thiền: Nhập Đại Định.

Thời nhập Đại Định là thời kỳ Tu Sĩ đã chứng quả thuần Càn, là thời thừa lục long dĩ ngự Thiên, là cỡi sáu rồng đi khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới để thuyết pháp độ sinh.



THI

Luyện Đạo hư vô, trước luyện tâm,

Tâm sanh duyên khởi nghiệp mê lầm.

Mê lầm tưởng Đạo là không ảo,

Nào biết trong người Đạo ẩn thâm.

BÀI

Tu thiền định hư vô Đại Đạo,

Pháp Thượng Thừa chí bảo chí chơn.

Là cơ vận chuyển âm dương,

Âm dương đắc chánh hiệp huờn linh thai.

Linh thai vốn không ngoài Tánh, Mạng.

Tánh, Mạng là căn bản công phu.

Cổ kim bao lớp người tu,

Lần cơ mật nhiệm, truyền thu dặt dè.

Nay trường Đạo chuẩn phê sắc chỉ,

Trao pháp đồ phục vị nguyên căn.

Khởi đề lập hướng Thần đăng,

Chiếu minh thổ phủ, Đạo hằng lai sanh.

Từ phàm thể hóa thành Pháp thể,

Từ Hậu Thiên phục khế Tiên Thiên.

Từ cơ sanh diệt trái khiên,

Chuyển siêu giác hóa thiên nguyên tựu thành.

Công chứng ngộ thâm hành vô thượng,

Nguyện lực cao là hướng định cao.

Lần theo lối thẳng đi vào,

Đi vào cửa Pháp phải vào chánh môn.

Môn luyện kỹ nhuần ôn thời tập,

Bát Nhã thuyền hội tập nguyên nhân.

Nghiệp trần giải sạch trái oan.

Từ không mà có, có hoàn lại không.

Đoạn hỏa tánh, dứt lòng Thần thức,

Chuyển dục tình lập cực Vô Vi.

Hành tàng cơ diệu thời tri,

Âm dương thăng giáng đúng kỳ khai thông.

Thời chuẩn bị hành công tiếp bổ,

Hô hấp cơ Pháp độ lần khơi,

Giáng thăng không nhặt không lơi,

Ý chân dẫn lối, Thần dời cung vi.

Đóng sáu cửa phục quy căn nội,

Cho lục trần tự thối về không.

Lục thức lặng ẩn bên trong,

Tịch nhiên hư cực viên thông giác thần.

Thần hiệp Khí, Thần chân Khí tụ,

Khí Thần giao cho đủ thời hầu.

Tịch trung vô lự cô câu,

Miên miên tâm tích tương cầu tương y.

Hiệp thành Pháp Chỉ sơ kỳ.



THI

Hạt giống Linh Căn tự thuở nào,

Gieo vào Thánh Địa quý dường bao.

Ngày đêm vun tưới nên công tích,

Quả vị trường sanh đoạn khổ lao.

Toàn Ban Hiệp Thiên Đài kể từ nay phải nghiêm túc công phu để thuần hóa trong công việc hành trì pháp Đạo nghe!

Thánh Giáo Thượng Thừa chỉ được phổ biến trong nội bộ. Việc ban hành phải chờ lịnh.

Bổn Sư ban ân chung.

Thăng...

5.- TÁNH MẠNG CÔNG PHU

Tý thời, đêm 01 tháng 5 năm Qúy Sửu  - Đại Đạo 47 (01.6.1973).

THI

KHỔNG học thế truyền lập đức Nhân,

THÁNH minh Lễ, Trí nhựt thời tân.

TIÊN thành Nghĩa hiệp trung hòa Tín,

đệ phong nghi xuất xử Chân.

TÔN SƯ KHỔNG THÁNH mừng chư phận sự và đàn tiền.

Giờ nay Tôn Sư thừa lệnh Đấng CAO ĐÀI GIÁO CHỦ điểm truyền chơn pháp "Tánh Mạng Công Phu". Vậy miễn lễ đàn tiền tịnh tâm an tọa.

Con người có hai phần: Tánh và Mạng theo cơ diệu hiệp âm dương ngũ hành mà cấu tạo nên.

Tánh và Mạng có mối tương quan linh diệu.

- Tánh có Mạng mới lập.

- Mạng có Tánh mới thành.

Nói chung, nếu không biết Tánh biết Mạng tức chính mình không biết được mình.

Con người Hậu Thiên, Tánh Mạng bị thất chánh, lâm vào đường tội lỗi nên bị luân hồi triền miên chẳng dứt.

Nếu chẳng lo tu Tánh luyện Mạng thì hai thành phần này sẽ lần lần tán thất, cuối cùng mất cả Tánh lẫn Mạng, không trở lại được kiếp làm người.

- Tánh có Tiên Thiên Chơn TánhHậu Thiên Sanh Tử Tánh.

- Mạng có Tiên Thiên Chơn MạngHậu Thiên Khứ Lai Mạng.

 

- Có Hậu Thiên Tánh là do Càn thất chánh.



- Có Hậu Thiên Mạng là do Khôn thất chánh.

Chủ đích công phu tu Tánh luyện Mạng là phục hoàn Tiên Thiên Chân tánh mạng.

Công phu tu Tánh luyện Mạng phải tu luyện cả hai thành phần gọi là Tánh Mạng song tu.

Nếu chỉ tu Tánh mà không tu Mạng là mới tu phần âm chưa tu luyện phần dương.

Trong giới tu hành ngày nay, đa phần bị chứng bịnh cô thiên này, hoặc chỉ biết tu Tánh mà không tu Mạng, hoặc chỉ biết tu Mạng mà không tu Tánh, do đó ít kẻ thành công.

Cả Tánh lẫn Mạng Hậu Thiên đều có đủ hai thành phần âm dương.

- Người dương nhiều, âm ít thì trí tuệ tương đối sáng suốt, lành nhiều dữ ít.

- Người âm nhiều, dương ít thì trí tuệ kém, lành ít dữ nhiều.

- Con người Tiên Thiên Tánh vốn thuần Càn thuần dương gọi là Tánh bổn thiện.

- Còn Mạng thuần Khôn thuần âm Mạng cũng bổn thiện.

- Con người Hậu Thiên Tánh thuộc Ly Âm Hỏa nên Tánh bổn ác.

- Mạng Hậu Thiên thuộc Khảm Dương Thủy nên Mạng này cũng bổn ác.

 

- Tu là tu cái Tánh ly âm hỏa trở lại thành Càn như thuở Tiên Thiên.



- Luyện là luyện cái Mạng Khảm dương Thủy trở lại thành Khôn như thuở Tiên Thiên.
 

- Tu Tánh trước phải lo giải trừ chứng bịnh sân hận để cho chủ nhơn ông (Chơn Tâm) trở về.

- Tu Mạng trước phải lo đoạn dứt bịnh dâm loàn để cho Mạng căn kiên cố.

Chân pháp tu Tánh luyện Mạng là "chiết Khảm điền Ly" để cho "Càn Khôn định vị".



THI

Làm người phải biết lý nhân sanh,

Biết đến chân tri để thực hành.

Tánh ấy Thần quang minh diệu giác,

Mạng là Tinh Khí bản nguyên thanh.

Tánh nương chân Mạng mà linh mẫn.

Mạng hiệp tánh chân mới bảo thành.

Vì bởi mê mờ theo sống tục,

Nên lo hồi phục thể tinh anh.

THI BÀI

Công Thiền định chỉnh tu Tánh Mạng,

Lập Trung cơ khai sáng Thiên đồ.

Luyện rèn nung chất nhuận tô,

Chỉnh tu Thần Khí khởi hồ thân tâm.

Tu phải biết truy tầm cội rễ,

Ngoài thân tâm đâu thể rằng tu.

Đặt mình đúng chỗ công phu,

Tâm an Thần lạc hiệp phù lý chân.

Tâm là Tánh, là Thần chủ vị,

Mạng là Thân, là Khí viên thông.

Thân Tâm Tánh Mạng tương đồng,

Tánh tu Mạng lập, Mạng tùng Tánh khai.

Tánh Mạng ấy tuy hai mà một,

Mạng Tánh đồng chỗ tột chí Chân.

Tiên Thiên thể chất quy huờn,

Thần linh Khí hấp keo sơn chẳng rời.

Tâm, Tánh, Ý tịnh thời hư cực,

Động dụng truyền tìm lực thi công.

Tri năng trung chánh hòa đồng,

Diệu chân Tạo Hóa chuyển thông Mạng hành.

Mạng là thân, trưởng thành do Khí,

Khí Tiên Thiên tinh túy tịch nhiên.

Tinh dung, Khí mãn, Thần yên,

Não cơ giác hóa Mạng truyền nhuận thân.

Lý bổn sơ sanh nhân sanh Tánh,

Tánh Mạng đồng hiệp chánh linh căn.

Linh căn muôn vẽ sáng ngần,

Khí Thiên trụ lập, chủ phần nguyên hanh.

Lứa thành niên thuận hành biến thể,

Chuổi mộng trần nặng kế mưu sanh.

Lý chân chẳng biết học hành,

Chẳng phân hư thiệt tâm manh ngoại trì.

Tâm thất chánh, Tánh tùy tâm sử,

Tánh tâm đồng, thọ dự muôn phương.

Âm thần dẫn lối đưa đường,

Sắc, tài, danh, lợi tổn thương đức hiền.

Tâm tư dục đảo huyền cuộc sống,

Muôn nghiệp trần tự động khởi đoan.

Tâm sanh Tánh Mạng dấy loàn,

Theo chiều huyền hóa vào đàng đọa sa.

Một biến thái hỏa tà bừng cháy,

Tập Tánh truyền lần dấy tiêu hao.

Tục đoàn lục thất lộng trào,

Thuận hành sanh hóa biết bao cho vừa.

Sơ niệm khởi tiếp thừa vạn niệm,

Niệm niệm sanh loạn chiếm chân tâm.

Lần hồi Tánh Mạng toàn âm,

Linh quang mờ tối đọa trầm cảnh mê.

Ngày nhặt thúc đi về bóng xế,

Tuổi sống đời tính kể bao niên.

Trực nhìn Tánh Mạng không yên,

Tánh tham si muội, Mạng nguyên khô càn.

Hồi tưởng giấc kê vàng mộng điệp,

Nợ gia thân thừa tiếp kế truyền.

Ô hay! cho cái nghiệp duyên,

Là then đóng mở cơ huyền ảo minh.

Cuộc sanh tử trần tình giả hiệp,

Cửa tử sanh lịch kiếp trả vay.

Có vay, có trả bao ngày,

Siêu sanh liễu tử mấy ai tinh tường.

Tu luyện Đạo là phương giải thoát,

Là diệu cơ chuyển đạt phục nguơn.

Là cơ Tánh Mạng thuần chơn,

Song tu diệu hiệp nhị huờn nhứt gia.

Nay trường Đạo kỳ ba điểm hóa,

Máy Kiền Khôn mở khóa đưa đường.

Tôn Sư trách nhiệm đề cương,

Triển khai Tánh Mạng lập chương trình hành.

Công phu kỹ lưu thanh khử trược,

Đoạn niệm trần tâm được an nhiên.

Khí Thần hồi phục bổn nguyên,

Tánh chân thuần hóa, Mạng kiên cố thường.

Đạo Mạng tu dẫn đường Thánh Đức,

Là cội nguồn sanh lực Tiên Thiên.

Là cơ bí pháp chân truyền,

Phục căn vô lậu, chiết điền Khảm Ly.

Chân Tánh Mạng hiệp quy Chân Đạo,

Chân Đạo thành là tạo nên công.

Khí Thần ngưng tụ bên trong,

Diệu nhiên dung hóa, huyền đồng cơ trung.

Ấy là Tánh, Mạng khai thông.



THI

Tánh Mạng song tu khó biết thay,

Biết chăng đi nữa cũng chờ ngày,

Dương tiêu, âm trưởng, thân tâm phá,

Mãi mãi luân hồi trả với vay.

THI

Vay trả, trả vay cái nghiệp trần,

Suốt đời chồng chất nợ thêm cân.

Bởi đem Tánh, Mạng vào màng ảo,

Sớm định phương tu phục thể chân.

Đề tài Tánh - Mạng Song Tu đến đây đã hết.



Sau 20 phút sẽ tái cầu Huệ Tịnh chấp cơ, Tôn Sư ban ân chung. Thăng...



Tái cầu:

THI

QUAN sát "tâm viên ý mã" mình,

ÂM thầm nhắc nhở bạn đồng sinh.

NHƯ hồi tưởng lại bao năm tháng,

LAI vãng nghiệp trần chịu nhục vinh.

HỰU

Vinh nhục nào ai rõ đoạn trường,

Tự mình mình biết, tự mình thương.

Xôn xao cõi tục mang phiền lụy,

Xạo xự lòng trần khổ nghiệp vương.

Đạo chánh không tên người lạc lối,

Đường tà có dạng khách tìm nương.

Chân kinh đã sẵn trong mình có,

Phục kiến chân tâm, chỉnh Đạo trường.

QUAN ÂM NHƯ LAI chào mừng chư Hiền đệ, miễn lễ, an tọa.

Giờ này Bần Đạo thừa lệnh Đức Chí Tôn lai đàn để cùng chư hiền giải bày đôi điểm trên con đường tu thân học Đạo.

Con người đang sống trong cõi đời Hạ nguơn này phải chịu nhiều gian lao thử thách. Kìa nợ tiền khiên oan trái! Kìa dục vọng dấy tràn! Thử hỏi tại vì đâu?

Chỉ vì con người mang kiếp sống Hậu Thiên, tâm chịu lấy hiện tượng Ly Âm Hỏa sanh sanh tử tử chẳng có lúc nào chấm dứt nên mãi triền miên chìm đắm trong sông mê bể khổ của dục tình, không tự tĩnh lấy mình. Nếu chúng sanh biết tự giải thoát cái lòng tham dục, giải thoát cái ý vị kỷ của mình thì con người tức khắc nhẹ nhàng thư thái.

Muốn vậy, chúng sanh phải biết tự xét lấy mình, rồi diệt bớt cái lòng ích kỷ, diệt bớt cái ngã tư tâm.

Làm sao diệt được lòng ích kỷ?

Chỉ có luyện được cái tâm vô kỷ đó thôi! Nếu lấy sự khắc chế bằng hình thức nào đó thì cũng chỉ là một sự chèn ép, nó còn có cơ hồi phục. Cũng vì vậy mà sự tu hành của chúng sanh ngày càng bị lu mờ, càng bị vấp phải cái bản ngã tư tâm không trói buộc, không giác ngộ được. Mà có giác ngộ, cũng chỉ lờ mờ trong đối tượng nhị nguyên.

Đạo Trời khai mở cốt để sửa đổi cái tâm phàm phu trở về cái tâm Thánh đức (Hậu Thiên phục chuyển Tiên Thiên). Cũng do cái tâm phàm tục mà nhân loại điên đảo. Cũng vì sự sống danh lợi mà con người mãi sa đọa.

Ôi thôi thôi! lòng người đã đen bạc, tình người lại nhạt phai thì cõi đời lấy chi làm mục đích? người tu hành lấy chi làm cứu cánh?

Đa phần chúng sanh đã và đang vấp phải căn bịnh nặng nề, cái lòng vị kỷ, bản ngã tư tâm. Chưa đạt đến chỗ vị tha, hòa đồng với mọi người, cho nên niềm tin tuyệt đối nơi Thượng Đế cũng bị hao mòn. Giá trị tối linh của con người cũng vì đó mà phôi pha.

Đạo là chi? mà Đời là chi? Đạo, Đời tuy hai mà một. Đời với Đạo tuy một mà hai. Bởi thế chúng sanh nào có khác chúng sanh? Tất cả đều mang một hình hài như nhau, đều có một tâm niệm như nhau. Tại sao con người Thượng nguơn Thánh đức cái tâm từ lành hồn nhiên chất phát, mà con người Hạ nguơn lại nhiều mưu mô xảo quyệt? Có phải cũng vì cái bản ngã kết tập lâu đời mà có. Cũng vì cái nghiệp lực trái oan ràng buộc mà ra.

Trong khung cảnh Đời, Đạo muốn nên người Chí Đức phải Khắc kỷ tu tâm.

Làm sao là khắc kỷ? Lấy gì mà tu tâm?

- Kỷ muốn khắc phải "Thiểu tư quả dục".

- Tâm muốn tu phải "Kiến tố bảo phát".

Phải cởi bỏ cái lớp trí thức giả tạo bên ngoài để cho chơn tâm trọn vẹn hiển hiện nơi con người,

Một cuộc xoay vần của Tạo Hóa mấy ai hay? Thượng Đế đã cầm cân công lý không lẽ ngừng nghỉ? Vậy thì chúng sanh cũng phải tự mình giác ngộ cái bản tâm thanh tịnh của chính mình: ấy là Phật Tánh từ bi đã sẵn có trong mỗi một.

Đạo không khó mà khó ở lòng chúng sanh. Muốn thể hiện cái chân ý viên dung, phải tuần tự mà tiến hành. Thể hiện từ cái nhỏ, cái dễ nhất, cái gần nhất để đạt thành cái rộng rãi, lớn lao nhất và vô biên nhất. Chư chúng sanh khá tự xét lấy chứ đừng để cho ai xét mình.

Học Đạo là học những gì sẵn có trong ta, của ta. Tức là Thân và Tâm, hay gọi là Tánh và Mạng. Cái không phải của ta, tức ngoài Tánh - Mạng, là bàng môn tả đạo vậy!

Hởi chư Thiên ân! Chư chúng sanh! Hãy yên vui với cuộc sống của chính mình. Tự tại ung dung với lòng mình mà định cho mình một tâm chí bền vững, một tấm lòng quảng đại kiên trung. Mặc dầu bao cơn thử thách, chẳng qua đó là lò lửa để nung luyện cho hạt ngọc kim cương thêm sức sáng. Một câu tâm niệm, một đức chí thành cũng trọn vẹn, cũng dung dị không thua gì muôn kinh ngàn điển như chúng sanh khá hiểu.



THI BÀI

Đã mang lấy mảnh hình hài,

Đất Trời dung hiệp, tam tài tạo nên.

Ngũ hành sanh khắc đôi bên,

Âm dương nhị thể ấy nền Thiên Luân.

Làm người phải chịu gian truân,

Lắm cơn thử thách, lắm lần hiểm nguy.

Rèn lòng Nho sĩ Tam Kỳ,

Có cơ thăng giáng, có khi giũa mài.

Đầu hôm cho chí ban mai,

Lập trường đạo đức không sai tấc lòng.

Chuyển cơ cứu khổ ngoài trong,

Làm tròn Thiên Mệnh mới mong đạt thành.

Đêm khuya lời dạy tu hành,

Giữ tâm thanh tịnh đức lành noi theo.

Thương đời trong cảnh vàng thau,

Thương người đạo đức trước sau vẹn toàn.

Mãn đàn ân điển bố ban,

Cùng chư sanh chúng đôi hàng nhủ khuyên.

Giờ lành điển chiếu ân Thiên,

Ban đồng sanh chúng trường Tiên hiệp thành.

Thăng...


6.- SƠ THIỀN: TỊNH THỦ HƯ VÔ

Tý thời, đêm 15 tháng 5 năm Qúy Sửu  - Đại Đạo 47 (15.6.1973).

THI

NGÔ hiệp thời sanh chuyển Pháp luân,

MINH cơ nhất bản Đạo tinh thuần.

CHIÊU an Thiên mạng hành Thiên đức,

Giáng điểm Thánh huyền tạo Thánh nhân.

khởi chí thành hoàn chí thiện,

Thiền khai Thần huệ hội Thần chân.

Tịnh trung chỉ niệm tiêu ma chướng,

Thủ đắc dương triền cấp thể huân.

Giờ này Ngô huynh thừa lệnh chuyển cơ giảng đề tài "Sơ Thiền Tịnh Thủ Hư Vô" trong phẩm Thượng Thừa Bửu Kinh này.

Tất cả đàn trung hãy tịnh tâm am tọa nghe dạy:

Sơ thiền còn có danh từ là Luyện kỹ Trúc Cơ. Là luyện vô niệm, luyện tâm hoàn toàn thanh tịnh hư vô, còn gọi là luyện Tâm thuần Dương.

Tâm có Tiên Thiên Tâm và Hậu Thiên Tâm.

- Tiên Thiên Tâm: vốn thuần dương, thuần thiện, thuần chân vô ngã, vô tử vô sanh. Là tâm của Thượng Đế, của Như Lai, của Thánh Nhân, của các bậc Chân Nhân.

Tâm này có đặc tính tịch tịnh như nhiên, không một hào ly tà hỏa.

Tâm này không hề nghĩ thiện, nghĩ ác hay bất cứ một đối tượng nào của thế giới Nhị Nguyên. Cũng không hề chấp có, chấp không, chấp Tâm, chấp Tướng, chấp Tánh, chấp Mạng hay thiên chấp nhất biên.

- Hậu Thiên Tâm: Từ Thái Cực sanh Lưỡng Nghi là phân phát âm dương, sanh Tứ Tượng... là cơ trùng trùng chuyển hóa thị hiện. Thị hiện từ thế giới bên trong con người, đến thế giới hữu hình bên ngoài.

Sự thị hiện đó là do cơ biến hóa âm dương của Hậu Thiên.

Cơ biến hóa đại khái như: thạnh - suy, bĩ - thái, trị - loạn, an - nguy, tấn - thối, tồn - vong, dinh - hư, tiêu - trưởng, sanh - tử, tử - sanh... gọi là trăm ngàn đối tượng.

Nơi con người là lưỡng dạng tâm, là tâm bất nhất, là nhị Tánh, là phàm Tánh, là Ly âm Tâm hỏa...

Lưỡng dạng tâm đã tạo cho loài người tranh chấp hơn thua, mạnh hiếp yếu, đi đến chỗ tương tàn, tương sát lẫn nhau.

Lưỡng dạng tâm đã biến chốn thanh tịnh tu hành thành một hội trường tranh luận cao thấp chánh tà. Nên đã biến Chánh pháp ra tà pháp.

Lưỡng dạng tâm của con người đã gây ra nhiều tội lỗi không kể sao cho xiết.

Vì thế, lưỡng dạng tâm là hiện tượng nguy cơ của phương xử thế.

Còn Ly âm Tâm hỏa là hiện tượng nguy cơ của sự tu luyện, vì Ly hỏa là loại lửa thiêu đốt Chơn đơn trong người.

Ly âm Tâm hỏa có loại dâm tâm là nguy hiểm nhất, đã từng thúc giục những kẻ tu hành thiếu nghị lực phải bỏ cuộc và rơi sâu xuống vực thẳm.

Sơ Thiền chủ trương luyện cái tâm Hậu Thiên thành cái tâm Thiên Tiên như đã nói trên rồi mới bước vào công phu luyện Mạng.

Luyện Mạng khi đã thành Thánh Thai còn phải trở lại luyện tâm lần cuối cùng mới thành Chân Tâm hoặc Thuần Dương Tâm.

Thiền tịnh là pháp luyện Tâm an tịnh, dứt niệm lự ưu tư, thanh lọc giác linh. Luyện Tánh vô vọng động, thuần định, giải thoát vạn duyên trần nghiệp, dứt vọng ý sanh tâm, tạp niệm ngã chấp, đoạn căn phiền não.

Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý sáu căn thức này hay tạo nghiệp khổ triền miên đều quy trung tức đưa vào tận bản cung quy y thọ Pháp (có chỗ gọi đóng sáu cửa là đây).

Mắt, mũi, miệng là ba ải trọng yếu, là đường thoát lậu tam bửu, phải được cẩn mật nghiêm phòng để cho các thinh âm, sắc tướng bên ngoài không có đường nhập nội tâm quấy rầy, tạo nên muôn duyên vạn niệm.

Nhất là nhãn quan là cửa ngỏ thoát Thần du ngoại giới, cầm đầu cho các căn thức kia tác hại.

Bên trong tâm được an tịnh linh minh thì mọi căn nguyên phiền nảo, tà niệm, ác ý, sân tham đều biến dạng trong hư vô không cảnh, tức tâm được thanh tịnh.

Nhờ tâm thanh tịnh mà cơ luyện Mạng mới thành công, Thần Khí mới quy tụ, mới tiếp nhận được Chân Khí linh huyền bao la của vũ trụ vào nội Khiếu bồi bổ cho huyễn thân hóa thành Pháp thân.

Khi thiền tịnh: ngồi kiết già hoặc bán già, hoặc ngồi ghế tùy nghi, nhưng lưng phải ngay thẳng, sống mũi phải thẳng hàng với rốn, đôi mắt hạ thấp mí trên, gọi là xũ rèm mắt. Dụng Chơn ý và Khí hô hấp chuyển Thần từ Nê Huờn Cung hạ xuống Hạ Đơn Điền (Khí căn), đôi nhãn quang trực chiếu vào đó cho tức tức quy căn khiếu, gọi là "ngưng Thần tụ Khí nhập ư Khí huyệt chi trung". Hễ cực tịnh được lâu ngày thì thân tâm thơ sướng nhẹ nhàng thoải mái.

Nhờ Tánh, Mạng tương giao; Thần, Khí tương hiệp trong Thái Cực Cung mà có cơ dương sanh động tiếp theo.




Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương