Siêu phật tổ SƯ thiềN



tải về 88.89 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích88.89 Kb.

Bài 6 THIỀN TRỰC CHỈ=THIỀN TÔNG

SIÊU PHẬT TỔ SƯ THIỀN

(NHƯ LAI THANH TỊNH THIỀN)

超佛祖師禪


Thời kỳ thứ hai giả lập tên là Siêu Phật Tổ Sư Thiền. Xưa nay thiền của các thời kỳ vốn là huyết mạch thông suốt nhau mà chẳng thể chia cắt, chẳng qua là mỗi loại thiền có một đặc điểm riêng, giả lập tên gọi cốt chỉ dùng làm phù hiệu để phân biệt mà thôi. Tên gọi này đã được người đời sau dùng để chỉ Thiền tông.

Thiền vào thời kỳ này, tại sao gọi là Siêu Phật Tổ Sư Thiền? Bởi vì như ngài Đan Hà từng nói: “Một chữ Phật ta chẳng thích nghe.” Ngài Triệu Châu cũng nói: “Niệm Phật một tiếng, phải súc miệng ba ngày.” Lại như ngài Nam Tuyền thường nói: “Tổ nói tức tâm tức Phật, còn tôi thì chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật. Đây đều là dùng siêu Phật (không chịu đặt mình vào khuôn mẫu của Phật) để nói. Thời đó, người đề ra câu hỏi, đều là hỏi: Đại ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang (Tổ sư tây lai ý), có thể thấy đã đem Phật đặt qua một bên và chỉ dùng ý của Tổ sư làm trung tâm, lại có thể thấy từ Lục Tổ trở xuống, Tông phong rất là hưng thạnh. Thiền của Tổ sư truyền đã được sự tôn sùng của một số người tham học thời đó. Ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang lại càng là mục tiêu trước nhất người học cần phải minh bạch nên mới trở thành thiền pháp Siêu Phật (không chịu đặt mình vào trong khuôn mẫu của Phật) lấy Tổ sư làm trung tâm.

Lấy đây so sánh với quá trình phát triển của Mật tông, thì lấy Mật pháp của Kim Cang giới làm trung tâm, cũng chính là cấp Du-dà Mật thứ ba trong bốn cấp mà Tây Tạng đã phân chia. Kim Cang Trí cùng với Bất Không truyền Mật pháp Kim Cang giới ở Trung Quốc, đã chẳng đồng với Thai Tạng giới dùng Phật làm trung tâm, Kim Cang giới có khi dùng Đông Phương Bất Động Phật làm trung tâm. Vả lại, đối với Phật và Bồ-tát, vị nào mà đổi tên thành Kim Cang thì lý đều biến thành trí, chỉ lấy Kim Cang làm trung tâm, Phật thừa thành là Kim Cang thừa. Tông Môn Thiền vào thời kỳ này, cũng dùng thiền pháp của Tổ sư làm trung tâm, Như Lai Thiền thành là Tổ Sư Thiền. Đây là đem sự phát triển Mật pháp ở Ấn Độ để so sánh với sự phát triển thiền pháp ở Trung Quốc.

Vì sao gọi là Như Lai thanh tịnh thiền? Bởi vì đây là pháp thiền chỉ thẳng tự tâm (Như Lai thanh tịnh là tên gọi khác của tự tâm), đốn ngộ tự tâm, không trải qua thứ lớp tu hành như loại thiền truyền thống nương theo kinh giáo.

I. NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA TỔ SƯ THIỀN

Thiền tông mặc dù manh nha từ Ấn Độ nhưng lại phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc, chẳng hạn như kể từ Lục Tổ về sau, cành lá của cây thiền trở nên rậm rạp. Nhất là đến thời Lục Tổ, Thiền tông chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Trung Quốc cho nên ngài có những pháp thoại khác xa trong văn kinh. Thiền tông Nam tông do Lục Tổ kiến lập, thật là hiện bày một mặt khác của văn hóa Trung Quốc, không giống với Ấn Độ và kể từ đây danh từ Tổ sư thiền được dùng để chỉ cho Thiền tông.

Tổ sư thiền do gì ít chú trọng đến nghi thức cúng kiếng của đạo tràng, lại siêng làm lụng, chẳng thọ vật cúng dường nên vẫn có thể sinh hoạt khi gặp sự cố như pháp nạn Hội Xương. Sở dĩ ở trong thế tục vẫn có thể tu hành cho nên một tông phái Thiền này trội hơn cả và điểm then chốt cũng là ở sự tham gia lao động của Lục Tổ.

Lục Tổ Huệ Năng là vầng dương sáng chói trên bầu trời lịch sử Thiền tông, địa vị của ngài vượt qua các Tổ sư Thiền tông trước đó. Sư hơn 40 mươi năm thuyết pháp hành hóa, thành Phật để lại nhục thân, ngồi thị tịch, chùa Nam Hoa trở thành thánh địa Phật giáo phương Nam, Tào Khê trở thành danh từ đại biểu cho Thiền tông, rất giàu sắc thái truyền kỳ. “Một hoa nở năm cánh” do Lục Tổ khai mở, năm tông là Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Lâm Tế, Quy Ngưỡng cho đến đời Tống tông Lâm Tế đại thạnh, và phân làm hai phái Hoàng Long và Dương Kỳ; thế lực của nó ảnh hưởng đến các tông phái khác trong Phật giáo, cơ hồ thống nhiếp giáo về thiền nên hậu thế có lời nhận định “Thiền tông là nét đặc sắc trong Phật giáo Trung Quốc”.

Chủ yếu của Tổ sư thiền là khơi dậy trí vô sư sẵn có nơi mọi người. Nhận ra được trí này là kiến tánh, đạt được viên mãn trí này là giác ngộ giải thoát. Bởi chủ trương đốn ngộ tự tâm, kiến tánh khởi tu nên đã gợi niềm khởi hứng lớn lao cho ai tha thiết tu hành, mở ra khung trời thênh thang cho những tâm hồn thao thức, những ý chí ngất trời.


  1. ẢNH HƯỞNG CỦA HUỆ NĂNG ĐẾN PHONG CÁCH CÁC ĐỆ TỬ TĂNG TỤC ĐỜI ĐƯỜNG:

1. Thanh Nguyên Hành Tư:

Sư quê ở Kiết Châu, Sư lúc đầu gặp Lục Tổ hỏi:

- Phải làm việc gì mới chẳng rơi vào giai cấp?

Tổ bảo:


- Ông từng làm việc gì?

Đáp:


- Thánh đế cũng chẳng làm.

Tổ bảo:


- Rơi vào giai cấp nào?

Đáp:


- Thánh đế cũng chẳng làm, làm gì có giai cấp?

Lục Tổ nhận ngài là bậc pháp khí, cho làm thủ tọa. Về sau sư trở về núi Thanh Nguyên thuộc Giang Tây, ở ẩn trong chùa Tịnh Cư.

Khi Lục Tổ sắp tịch diệt, sa-di Hy Thiên hỏi:

- Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, Hy Thiên con chưa biết phải nương tựa vào người nào?

Tổ bảo:

- Tầm Tư đi!

Sa-di Hy Thiên cho rằng Tổ bảo mình Tầm Tư, sau khi Tổ tịch diệt, sư thường ngồi một mình lặng lẽ tư duy, lặng lẽ như quên thân. Có vị thượng tọa hỏi:

- Thầy của ông đã tịch diệt, ông ngồi đây để làm gì?

Hy Thiên thưa:

- Tôi vâng theo lời di chúc của thầy tôi, cho nên tôi Tầm Tư như thế!

Thượng tọa bảo:

- Ông có sư huynh tên là Hành Tư, hiện nay ở Kiết Châu, nhơn duyên của ông ở đó, thầy nói rất đúng, má sao ông mê muội vậy.

Hy Thiên vâng theo lời chỉ dạy của thượng tọa, bèn đi đến Kiết Châu gần gũi ngài Hành Tư. Hành Tư gặp Hy Thiên hỏi:

- Ngươi từ phương nào đến?

Đáp:


- Con từ Tào Khê đến!

Hỏi:


- Ở Tào Khê có đem được vật gì đến chăng?

Đáp:


- Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.

Hành Tư đáp bảo:

- Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?

Đáp:


- Nếu không đến Tào Khê, đâu biết chẳng mất!

Hy Thiên ở nơi ngài Hành Tư, hầu hạ mười lăm năm.

Một hôm Hy Thiên hỏi:

- Hòa thượng ngày xưa ở Tào Khê, Lục Tổ có biết hòa thượng chăng?

Tư đáp:

- Nay ngươi biết ta chăng?



Hy Thiên thưa:

- Biết thì đâu thể biết được!

Ngài Hành Tư vì Sư ấn khả:

- Loài có sừng tuy nhiều, một con lân là đủ!

Lại một hôm, Hành Tư cầm cây phất tử đưa lên, để truyền dạy pháp ý. Hỏi Hy Thiên:

- Tào Khê có cái này chăng?

Đáp:

- Chẳng những Tào Khê mà Tây Thiên cũng không có.



Tư hỏi:

- Ông đã từng đến Tây Thiên chăng?

Đáp:

- Nếu đến tức có.



Loại một hỏi một đáp này, đều là chỗ chẳng xúc phạm chẳng thể nói mà mượn để hiển bày cái chẳng thể nói, đã làm cứ điềm cho tông Tào Động sau này.

Lại một hôm, Hành Tư sai Hy Thiên đem thư sang thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng, dặn rằng:

- Ngươi đem thư về nhanh, ta có chiếc búa cho ngươi ở núi.

Hy Thiên đến Nam Nhạc chẳng trình thư, mà chỉ hỏi:

- Khi chẳng mộ chư thánh, chẳng trọng tánh linh của mình thì thế nào?

Thiền sư Hoài Nhượng đáp:

- Người hỏi quá cao, sao không hỏi trở xuống?

Hy Thiên thưa:

- Thà chịu vĩnh kiếp trầm luân, chớ chẳng theo chư thánh mà cầu giải thoát.

Hoài Nhượng cũng không hỏi lại. Hy Thiên cũng chưa trao thư, trở về gặp Hành Tư, Hành Tư hỏi:

- Ngươi đi không lâu, đem thư đến nơi chăng?

Đáp:


- Tin cũng chẳng thông, thư cũng chẳng đưa.

Tư hỏi:


- Là thế nào?

Hy Thiên thuật lại lời nói như ở trước, lại thưa:

- Khi đi hòa thượng hứa cho con chiếc búa, bây giờ con xin nhận lấy!

Thiền sư Hành Tư liền duỗi một chân, Hy Thiên bèn làm lễ từ giã đến Nam Nhạc.

2.Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng :

Sư quê ở Kim Châu, năm mười lăm tuổi, sư đến chùa Ngọc Tuyền ở Kiết Châu nương luật sư Hoằng Cảnh để xuất gia sau khi thọ giới cụ túc, bạn đồng học là Thản Nhiên cùng đi đến chỗ hòa thượng Huệ An. Theo lời chỉ dạy của Huệ An, sư bèn đi đến Tào Khê. Lục Tổ hỏi:

- Từ đâu đến?

Đáp:


- Tung Sơn đến.

Tổ hỏi:


- Vật gì đến?

Đáp:


- Nói là một vật tức chẳng trúng.

Tổ bảo:


- Có thể tu chứng chăng?

Đáp:


- Tu chứng thì chẳng không, nhiễm ô thì chẳng được.

Tổ bảo:


- Chỉ cái chẳng nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế! Tổ Bát-nhã-đa-la ở Tây Thiên, có lời sấm rằng: “Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện nhất mã câu (một con ngựa tơ) đạp chết người trong thiên hạ, ứng tại tâm ngươi không cần nói sớm”.

Hoài Nhượng khế ngộ, hầu hạ Tổ mười lăm năm, mới về chùa Bát-nhã ở núi Nam Nhạc xiển dương Thiền tông.

Niên hiệu Khai Nguyên (713), có một sa môn tên là Đạo Nhất, đến chùa này thường thường ngồi thiền một mình, chẳng xem kinh cũng chẳng cầu pháp nơi người. Hoài Nhượng biết sư chẳng phải là người tầm thường, nhơn đó đi đến hỏi:

- Đại đức ngồi thiền để làm gì?

Sư đáp:

- Để làm Phật.



Sư chẳng muốn nghe pháp, Hoài Nhượng cũng chẳng nói nhiều. Khi ấy, Hoài Nhượng cầm một miếng ngói ở trên tay, ngồi trước mặt sư mài, lúc đầu Đạo Nhất lại chẳng để ý đến, vẫn ngồi một mình, Hoài Nhượng cũng kiên nhẫn ngồi mài. Một giây lâu, Đạo Nhất mới hỏi:

- Thầy mài ngói để làm gì?

Sư đáp:

- Mài để làm gương.



Đạo Nhất hỏi:

- Mài ngói đâu có thể thành gương được?

Hoài Nhượng nói:

- Mài ngói đã chẳng thành gương thì ngồi thiền đâu thể thành Phật được?



Đạo Nhất khi đó biết rõ chỉ có thân ngồi thì không đúng mà cần phải dụng tâm. Nhơn đó hỏi pháp yếu, Hoài Nhượng cho sư nghe bài kệ:

Tâm địa hàm chư chủng

Ngộ trạch tất giai manh

Tam-muội hoa vô tướng

Hà hoại phục hà thành?

Dịch:


Đất tâm chứa các giống

Gặp nước liền nảy mầm

Hoa Tam-muội không tướng

Nào hoại lại nào thành?

Đạo Nhất nhờ sư khai ngộ tâm địa, ngay nơi lời nói đốn ngộ, theo hầu sư hơn mười năm, mới rời Nam Nhạc.

Đệ tử của Nam Nhạc gồm sáu người, đều được ấn khả: “Một người được chân mày ta, giỏi về oai nghi. Một người được mắt ta, giỏi về ngó liếc. Một người được tai ta, giỏi nghe lý. Một người được mũi ta, giỏi về biết mùi. Một người được lưỡi ta, giỏi về đàm luận. Một người được tâm ta, giỏi về xưa nay”. Người được tâm tức là Đạo Nhất.

Mã Tổ Đạo Nhất, rời Nam Nhạc đi Giang Tây khai đường thuyết pháp, Nam Nhạc sai một vị tăng đi đến chỗ sư, đợi khi sư thượng đường hỏi:

- Làm cái gì?

Đạo Nhất đáp:

- Từ loạn Hồ sau 30 năm, chưa từng thiếu tương muối.

Đây là nói một phen ngộ là ngộ triệt để, diệu dụng vô cùng, tất cả đều có sẵn.

Đồng thời với ngài Hành Tư và Hoài Nhượng còn có thiền sư Duy Chánh ở Hồng Châu, Thiền sư Huệ Trung …

Hy Thiên tức là Thạch Đầu Thiên, là đệ tử truyền thừa của thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư, Đạo Nhất tức là Mã Tổ, là đệ tử truyền thừa của thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng.



3. Thạch Đầu Hy Thiên:

Sư từ nhỏ ở trong hội của Lục Tổ, làm sa-di, do nhân duyên đắc pháp từ thiền sư Hành Tư, đã giảng qua ở trước. Về sau ở núi Nam Nhạc có một tảng đá lớn hình dáng giống như một cái đài, sư lên tảng đá lớn ấy kết am để ở. Cho nên gọi sư là thiền sư Thạch Đầu.

Một hôm, có người hỏi sư:

- Ý chỉ Tào Khê người nào được?

Sư đáp:

- Người hội Phật pháp được.



Lại hỏi:

- Thầy lại được chăng?

Sư đáp:

- Chẳng được.



Hỏi:

- Vì sao chẳng được?

Sư đáp:

- Ta chẳng hội Phật pháp.



Lại có người hỏi:

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?

Sư đáp:

- Hỏi cây cột đi!



Người hỏi thưa:

- Học nhơn chẳng hội.

Sư bảo:

- Ta cũng chẳng hội.



Lại có người hỏi:

- Thế nào là Thiền?

Sư đáp:

- Cục gạch!



Lại hỏi:

- Thế nào là đạo?

Sư đáp:

- Khúc gỗ!



Những lời đối đáp này, đều là Thiền ngữ chẳng thể nắm bắt của sư.

Từ xưa đến nay tương truyền, Thạch Đầu Hy Thiên có trước tác một thiên Tham Đồng Khế, lấy Tâm Phật ở Thiên Trúc, Đông Tây thầm trao nhau làm lời mở đầu, kết luận Kính bạch người tu thiền, thời giờ luống trôi qua. Gồm có mấy mươi câu, là văn hiến trọng yếu của tông Tào Động.

Ngài Hy Thiên dạy đại chúng: Các ông nên biết! Tự tâm linh diệu, thể lìa đoạn thường, tánh chẳng phải cấu tịnh, lặng lẽ viên mãn, phàm thánh đều đồng, ứng dụng không có giới hạn, lìa tâm ý thức. Tam giới, lục đạo chỉ do tâm là hiện như trăng đáy nước, như bóng trong gương, há có sinh diệt ư? Các ông nên biết đó, không có chỗ nào chẳng đủ?

Đây là ý chính mà thiền sư Hy Thiên thuyết pháp.



4. Mã Tổ Đạo Nhất;

Thiền sư Đạo Nhất người quê ở huyện Thập phương thuộc đất Tứ Xuyên, nhơn vì sư tục gia họ Mã. Do đó, đều gọi sư là Mã Tổ. Sau khi đắc pháp ở Nam Nhạc, sư cũng từng về chùa La Hán ở huyện Thập Phương, nhưng về sau sư thường ở Giang Tây khai pháp tại núi Cung Công.

Một hôm sư dạy chúng: Này các ông! Mỗi người phải tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâm Phật. Tổ Đạt-ma đến phương này truyền, khiến cho các ông khai ngộ.

Lại nói kệ rằng:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại.

Đương sanh tức bất sanh.

Dịch:


Đất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

Bài này cũng có thể nói là bài kệ phó pháp của Mã Tổ.

Có người hỏi sư:

- Hòa thượng vì sao mà nói tức tâm tức Phật?

Sư đáp:

- Vì dỗ con nít khóc!

Lại hỏi:

- Con nít nín rồi thì thế nào?

Sư đáp:

- Phi tâm, phi Phật.

Lại hỏi:

- Người trừ được hai thứ này rồi, phải dạy họ thế nào?

Sư đáp:

- Nói với y là phi vật

Lại hỏi:

- Khi chợt gặp người đó thì phải làm sao?

Sư đáp:

- Hãy dạy y thể hội đại đạo.

Lại có người hỏi:

- Thế nào là ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang?

Sư cầm cây gậy đánh và nói:

- Ta nếu không đánh ông, thì người đời sau sẽ cười ta.

Mã Tổ ở Giang Tây rộng hoằng truyền Thiền tông. Do đó, Lục Tổ đã dự báo: Dưới chân Hoài Nhượng sẽ xuất hiện một con ngựa, đạp chết người trong thiên hạ. Thời đó, những người đắc pháp nơi Mã Tổ, có cả thảy một trăm


ba mươi chín người, mà Bách Trượng Hoài Hải là thượng thủ bậc nhất.

Một hôm, có một vị tăng hỏi Mã Tổ:

- Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh thầy chỉ thẳng thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?

Mã Tổ nói:

- Hôm nay ta đau đầu, hãy đến hỏi Tây Đường Trí Tạng.

Vị tăng ấy đến hỏi Trí Tạng, Trí Tạng bảo:

- Hôm nay không rảnh, ông đi hỏi sư huynh Hải.

Vị tăng hỏi Hoài Hải, Hải bảo:

- Đến chỗ này ta cũng chẳng hội.

Mã Tổ nghe liền nói:

- Đầu Tạng bạch, đầu Hải hắc.

Đồ đệ ở trong hội của Mã Tổ đã nhiều, đồ đệ của Hy Thiên cũng chẳng ít, do đó nói: “Sự thạnh hành của thiền pháp, bắt đầu ở Hy Thiên và Đạo Nhất”.

Đồng thời vói Hy Thiên và Đạo Nhất còn có thiền sư Đam Nguyên Chơn Ứng, sư là thị giả của Quốc sư Huệ Trung ở Nam Dương, một hôm Quốc sư gọi Chơn Ứng ba lần, Chơn Ứng cũng “dạ” ba lần, Quốc sư Huệ Trung nói:

- Cứ ngỡ ta cô phụ ngươi, nào dè ngươi cô phụ ta.

Ngoài ra còn các vị như: quốc sư Kính Sơn Đạo Khâm, thiền sư Thiên Thai Vân Cư Trí.

5. Các quan lại:

a. Bạch Cư Dị (772-846):

Tên tự Lạc Thiên, về già lấy hiệu Túy ngâm tiên sinh và Hương Sơn cư sĩ. Người đất Hạ Bì (nay là huyện Vị Nam, Thiểm Tây). Đại thi nhân thời Trung Đường. Ông đỗ tiến sĩ năm 800, lần lượt nhậm các chức : Hàn lâm học sĩ, Tả thập di, Tả tán thiện đại phu, Tư mã Giang châu, Thứ sử Hàng châu, Tô châu, Hình bộ Thượng thư. Thơ ông điêu luyện, bay bổng, nghệ thuật cao. Những vần thơ ông đầy tính thông tục mà cũng sâu sắc triết lý Thiền. ông từng đến hỏi đạo nơi thiền sư Đạo Lâm.



b. Bùi Hưu :

Cư sĩ đời Đường, tự là Công Mỹ, người đất Tế Nguyên (nay thuộc Hà Nam), Trung Quốc. Ông thi đỗ Tiến sĩ, đậu bậc Hiền lương phương chính dị, lần lượt qua các dinh phủ được làm Giám sát Ngự sử. Ông tinh thông kinh Phật,. Từng bàn luận kinh Hoa Nghiêm với thiền sư Tông Mật suốt cả đêm. Ông cũng là người ghi chép Truyền Tâm Pháp Yếu, Uyển Lăng lục của Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận.



c. Liễu Tông Nguyên (773-819) :

Tên tự Tử Hậu. Người đất Hà Đông (nay là huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây). Thi nhân kiêm nhà tản văn đời Đường.

Tản văn của ông đạt được thành tựu về nhiều phương diện, nổi tiếng ngang Hàn Dũ, được kể vào một trong Đường Tống Bát đại văn gia. Ông từng viết bài hậu tự cho kinh Pháp Bảo Đàn.

d. Vương Duy (701-761) :

Tự là Ma Cật, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Nổi tiếng về thơ lại còn sành âm nhạc, giỏi về thư pháp và hội họa. Đậu tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư hữu thừa. Ông là nhà thơ sơn thủy nổi tiếng, Tô Thức đã nói: Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy trong họa có thơ.

Thơ ông lại nhuốm tư tưởng Phật giáo nên ông được gọi là Thi Phật



Ngài ẩn núi Thái Bạch,
Đỉnh cao vượt khói mây.
Kinh tụng muôn khe chảy,
Mưa hoa một núi đầy.



Dấu vết Vô tâm ẩn,
Bởi gọi Lập giáo truyền.
Chim đến gieo lời pháp,
Khách về tâm an nhiên…

Vương Duy làm bài bi minh ghi chép về công đức của Thiền sư Lục Tổ Huệ Năng như sau :



Đạo đức trùm khắp tiếng tăm vang dội, những kẻ quê mùa cả đời không biết Phật, các nước biên địa xa xăm đều mong mỏi thấy dung mạo của thiền sư. Kẻ đứng ngoài cửa, kẻ ngồi bên giường đều quên thân mình trước lời dạy của cao tăng.

Toàn Đường Văn, quyển 327.

Vương Hữu Thừa Tập, quyển 215.

Chúng ta có thể dùng bài kệ của thiền sư Quảng Nghiêm để tóm lại bài học này và thấy được phong cách siêu Phật Tổ sư thiền đã có mặt ở Việt Nam vào đời Lý:

離 寂 方 言 寂 滅 去

生 無 生 後 說 無 生

男 兒 自 有 衝 天 志

休 向 如 來 行 處 行

“Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh

Nam nhi tự hữu xung thiên chí

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”.

Dịch nghĩa:

Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt

Được vô sinh sau nói vô sinh

Trượng phu có chí xông trời thẳm

Chớ dẫm Như Lai chỗ đã hành”.

Tóm lại, Tổ sư thiền bao hàm tinh thần tự chủ, chuộng sự thật và sáng tạo; nó không những là nhân tố thành công của tôn giáo mà còn giàu ý nghĩa gợi mở về kiếp sống thông thường của con người. Tổ sư thiền (Thiền tông) từng được sự ủng hộ của các bậc Vua chúa, quan văn quan võ cho đến hạng bình dân, trong mỗi tầng lớp có số lượng tín đồ rất lớn và ảnh hưởng rất sâu đến sự phát sinh văn hóa tư tưởng của Trung Quốc từ đời Đường, Tống về sau, cho đến các nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Đời cận đại phái thiền này phát triển và ảnh hưởng tới Âu Mỹ, bởi vì từ Năm tông hai phái về sau đều bắt nguồn từ Tào Khê.



TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Thái Hư Đại sư toàn thư.

  • Tổ sư thiền do Đổng Quần soạn.

  • Thiền Môn Khai Ngộ Thi tam bách thủ của Đỗ Tùng Bách.








Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương