Sở y tế TỈnh thừa thiên huế trung tâM y tế huyện phú vang báo cáO ĐỀ TÀi nghiên cứu khoa họC



tải về 446.5 Kb.
trang2/4
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2017
Kích446.5 Kb.
#2791
1   2   3   4

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 2,7 triệu trẻ tử vong trong tháng đầu tiên, trong đó có đến một nửa tử vong xảy ra trong 24 giờ đầu tiên và 75% xảy ra trong tuần đầu tiên của cuộc đời. Số lượng trẻ sơ sinh tử vong trên toàn cầu đã giảm từ 5,1 triệu vào năm 1990 xuống còn 2,7 triệu vào năm 2015. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh giảm chậm hơn so với trẻ từ 1 tháng đến dưới 5 tuổi (47% so với 58% trên toàn cầu). Mô hình này xảy ra hầu hết ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [27].

Tại Việt nam, tử vong trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm gần 3 lần từ 44,4‰ vào năm 1990 xuống còn 14,9‰ năm 2014, tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm hơn một nửa từ 58‰ vào năm 1990 xuống còn xuống 22,4‰ năm 2014. Mặc dù đã có sự cải thiện rõ rệt về tình trạng sức khỏe bà mẹ, trẻ em nhưng vẫn còn có sự khác biệt khá lớn về tử vong mẹ, tử vong trẻ em và tử vong sơ sinh giữa các vùng, miền. Tử vong sơ sinh vẫn còn cao, chiếm đến 70% số tử vong trẻ em dưới 1 tuổi. Tuy tỷ suất tử vong mẹ và tử vong sơ sinh đã giảm mạnh, nhưng ước tính mỗi năm ở Việt Nam vẫn còn khoảng 580 - 600 trường hợp tử vong mẹ và khoảng trên 10.000 trường hợp tử vong sơ sinh [3].

Nguyên nhân gây nên tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao là do trẻ bị ngạt, chấn thương trong khi đẻ, đẻ non, đẻ thấp cân và các bệnh nhiễm khuẩn, trong khi đó những nguyên nhân này lại có thể phòng tránh được. Một trong những lý do của tử vong giai đoạn sơ sinh vẫn còn cao là chưa có sự kết hợp sản- nhi trong các bệnh viện.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Nhi về mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh sớm tại Khoa Sản bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế năm 2008 cho thấy mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh khác nhau theo từng loại sơ sinh trong đó bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm qua đường mẹ - thai thường gặp nhất. Việc phân loại sơ sinh đủ tháng, đẻ non, già tháng theo tuổi thai và xác lập mô hình bệnh tật theo từng loại sơ sinh là vô cùng cần thiết và là yếu tố quyết định cho hiệu quả chăm sóc sơ sinh góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong [15].

Ngày 09 tháng 01 năm 2015, Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-BYT về việc tăng cường chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh nhằm giảm tử vong mẹ, tử vong sơ sinh; Bộ Y tế đã yêu cầu các đơn vị khám chữa bệnh tăng cường sự phối hợp giữa chuyên khoa sản với chuyên khoa nhi và hồi sức cấp cứu trong chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh[3].

Trong thời gian qua Khoa Nhi cùng Khoa Sản bệnh viện đa khoa Phú Vang đã tiến hành chăm sóc sơ sinh theo mô hình kết hợp sản- nhi, bước đầu đã mang lại hiệu quả rõ rệt.

Để đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh của trẻ sơ sinh ngày càng cao cũng như để giúp cho công tác định hướng phát triển y tế tuyến cơ sở, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh tại bệnh viện đa khoa Phú Vang năm 2016” với ba mục tiêu:

1. Xác định tỷ lệ sơ sinh bệnh lý và mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh sớm của các trẻ sơ sinh sinh tại bệnh viện đa khoa Phú Vang.

2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh sớm.

3. Mô tả mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh muộn tại bệnh viện đa khoa Phú Vang.

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC GIAI ĐOẠN CHU SINH VÀ SƠ SINH

1.1.1. Giai đoạn chu sinh và sơ sinh

Giai đoạn sơ sinh được định nghĩa từ khi sinh cho đến 28 ngày tuổi gồm: giai đoạn sơ sinh sớm được tính từ 0 - 6 ngày và giai đoạn sơ sinh muộn từ 7 - 28 ngày.

Giai đoạn chu sinh gồm: giai đoạn thai muộn (3 tháng cuối) và giai đoạn sơ sinh sớm [13].

Như vậy, giai đoạn sơ sinh sớm thuộc cả giai đoạn chu sinh của chuyên ngành sản và giai đoạn sơ sinh của chuyên ngành nhi.



Thai nghén
Sơ sinh

Giai đoạn thai 3 tháng giữa

Giai đoạn thai

3 tháng cuối



0 - 6 ngày

7 - 28 ngày
Giai đoạn thai sớm

Giai đoạn thai muộn

Giai đoạn

sơ sinh sớm



Giai đoạn

sơ sinh muộn






Giai đoạn chu sinh







Giai đoạn sơ sinh



Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hoá các giai đoạn chu sinh và sơ sinh

1.1.2. Phân loại sơ sinh

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO- World Health Organization), trẻ đủ tháng là trẻ được sinh ra trong khoảng từ 38 tuần đến 42 tuần (278 ± 15 ngày). Trẻ đẻ non là trẻ sinh ra trước thời hạn bình thường trong tử cung, có tuổi thai dưới 38 tuần và có khả năng sống được. Trẻ sinh ra sau 42 tuần là trẻ già tháng.

Theo cân nặng, trẻ sơ sinh đủ tháng có cân nặng khi sinh từ 2.500 – 4.000 gram (từ 10 - 90 bách phân vị trên biểu đồ Lubchenco). Có thể dựa vào đặc điểm hình thái cơ thể trẻ khi sinh để xác định tuổi thai theo bảng đánh giá tuổi thai [13].

Nhằm tăng cường chất lượng chăm sóc trẻ sơ sinh để hạ thấp tỷ lệ tử vong sơ sinh, các cán bộ y tế trực tiếp chăm sóc sơ sinh cần hiểu biết về phân loại sơ sinh và các bệnh tật xảy ra trong giai đoạn sơ sinh sớm. Mỗi một trẻ sơ sinh lọt lòng mẹ đều tương ứng với một loại sơ sinh phân loại theo tuổi thai hoặc phân loại theo tuổi thai và cân nặng. Cháu bé sinh ra thường hồng hào, khóc to không biểu hiện bệnh lý sau đẻ. Nhưng cũng có thể từ thời điểm cắt rốn cháu bé sơ sinh đã biểu hiện đau ốm. Để tìm hiểu về vấn đề này, trẻ sơ sinh cần được đánh giá ngay từ khi cắt rốn dưới 2 phương diện: loại sơ sinh, bệnh tật của loại sơ sinh đó.



1.2. DỰ ĐOÁN, ĐÁNH GIÁ, ĐIỀU TRỊ VÀ TIÊN LƯỢNG TRẺ SƠ SINH CÓ NGUY CƠ CAO

1.2.1. Sơ sinh đẻ non

1.2.1.1. Định nghĩa

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, gọi là trẻ đẻ non khi trẻ sinh ra trước thời hạn bình thường trong tử cung, có tuổi thai dưới 38 tuần và có khả năng sống được. Sơ sinh rất non khi dưới 33 tuần thai và sơ sinh cực non khi dưới 28 tuần thai. Trẻ sơ sinh có thể sống bắt đầu từ 22 tuần thai hoặc cân nặng dưới 500 gram [1].



1.2.1.2. Đặc điểm dịch tễ

Sơ sinh đẻ non (SSĐN) chiếm khoảng 5% trẻ sơ sinh, sơ sinh cực non chiếm 1 đến 1,5% [1].



1.2.1.3. Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi

Thường ghi nhận các nguyên nhân như sau: Phụ nữ dưới 16 tuổi hoặc trên 35 tuổi; Đa thai; Nhiễm trùng: nhiễm trùng trong tử cung, viêm màng ối, mẹ nhiễm trùng đường tiểu, cúm, sốt vàng…; Ối vỡ non; Tai biến chảy máu: khối máu tụ sau nhau, nhau bong non, nhau tiền đạo; Đa ối; Bất thường tử cung: hở eo cổ tử cung, dị tật tử cung; Bệnh lý mạch máu: nhau tiền đạo, suy dinh dưỡng bào thai; Suy thai; Mẹ tiểu đường; Bất đồng Rhesus; Bệnh lý mẹ nặng: bệnh lý tim mạch, hô hấp, chấn thương…; Tình trạng kinh tế xã hội thấp: được tính bằng thu nhập gia đình, trình độ học vấn, vùng địa lý, tầng lớp xã hội và nghề nghiệp…[1].



1.2.1.4. Các vấn đề thường gặp ở trẻ đẻ non

Hô hấp: Có thể có các biểu hiện sau: Suy hô hấp nặng tại phòng sinh do kém chuyển đổi nhịp thở; Hội chứng suy hô hấp cấp do thiếu Surfactan và chưa trưởng thành phổi; Cơn ngừng thở do chưa trưởng thành trong cơ chế kiểm soát thở; Loạn sản phổi; Bệnh Winson- Mikity và suy phổi mạn tính do sinh non.

Thần kinh: Trẻ đẻ non có các nguy cơ cao đối với các vấn đề thần kinh như: ngạt chu sinh, xuất huyết nội sọ.

Tim mạch: hạ huyết áp; Giảm thể tích; Rối loạn chức năng tim; Giãn mạch do nhiễm trùng huyết; Còn ống động mạch.

Huyết học: Thiếu máu, tăng bilirubin máu.

Dinh dưỡng: Trẻ đẻ non cần chú ý đặc biệt đến thành phần, năng lượng, thể tích, đường cho ăn.

Dạ dày ruột: Trẻ đẻ non có nguy cơ cao viêm ruột hoại tử.

Chuyển hóa: Thường gặp là rối loạn chuyển hóa Glucose và canxi.

Thận: Thận chưa trưởng thành có đặc tính là tỷ lệ lọc của cầu thận thấp, cũng như chưa có khả năng xử lý nước, điện giải và tải a xít

Điều hòa nhiệt độ: Dễ bị hạ thân nhiệt và tăng thân nhiệt.

Miễn dịch: Do thiếu hụt cả phản ứng hóc môn và tế bào, trẻ đẻ non có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn trẻ đủ tháng.

Mắt: Bệnh võng mạc có thể phát triển ở trẻ đẻ non dưới 32 tuần và cân nặng dưới 1.500 gram do chưa trưởng thành võng mạc [1].



1.2.1.5. Xử trí

- Điều trị ngay sau đẻ: Phòng sinh phải được trang bị tốt và sẵn sàng. Hồi sức tốt và ổn định trẻ.

- Điều trị tiếp theo:

Điều hòa nhiệt độ: Đối với trẻ rất non đòi hỏi bàn sưởi ấm hoặc lồng ấp.

Thông khí hỗ trợ và liệu pháp oxy.

Còn ống động mạch: hạn chế dịch và oxy có hiệu quả, indomethacin hoặc ibuprofen có thể cần thiết. Trường hợp không đóng được, thắt ống bằng ngoại khoa.

Điều trị nước và điện giải: Phải tính đến lượng nước mất không nhận biết được để bù nước, duy trì đường máu bình thường và nồng độ điện giải huyết thanh.

Nuôi dưỡng: cần thiết phải nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch đối với trẻ không có khả năng dung nạp sữa. Cho ăn qua ống thông dạ dày đối với những trẻ chưa phối hợp đồng bộ giữa bú và nuốt.

Tăng bilirubin máu: sử dụng chiếu đèn sớm, trong trường hợp nặng, truyền thay máu có thể cần thiết.

Nhiễm trùng: kháng sinh phù hợp.

Miễn dịch: tiêm vac-xin theo liều tiêm chủng [1].

1.2.1.6. Tiên lượng

Khuyết tật phát triển tinh thần: Khuyết tật nặng: bại não, chậm phát triển tinh thần. Tổn thương giác quan: mất thính lực, tổn thương thị giác. Rối loạn chức năng não: rối loạn ngôn ngữ, không có khả năng học, tăng hoạt động, thiếu chú ý, rối loạn hành vi.

Bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non.

Loạn sản phổi.

Kém phát triển.

Tăng tỷ lệ bệnh tật trẻ em và hay nằm viện [1].



1.2.2. Sơ sinh già tháng

1.2.2.1. Định nghĩa

Gọi là sơ sinh già tháng (SSGT) khi mang thai trên 42 tuần [1].



1.2.2.2. Đặc điểm dịch tễ

So sinh già tháng chiếm khoảng 6% trẻ sơ sinh (3- 14%) [1].



1.2.2.3. Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi

Một số trường hợp không rõ nguyên nhân; Đa thai không bằng nhau; Mang thai trước hạn; Béo phì; Thai nhi nam; Vô não; Ba nhiễm sắc thể 16 và 18; Hội chứng Seckel (bird-head dwarfism) [1].



1.2.2.4. Nguy cơ bệnh lý

Hít phân su, thiểu ối, vạch nhịp tim thai không ổn định trong chuyển dạ, thai lớn, chỉ số Apgar thấp và tổn thương lúc đẻ [1].



1.2.2.5. Hội chứng già tháng

Trẻ già tháng có thể mất trọng lượng nhưng chiều dài và chu vi vòng đầu bình thường. Có thể xếp loại như sau:

Độ 1: Da khô, nứt bong, lỏng lẻo và nhăn. Biểu hiện suy dinh dưỡng. Giảm mô dưới da. Mắt mở và linh lợi.

Độ 2: Toàn bộ đặc trưng của độ 1. Dịch ối có phân su. Suy thai (một số trường hợp).

Độ 3: Các dấu hiệu của độ 1 và độ 2. Dính phân su ở dây rốn và móng tay, móng chân do dịch ối nhuộm phân su kéo dài. Nguy cơ cao chết thai, chết trong đẻ và sau đẻ [1].

1.2.2.6. Xử trí

Điều trị trước đẻ: Đánh giá cẩn thận chính xác tuổi thai, qua siêu âm thai. Đánh giá trước đẻ bởi khám và theo dõi thai tốt bắt đầu giữa tuần 41- 42 tuần. Nếu test thai không tốt, có chỉ định cho đẻ.

Điều trị trong đẻ: Theo dõi thai, chuẩn bị hồi sức, hút phân su nếu có.

Điều trị sau đẻ: Đánh giá đối với các vấn đề khác: các bất thường bẩm sinh; Suy thai; Tăng áp lực động mạch phổi tồn tại; Hội chứng hít phân su; Hạ đường máu, hạ canxi máu; Đa hồng cầu. Chú ý để hỗ trợ dinh dưỡng thích hợp [1].



1.2.3. Trẻ nhỏ so với tuổi thai hoặc chậm phát triển trong tử cung

1.2.3.1. Định nghĩa

Trẻ nhỏ so với tuổi thai (SGA: Small for gestional age) hoặc chậm phát triển trong tử cung (IUGR: Intrauterine growth restriction) khi trọng lượng lúc sinh hoặc chiều dài lúc sinh < 10th percentile so với tuổi thai hoặc < 2 độ lệch chuẩn (SD: standard deviation) đối với tuổi thai [1].



1.2.3.2. Đặc điểm dịch tễ

Trẻ nhỏ so với tuổi thai hoặc chậm phát triển trong tử cung chiếm tỷ lệ 3- 10% [1].



1.2.3.3. Nguyên nhân

Có sự phối hợp giữa các yếu tố sau:

- Yếu tố mẹ:

Di truyền, giống nòi, chủng tộc; Đa thai; Cân nặng thấp trước khi mang thai (Suy dinh dưỡng); Tử cung bất thường; Bệnh mạn tính: Bệnh tim mạch, bệnh thận, Tăng huyết áp mạn hoặc do mang thai, thiếu máu, bệnh phổi, bệnh mạch máu- hệ tạo keo; đái tháo đường typ D, E, F, R; Bệnh tự miễn; Bệnh tiểu cầu. Thai già tháng, sống ở môi trường núi cao, biểu hiện quái thai, ảnh hưởng của nhiễm xạ, rượu, thuốc lá, cocain.

- Các yếu tố giải phẫu nhau và rốn:

Di tật: u máu màng phổi, nhồi máu, dị tật mạch máu, chỉ có một động mạch rốn. Nhồi máu hoặc tổn thương tại chỗ, nhau bong non, nhau bám thấp.

- Các yếu tố thai:

Dị tật: bất thường hệ thống thần kinh trung ương và hệ thống xương; bất thường nhiễm sắc thể; Nhiễm trùng bẩm sinh (như Rubella, Cytomegalo virus- CMV) và đa thai [1].



1.2.3.4. Xử trí

- Mang thai: Tìm nguyên nhân và điều trị theo nguyên nhân khi có thể; Theo dõi thai tốt: sinh hóa, chuyển động thai, thể tích dịch ối, siêu âm thai.

Xem xét điều trị dự phòng bệnh phổi chưa trưởng thành nếu cho đẻ sớm.

- Chuyển dạ: Chuyển dạ sớm là cần thiết nếu nguy cơ thai. Nói chung, chỉ định chuyển dạ nếu thai ngừng phát triển và/hoặc suy thai. Tăng trưởng thành phổi với sử dụng glucocorticoide ở mẹ nếu phân tích dịch ối gợi lên phổi chưa trưởng thành hoặc chuyển dạ khi chưa đủ tháng. Nếu dòng máu nhau thai kém, thai không có thể thích nghi với đẻ thường, cần mổ đẻ.

Trẻ nhỏ so với tuổi thai hoặc chậm phát triển trong tử cung nặng có thể có nhiều nguy cơ chu sinh, cuộc đẻ nên đặt ở gần trung tâm hồi sức sơ sinh hoặc chăm sóc chuyên khoa sơ sinh. Cần chuẩn bị hồi sức tốt trong trường hợp suy thai, ngạt chu sinh, hít phân su, thiếu khí, hạ đường huyết và mất máu.

- Sau đẻ: Nếu chưa biết rõ nguyên nhân: thăm khám và tìm nguyên nhân, chủ yếu bất thường nhiễm sắc thể, dị tật bẩm sinh, nhiễm trùng bẩm sinh. Tìm bệnh lý nhau thai như nhồi máu hoặc nhiễm trùng bẩm sinh. Sàng lọc huyết thanh đối với nhiễm trùng bẩm sinh không được chỉ định cho đến khi bệnh sử hoặc thăm khám gợi ý nhiễm trùng là nguyên nhân.

Trẻ nhỏ so với tuổi thai đòi hỏi trẻ cần nhiều Calo/kg hơn để thích hợp với tuổi thai [1].

1.2.3.5. Biến chứng và tiên lượng

Các biến chứng có khả năng liên quan đến trẻ nhỏ so với tuổi thai hoặc chậm phát triển trong tử cung: Bất thường bẩm sinh; Ngạt chu sinh; Hít phân su; Xuất huyết phổi; Tăng áp lực động mạch phổi tồn tại; Hạ huyết áp; Hạ đường máu do thiếu dự trữ glycogen; Hạ canxi máu; Hạ thân nhiệt do thiếu lớp mỡ dưới da; Rối loạn lipid máu; Đa hồng cầu; Giảm bạch cầu; Giảm tiểu cầu; Hoại tử ống thận cấp/suy thận.

Tiên lượng đối với trẻ nhỏ so với tuổi thai hoặc chậm phát triển trong tử cung: nói chung trẻ nhỏ so với tuổi thai hoặc chậm phát triển trong tử cung có nguy cơ cao kém phát triển sau đẻ, tổn thương hệ thần kinh, chậm phát triển ý thức, kém đạt được trong học tập. Một số người lớn có tiền sử SGA/IUGR có nguy cơ cao bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn, tổn thương thận [1].

1.2.4. Trẻ quá lớn so với tuổi thai

1.2.4.1. Định nghĩa

Chưa có định nghĩa thống nhất, nhưng định nghĩa được đề cập nhiều nhất là trẻ quá dưỡng nếu lớn hơn 2 SD (Standard Deviation - Độ lệch chuẩn) trung bình so với tuổi thai hoặc trên 90th percentil [1].



1.2.4.2. Nguyên nhân

Trẻ lớn vì bố mẹ lớn; Trẻ có mẹ đái đường; Một vài trẻ già tháng; Hội chứng Beckwith-Wiedemann và các hội chứng khác [1].



1.2.4.3. Xử trí

- Tìm các biểu hiện của chấn thương khi đẻ như: tổn thương đám rối thần kinh cánh tay và ngạt chu sinh.

- Cho ăn sớm và theo dõi đường máu. Một số trẻ quá dưỡng có thể phát triển hạ đường máu thứ phát do cường insulin (chủ yếu trẻ có mẹ đái đường, hội chứng Beckwith-Wiedemann, trẻ với erythroblastosis).

- Xử trí đa hồng cầu nếu có [1].



1.3. DỊCH TỄ HỌC CÁC BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP GIAI ĐOẠN SƠ SINH

1.3.1. Nhiễm trùng sơ sinh

Các nước phát triển như ở Pháp 1% trẻ sơ sinh bị mắc bệnh nhiễm trùng, 15 % trẻ sơ sinh nhập viện nằm ở phòng hồi sức sơ sinh bị mắc nhiễm trùng. Ở nước ta tỷ lệ nhiễm trùng sơ sinh còn cao hơn. Nhiễm trùng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thời kỳ sơ sinh với tỷ lệ 13 – 15 % ở các nước trên thế giới. Nhiễm trùng sơ sinh (NTSS) thường mắc ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ. Theo dõi  xác định rõ những yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm những biến đổi  lâm sàng, những biến đổi về huyết học có thể  phát hiện sớm bệnh nhiễm trùng sơ sinh cho phép xử trí sớm, góp phần đáng kể giảm tỷ lệ tử vong [5].

Tỷ lệ NTSS dao động từ 1 đến 10‰ trẻ sơ sinh sống [24]. Trong những năm gần đây, tỉ lệ NTSS giảm nhiều nhờ việc điều trị kháng sinh trong và sau đẻ [20]. Tỉ lệ nhiễm khuẩn thay đổi tuỳ theo tuổi thai và cân nặng khi đẻ. Ở trẻ đẻ non, tỉ lệ này cao hơn nhiều, đặc biệt ở nhóm trẻ cân nặng rất thấp.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, một số nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh, tỉ lệ tử vong do nhiễm khuẩn sơ sinh chiếm từ 9 đến 84% tử vong sơ sinh, trong đó tỉ lệ tử vong do nhiễm trùng huyết chiếm tới 27 - 69% [23].

Nhiễm trùng trong thời kỳ sơ sinh có thể phân làm 2 loại: NTSS sớm qua đường mẹ - thai và nhiễm trùng mắc phải sau sinh (đặc biệt chú ý loại nhiễm trùng mắc phải ở bệnh viện).

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trường Đại Học Y- Dược Huế năm 2008 cho thấy nhiễm trùng sơ sinh sớm là bệnh lý phổ biến nhất trong mô hình bệnh tật của giai đoạn sơ sinh sớm, chiếm tỷ lệ cao nhất ở loại sơ sinh đẻ non (42,86%), già tháng (35,48%), đủ tháng (9,74%) [15].



1.3.2. Vàng da sơ sinh

Vàng da tăng Bilirubin gián tiếp là một hiện tượng thường gặp ở trẻ sơ sinh, có thể chiếm 85% số trẻ sơ sinh sống, do đặc điểm về chuyển hóa Bilirubin của trẻ trong những ngày đầu sau sinh. Tuy nhiên, có một tỷ lệ nhất định trẻ sơ sinh bị vàng da nặng, do nồng độ Bilirubin gián tiếp trong máu tăng cao quá mức, có thể gây tổn thương hệ thần kinh dẫn đến tử vong trong giai đoạn cấp hoặc để lại di chứng nặng nề (bại não) sau này, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tâm thần và vận động của trẻ, là một gánh nặng cho gia đình, xã hội [25]. Do đó, bệnh cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Tỷ lệ trẻ sơ sinh vàng da tăng Bilirubin gián tiếp bệnh lý ở các nước Châu Âu và Hoa Kỳ chiếm khoảng 4 - 5% tổng số trẻ sơ sinh, ở Châu Á khoảng 14 - 16% [21]. Nghiên cứu của Wong năm 2013 ở Malaysia, tỷ lệ vàng da sơ sinh bệnh lý chiếm 16,4% [26].

Ở Việt Nam, nghiên cứu của Khu Thị Khánh Dung tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2007, vàng da tăng Bilirubin gián tiếp chiếm 21,26% tổng số sơ sinh nhập viện điều trị [6]. Tác giả Huỳnh Bảo Toàn, qua nghiên cứu 93 trẻ sơ sinh vàng da do tăng Bilirubin tự do tại bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, Khánh Hòa năm 2012 cho thấy: vàng da chiếm tỷ lệ 63,7% tổng số sơ sinh nhập viện tại bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, Khánh Hòa [17].



1.3.3. Ngạt

Ngạt sơ sinh là tình trạng trẻ sơ sinh đẻ ra không khóc trong vòng phút đầu [18].

Dự đoán trước và trong khi chuyển dạ: Các yếu tố gây suy thai cũng là yếu tố gây ngạt thai vì vậy đứng trước thai phụ có nguy cơ cao như nhiễm độc thai nghén, rau tiền đạo, mẹ mắc bệnh nội khoa, khung chậu hẹp, rối loạn cơn co tử cung, thai đôi, đa thai, đa ối, thiểu ối, dị dạng, qua siêu âm đều dự đoán ngạt sơ sinh và chuẩn bị phương tiện dụng cụ hồi sức trẻ sơ sinh [18].

Theo nghiên cứu tại bệnh viện Trung ương Huế từ năm 2009- 2013, nguyên nhân tử vong sơ sinh hàng đầu vẫn là suy hô hấp, kế tiếp là là dị tật bẩm sinh, xuất huyết, nhiễm trùng sơ sinh và ngạt [10].



1.3.4. Dị tật bẩm sinh

Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh là 1,73%. Như vậy, mỗi năm thế giới có khoảng 8 triệu trẻ chào đời với một dị tật bẩm sinh. 

Mỗi năm, ở Việt Nam có khoảng 1.500.000 em bé sinh ra, trong đó có: 1.400 - 1.800 trẻ bị bệnh Down (Trisomy 21); 200 - 250 trẻ bị hội chứng Ewards (Trisomy 18); 1.000 - 1.500 trẻ bị dị tật ống thần kinh; 300 - 400 trẻ bị suy giáp bẩm sinh; 15.000 - 30.000 trẻ bị thiếu men G6PD; 200 - 600 trẻ bị tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh; 2.200 trẻ bị Thalassemia (tan máu bẩm sinh) thể nặng sinh ra và các bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinh khác.

Sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh là chương trình thực hiện xét nghiệm thường quy cho phụ nữ mang thai 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và trẻ sơ sinh trong vòng 1 tháng đầu sau sinh để phát hiện sớm các thai kỳ và các trẻ sơ sinh có nguy cơ về bệnh lý di truyền như thiếu men G6PD, bệnh lý nội tiết như suy giáp bẩm sinh, dị tật ống thần kinh (thai vô sọ, nứt đốt sống), bệnh về nhiễm sắc thể như hội chứng Down và các dị tật bẩm sinh khác ảnh hưởng đến sức khỏe, phát triển thể chất tâm thần của trẻ.

Tại Hà Nội, qua 3 năm triển khai đề án “Tầm soát, phát hiện một số tật, bệnh bẩm sinh thông qua sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh của thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2015”, nhận thức của người dân về sàng lọc trước sinh và sơ sinh đã có những chuyển biến rõ rệt.

Nếu như tỷ lệ sàng lọc trước sinh năm 2012 của Hà Nội mới đạt 40,36% thì đến thời điểm này đã tăng lên 67%; tỷ lệ sàng lọc sơ sinh năm 2012 chỉ có 20,21% thì nay là 46,8%. Trong giai đoạn 2016-2020 tới, Hà Nội phấn đấu đến cuối năm 2020 đạt tỷ lệ 85% bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh, 80% trẻ được sàng lọc sơ sinh, 50% trẻ được sàng lọc tim bẩm sinh [14].

Nghiên cứu một số dị tật điểm sẽ giúp chẩn đoán chính xác loại dị tật bẩm sinh trên lâm sàng.

1.4. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI VỀ MÔ HÌNH BỆNH TẬT VÀ TỬ VONG SƠ SINH

1.4.1. Các nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Đinh Văn Thức (2000) về tỷ lệ nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng 4 huyện ngoại thành Hải Phòng 1995-1997, cho thấy tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm tại Hải Phòng từ 1995 đến 1999 hầu như không thay đổi (11,19 ‰ năm 1995 và 11,92 ‰ năm 1999) [16].



Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hòa (2004) về tình hình bệnh tật và tử vong sơ sinh ở các bệnh viện nhi và một số bệnh viện tỉnh miền Bắc, và Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ đối với trẻ đẻ non thấp cân và tử vong chu sinh ở một số vùng miền Bắc Việt Nam, cho thấy tử vong sơ sinh ở các bệnh viện nhi một số tỉnh miền bắc chiếm 51% tử vong nhi chung, xảy ra nhiều nhất ở ngày đầu sau đẻ [7], [8].

Nghiên cứu của Phạm Hoàng Hưng về mô hình bệnh tật và tử vong ở trẻ em tại Trung tâm Nhi Khoa- bệnh viện Trung ương Huế giai đoạn 2009- 2013, cho thấy tỷ lệ tử vong sơ sinh chiếm 51,3 % tử vong toàn Trung tâm Nhi. Tử vong < 24 giờ chiếm tỷ lệ 30,5% giảm không đáng kể so với cách đây 5 năm 31,99%, nhưng đáng kể so với 15 năm trước đây 49,9%. Nguyên nhân tử vong sơ sinh hàng đầu vẫn là suy hô hấp kế tiếp là dị tật bẩm sinh, xuất huyết, nhiễm trùng sơ sinh và ngạt [10].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Nhi về mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh sớm tại Khoa Sản bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế năm 2008, cho thấy mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh khác nhau theo từng loại sơ sinh trong đó bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm qua đường mẹ - thai thường gặp nhất. Việc phân loại sơ sinh đủ tháng, đẻ non, già tháng theo tuổi thai và xác lập mô hình bệnh tật theo từng loại sơ sinh là vô cùng cần thiết và là yếu tố quyết định cho hiệu quả chăm sóc sơ sinh góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong [15].

Chỉ thị 01/CT-BYT ngày 09 tháng 01 năm 2015 của Bộ Y tế đánh giá: trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng và Nhà nước, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Các chỉ số về sức khỏe bà mẹ, trẻ em Việt Nam đạt được là khá tốt so với nhiều quốc gia có mức thu nhập bình quân trên đầu người tương tự. Tử vong mẹ và tử vong trẻ em đã giảm đáng kể. Tỷ số tử vong mẹ đã giảm hơn 3 lần từ 233/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 1990 ước còn khoảng 60/100.000 sơ sinh sống năm 2014. Tử vong trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm gần 3 lần từ 44,4‰ vào năm 1990 xuống còn 14,9‰ năm 2014, tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm hơn một nửa từ 58‰ vào năm 1990 xuống còn xuống 22,4‰ năm 2014.

Mặc dù đã có sự cải thiện rõ rệt về tình trạng sức khỏe bà mẹ, trẻ em nhưng vẫn còn có sự khác biệt khá lớn về tử vong mẹ, tử vong trẻ em và tử vong sơ sinh giữa các vùng, miền. Tử vong sơ sinh vẫn còn cao, chiếm đến 70% số tử vong trẻ em dưới 1 tuổi. Tốc độ giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em trong những năm gần đây đã có xu hướng chậm lại. Tuy tỷ suất tử vong mẹ và tử vong sơ sinh đã giảm mạnh, nhưng ước tính mỗi năm ở Việt Nam vẫn còn khoảng 580 - 600 trường hợp tử vong mẹ và khoảng trên 10.000 trường hợp tử vong sơ sinh.

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau khi sinh của người dân cũng như chất lượng dịch vụ vẫn còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt ở các bệnh viện tuyến huyện chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc điều trị cấp cứu sản khoa và sơ sinh. Nhân lực chuyên ngành sản phụ khoa và nhi khoa còn rất thiếu, nhất là tại tuyến huyện, tỷ lệ bác sĩ đa khoa làm công tác sản khoa và nhi khoa khá lớn. Năng lực chuyên môn của cán bộ y tế, đặc biệt là y tế cơ sở còn nhiều hạn chế trong việc phân loại, phát hiện nguy cơ, theo dõi, tiên lượng, xử trí cấp cứu và hồi sức sản khoa, sơ sinh…[3].

Như vậy, muốn đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi đặc biệt tử vong sơ sinh ở nước ta phải dành ưu tiên lớn nhất cho việc cứu sống sinh mạng trẻ trong giai đoạn sơ sinh sớm (0 - 6 ngày tuổi) [2].



1.4.2. Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Andreas Chiabi và cộng sự (2014), về các yếu tố nguy cơ tử vong sơ sinh tại bệnh viện Sản khoa và Nhi khoa Cameroon, cho thấy tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ảnh hưởng bởi các yếu tố về mẹ như: vỡ ối kéo dài trên 12 giờ, mổ lấy thai và các yếu tố sơ sinh như: nhiễm trùng sơ sinh, sinh nhẹ cân, trẻ sinh ngạt (chỉ số Apgar <7 điểm ở phút thứ 5), dị tật bẩm sinh và địa điểm sinh [19].

Nghiên cứu của Satoshi Kusuda và cộng sự (2012), Xu hướng mắc bệnh và tử vong ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân từ 2003 đến 2008 tại Nhật Bản, cho thấy tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng bởi cả 2 yếu tố bà mẹ và trẻ sơ sinh. Điều này có thể giảm đi khi các bà mẹ mang thai được khám thai tốt và nhân viên y tế quản lý tốt sơ sinh có nguy cơ cao [22].

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có 5,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong trong năm 2015. Hơn một nửa trong số những trẻ em tử vong sớm là do điều kiện mà có thể ngăn ngừa hoặc điều trị được với sự can thiệp đơn giản, giá cả phải chăng. Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em dưới 5 tuổi là những biến chứng sinh non, viêm phổi, ngạt khi sinh, tiêu chảy và sốt rét. Khoảng 45% của tất cả trẻ em tử vong liên quan đến suy dinh dưỡng. Nguy cơ của trẻ tử vong cao nhất ở giai đoạn sơ sinh, 28 ngày đầu tiên của cuộc sống. Sinh con an toàn và chăm sóc sơ sinh hiệu quả là rất cần thiết để ngăn chặn các trường hợp tử vong sơ sinh.

Hàng năm có khoảng 2,7 triệu trẻ tử vong trong tháng đầu tiên, trong đó có đến một nửa tử vong xảy ra trong 24 giờ đầu tiên và 75% xảy ra trong tuần đầu tiên của cuộc đời. Số lượng trẻ sơ sinh tử vong trên toàn cầu đã giảm từ 5,1 triệu vào năm 1990 xuống còn 2,7 triệu vào năm 2015. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh giảm chậm hơn so với trẻ từ 1 tháng đến dưới 5 tuổi (47% so với 58% trên toàn cầu). Mô hình này xảy ra hầu hết ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Nếu xu hướng này tiếp tục, khoảng một nửa trong số 69 triệu người tử vong trẻ em giai đoạn 2016 đến 2030 sẽ xảy ra trong giai đoạn sơ sinh. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh dự kiến sẽ tăng từ 45% số ca tử vong dưới 5 tuổi vào năm 2015 lên đến 52% vào năm 2030 [27].



tải về 446.5 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương