T Nhóm Phân tích Kinh tế H



tải về 1.07 Mb.
trang1/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.07 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12







Báo cáo kthut – Nhóm Phân tích Kinh tế - Hp phn UNDP

SỔ TAY TÍNH TOÁN HIỆU QUẢ KINH TẾ DỰ ÁN HẠ TẦNG NÔNG THÔN KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC CÓ LỒNG GHÉP YẾU TỐ THÍCH ỨNG BĐKH




Dán Tăng cưng Khnăng Chng chu Khí hu cho Cơ shtng các tnh min núi phía Bc


Hà Nội, 5/2016

description: description: description: description: globalenvironmentfacility.jpg

description: logo undp


Chú thích

Báo cáo này được đệ trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) bởi Ban Quản lý Trung ương dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu cho cơ sở hạ tầng các tỉnh miền núi phía Bắc”. Những quan điểm, kết luận và khuyến nghị trong tài liệu này không đại diện cho quan điểm của MARD cũng như UNDP.

Thông tin liên hệ:

Trần Văn Lam, Giám đốc dự án

Ban Quản lý các dự án nông nghiệp

Số 16 Thụy Khuê, phường Thụy Khuê, Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội

pcrinmp@apmb.gov.vn

Hoặc Tư vấn Phân tích Kinh tế Trong nước, Bùi Hải Nam

Email: bhnam79@gmail.com

ĐT: 0912557979



Thông tin chung

Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đang phối hợp với Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) để hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN-PTNT) thực hiện dự án “Tăng cưng khnăng chng chu khí hu cho cơ sở hạ tầng các tnh min núi phía Bc”. Mục tiêu của dự án là tăng cường tính bền vững và giảm nhẹ khả năng dễ bị tổn thương của các công trình hạ tầng nông thôn tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam trước những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu (BĐKH) và hỗ trợ khung chính sách cho phép khuyến khích phát triển hạ tầng vùng núi phía Bắc bền vững với khí hậu.

Trong bối cảnh đó, dự án đã tuyển 01 chuyên gia tư vấn trong nước về phân tích kinh tế liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng nông thôn, để cung cấp các kinh nghiệm và chuyên môn trong việc phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế trong các dự án/công trình hạ tầng nông thôn “chống chịu với khí hậu” (tập trung vào giao thông nông thôn, thủy lợi và đê kè bảo vệ bờ sông) khu vực miền núi phía Bắc.

Các sản phẩm chính mà tư vấn phải giao nộp (bản tiếng Anh và bản tiếng Việt) bao gồm:

Sản phẩm 1: Báo cáo về phương pháp đánh giá mức độ thiệt hại về mặt kinh tế do BĐKH gây ra đối với cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi phía Bắc.

Sản phẩm 2: Sổ tay tính toán hiệu quả kinh tế dự án hạ tầng nông thôn khu vực miền núi phía Bắc có lồng ghép yếu tố thích ứng BĐKH.

Sản phẩm 3: Đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản liên quan đến tính toán hiệu quả kinh tế các dự án hạ tầng nông thôn để lồng ghép thích ứng BĐKH.

Theo dự kiến, chuyên gia Phân tích Kinh tế sẽ được huy động lần một (03 tháng) để hoàn thành sản phẩm số 01 trong năm 2014. Các sản phẩm còn lại (sản phẩm 02 và 03) sẽ được hoàn thành vào đợt huy động lần thứ 02 trong năm 2015 và 2016.



MỤC LỤC








Trang




Danh sách bảng và đồ thị

5




Giải thích thuật ngữ và định nghĩa

6

PHẦN 1

GIỚI THIỆU

10

1.1

Sự cần thiết

10

1.2

Mục tiêu

11

1.3

Đối tượng hướng dẫn

11

PHẦN 2

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI PHÍ VÀ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG ÁN THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

12

2.1

Lưu ý khi tính toán chi phí và lợi ích của các phương án

12

2.2

Tỉ lệ chiết khấu

13

2.3

Chi phí và lợi ích tăng thêm khi lồng ghép thích ứng BĐKH vào dự án cơ sở hạ tầng nông thôn

14

PHẦN 3

PHÂN TÍCH KINH TẾ DỰ ÁN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN CÓ LỒNG GHÉP THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

16

Bước 1

Thu thập thông tin phục vụ đánh giá tính dễ bị tổn thương vùng dự án

17

Bước 2

Đánh giá tính dễ bị tổn thương, làm cơ sở xây dựng Phương án Thích ứng BĐKH

17

Bước 3

Dựa trên kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương, xây dựng Phương án Thích ứng BĐKH

21

Bước 4

Phân tích kinh tế nhằm tính toán và so sánh hiệu quả kinh tế giữa Phương án Cơ sở với các Phương án Thích ứng BĐKH

24

PHẦN 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

49

4.1

Kết luận

49

4.2

Kiến nghị

49




TÀI LIỆU THAM KHẢO

51




PHỤ LỤC

53


DANH SÁCH BẢNG




Trang

Bảng 2.1: Tỉ lệ chiết khấu trong thích ứng với biến đổi khí hậu

14

Bảng 3.1: Ví dụ về thu thập thông tin cho đường nông thôn

17

Bảng 3.2: Ví dụ về chấm điểm chỉ số chiều dài đường nông thôn

18

Bảng 3.3: Ví dụ về đánh giá tính dễ bị tổn thương của đường nông thôn

18

Bảng 3.4: Chỉ số tính dễ bị tổn thương tổng hợp của đường nông thôn

21

Bảng 3.5: Ví dụ về lựa chọn chỉ số có tính dễ bị tổn thương cao

21

Bảng 3.6: Ví dụ về xây dựng Phương án Thích ứng BĐKH

22

Bảng 3.7: Tiêu chí lựa chọn Phương án Thích ứng BĐKH

23

Bảng 3.8: Phân loại dự án

24

Bảng 3.9: Phương pháp phân tích kinh tế theo tình huống thực tế

28

Bảng 3.10: Cho trọng số và chấm điểm của từng kịch bản

42

Bảng 3.10: Mẫu bảng về so sánh giữa các kịch bản

43

DANH SÁCH ĐỒ THỊ

Đồ thị 2.1: Vấn đề liên quan đến chi phí và lợi ích thích ứng BĐKH

13

Đồ thị 3.1: Các bước thực hiện tích hợp biến đổi khí hậu

16

Đồ thị 3.2: Quy trình xây dựng và phê duyệt dự án, điểm thực hiện phân tích kinh tế

26

Đồ thị 3.3: Lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế phù hợp cho từng loại hình dự án

27


Giải thích thuật ngữ và định nghĩa

Phân tích kinh tế: Nghiên cứu khả năng lợi nhuận của dự án trong một tổng thể theo quan điểm kinh tế - xã hội.

Hiệu quả kinh tế: Thuật ngữ này có nghĩa riêng trong kinh tế. Khi áp dụng cho thích ứng BĐKH thì phương án thích ứng phải có tổng lợi ích từ các hành động thích ứng cao hơn chi phí bỏ ra ((Mendelsohn, 2000). Đây không chỉ là lợi ích và chi phí tính bằng tiền nhận được và/hoặc sinh ra trực tiếp từ lĩnh vực công và tư nhân mà còn là những cơ hội bỏ qua, các ngoại tác và tác động phi tiền tệ, đặc biệt khi chúng liên quan đến hệ thống sinh thái.

Phân tích chi phí – lợi ích (CBA): là phương pháp tiếp cận định lượng để phân tích liệu giá trị lợi ích hiện tại của một dự án nhất định có vượt giá trị chi phí hiện tại không. Phân tích dòng tiền mặt là công cụ chính để lập và so sánh các dòng lợi ích và chi phí năm cho cả trường hợp “Có dự án” và “Không có dự án”, hay còn gọi là mô hình can thiệp và không can thiệp.

Căn cứ vào định nghĩa trên, các giá trị được gán cho tác động của chương trình – thuận lợi hoặc bất thuận lợi – phải là những giá trị của các cá nhân chịu tác động, chứ không phải là giá trị mà nhà kinh tế, triết học đạo đức, nhà môi trường hoặc đối tượng khác đưa ra.

Lợi ích và chi phí của các biện pháp can thiệp đầu tư đề xuất cần được định lượng bất cứ trường hợp nào có thể. Các ước tính dự đoán tốt nhất cần được trình bày cùng với mô tả của những yếu tố bất ổn định.

Trường hợp thứ hai thường được gọi là các mô hình can thiệp và không can thiệp. Phân tích lợi ích và chi phí (CBA), đo lường tiền tệ của tất cả các tác động tiêu cực và tích cực liên quan với một hành động nhất định. Lợi ích và chi phí được so sánh về sự khác biệt hoặc tỷ lệ của chúng được xem như một chỉ số để biết đầu tư thế nào hay hỗ trợ chính sách thế nào theo quan điểm của xã hội. Một cách tiếp cận định lượng để phân tích xem các giá trị hiện tại của dòng lợi ích của một dự án có vượt quá giá trị hiện tại của dòng chi phí không. Phân tích dòng tiền là công cụ chính cho việc thiết lập và so sánh các dòng năm của lợi ích và chi phí cho cả hai trưởng hợp ‘Có’ và ‘Không có’ dự án. Sau này được quy ước gọi là trường hợp “Có làm” và “Không làm gì”.

Dựa vào định nghĩa trên, các giá trị được gán cho tác động của chương trình – có lợi hay bất lợi - là giá trị của cá nhân bị ảnh hưởng, không phải giá trị kinh tế của các nhà kinh tế học, triết gia, môi trường hoặc các đối tượng khác.

Lợi ích và chi phí của các can thiệp đề xuất đầu tư cần được định lượng trong trường hợp bất kỳ khi nào có thể. Các ước tính tốt nhất nên được trình bày cùng với một mô tả của các yếu tố bất an toàn.



Phân tích hiệu quả chi phí (CEA): việc giảm phân tích chi phí - lợi ích trong đó tất cả các chi phí của một danh mục đầu tư của dự án được đánh giá trong mối quan hệ với một mục tiêu chính sách cố định. Các mục tiêu chính sách trong trường hợp này đại diện cho lợi ích của dự án và tất cả các tác động khác được xác định như là chi phí hoặc là chi phí tiêu cực (lợi ích). Các mục tiêu chính sách phù hợp ví dụ: nhận ra tiềm năng năng lượng tái tạo cụ thể, giảm thiểu đói nghèo, phát huy tối đa sự cải thiện của việc biến đổi khí hậu. Hiệu quả chi phí đánh giá các chi phí hoạt động mà không cần đánh giá cụ thể về những lợi ích thu được. Có thể vì những lý do sau đây:

  • Một quyết định ưu tiên đã được thực hiện trên cơ sở thiết thực hoặc có yếu tố chính trị, và các tùy chọn với giá rẻ nhất hoặc hiệu quả nhất đang được theo đuổi.

  • Đó là những lợi ích hiển nhiên và chi phí-hiệu quả là lẽ thường.

  • Những lợi ích và chi phí là chưa tương xứng, nhưng mà chi phí này được coi như là ít hơn so với những lợi ích tiềm năng trong dài hạn. Xem xét này là phù hợp nhất với môi trường và tài sản xã hội.

Những lợi ích của các tùy chọn khác nhau được coi là tương đương. Lý tưởng nhất là chi phí sẽ xem xét các chi phí của toàn bộ dự án từ nghiên cứu, phát triển đến thực hiện dự án.

Mô hình phân tích đa tiêu chuẩn (MCA): MCA là một tập hợp ngày càng phổ biến của kỹ thuật kết hợp một loạt các chính sách hoặc tùy chọn chương trình tác động vào một khuôn khổ duy nhất cho đồng hóa dễ dàng hơn bởi các nhà ra quyết định. Mô hình MCA là một bộ phận quan trọng của phương pháp VA sử dụng để phát triển và phân tích các yêu cầu chống khí hậu ở cấp khu vực/tỉnh. Giá trị tiền tệ là không có sẵn cho tất cả các tiêu chí. Là một kỹ thuật định lượng MCA cho điểm số tùy chọn theo các tiêu chí khác nhau, dẫn đến một số điểm tổng hợp để xác định kết quả tối ưu nhất. MCA và các biến thể sử dụng phương pháp lai ghép kết hợp các ước tính định lượng với đánh giá chủ quan có lẽ là hình thức phổ biến nhất của đánh giá được sử dụng trong đánh giá thích ứng biến đổi khí hậu. MCA nên được áp dụng khi các kết quả kế hoạch thích ứng định tính hoặc đa lợi ích, mà không thể được tổng hợp. Tương tự như CBA và CEA, một MCA có thể để xếp hạng và do đó ưu tiên trong số nhiều lựa chọn thích ứng. Điều quan trọng là cần lưu ý rằng việc xây dựng một mô hình MCA thường là một bài toán lớn, tốn kém thời gian và liên quan đến nhiều bên liên quan.

Tỷ lệ chiết khấu: hiệu quả kinh tế đòi hỏi lợi ích và chi phí trong những năm tương lai có trọng số ít hơn trong quyết định đầu tư hơn so với thời điểm hiện tại. Tỷ lệ mà tại đó lợi ích trong tương lai và chi phí nên được giảm giá trong một phân tích CBA để giá trị hiện tại nói chung sẽ không bằng với tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư tư nhân. Thay vì đó, tỉ lệ chiếu khấu nên được dựa vào làm thế nào các cá nhân giảm giá trong thời điểm hiện tại vì tiêu thụ trong tương lai.

Tỷ suất sinh lời nội bộ (Kinh tế): Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR / ERR) là biện pháp phổ biến nhất sử dụng để đo lường giá trị dự án, vì nó cũng cho phép so sánh khả năng sinh lợi của một can thiệp dự án được đưa ra so với đầu tư khác trong cùng một ngành cũng như các ngành khác, độc lập với quy mô của họ. Một số tổ chức quốc tế (ví dụ như Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển khu vực) hoặc các nhà tài trợ quốc tế song phương (ví dụ như Millennium Challenge Account) ít nhiều áp dụng nghiêm ngặt các yêu cầu tối thiểu của ERR (được gọi là lợi tức tối thiểu) trong lựa chọn dự án và quyết định đầu tư.

(Thích ứng) Chi phí can thiệp: Đây là các chi phí của các biện pháp can thiệp kỹ thuật đề xuất trong Mô hình “Trong dự án” được thiết kế để đối phó với mức độ tác động nhất định của khí hậu. Những chi phí này thường được định nghĩa trong hai phần riêng biệt, cụ thể là: Chi phí vốn (CapEx) và Chi phí vận hành (OpEx). Đối với mỗi biện pháp can thiệp chống chịu với khí hậu đề xuất, cả CapEx và OpEx cần được quy định cụ thể. Ngoài ra, cũng cần cung cấp dự toán chi phí của biện pháp không can thiệp (mô hình Ngoài dự án).

Thiệt hại tránh được (lợi ích): Trong khi lợi ích của công trình (biện pháp can thiệp) thông thường liên quan đến các dòng lợi ích/hợp phần tích cực (nhờ có biện pháp can thiệp vật lý: đầu tư kỹ thuật vào hạ tầng); đối với biện pháp can thiệp của dự án chống chịu với khí hậu, Lợi ích được xác định và được gọi là Tránh thiệt hại. Những thiệt hại này được phân loại trong phần tiếp theo của báo cáo.

Thiệt hại dư: Đây là những thiệt hại xảy ra tại một thời điểm trong tương lai cho cộng đồng và xã hội như là hậu quả của BĐKH bất lợi tại một địa điểm nhất định sau khi tiến hành biện pháp can thiệp (đầu tư) trước đối với chống chịu với khí hậu. Các biện pháp can thiệp chống chịu với khí hậu không nhằm đưa ra sự bảo vệ hoàn toàn/tránh được thiệt hại.

Tính bất định: Thể hiện mức độ mà giá trị chính xác của một thông số chưa được biết. Tính bất định có thể do thiếu thông tin hoặc không thống nhất về một điều đã biết hoặc chưa biết. Tính bất định có thể được thể hiện bằng thước đo định lượng (ví dụ như theo tính toán của các mô hình đưa ra nhiều giá trị khác nhau) hoặc bằng cụm từ định tính (ví dụ phản ánh các quan điểm đánh giá khác nhau của một nhóm tư vấn).

Mức độ rủi ro (Risk): Khả năng xảy ra một hệ quả cụ thể dựa trên tính dễ bị tổn thương của hệ thống và cũng là kết quả của khả năng xảy ra những hiểm họa cụ thể đó. Vì thế rủi ro là sự miêu tả hoặc/và đo lường các kết quả có thể xảy ra do tính dễ bị tổn thương của một hệ thống. Ví dụ, một cộng đồng có thể dễ bị tổn thương do lũ, nhưng nếu có sự nâng cấp hệ thống thoát nước khiến khả năng xảy ra lũ là rất ít, khi đó rủi ro từ lũ của cộng đồng rất thấp

Đánh giá rủi ro (Risk Assessment): Một đánh giá mang tính hệ thống về những rủi ro khí hậu mà thành phố hoặc cộng đồng đó đang phải chịu.

Kịch bản biến đổi khí hậu: Là giả định có cơ sở khoa học về sự thay đổi trong tương lai của các biểu hiện khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng. Các kịch bản này thể hiện mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng chính thức cho Việt Nam đã được Bộ TNMT ban hành vào tháng 6 năm 2009 (xem “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam”, Bộ TNMT, 2009, 34 trang). Kịch bản này xét đến các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao. Các kịch bản này mô tả sự thay đổi khí hậu trong thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980-1999 của cả nước và 7 vùng khí hậu chính: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.

Mức nhạy cảm (Sensitivity): mức độ mà một hệ thống bị ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực bởi các yếu tố có liên quan đến khí hậu.

Tình trạng dễ bị tổn thương (Vulnerability): mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể đối phó với những tác động có hại của BĐKH, bao gồm sự biến thiên và cực đoan của khí hậu. Tính dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, phạm vi và mức độ của BĐKH và tính biến thiên mà một hệ thống bị phơi nhiễm, cùng độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của nó.

Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương (Vulnerability Assessment): một đánh giá có hệ thống về tình trạng phơi nhiễm và độ nhạy cảm của cơ sở hạ tầng về con người, thiên nhiên và vật chất, trước các hiểm họa hiện tại, trong đó tính đến sự biến thiên và những thay đổi có thể xảy ra trong tương lai khi xảy ra các hiểm họa đó, cũng như năng lực thích ứng của thành phố trước tình trạng phơi nhiễm, sự nhảy cảm, biến thiên và thay đổi đó.

Rủi ro khí hậu (Climate risk): Khả năng xảy ra một biến cố khí hậu nguy hiểm và hậu quả của nó tác động lên một hệ thống cụ thể nào đó do kết quả của tính dễ bị tổn thương của hệ thống đó. Ví dụ như để xây dựng một thành phố trên khu vực dốc, cao hơn mực nước biển vài mét và có hệ thống thoát nước tốt, dù thành phố ấy có thể gặp phải các trận bão và mưa lớn thường xuyên nhưng rủi ro khí hậu do ngập lụt rất ít do ngập lụt hiếm khi xảy ra

Sự tiếp xúc/Phơi nhiễm (Exposure): Tình trạng của một hệ thống có hoặc không chịu tác động, tích cực hay tiêu cực, từ một biến cố khí hậu cụ thể như nhiệt độ tăng, lượng mưa biến thiên và thay đổi (bao gồm cả các tác động cực đoan), hoặc những thay đổi về tần suất và cường độ của lốc xoáy và bão nhiệt đới. Nếu một hệ thống chưa phải chịu các sức ép liên quan đến khí hậu hoặc các diễn biến khác thì vấn đề khả năng thích ứng vẫn chưa đặt ra rõ ràng. Ví dụ, những thành phố nằm sâu trong nội địa và trên vùng có địa hình cao không chịu tác động trực tiếp của nước biển dâng sẽ không xảy ra hiện tượng lũ lụt.
PHẦN 1. GIỚI THIỆU

1.1 Sự cần thiết

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện tại thì Việt Nam có thể trở thành quốc gia có tốc độ gia tăng phát thải cao trên thế giới và có cường độ phát thải các-bon trên GDP đứng thứ hai trong khu vực sau Trung Quốc. Sự gia tăng này chủ yếu do sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch để sản xuất ra điện, dự đoán sẽ chiếm hơn 50% các loại năng lượng vào năm 2030 (WB, ESMAP và DFID, 2014).

Nghiên cứu của Yusuf và Francisco (2009) đã chỉ ra rằng miền núi phía Bắc - Việt Nam, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số (62%) – thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH, là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước những tác động tiêu cực của BĐKH ở khu vực Đông Nam Á, gây ra hậu quả vô cùng lớn như thiệt hại về người, phá hoại các cơ sở hạ tầng, làm ảnh hưởng đến nhiều thành quả phát triển kinh tế xã hội, là thách thức đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo và các mục tiêu thiên niên kỷ.

Nhận thức được tác động của BĐKH và nền kinh tế có cường độ phát thải cácbon cao sẽ đe dọa đến tiến trình phát triển kinh tế và ảnh hưởng đến các mục tiêu thiên niên kỷ, từ năm 2008 Việt Nam đã xây dựng hệ thống chính sách tích hợp thích ứng BĐKH như “Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với BĐKH - đảm bảo các cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động, chú trọng các định chế tích hợp yếu tố BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển KTXH, phát triển ngành và địa phương”, “Khung chuẩn cho việc tích hợp vấn đề BĐKH - Bộ Kế hoạch Đầu tư”, “Hướng dẫn kỹ thuật về tích hợp vấn đề BĐKH vào kế hoạch phát triển – Bộ Tài nguyên và Môi trường”, “Hướng dẫn tích hợp BĐKH trong phát triển hạ tầng giao thông đường bộ - Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành”. Bộ NN-PTNT, một trong những ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH, đã ban hành Chỉ thị số 809/CT-BNN-KHCN về việc tích hợp BĐKH vào xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, giai đoạn 2011-2015, đặc biệt Bộ đã phê duyệt nhiệm vụ tích hợp các vấn đề BĐKH vào rà soát tổng quan quy hoạch thủy lợi vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Bên cạnh đó, sự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ tập trung bao cấp sang định hướng thị trường từ sau “Đổi mới” cũng đã dẫn theo những chuyển đổi trong quy trình quản lý đầu tư công. Tính phân cấp đã và đang ngày càng được đẩy mạnh khiến cho chính quyền địa phương cần phải có những bằng chứng sát thực và khách quan để có thể tự chủ trong lập kế hoạch, phân bổ và sử dụng kinh phí hiệu quả và sát với nhu cầu thực tế. Năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư công nhằm nâng cao kỷ cương, kỷ luật trong quản lý đầu tư công, từ khâu phê duyệt chủ trương, thẩm định nguồn vốn nhằm hạn chế cơ chế “xin-cho”, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí, phòng chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Luật đầu tư công đòi hỏi kế hoạch đầu tư công của chính quyền địa phương cần được xây dựng dựa trên các kết quả phân tích kinh tế và đánh giá lợi ích/chi phí xã hội. Chính vì thế, lợi ích và chi phí tăng thêm của các dự án khi lồng ghép thích ứng BĐKH nên được xem xét như một phần tích hợp để tính toán hiệu quả kinh tế và đưa ra các quyết định đầu tư.

Những căn cứ khởi đầu nêu trên đã minh chứng cho yêu cầu cấp thiết của việc xây dựng “Sổ tay tính toán hiệu quả kinh tế dự án hạ tầng nông thôn khu vực miền núi phía Bắc có lồng ghép yếu tố thích ứng BĐKH”.





Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương