Skkn: Vận dụng hiệu quả các thủ thuật dạy từ vựng tiếng Anh cho hs lớp 10, trường thpt ngô Mây


IV. Các kĩ năng đọc hiểu và các dạng câu hỏi thường gặp trong bài đọc hiểu môn Tiếng Anh THPT



tải về 3.98 Mb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích3.98 Mb.
#4365
1   2   3   4   5   6

IV. Các kĩ năng đọc hiểu và các dạng câu hỏi thường gặp trong bài đọc hiểu môn Tiếng Anh THPT


4.1. Các kĩ năng đọc hiểu

Để đảm bảo cho học sinh có được các kỹ năng đọc hiểu thông thạo khi đọc, người đọc cần có các kỹ năng khác như :

- Kỹ năng đọc để tìm ra những thông tin cần thiết (scanning)

- Kỹ năng đọc lướt tổng quát để lấy nội dung chính (skimming)

- Kỹ năng đọc phán đoán trước khi đọc.

- Kỹ năng đoán từ chưa biết trong ngữ cảnh.

- Kỹ năng sử dụng từ điển.

Ta có thể xác định được rằng: mục tiêu cuối cùng phải đạt được của việc đọc là hiểu được văn bản, lấy được và sở lý được những thông tin cần thiết cho mục đích riêng của mình. Để phương pháp dạy đọc đạt được hiệu quả tối đa, giáo viên cần giúp người học phân biệt được những loại đọc cơ bản và mục đích của từng loại. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về các loại đọc cơ bản, nhưng nếu dựa trên tiêu chí cách thức đọc người ta phân thành các loại như sau:



4.1.1. Đọc nhanh để hiểu ý tổng quát. ( Skimming for gist).

Là cách đọc lướt tổng quát để nắm ý chính và nắm được nội dung chính của đoạn văn và tìm ra một tựa đề phù hợp với nội dung của đoạn văn trong một thời gian nhất định.



4.1.2. Đọc lướt để tìm thông tin cụ thể. ( Scanning for specific information )

Là cách đọc lướt để lấy thông tin cần thiết trong một thời gian nhất định; là cách đặt câu hỏi về một thông tin cụ thể có trong đoạn văn; là những trò chơi tìm thông tin trong thời gian ngắn nhất.



4.1.3. Hiểu mối liên quan giữa các câu và mệnh đề. (Understading the relationship between sentences and clauses)

Là cách sắp xếp lại câu hay đoạn văn tìm những yếu tố có chức năng nối kết với những yếu tố khác trong văn bản (Ví dụ: từ nối, đại từ, động từ thay thế do, does, did.); cung cấp từ nối cho một văn bản; đoán trước dòng tiếp theo từ nối trong một văn bản là gì.



4.1.4. Đọc thêm (Extensive reading)

Là cách sử dụng cho các bài đọc trong các bài ôn tập hoặc đọc thêm hoặc qua các truyện ngắn được viết lại phù hợp với trình độ của học sinh. 4.1.5. Đọc sâu (Intensive reading) Là các dạng bài tập chuyển dịch thông tin; ghi lại diễn tiến sự việc xảy ra trong văn bản; trả lời câu hỏi đúng - sai. (True-False question); đọc để bổ sung cho nhau (Jigsaw reading). Ngoài các kỹ năng trên khi dạy đọc hiểu giáo viên cần quan tâm một số loại đọc khác như: kỹ năng đọc to thành lời để rèn phát âm, kỹ năng phán đoán để xác định nội dung chính, kỹ năng đoán từ chưa biết qua ngữ cảnh của bài đọc, kỹ năng sử dụng từ điển...



4.2. Các dạng câu hỏi thường gặp trong bài đọc hiểu môn Tiếng Anh THPT

Câu hỏi ý chính toàn đoạn (main idea questions)

Câu hỏi chi tiết trong đoạn văn (detail questions)

Chi tiết được nhắc đến trong bài (stated detail questions)

Chi tiết không được nhắc đến trong bài (unstated detail questions)

Câu hỏi từ vựng (vocabulary questions)

Câu hỏi ngụ ý (inference questions) 

…………………….

Ví dụ: Câu hỏi ý chính toàn đoạn (main idea questions)

Đây thường là câu hỏi đầu tiên trong các bài tập đọc hiểu nhằm mục đích kiểm tra kĩ năng đọc lướt (skimming) và tìm ý chính trong đoạn văn. Vì thế, chúng ta đừng quá đi sâu vào chi tiết hay từ mới mà chỉ cần chú ý đến cấu trúc và những từ khóa (key words) trong bài mà thôi. Một đoạn văn có thể được trình bày theo các cấu trúc sau:

Theo trình tự Thời Gian (time order), Theo cấu trúc Nguyên nhân - Kết quả (Cause-Effect), Theo cấu trúc Định nghĩa- Ví dụ (Definition-Example), Theo cấu trúc so sánh (Comparison-Contrast)

Để nhận ra cấu trúc của bài viết không khó. Chúng ta chỉ cần chú ý đến một số dấu hiệu. Ví dụ:

Trình tự thời gian thường có dấu hiệu là các trạng ngữ chỉ thời gian (at first, then, after that, v.v.).

Cấu trúc Nguyên nhân-kết quả thường có dấu hiệu là các từ nối: because, since, as, lead to, as a result, v.v.

Từ khóa trong bài thường được lặp lại y nguyên hoặc được thay thế bởi một từ đồng nghĩa. Dựa vào những từ khóa này, ta có thể suy luận ra ý chính toàn đoạn văn.

Trước khi đến với ví dụ cụ thể, chúng ta hãy cùng tìm cách nhận biết dạng câu hỏi này. Có rất nhiều cách ra đề câu hỏi về ý chính của đoạn văn.

 Ví dụ :What is the topic of the passage? (Đâu là nội dung chính của đoạn văn?)

What is the subject of the passage? (Đâu là nội dung chính của đoạn văn?)

What is the main idea of the passage? (Đâu là nội dung chính của đoạn văn?)

What is the author's main point in the passage? (Đâu là ý chính của tác giả trong đoạn văn?)

With what is the author primarily concerned? (Tác giả đề cập chính đến vấn đề nào?)

Which of the following would be the best title? (Đâu là tiêu đề hợp lý nhất cho đoạn văn?)

 Để trả lời dạng câu hỏi này, chúng ta làm như sau:

1. Đọc dòng đầu tiên của đoạn văn 

2. Tìm mối liên hệ giữa những dòng đầu tiên của đoạn văn. 

3. Đọc lướt qua những dòng còn lại, kiểm tra liệu ý chính của những dòng đầu tiên có đúng với những dòng còn lại hay không. Trong quá trình đọc chú ý đến những từ khóa được lặp đi lặp lại hay những từ đồng nghĩa.

4. Loại bỏ phương án sai. Phương án sai là những phương án: Không tìm được thông tin trong bài, Trái với thông tin đề cập trong bài, Quá chi tiết (thông tin về thời gian, địa điểm, miêu tả cụ thể)



Ví dụ: Basketball was invented in 1891 by a physical education instructor in Springfield, Massachusetts, by the name of James Naismith. Because of terrible weather in winter, his physical education students were indoors rather than outdoors. They really did not like the idea of boring, repetitive exercises and preferred the excitement and challenge of a game. Naismith figured out a team sport that could be played indoors on a gymnasium floor, that involved a lot of running, that kept all team members involved, and that did not allow the tackling and physical contact of American style football.

 Câu hỏi: What is the topic of this passage?



A. The life of James Naismith B. The history of sports

C. Physical education and exercise D. The origin of basketball

Câu đầu tiên của đoạn văn đề cập đến “basketball was invented” (Môn bóng rổ ra đời), vậy ý chính của đoạn văn có thể có liên quan đến môn bóng rổ. Chúng ta tiếp tục đọc qua các dòng còn lại, và thấy rất nhiều từ liên quan đến thể thao ví dụ “game, physical contact, running”.

  Để có thể chắc chắn về câu trả lời của mình, chúng ta không thể không điểm qua các phương án trả lời.

A. The life of James Naismith: cuộc đời của James Naismith

B. The history of sports: lịch sử các môn thể thao 

C. Physical education and exercise: giáo dục thể chất và thể dục 

D. The origin of basketball: Nguồn gốc môn bóng rổ

Chúng ta dễ dàng loại A vì James Naismith chỉ được nhắc đến như người phát minh ra bộ môn thể thao bóng rổ, chứ không có thông tin về cuộc đời, sự nghiệp của ông. Đáp án B bị loại vì chỉ có duy nhất môn bóng rổ được nhắc đến trong đoạn văn, không có thông tin về các môn thể thao khác nên không thể là ‘history of sports’. Ta loại đáp án C vì thông tin về Physical education chỉ được nhắc đến một lần trong đoạn văn và không có thông tin hỗ trợ thêm. Vậy đáp án chính xác phải là D: nguồn gốc môn bóng rổ. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy các thông tin hỗ trợ đáp án trên: người sáng lập ra bộ môn bóng rổ, thời điểm ra đời, nguyên nhân, đặc điểm riêng. Vậy đáp án D là đáp án chính xác.

Tuy nhiên, với những loại câu hỏi khác, ta làm theo các bước sau:

- Đọc từng câu hỏi và tìm nội dung những câu hỏi đó trong phần nào của đoạn văn ( định vị chỗ chứa thông tin trả lời câu hỏi đó trong bài đọc).

- Đọc kĩ lại câu hỏi để hiểu rõ câu hỏi đó muốn hỏi về vấn đề gì.

- Đọc kĩ lại phần có chứa thông tin trả lời cho câu hỏi đó.

- Đọc kĩ 4 phương án lựa chọn để tìm đáp án gần nhất với nội dung có phần thong tin trả lời cho câu hỏi (chú ý các từ đồng nghĩa, ngược nghĩa).

  Trên đây là các bước làm các dạng câu hỏi đọc hiểu. Để có thể chắc chắn về câu trả lời của mình, chúng ta bắt buộc làm qua những bước trên. Tuy nhiên, với sự luyện tập, chúng ta sẽ làm nhanh hơn. Ban đầu có những bạn phải mất đến hai, ba phút để trả lời một câu hỏi đọc hiểu, dần dần khi các bạn đã thành thạo kĩ năng và có vốn từ vựng đủ dùng, các bạn sẽ chỉ mất 30 giây hay 1 phút cho mỗi câu.



V. Các bước tiến hành trong việc dạy kĩ năng đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

5.1. Các bước tiến hành trong 1 bài dạy đọc hiểu.

Trong tiết đọc hiểu, vai trò của giáo viên chỉ  là người đưa ra các hướng dẫn còn học sinh là người chủ động nắm bắt nội dung. Tiết học được tiến hành theo ba giai đoạn sau:

       A. Pre - reading      ( Trước khi đọc )

       B. While - reading  ( Trong khi đọc )

       C. Post – reading    ( Sau khi đọc )

1. Pre - reading : (Trước khi đọc)

  Để có được giờ dạy thành công, ngay ở bước hoạt động đầu tiên của tiết dạy là bước mở bài, giáo viên cần tạo ra  được một không khí học tập thuận lợi về cả mặt tâm lí lần nội dung cho hoạt động dạy học tiếp theo đó.

  Những hoạt động gây không khí học tập này thường rất ngắn (5-7 phút) nhưng vô cùng quan trọng. Vậy mở bài nên làm những gì và làm thế nào để có thể thực hiện được các mục đích đó.

* Các hoạt động mở bài.

  Các hoạt động mở bài nhằm giúp học sinh hình dung trước nội dung chủ điểm hay nội dung tình huống của bài các em sẽ đọc.

  Để thực hiện hoạt động trước khi đọc giáo viên nên giới thiệu chủ đề của bài. Để giới thiệu chủ đề của bài  giáo viên có thể sử dụng một trong các thủ thuật sau:

- Trao đổi, thu thập các ý kiến, những hiểu biết và kiến thức hoặc quan điểm của học sinh về chủ điểm của bài trước khi các em đọc về nó qua các hoạt động dạy học hay thủ thuật như:  Brainstorming, Discussions...

- Đoán trước nội dung sắp học bằng cách trả lời các câu hỏi đoán về nội dung bài hoặc qua các câu hỏi dặt trước. ( Pre- questions)

- Đưa ra một số câu nhận định, yêu cầu học sinh làm bài tập đúng sai dựa vào kiến thức cho sẵn. ( T/F statements )

- Yêu cầu học sinh sắp xếp lại những câu nhận định cho sẵn theo đúng trình tự nội dung của bài học. ( Ordering statements or pictures )    

2. While – reading  ( Trong khi đọc )

Các hoạt động luyện tập trong khi đọc nhằm giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc, và kiểm tra lại bài tập đoán mình vừa làm ở phần trước khi đọc.

Những dạng bài tập tôi thường cho học sinh làm gồm:

+ Đánh dấu tick ( P) vào câu đúng sai (  True / false), hoặc viết T/F

+ Hoàn thành câu ( Complete the sentences) 

+ Điền thông tin vào bảng ( Fill in the chart)                

+  Sắp xếp các câu theo trình tự câu truyện hay sắp xếp câu theo tranh.( Ordering statements)

+ Trả lời câu hỏi theo nội dung bài đọc ( Comprehension questions)



3. Post – reading ( Sau khi đọc )

   Các hoạt động và bài tập sau khi đọc là những bài tập cần đến sự hiểu biết tổng quát của từng bài đọc,liên hệ thực tế, chuyển hóa nội dung thông tin và kiến thức có được từ bài đọc, qua đó thực hành luyện tập sử dụng ngôn ngữ đã học.

  Các dạng bài tập tôi thường cho học sinh làm là:

+ Tóm tắt nội dung bài đọc dạng gap fill  ( Summarize the text)

+ Viết lại nội dung bài đọc dùng các từ gợi ý.

+ Sắp xếp các sự kiện cho bài đọc ( Arange the events in order)

+ Kể lại câu truyện theo tranh ( Retell the story)  

+ Thảo luận ( Discussion ) 



5.2. Sử dụng các kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực

5.2.1. Sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực.

Là một giáo viên, chúng ta phải nắm vững các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật “khăn trải bàn”, kĩ thuật “Các mảnh ghép”, “Dạy học theo sơ đồ  KWL”, “Sơ đồ tư duy”, …



Thế nào là kĩ thuật “khăn trải bàn”?

Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực.

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS.

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.

Thế nào là kĩ thuật “Các mảnh ghép”?

Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các

nhóm nhằm:

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)

- Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành

nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành

nhiệm vụ ở Vòng 2).



Dạy học theo sơ đồ  KWL

KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chức dạy học hoạt động đọc hiểu. Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đã biết về chủ đề bài đọc. Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ. Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này. Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểu đồ. Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi ở cột W. Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L.



Mục đích sử dụng biểu đồ KWL

Biểu đồ KWL phục vụ cho các mục đích sau:

• Tìm hiểu kiến thức có sẵn của học sinh về bài đọc.

• Đặt ra mục tiêu cho hoạt động đọc.

• Giúp học sinh tự giám sát quá trình đọc hiểu của các em.

• Cho phép học sinh đánh giá quá trình đọc hiểu của các em.

• Tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ bài đọc.

Sơ đồ tư duy

Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính.



5.2.2. Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực.

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.

a. Dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.



b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng.

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.



c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.

Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh.

5.3. Lồng ghép các kiến thức liên môn.

Phương pháp “dạy học theo chủ đề tích hợp và vận dụng kiến thức liên môn” đã được các nước phát triển trên thế giới áp dụng từ lâu. Đây cũng là phương thức dạy học hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong cải cách chương trình sách giáo khoa (SGK) ở nước ta.

Dạy học theo quan điểm tích hợp đã góp phần xóa bỏ được lối dạy học khép kín tách biệt nhà trường với thế giới bên ngoài, cô lập kiến thức, kỹ năng vốn có liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau. Những tiết học dạy theo chủ đề tích hợp đã mang lại cho HS hứng thú, phát huy được tính tích cực, sáng tạo giúp các em gắn kết kiến thức lý thuyết với thực hành. “Tích hợp trong dạy học được hiểu là sự kết hợp các nội dung kiến thức từ các môn học, các lĩnh vực học tập khác nhau vào nội dung một bài học; là sự phối kết hợp các tri thức có quan hệ gần gũi, mật thiết với nhau trong thực tiễn để chúng hỗ trợ tác động vào nhau tạo nên một kiến thức tổng hợp vững chắc nhằm giúp người học có đủ khả năng, phẩm chất giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống. Một tình huống xảy ra trong đời sống bao giờ cũng là sự tích hợp từ nhiều lĩnh vực khác nhau”.

Lồng ghép các kiến thức liên môn làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, hoà nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống.

Lồng ghép các kiến thức lien môn giúp học sinh xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học, giúp học sinh có kiến thức nền để hiểu rõ hơn nội dung bài đọc hiểu. Trong quá trình học tập, HS có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp.

5.4. Quy trình chuẩn bị một giờ học 

Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có được những giờ dạy học tốt, người GV cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học. Chuẩn bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng. Hãy phấn đấu để trong mỗi tiết học ở trường phổ thông, học sinh được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, đọc hiểu nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập.

Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học đối với GV thường được thể hiện qua việc chuẩn bị giáo án. Đây là hoạt động xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học.

Trước khi tiến hành dạy một  tiết đọc hiểu thì giáo viên và học sinh cần phải chuẩn bị một số việc sau.



*  Đối với giáo viên.

- Xác định mục tiêu tiết dạy, điều học sinh cần đạt được sau tiết dạy.

- Lựa chọn phương pháp, thủ thuật thích hợp để áp dụng vào tiết giảng.

- Có đồ dùng dạy học cần thiết.

- Giáo án cần có các câu hỏi phù hợp với  nhiều đối tượng học sinh.

- Phân bố thời gian hợp lí  các phần trong tiết dạy.

- Sử dụng thành thạo các thủ thuật dạy học cũng như các phương tiện trực quan và các phương tiện dạy học sẽ áp dụng cho tiết giảng.

- Có các dạng bài tập từ dễ đến khó để giúp các em học yếu đều có thể làm được phần nào.



* Đối với  học sinh.

- Phải học thuộc bài cũ và chuẩn bị bài mới theo yêu cầu của giáo viên.



VI. Một số bài dạy và loại hình bài tập đã được áp dụng khi giảng dạy cho học sinh trường THPT Hưng Yên.

6.1. Một số ví dụ minh họa theo giáo trình SGK

Ví dụ 1:

Dạy bài đọc Unit 1: A DAY IN THE LIFE OF ...

(SGK tiếng Anh 10 - trang 12)

Before you read

*Mục đích: Tạo hứng thú cho HS chuẩn bị vào bài đọc với chủ đề: “A day in
the life of ...”; Dạy những cấu trúc mới cần thiết giúp học sinh hiểu bài hơn.
* Phương pháp:

Activity 1: Kim’game

Giáo viên sử dụng trò chơi Kim’game chơi giúp học sinh luyện trí nhớ, qua đó học sinh có thể tự tìm thông tin cho bài học mới.



Các bước thực hiện chung: Giáo viên chia lớp ra thành 2 nhóm, cho các em xem 8 bức tranh giới thiệu về các nghề nghiệp trong vòng 20 giây. (Yêu cầu học sinh không viết mà chỉ ghi nhớ). Sau đó giáo viên cất tranh đi, học sinh đại diện lên viết về các nghề nghiệp vừa xem. Nhóm nào có nhiều từ nhất sẽ là nhóm thắng cuộc.





Activity 2: Complete the table

GV phát cho học sinh các tờ phiếu có mẫu sau hoặc chép lên bảng:



Questions

You

Your friend

1. What time do you get up?







2. What time do you have breakfast?







3. What time do you do to school?







4. What time do you have lunch?







5. What time do you have lunch?







6. What time do you go to bed?







7. What do you often do in the morning?







8. What do you often do in the afternoon?







9. What do you often do in the evening?






GV yêu cầu HS tự điền câu trả lời vào phiếu của mình sau đó hỏi bạn những câu hỏi tương tự về một ngày bình thường của bạn. HS ghi câu trả lời của bạn vào bảng của mình.

GV có thể gọi một vài học sinh nói về sự khác biệt trong ngày giữa mỗi học sinh đó.

Activity 3: GV có thể giới thiệu vào bài đọc bằng cách yêu cầu HS nhìn vào tranh và trả lời một số câu hỏi: How many people are there in the picture? Who are they? Where are they now? What are they doing?



Activity 4: Vocabulary pre-teach: GV giới thiệu một số từ và cấu trúc khó trong
bài để chuẩn bị cho việc dạy đọc hiểu cho học sinh.
GV hướng dẫn học sinh luyện đọc. Để kiểm tra khả năng ghi nhớ từ vựng
của HS giáo viên có thể sử dụng một số thủ thuật như: Rub out and remember;
slap board; what and where ...

While you read

Activity 1: Choose the best answer.


  • Mục đích: Luyện kỹ năng từ vựng: đoán nghĩa từ/ cụm từ qua ngữ cảnh thông qua bài tập multiple choice.

  • Phương pháp: Sau khi dẫn vào bài, GV yêu cầu HS làm việc cá nhân đọc các câu trong Task 1. GV hướng dẫn HS đọc qua các câu và các từ đã cho để lựa chọn và hướng dẫn HS cách đoán nghĩa của từ trong văn cảnh: đọc lại đoạn văn có câu được trích ra ở Task 1, đọc lại cả đoạn chú ý tới các mối liên hệ về nghĩa giữa các từ và câu, suy ra nghĩa của từ cần tìm rồi đọc lại các từ để lựa chọn xem nghĩa của từ nào trùng với nghĩa của từ trong câu. Ví dụ ở câu 1, HS đọc 2 câu đầu tiên trong bài chú ý từ alarm, get up từ đó có thể suy luận ra nghĩa của goes off (báo thức), HS đọc lại các từ để lựa chọn, có thể loại các lựa chọn vô lý như: goes wrong (hỏng); goes away (đi vắng). Tương tự như vậy, HS đọc bài khóa và hoàn thành Task 1.

Sau khi làm việc cá nhân, cho HS làm theo cặp (2 phút) để so sánh và thảo luận đáp án trước khi giáo viên kiểm tra đáp án của cả lớp. GV chữa bài cho HS và giải thích thêm nghĩa của các từ nếu thấy cần thiết.

Activity 2: Scan the passage and make a brief note ....

  • Mục đích: Luyện kỹ năng đọc tìm thông tin để điền vào bảng.

  • Phương pháp: GV yêu cầu HS đọc qua lại bài đọc và ghi tóm tắt một ngày làm việc của Ông Vy và Bà Tuyết vào bảng.




in the morning

4.30: The alarm goes off and Mr. Vy gets up.

.................................................................................

..................................................................................


in the afternoon

.................................................................................

.................................................................................


after dinner

.....................................................................................................................................................

..................................................................................

Sau khi làm việc cá nhân, cho HS làm việc theo cặp (2 phút) để so sánh và thảo luận đáp án trước khi GV kiểm tra đáp án của cả lớp.

GV gọi một số HS trình bày đáp án của mình.



After you read

Students work in groups, talk about Mr.Vy and Mrs.Tuyet’s daily routines.



Ví dụ 2:

Dạy bài đọc Unit 13: FILMS AND CINEMA

(SGK tiếng Anh 10 - trang 132)

Каталог: Data -> hungyen -> hungyen -> Attachments -> SKKN -> SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Việc lựa chọn phương pháp để chứng minh một bất đẳng thức là rất khó
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> HưỚng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ NĂng đỊa lí VÀ trả LỜi một số CÂu hỏI Ôn tập phầN ĐỊa lí CÁc vùng kinh tế
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Khai thác thơ, ca dao, TỤc ngữ phục vụ DẠy họC ĐỊa lí TỰ nhiên lớP 10 VÀ 12
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Năm học 2015 2016 LÝ LỊch họ và tên: Nguyễn Thị Hồng
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Xác nhận của hộI ĐỒng khoa học trưỜng tiểu học trần cao
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Tổ SỬ- ĐỊa- gdcd sáng kiến kinh nghiệM
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Phần I: phần mở ĐẦU
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Skkn: VẬn dụng dạy học theo đỊnh hưỚng phát triển năng lực trong bàI: “MỘt số VẤN ĐỀ CỦa châu phi”- ĐỊa lí 11
SKKN%20NAM%20HOC%202015 2016 -> Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháP Áp dụng nhằm nâng cao chất lưỢng dạy học tích hợp lồng ghép giáo dục về chủ quyền biểN ĐẢo cho học sinh lớP 5

tải về 3.98 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương