T Nhóm Phân tích Kinh tế H


Bảng 3.4: Chỉ số tính dễ bị tổn thương tổng hợp của đường nông thôn



tải về 1.07 Mb.
trang3/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.07 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

Bảng 3.4: Chỉ số tính dễ bị tổn thương tổng hợp của đường nông thôn

Mức tổn thương

Giá trị

Rất thấp

2,40 – 3,60

Thấp

3,61 – 6,00

Trung bình

6,01 – 7,20

Cao

7,21 – 10,80

Rất cao

10,81 – 12,00

Nguồn: Công cụ đánh giá tính dễ bị tổn thương của cơ sở hạ tầng nông thôn, nhóm Kỹ thuật cơ sở hạ tầng, 2015

Tham khảo “Công cụ đánh giá tính dễ bị tổn thương của cơ sở hạ tầng nông thôn” để biết thêm chi tiết về phương pháp cho trọng số và chấm điểm từng loại công trình cụ thể, các giá trị của ví dụ trên chỉ mang tính chất minh họa.



Bước 3: Dựa trên kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương, xây dựng phương án thích ứng BĐKH

Bước 3.1 Lựa chọn chỉ số có giá trị cao – tính dễ bị tổn thương cao

Dựa trên kết quả chấm điểm ở Bước 2, lựa chọn các chỉ số có giá trị cao, là những chỉ số có tính dễ bị tổn thương cao, để làm cơ sở xây dựng phương án thích ứng BĐKH.



Bảng 3.5: Ví dụ về lựa chọn chỉ số có tính dễ bị tổn thương cao

Chỉ số

Tác động

Hạng mục dự án

Đặc điểm mái dốc, giá trị 0,5.

Hơn 50% độ dài tuyến đường cắt ngang qua mái dốc cao (>30º).

Hơn 50% độ dài tuyến đường nông thôn.

Biện pháp ổn định mái dốc, giá trị 0,4.

Nhỏ và không có các biện pháp ổn định mái dốc.

Các đoạn đường có mái dốc cao hơn 30%.

Vấn đề thoát nước cho mặt đường, giá trị 0,4.

Một vài điểm (nhiều hơn 5 km) cho thấy nước chưa được thoát.

Các đoạn đường có nền đường thấp.

Chức năng của hệ thống thoát nước dọc đường, giá trị 0,5.

Hệ thống thoát nước không có chức năng.

Dọc tuyến đường.

Khả năng thoát nước của hệ thống thoát nước ngang đường, giá trị 0,4.

Dòng chảy vượt ngưỡng xảy ra thường xuyên trong các trận mưa to.

Cống thoát nước ngang đường.

Bước 3.2: Xây dựng và lựa chọn phương án thích ứng BĐKH

Phương án thích ứng BĐKH có thể phân thành 3 loại chính sau:

Phương án thích ứng BĐKH bao gồm các giải pháp liên quan đến kỹ thuật như tiêu chuẩn thiết kế, kết cấu công trình, tiêu chuẩn và chỉ dẫn về vật liệu ...

Phương án thích ứng BĐKH bao gồm các giải pháp phi kỹ thuật như kế hoạch bảo trì và cảnh báo sớm, chỉnh tuyến, quy hoạch tổng thể và quy hoạch sử dụng đất ...

Phương án “không can thiệp” được lựa chọn trong bối cảnh các tác động của BĐKH vượt quá tầm của dự án, hoặc bản chất các thay đổi khí hậu không rõ ràng, hay khi chi phí đầu tư cho các hoạt động thích ứng BĐKH vượt quá lợi ích thích ứng.

Bảng 3.6: Ví dụ về xây dựng phương án thích ứng BĐKH


Tác động/hạng mục dự án

Phương án cơ sở

Phương án thích ứng BĐKH 1

Phương án thích ứng BĐKH 2

50% độ dài tuyến đường cắt ngang mái dốc cao hơn 30º.

Không chỉnh tuyến.

Chỉnh tuyến tăng 40% kinh phí, giảm 20% độ dài tuyến cắt ngang mái dốc.

Chỉnh tuyến tăng 60% kinh phí, giảm 30% độ dài tuyến cắt ngang mái dốc.

Biện pháp ổn định mái dốc.

Không áp dụng biện pháp ổn định mái dốc.

Trồng cỏ vetiver, tăng 5% kinh phí.

Gia cố mái dốc bằng bê tông, tăng kinh phí 40%.

Hơn 5 km đường không thoát nước.

Không áp dụng biện pháp thoát nước.

Khơi thông cống thoát nước dọc, tăng 5% kinh phí.

Gia cố xi măng cống thoát nước dọc, tăng 20% kinh phí.

Chức năng của hệ thống thoát nước dọc đường.

Không áp dụng biện pháp thoát nước dọc.

Bổ sung cống thoát nước đất dọc tuyến đường, tăng kinh phí 10%.

Bổ sung cống thoát nước xi măng dọc tuyến đường, tăng kinh phí 30%.

Vượt ngưỡng thoát nước của hệ thống thoát nước ngang đường.

Không can thiệp.

Tăng khẩu độ cống, kinh phí tăng 5%.

Tăng khẩu độ cống, kinh phí tăng 10%.

Việc xây dựng và lựa chọn phương án thích ứng BĐKH nên dựa trên ý kiến chuyên môn của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và chuyên gia trong lĩnh vực thích ứng BĐKH, cơ sở hạ tầng …, cũng như tham vấn ý kiến cộng đồng và tham khảo các sáng kiến và kinh nghiệm đã được thực hiện trước đây tại địa phương để đưa ra các phương án thích ứng hiệu quả và phù hợp nhất.

Khi lựa chọn phương án thích ứng BĐKH cần quan tâm đến tính bất định, công bằng, định giá …, được thể hiện thông qua việc đánh giá định tính theo tiêu chí lựa chọn phương án thích ứng, dưới đây:



Bảng 3.7: Tiêu chí lựa chọn phương án thích ứng BĐKH

Tiêu chí

Diễn giải

Hiệu quả

Tập trung vào những chỉ số có giá trị cao – tính dễ bị tổn thương cao.

Có khả năng giảm thiểu những tổn thất do BĐKH gây ra.



Thời gian phù hợp

Phù hợp với tuổi thọ dự án/vòng đời dự án.

Đồng lợi ích

Đóng góp vào các mục tiêu khác, như tính bền vững, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, giảm phát thải ...

Không hối tiếc

Phù hợp với mọi kịch bản BĐKH khác nhau.

Linh hoạt

  • Có khả năng cập nhật và chỉnh sửa khi điều kiện kinh tế - xã hội và khí hậu thay đổi.

Hiệu quả kinh tế

Lợi ích trung hoặc dài hạn luôn cao hơn so với chi phí (bao gồm cả các lợi ích và chi phí không quy đổi được thành tiền).

Công bằng

Phân bố chi phí và lợi ích hợp lý, đảm bảo không ảnh hưởng đến các nhóm dễ bị tổn thương.

CHÍNH





Nguồn: Phát triển chống chịu với khí hậu: Thích ứng BĐKH, giảm thiểu nguy cơ, GIZ, 2011

Bước 4: Phân tích kinh tế nhằm tính toán và so sánh hiệu quả kinh tế giữa các phương án

Bước 4.1: Phân loại dự án và điểm thực hiện phân tích kinh tế theo từng loại dự án

Lồng ghép thích ứng BĐKH vào dự án cơ sở hạ tầng nông thôn được hiểu là bổ sung những can thiệp kỹ thuật hoặc phi kỹ thuật nhằm tăng cường tính thích ứng của dự án trước những tác động của BĐKH. Việc bổ sung này đồng thời sẽ làm thay đổi chi phí và lợi ích của dự án, bất kể lợi ích và chi phí của dự án tăng hay giảm, bao giờ cũng có sự mâu thuẫn tiềm ẩn giữa những người được hưởng lợi từ dự án và những người phải gánh chịu chi phí dự án. Chính vì vậy, việc phân tích kinh tế dự án có lồng ghép thích ứng BĐKH là cần thiết nhằm làm cơ sở lựa chọn phương án thích ứng BĐKH có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Theo Luật Xây dựng năm 2014 và Nghị định 59/2015/NĐ-CP về “Quản lý dự án đầu tư xây dựng”, dự án cơ sở hạ tầng được phân loại theo những tiêu chí khác nhau như mức/nguồn vốn đầu tư, biện pháp kỹ thuật, quy mô dự án … Trong đó, những dự án quan trọng cấp quốc gia, nhóm A, B và C cần thông qua bốn giai đoạn thẩm định để được phê duyệt, đối với những dự án cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ, công trình tôn giáo, và một số loại công trình khác theo quy định của Chính phủ thì chỉ cần thông qua hai giai đoạn (xác định dự án và thiết kế chi tiết).

Bảng 3.8: Phân loại dự án


Phân loại

Số vốn đầu tư

Loại dự án

Cơ quan phê duyệt

Quan trọng quốc gia.

trên 10.000 tỷ VND.

Tác động nghiêm trọng đến môi trường như: dự án điện hạt nhân, thay đổi mục đích sử dụng đất ở tại vườn quốc gia, đất lúa … sang mục đích khác; tái định cư cho 20.000 hộ, …

Hội đồng thẩm định quốc gia, được thành lập bởi Thủ tướng Chính phủ.

Nhóm A

800 tỷ đến trên 2.300 tỷ VND.

Dự án quốc phòng và an ninh, di tích quốc gia đặc biệt, giao thông vận tải, công nghiệp điện, công nghiệp mỏ, thủy lợi, …

Bộ và cơ quan ngang Bộ.

Nhóm B

45 tỷ đến 2.300 tỷ VND.

Bộ và UBND tỉnh.

Nhóm C

45 tỷ đến 120 tỷ VND.

Bộ và UBND tỉnh.

Quy mô nhỏ

Dưới 15 tỷ VND, không bao gồm chi phí sử dụng đất.




UBND tỉnh hoặc huyện.

Nguồn: Tổng hợp Nghị định 59/2015/NĐ-CP về Quản lý dự án đầu tư xây dựng

Đối với việc thực hiện phân tích kinh tế, Nghị định 59/2015/ND-CP quy định như sau:



  • Yêu cầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi cho những dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, Bvà C, bao gồm nội dung đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội. Như vậy, Giai đoạn 3 – Nghiên cứu khả thi, bao gồm hoạt động phân tích hiệu quả kinh tế, được xem là thời điểm phù hợp để thực hiện phân tích kinh tế dự án có lồng ghép thích ứng BĐKH.

  • Dự án xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo, dự án quy mô nhỏ (có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ VND), và dự án xây dựng do Chính phủ quy định chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng, (Báo cáo này không bao gồm hoạt động phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội). Trên thực tế, một số dự án quy mô nhỏ ở vùng sâu vùng xa, mục tiêu chính là giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội như xoá đói giảm nghèo, an ninh quốc phòng… sẽ không đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế. Vì vậy để chủ trương đầu tư của dự án quy mô nhỏ mang tính khách quan và sát với nhu cầu thực tế, phân tích kinh tế cần phải được thực hiện ở Giai đoạn 1 – Xác định dự án. Phương pháp phân tích kinh tế này đòi hỏi phải đơn giản và ít tốn kém để có thể thực hiện được trong điều kiện của các tỉnh miền núi phía Bắc.

Đồ thị dưới đây thể hiện quy trình xây dựng và phê duyệt dự án, cũng như lựa chọn điểm thực hiện phân tích kinh tế phù hợp cho từng loại hình dự án.

Đồ thị 3.2: Quy trình xây dựng và phê duyệt dự án, điểm thực hiện phân tích kinh tế


Thực hiện phân tích kinh tế cho dự án quy mô nhỏ




Thực hiện phân tích kinh tế cho dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, nhóm B, nhóm C



Bước 4.2: Lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế phù hợp

Trong phạm vi sổ tay này, 03 phương pháp phân tích chi phí lợi ích (CBA), phân tích hiệu quả chi phí (CEA), và phân tích đa tiêu chuẩn (MCA) được lựa chọn để hướng dẫn tính toán và so sánh lợi ích kinh tế giữa các phương án.

Câu hỏi đặt ra là: Nên lựa chọn phương pháp nào để thực hiện phân tích kinh tế cho các loại hình dự án khác nhau tại khu vực miền núi phía Bắc?

Trường hợp 1: Đối với những dự án mà chi phí và lợi ích hoàn toàn có thể quy đổi được thành tiền (đây thường là những dự án có quy mô lớn như dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, nhóm B, nhóm C) sử dụng phương pháp CBA.

Trường hợp 2: Đối với những dự án mà chi phí và lợi ích không thể quy đổi được thành tiền, nhưng có thể lượng hóa được (đây thường là những dự án quy mô nhỏ ở vùng sâu vùng xa,… không thể thực hiện phương pháp CBA), ví dụ số hộ tăng thu nhập nhờ vào dự án, số người chết do lũ quét, tỉ lệ nghèo…, CEA sẽ được áp dụng để phân tích kinh tế cho dự án. Phương pháp CEA được xem như công cụ mở rộng của phương pháp CBA nhằm khắc phục những vấn đề bỏ ngỏ mà phương pháp CBA chưa thể đáp ứng được.

Trường hợp 3: Đối với những dự án mà chi phí và lợi ích không thể quy đổi được thành tiền cũng như không thể lượng hóa được (đây thường là những dự án/chương trình thích ứng BĐKH cấp vùng hoặc tỉnh), MCA được lựa chọn để phân tích kinh tế dự án.

CBA



Chi phí và lợi ích của dự án có thể lượng hóa không?

Dự án có thể xếp hạng theo những tiêu chí cụ thể, dựa trên đánh giá định lượng không?

Chi phí và lợi ích dự án có thể quy đổi được bằng tiền không?

Không


Áp dụng phương pháp đánh giá định tính

CEA


Không

Không



MCA


Đồ thị 3.3: Lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế phù hợp cho từng loại hình dự án

Nguồn: Có chỉnh sửa từ UNFCCC, 2002 và Niang-Diop, Bosch, 2011

Khi cả 3 trường hợp trên đều không phù hợp, có thể áp dụng phương pháp đánh giá định tính khác để đánh giá hiệu quả dự án. Đồ thị dưới đây minh họa rõ hơn quy trình lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế phù hợp cho từng loại hình dự án.



Căn cứ vào từng tình huống thực tế, bảng dưới đây miêu tả phương pháp phân tích kinh tế tương ứng cho mỗi tình huống cụ thể.

Bảng 3.9: Phương pháp phân tích kinh tế theo tình huống thực tế

Tình huống

Phương pháp phân tích kinh tế

Xây dựng khung chương trình hành động về BĐKH cấp vùng/tỉnh, hoặc những dự án có chi phí và lợi ích không thể quy đổi được thành tiền cũng như không thể lượng hóa được.

Xây dựng khung chương trình hành động về BĐKH cấp vùng/tỉnh, ví dụ xây dựng khung chương trình hành động về ứng phó BĐKH cho vùng núi phía Bắc hoặc một tỉnh cụ thể, đòi hỏi thẩm định danh sách dự án ưu tiên đầu tư.

MCA được sử dụng để xếp hạng ưu tiên giữa các phương án thích ứng ở cấp khu vực hoặc tỉnh. Phương pháp MCA đã được áp dụng thí điểm ở Mexico trong lĩnh vực: thủy lợi, quản lý nước và hệ sinh thái rừng để xây dựng khung chương trình hành động và chính sách quốc gia về BĐKH. Ba uỷ ban về nước, rừng và nông nghiệp được thành lập để tiến hành các bước đánh giá, xác định lựa chọn thích ứng, tổ chức các cuộc họp tham vấn, tài liệu hóa. Trong trường hợp của Mexico quá trình thực hiện MCA kéo dài trong 5 tháng.

Dự án không thể định lượng được chi phí và lợi ích hoặc các lợi ích khác nhau không thể quy đổi về cùng một đơn vị. Ví dụ, dự án bảo tồn đa dạng sinh học dự kiến sẽ bảo tồn hệ thực vật và động vật tại Vườn quốc gia, điều này sẽ mang lại lợi ích cho toàn thể cộng đồng như tăng thu nhập của người dân địa phương thông qua du lịch sinh thái, bảo tồn nguồn gen, cải thiện độ phì của đất, cải thiện chất lượng nước, ...

MCA được coi là phương pháp thích hợp nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án thông qua các tiêu chí định tính như: tính khả thi, đa lợi ích, dễ thực hiện, chấp thuận từ người dân địa phương, và các nguồn lực cần thiết khác, ...

Dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, B và C), với chi phí và lợi ích hoàn toàn có thể quy đổi được thành tiền

Dự án cơ sở hạ tầng với chi phí và lợi ích có thể quy đổi sang đơn vị tiền tệ, thông thường đây là những dự án có quy mô lớn như dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C, với đủ nguồn lực tài chính, con người và thời gian để thực hiện phân tích kinh tế.

CBA được sử dụng để tính toán hiệu quả kinh tế cho loại hình dự án này, nhằm giúp các cán bộ ra quyết định ở cấp trung ương/địa phương, các cán bộ kỹ thuật… dễ dàng xếp hạng và lựa chọn phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Hiệu quả kinh tế dự án sẽ được đánh giá thông qua phân tích mối tương quan giữa tổng chi phí và tổng lợi ích trong toàn bộ vòng đời dự án, dựa trên các chỉ tiêu: Giá trị thu nhập ròng (NPV), hệ số nội hoàn kinh tế (EIRR%), và tỷ số lợi ích/chi phí (B/C).

Tuy nhiên CBA không phù hợp để tính toán hiệu quả kinh tế cho những dự án cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa.


Dự án cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ với chi phí và lợi ích không thể quy đổi được thành tiền, nhưng có thể lượng hóa được (đây thường là những dự án quy mô nhỏ ở vùng sâu vùng xa)

Dự án cơ sở hạ tầng với chi phí và lợi ích không thể quy đổi sang đơn vị tiền tệ, thông thường đây là những dự án có quy mô nhỏ ở cấp huyện/xã, thiếu thốn nguồn lực tài chính, con người, và thời gian để có thể thực hiện phân tích kinh tế.

Những đề xuất chủ trương đầu tư và báo cáo khả thi của dự án quy mô nhỏ được ghi trong danh mục kế hoạch hàng năm đồng nghĩa với việc chủ trương đầu tư thực tế đã được quyết định, tỷ lệ loại bỏ các dự án ở mức thẩm định là rất thấp. Trên thực tế, hầu như không thực hiện phân tích hiệu quả kinh tế, nên các chủ trương đầu tư này thường thiếu tính khách quan và không sát với nhu cầu thực tế.



CEA được sử dụng để xếp hạng ưu tiên các dự án mà lợi ích không thể quy đổi thành đơn vị tiền tệ được, dựa trên kết quả phân tích mối tương quan giữa chi phí và lợi ích: “Dự án đạt được kết quả tốt nhất với chi phí thấp nhất”.

CEA được xem như công cụ mở rộng của CBA nhằm khắc phục những vấn đề bỏ ngỏ mà CBA chưa thể đáp ứng, như phân tích vai trò của dự án cơ sở hạ tầng nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo tiếp cận nguồn lực và cơ hội phát triển.



Bước 4.3: Phân tích Kinh tế

Phương pháp CBA: sử dụng để phân tích kinh tế dự án cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô lớn (dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C) với chi phí và lợi ích có thể quy đổi thành tiền, các bước thực hiện CBA như sau.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương