Së y tõ TØnh §IÖn bi£n trung tm phßng chèng hiv/aids B¸o c¸o kõt qu¶ nghiªn cøu khoa häc §Ò Tµi cêp c¥ Së tªn ®Ò tµi thùc tr¹ng nhën thøC, th¸I §é



tải về 1.29 Mb.
trang1/29
Chuyển đổi dữ liệu24.02.2018
Kích1.29 Mb.
#12300
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29





Së Y TÕ TØNH §IÖN BI£N

Trung t©m phßng chèng hiv/aids


B¸O C¸O KÕT QU¶ nghiªn cøu khoa häc §Ò TµI CÊP C¥ Së

tªn ®Ò tµi

THùC TR¹NG NHËN THøC, TH¸I §é,

HµNH VI Vµ C¸C YÕU Tè LI£N QUAN §ÕN L¢Y NHIÔM HIV/AIDS CñA §åNG BµO D¢N TéC THIÓU Sè KHU VùC BI£N GIíI VIÖT - LµO TØNH §IÖN BI£N N¡M 2012

CHñ NHIÖM §Ò TµI: B¸C Sü CKII HOµNG XU¢N CHIÕN

C¥ QUAN CHñ TR× §Ò TµI: Trung t©m phßng chèng

hiv/aids tØnh ®iÖn biªn

ThêI GIAN THùC HIÖN §Ò TµI: N¡M 2012

§ÞA §IÓM THùC HIÖN §Ò TµI: T¹I TØNH §IÖN BI£N

§iÖn Biªn, th¸ng 12/2012
Së Y TÕ TØNH §IÖN BI£N

Trung t©m phßng chèng hiv/aids


B¸O C¸O KÕT QU¶ nghiªn cøu khoa häc §Ò TµI CÊP C¥ Së

tªn ®Ò tµi

THùC TR¹NG NHËN THøC, TH¸I §é,

HµNH VI Vµ C¸C YÕU Tè LI£N QUAN §ÕN L¢Y NHIÔM HIV/AIDS CñA §åNG BµO D¢N TéC THIÓU Sè KHU VùC BI£N GIíI VIÖT - LµO TØNH §IÖN BI£N N¡M 2012

Chñ nhiÖm ®Ò tµi: B¸c sü chuyªn khoa cÊp II Hoµng Xu©n ChiÕn

C¬ quan chñ tr× ®Ò tµi: Trung t©m phßng chèng HIV/AIDS tØnh §iÖn Biªn

C¬ quan qu¶n lý: Côc phßng chèng HIV/AIDS

Thêi gian thùc hiÖn ®Ò tµi: N¨m 2012

Tæng kinh phÝ thùc hiÖn §Ò tµi: 82.000.000 ®ång

Trong ®ã kinh phÝ NSKH: 82.000.000 ®ång

§iÖn Biªn, N¨m 2012

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
1. Tên đề tài: "Thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi và các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV/AIDS của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới Việt- Lào tỉnh Điện Biên năm 2012".

2. Chủ nhiệm đề tài: Bác sỹ chuyên khoa cấp II - Hoàng Xuân Chiến

3. Cơ quan chủ trì đề tài: Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Điện Biên

4. Cơ quan quản lý đề tài: Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam

5. Thư ký đề tài: Bác sỹ chuyên khoa cấp I - Trịnh Thị Thảo

6. Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 6/2012đến tháng 12/2012

7. Danh sách những người thực hiện chính:


Họ và tên

Học vị

Chức vụ

Cơ quan công tác

Phạm Thị Bích Ngọc

BS

Khoa điều trị

Trung tâm PC HIV/AIDS Điện Biên

Phìn Thị Thủy

YS

Khoa giám sát

Trung tâm PC HIV/AIDS Điện Biên

Đặng Thị Thanh

CN

Khoa Điều Trị

Trung tâm PC HIV/AIDS Điện Biên

Phạm Ngọc Hoàn

YS

khoa Truyền Thông

Trung tâm PC HIV/AIDS Điện Biên

Hoàng Văn Bắc

YS

Khoa Truyền Thông

Trung tâm PC HIV/AIDS Điện Biên

Hà Thị Thúy Vân

YS

Khoa giám sát

Trung tâm PC HIV/AIDS Điện Biên

Lê Thị Thanh

KT TC

Phó phòng

KH-TV


Trung tâm PC HIV/AIDS Điện Biên

ĐẶT VẤN ĐỀ

Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng tây bắc của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên là 9.544,107km2. Có đường biên giới Việt – Lào dài 360km. Tỉnh Điện Biên là tỉnh trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS; do tiếp giáp với vùng Tam giác vàng, nên tình hình buôn bán, tàng trữ và vận chuyển ma túy còn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát.

Ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trên địa bàn tỉnh Điện Biên năm 1998. Hiện nay dịch HIV/AIDS đã lan ra cộng đồng và diễn biến rất phức tạp. Đến tháng 9/ 2012, có 6.574 trường hợp nhiễm HIV, Tỷ lệ người nhiễm HIV còn sống trên dân số là 0,75%, toàn tỉnh có 91/112 xã có người nhiễm HIV. Dịch HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Điện Biên rất nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội, làm tăng đói nghèo, suy giảm lực lượng lao động và chất lượng dân số của tỉnh Điện Biên.

Khu vực biên giới Việt- Lào là nơi có tình hình buôn bán, vận chuyển và sử dụng ma túy rất phức tạp, khó kiểm soát. Dân cư chủ yếu là các dân tộc thiểu số, phong tục tập quán còn lạc hậu; người dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp, làm nương rẫy; thường xuyên qua lại khu vực biên giới để buôn bán, săn bắn và khai thác lâm sản. Có sự giao lưu giữa người dân hai nước Việt – Lào ở khu vực biên giới qua đường tiểu mạch. Người dân còn thiếu kiến thức về bảo vệ sức khỏe nói chung và HIV/AIDS nói riêng. Công tác phòng chống HIV/AIDS ở vùng biên giới Việt – Lào còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế; Nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm đồng bào dân tộc ở khu vực biên giới là rất lớn. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu: "Thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi và các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV/AIDS của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới Việt- Lào tỉnh Điện Biên năm 2012".

Với mục tiêu nghiên cứu như sau:

1. Đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi về HIV/AIDS của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới Việt – Lào thuộc tỉnh Điện Biên năm 2012.

2. Xác định các yếu tố liên quan làm tăng lây nhiễm HIV ở nhóm đồng bào dân tộc ở khu vực biên giới.

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HIV/AIDS

tháng 6/1981 Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ ở Alanta, phát hiện một nhóm 5 nam thanh niên bị viêm phổi do Pneumocytis Carinii, điều trị bằng Pentamidin không khỏi; sau đó ở Newyork và Califonia bác sỹ Fredman Alvin cũng phát hiện 26 nam thanh niên đồng tính luyến ái bị suy giảm miễn dịch. Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) Atlanta đã xác định những người này bị mắc hội chức suy giảm miễn dịch đầu tiên trên thế giới.

Năm 1983, lần đầu tiên Virus HIV được phân lập tại viện Pasteur Paris cộng hòa Pháp,năm 1986 được WHO chính thức lấy tên Virus này là HIV.

1.1.1. Khái niệm về HIV/AIDS

HIV (HIV- Human Immuno Deficiency Virus) là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, thuộc họ Retro Virus, nhóm Lentivirus có giai đoạn tiềm tàng không có triệu chứng kéo dài [ 54]

AIDS (AIDS- Acquired Immune Deficiency Syndrome) Là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải là biểu hiện ở giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV[15]

1.1.2. Căn nguyên

Năm 1983 Barre Sinosi trong nhóm nghiên cứu của giáo sư Luc Mongtanier (Viện Paster Paris) phát hiện Virus có liên quan đến hạch nên đặt tên là LAV (Lymphoadeopathy Associated Virus).

Năm 1984 Gallo (Hoa Kỳ) phân lập được virus có ái tính với Lympho T của người và đặt tên là HTLV týp III (Human Lymphotrophic virus tuýp III), cùng năm Levy phân lập được virus liên quan đến hội chứng suy giảm miễn dịch đặt tên là ARV (AIDS related virus)

Năm 1986 Hội nghị danh pháp quốc tế của tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thống nhất 3 loại Virus trên đều thống nhất đặt tên là virus HIV1.

Năm 1985 Barin phân lập được virus thứ hai ở Tây Phi đặt tên là HIV2. HIV2 thường gặp ở châu Phi. HIV1 có hai tuýp 1 và 2 có mặt trên toàn thế giới; HIV1 có 3 nhóm là M, O, N. Nhóm O có 10 dưới nhóm thường thấy ở châu Phi. Nhóm M có 10 dưới nhóm bao gồm từ A đến J, dưới nhóm A thường gặp ở châu Phi và ấn Độ. Còn nhóm dưới B, C, E thường thấy ở Đông Nam á, Nam á.

Virus HIV (gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người) có mã số phân loại quốc tế ICD-10 là B20B24.Về gen thì HIV là một ARN virus họ RETRO VIRIDAE, dưới nhóm Lentivirus. HIV là một nhóm gồm HIV1 và HIV2 phân biệt trên đặc tính huyết thanh và trình tự phân tử của Clone genome của virus [1].

HIV có đặc điểm là gây suy giảm miễn dịch ở người, có men sao mã ngược, phát triển chậm, diễn biến kéo dài, gây tiêu hủy tế bào lympho T, đặc tính kháng nguyên dễ thay đổi, dễ bị tiêu diệt hoặc bị bất hoạt bằng các tác nhân lý, hóa thông thường như đun sôi, sấy khô, các dung dịch khử khuẩn, đặc biệt HIV có màng lipid bảo vệ cho virus không bị mất nước vì thế máu và các dịch cơ thể khi đã khô vẫn có thể chứa virus gây lây nhiễm.

Khi xâm nhập vào cơ thể qua da, niêm mạc, đường máu, virus di chuyển đến các hạch bạch huyết vào máu ngoại vi, ở đây virus tấn công vào các tế bào lympho T, các đại thực bào, bạch cầu đơn nhân lớn... 5 ngày sau khi phơi nhiễm, virus nhân bản lên rất nhanh. Các tế bào bị nhiễm HIV mà sinh sản ra Virion HIV mới thì có thời gian bán hủy là 2-3 ngày, trong khi các tế bào không sinh ra Virion HIV thì có thời gian bán hủy là 180 ngày.

HIV sinh sản rất nhanh khi hoạt động, nhiều tỷ Virion HIV được sinh ra hàng ngày, nhưng men sao chép ngược có nhiều lỗi khi tạo ra Copie ADN từ HIV-ARN vì vậy có nhiều chủng HIV trong người nhiễm HIV và một trong những chủng thay đổi đó có thể tránh bị TCD4 hay kháng thể trung hòa tiêu diệt, nhiều chủng HIV đột biến ít nhiều do tái tổ hợp để tạo ra khá nhiều thay đổi của các chủng HIV [15].

1.1.3. Khái quát cấu trúc phân tử của HIV

Trên kính hiển vi điện tử HIV có dạng hình cầu đường kính khoảng 100nm. HIV có cấu trúc tương đối đơn giản.





Hình 1. 1. Hình dạng cấu trúc phân tử của Virus HIV

Từ ngoài vào trong gồm 3 lớp.

- Lớp ngoài: là lớp màng lipit kép. Trên màng này là các phân tử Glycoprotein (gp) có chứa nhiều các núm (gai nhú) trên bề mặt (72 núm). Các núm này được bao phủ bởi 2 Protein (p) màng là gp120 và gp 41. Xuyên màng lipit kép là các phân tử Glycoprotein ký hiệu là gp41 cho HIV1 và gp36 cho HIV2 [6].

- Lớp vỏ: Vỏ của HIV hình cầu cấu tạo gồm các protein p18 bao quanh đối với HIV1, p17 đối với HIV2 [6] [10][13].



- Lõi: Lõi của HIV hình trụ hơi lệch tâm được bọc bởi một vỏ Protein p24. Trong lõi chứa bộ gen của vi rút có 2 sợi RNA gắn với men sao chép ngược (RT), một phân tử vận chuyển ARN và các Protein khác như P7, P9.

- Cấu trúc gen: Mỗi sợi ARN có khoảng 9200 cặp bazơ với 3 gen cấu trúc chính là gag (kháng nguyên đặc hiệu nhóm) mã hoá cho các protein bên trong virút, gen pol mã hóa cho các men sao chép ngược, và gen env mã hoá cho các protein bao phủ ngoài. Men sao chép ngược đảm nhiệm sao chép ARN của vi rút thành ADN [35].

1.1.4. Sinh bệnh học

Bình thường cơ thể có một hệ thống bảo vệ chống lại các tác nhân gây bệnh, đó là hệ thống miễn dịch. Hệ thống miễn dịch bảo vệ cơ thể bằng cách nhận ra các kháng nguyên trên các vi khuẩn hoặc virus xâm nhập vào cơ thể và phản ứng lại (đáp ứng miễn dịch). Cơ thể loại trừ các kháng nguyên lạ bằng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu. Trong đáp ứng miễn dịch đặc hiệu, tế bào lympho T có 2 chức năng chính là điều hòa hệ thống miễn dịch và tiêu diệt các tế bào mang kháng nguyên đích chuyên biệt. Mỗi tế bào lympho T có một điểm nhận diện bề mặt để phân biệt với nhau (CD4, CD8, CD3). Trong các tế bào miễn dịch, tế bào CD4 có vai trò quan trọng nhất. Nó đóng vai trò chỉ huy, kiểm soát trung hệ thống miễn dịch.

Khi HIV xâm nhập cơ thể sẽ sử dụng ADN của CD4 để tái tạo bản thân virus. Trong quá trình đó, virus phá hủy tế bào CD4 làm suy yếu hệ miễn dịch. Cơ thể bị nhiễm trùng cơ hội tấn công hoặc ung thư phát triển dẫn tới tử vong.



Sơ đồ 1.2. Chu kỳ phát triển của virus HIV
Ảnh hưởng của suy giảm miễn dịch:

Virus HIV phá hủy tế bào CD4, làm rối loạn chức năng tế bào CD8, gây suy giảm miễn dịch. Các bệnh nhiễm trùng cơ hội như viêm phổi do Pneumocystis Jiroveci, bệnh Cytomegalovirus (CMV) là họ Herpes có 2 vòng ADN gây nhiều tổn thương ở nhiều bộ phận trong cơ thể, bệnh Lao, bệnh do Micobacterium Avium (MAC), nhiễm nấm Penicinium Marnerfei, nhiễm nấm Candida, các nhiễm khuẩn như phế cầu, tụ cầu...

Khi vào cơ thể HIV tấn công có chọn lọc vào tế bào CD4, là tế bào có vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, tế bào này chỉ huy, điều hòa hệ thống miễn dịch của cơ thể, nó có vai trò nhận diện, báo động, huy động và điều hòa hệ thống miễn dịch tấn công tiêu diệt sinh vật lạ khi chúng xâm nhập cơ thể.Khi HIV gắn vào tế bào CD4, nó bỏ phần vỏ lipit bên ngoài và bơm ARN vào trong tế bào, nhờ có men phiên mã ngược, ARN 1 sợi sẽ được sao chép thành ADN 2 sợi và gắn vào ADN của tế bào. Vì HIV trở thành một vật liệu di truyền của tế bào người nên nhiễm virus vào tế bào là bền vững. Virus sẽ sống và tồn tại trong suốt cuộc đời của người bị nhiễm HIV và có thể lây truyền sang người khác. Virus có thể ở trạng thái ngủ trong nhiều năm, song khi cơ thể bị sinh vật lạ tấn công, tế bào bị nhiễm virus sẽ bị hệ miễn dịch của cơ thể hoạt hóa để chống lại tác nhân gây bệnh, HIV bắt đầu tự nhân lên và tiếp tục gây nhiễm cho tế bào khác. ADN virus chỉ thị cho tế bào của cơ thể sản suất các thành phần của virus như protein và ARN là 2 thành phần chính của virus. Các thành phần này di chuyển đến màng tế bào, tiếp theo là quá trình nảy trồi, nhiều virus mới được hình thành và được giải phóng ra ngoài tiếp tục gắn vào tế bào CD4 và một số loại tế bào miễn dịch khác, gây phá hủy tế bào làm hệ thống miễn dịch bị suy giảm, cơ thể không được bảo vệ, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và dẫn đến tử vong [23] [32].

1.1.5. Ảnh hưởng của HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế-xã hội

Kể từ khi phát hiện ra ca mắc HIV đầu tiên trên thế giới năm 1981, HIV đã nhanh tróng lan ra toàn cầu. Đến nay HIV/AIDS đã trở thành đại dịch.

Đại dịch HIV/AIDS tác động mạnh đến chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới, nó có thể làm tiêu tan những thành quả công cuộc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Dịch HIV/AIDS đã và đang là thách thức lớn cho việc thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ đầu tiên về xóa đói giảm nghèo của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hầu hết Chính phủ các nước đều ý thức được đầy đủ về tác hại của đại dịch HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã có phiên họp đặc biệt, đề ra chiến lược phòng chống HIV/AIDS trên phạm vi toàn cầu, kêu gọi Chính phủ các quốc gia cùng nhau cam kết và hợp tác để chống lại đại dịch HIV/AIDS [4].

Đại dịch HIV làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân (GDP), điển hình là các nước nghèo ở châu Phi; như GDP/đầu người năm 1999 của Zambia giảm 20% so với năm 1980 (370 USD so với 505 USD) [7]. Đại dịch HIV/AIDS làm giảm thu nhập của người dân dẫn tới bần cùng hóa một bộ phận dân cư, làm gia tăng sự phân hóa dàu nghèo trong xã hội; Tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc đầu tư cho các vấn đề xã hội. Đại dịch HIV/AIDS có thể làm gia tăng tình trạng thất nghiệp, gia tăng các loại tội phạm hình sự như: Cướp bóc, trộm cắp và các loại tội phạm hình sự khác; Gây rối loạn trật tự trị an xã hội.

Đại dịch HIV/AIDS phát triển gắn liền với các tệ nạn xã hội như: Ma túy, mại dâm thông qua tiêm chích ma túy và các hoạt động tình dục không an toàn; đó là những tệ nạn xã hội có từ lâu và đang làm nhức nhối xã hội, cùng với các tệ nạn đó HIV/AIDS đang làm băng hoại đạo đức xã hội, làm suy mòn các giá trị truyền thống của mỗi dân tộc, làm suy mòn các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và các giá trị nhân đạo của cộng đồng và gia đình. HIV/AIDS còn gây nên tâm lý hoang mang, lo sợ, nghi kỵ trong cộng đồng. Đại dịch HIV/AIDS có thể tác động đến chính trị, làm thay đổi các kế hoạch phát triển của quốc gia; thông qua việc phải tăng đầu tư cho các vấn đề xã hội làm thay đổi các chính sách xã hội, tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước thông qua việc tăng đầu tư cho lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội ...

Đại dịch HIV/AIDS đã và đang làm gia tăng số trẻ em mồ côi, trẻ em không nơi nương tựa, làm gia tăng số trẻ em thất học, lang thang ... Nhà nước phải tăng đầu tư cho các lĩnh vực phòng bệnh và chăm sóc điều trị bệnh nhân, xây dựng mới các cơ sở Bảo trợ xã hội để tiếp đón trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em mồ côi do hậu quả của đại dịch HIV/AIDS sản sinh ra. Gia đình có người nhiễm HIV/AIDS cũng phải tăng các chi phí cho việc khám chữa bệnh, chăm sóc người bệnh từ đó càng làm cho kinh tế gia đình càng thêm khó khăn.

Đại dịch HIV/AIDS còn kéo theo sự phát triển của một số bệnh dịch khác như tạo điều kiện để bệnh Lao phát triển, làm tăng nguy cơ vi khuẩn Lao kháng thuốc, làm gia tăng các bệnh lây truyền qua đường tình dục [7].

Đại dịch HIV/AIDS làm giảm dân số, suy thoái nòi giống. Hầu hết bệnh nhân mắc HIV đều ở lứa tuổi trẻ, đây là độ tuổi lao động, đóng góp chủ yếu cho sản xuất xã hội do đó làm giảm thu nhập quốc dân. ở một số quốc gia đại dịch HIV/AIDS làm suy giảm giống nòi như ở một số nước châu Phi (Botswana, SwaziLand, Nam Phi, Zambia, Zimbabwe), tuổi thọ trung bình của người dân đã đạt từ 50 đến 65 vào năm 1980 - 1985, nhưng do HIV/AIDS tuổi thọ trung bình của các nước này chỉ còn khoảng 30 - 40 tuổi vào năm 2010. Tại Zimbabwe tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS trong dân cư là 25% đến năm 2000 đã mất đi 5 - 10 % lực lượng lao động xã hội [7].



1.2. Đặc điểm của dịch HIV/AIDS

1.2.1. Các phương thức lây truyền HIV: Có 3 phương thức lây truyền HIV.

1.2.1.1. Lây truyền theo đường tình dục

Đây là phương thức quan trọng và phổ biến. Tần xuất lây nhiễm HIV qua một lần giao hợp với một người nhiễm HIV là 0,1%- 1%. Trong khi giao hợp sẽ tạo ra rất nhiều vết sước nhỏ, HIV có nhiều trong tinh dịch và dịch âm đạo sẽ thông qua các vết sước này xâm nhập vào cơ thể. Những người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục có viêm loét như giang mai, lậu, hạ cam... có nguy cơ cao gấp hàng chục lần so với người khác. Nguy cơ lây nhiễm HIV có mối quan hệ chặt chẽ với bệnh lây truyền qua đường tình dục, những bệnh lây truyền qua đường tình dục làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV.



1.2.1.2. Lây truyền qua đường máu

HIV lây truyền qua đường máu do truyền máu không sàng lọc HIV, sử dụng dụng cụ xuyên chích qua da không được khử khuẩn như dùng chung bơm kim tiêm, kim săm và các vật sắc nhọn khác; người tiêm chích ma túy sử dụng chung bơm kim tiêm không được tiệt trùng cẩn thận; lây truyền HIV qua việc cấy ghép các phủ tạng đã bị nhiễm HIV, nhận tinh dịch bị nhiễm HIV. Lây truyền HIV còn có thể sảy ra trong các cơ sở y tế (do tiệt trùng dụng cụ không đảm bảo, tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch sinh học của người nhiễm HIV, hoặc bị kim tiêm đâm qua da, dao kéo cứa phải tay...) do tai nạn rủi do nghề nghiệp...vv



1.2.1.3. HIV lây truyền từ mẹ sang con

HIV lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, trong quá trình sinh con và cho con bú, khả năng người phụ nữ bị nhiễm HIV có thể truyền HIV cho con là 20% - 30%.

Sự kém hiểu biết về HIV/AIDS, tác hại của ma tuý, an toàn tình dục; yếu tố về kinh tế như nghèo đói, không đủ nguồn lực để đương đầu với AIDS, mặt tiêu cực của kinh tế thị trường; yếu tố về chính trị như thái độ của xã hội, luật pháp với các nhóm nguy cơ cao (NCMT, bán dâm...); thái độ đối với giáo dục tình dục, với tình trạng của người phụ nữ trong xã hội, sự chấp nhận của xã hội với phương pháp xét nghiệm HIV dấu tên và việc cho phép cung cấp BCS, BKT, điều trị nghiện ma túy bằng các ma tuý thay thế là những yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV. Trong trại giam, tuy được quản lý chặt chẽ nhưng việc sử dụng ma tuý và tình dục không an toàn vẫn có thể xảy ra [12].

1.2.2. Tiến triển của quá trình nhiễm HIV

Quá trình nhiễm HIV thường tiến triển qua 3 giai đoạn:



1.2.2.1 Giai đoạn nhiễm HIV cấp tính

Khoảng 30% những người nhiễm HIV có thể có một số biểu hiện như sốt, mệt mỏi, sưng hạch, nổi mẩn đỏ ở da.... những biểu hiện này thường xuất hiện trong thời gian từ 1 đến 2 tuần đầu và rồi tự khỏi. Thời kỳ cấp tính kéo dài trong khoảng thời gian từ 1 - 3 tháng, thời kỳ này tìm kháng thể HIV trong máu không thấy được trừ khi trực tiếp tìm virus bằng kỹ thuật HIV- 1ARN PCR, hay tìm kháng nguyên P24. Kháng nguyên HIV P24 cũng xuất hiện sớm kể từ ngày thứ 14 sau khi nhiễm HIV. Kháng thể túyp IgM xuất hiện sớm từ ngày 15 đến 40 ngày rồi giảm, còn týp IgG xuất hiện muộn hơn từ 20- 50 ngày và tồn tại khá lâu, nói chung kháng thể hình thành trong máu 3- 8 tuần sau khi HIV xâm nhập vào cơ thể, nhưng trong một số trường hợp, thời kỳ không có đáp ứng kháng thể này có thể dài hơn, có thể đến 6 tháng. Người ta gọi đó là thời kỳ cửa sổ, là thời kỳ các xét nghiệm phát hiện kháng thể HIV không phát hiện được.



1.2.2.2. Giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng

Giai đoạn này người nhiễm HIV hoàn toàn khỏe mạnh không có bất kỳ một triệu chứng nào có liên quan tới HIV, thời kỳ này kháng thể xuất hiện và gọi chung HIV (+), chỉ có xét nghiệm HIV mới phát hiện được. Thời kỳ này kéo dài trung bình từ 5 -10 năm. Những người nhiễm HIV không triệu chứng cao gấp hàng trăm lần so với bệnh nhân AIDS mà ta không thể kiểm soát được. Những người này đóng vai trò rất quan trọng về mặt dịch tễ học, có thể lây truyền HIV sang cho người khác.



1.2.2.3. Giai đoạn có các triệu chứng lâm sàng (giai đoạn AIDS)

Giai đoạn AIDS thường bắt đầu xuất hiện các nhiễm trùng cơ hội hàng loạt như gầy mòn, ỉa chảy kéo dài, sốt kéo dài, viêm não do HIV, hạch to, viêm phổi, viêm da, viêm loét miệng, đau đầu... chứng tỏ hệ miễm dịch đã suy giảm hẳn. Xét nghiệm thấy tế bào CD4< 200, tử vong sau 1-3 năm. Thời gian từ lúc nhiễm HIV đến khi phát bệnh nhanh, chậm tùy thuộc loại HIV, tuổi cao hay thấp, thể chất, có hay không các bệnh nhiễm trùng khác kèm theo [23][ 32].



1.2.3. Các giai đoạn của dịch HIV/AIDS

Có thể phân thành 3 giai đoạn của dịch HIV/AIDS dựa trên 2 tiêu chí chính:

Thứ nhất: mức độ nhiễm HIV trong nhóm người bị có hành vi nguy cơ cao.

Thứ hai: sự lây nhiễm có lan tràn sang những nhóm người được coi là có nguy cơ thấp hơn hay không.



1.2.3.1. Giai đoạn sơ khai

Tỷ lệ nhiễm HIV dưới 5% trong tất cả các nhóm dân cư bị coi là có nguy cơ cao mà thông tin được thu thập đầy đủ.



1.2.3.2. Giai đoạn tập trung

Tỷ lệ hiện nhiễm vượt 5% trong một hoặc nhiều nhóm dân cư bị coi là có nguy cơ cao, nhưng tỷ lệ hiện nhiễm trong số phụ nữ đến khám ở các nhà hộ sinh khu vực đô thị vẫn ở mức dưới 5%.



1.2.3.3. Giai đoạn lan rộng

HIV đã lan truyền vượt ra ngoài nhóm dân cư bị coi là có nguy cơ cao hiện đã bị nhiễm bệnh nặng nề. Tỷ lệ hiện nhiễm trong số phụ nữ đến khám tại các nhà hộ sinh khu vực đô thị từ 5% trở lên.



1.3. Tình hình nhiễm HIV/AIDS

1.3.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới

Trong ba thập kỷ qua, hơn 60 triệu người đã bị nhiễm HIV/AIDS và ít nhất 25 triệu người đã chết do AIDS; Hiện tại trên toàn thế giới vẫn còn 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS, hàng năm có 2,5 ca nhiễm mới và 1,7 triệu người chết do AIDS.

Theo báo cáo tình hình dịch HIV/AIDS toàn cầu của UNAIDS, Số người nhiễm HIV còn sống năm 2008 là 33,2 triệu [30,6 – 36,1 triệu]. Trong đó người lớn 30,8 triệu. Phụ nữ 15,4 triệu. Trẻ em dưới 15 tuổi 2,5 triệu. Số ca mới nhiễm HIV trong năm 2008 là 2,5 triệu. Dịch HIV/AIDS trên toàn cầu đó chững lại về tỷ lệ phần trăm người nhiễm (tỷ lệ hiện nhiễm) [56] [61].

Đại dịch HIV vẫn là căn bệnh lây truyền nguy hiểm nhất đe dọa sức khỏe cộng đồng. Số nhiễm mới HIV toàn cầu dường như đã đạt đỉnh vào cuối những năm 1990, với 3 triệu ca nhiễm mới một năm ca nhiễm mới trong năm 2007. Số ca nhiễm mới giảm đi phản ánh xu hướng của dịch, cũng như kết quả của các chương trình dự phòng dẫn đến sự thay đổi hành vi trong cộng đồng [55] [58].

Vùng cận Sahara châu Phi tiếp tục là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch AIDS toàn cầu. Hơn hai phần ba (68%) người lớn và gần 90% trẻ em nhiễm HIV sống tại khu vực này, và hơn ba phần tư (76%) số ca tử vong vì AIDS trong năm 2007 xảy ra ở đây, chỉ riêng vùng Nam Phi đã chiếm gần một phần ba (32%) tổng số các ca nhiễm HIV mới và ca tử vong vì AIDS trên toàn cầu trong năm 2007 [58 ][18]. Hiện tại ước tính có 22,5 triệu người nhiễm HIV trong khu vực này trong năm 2007, so với 20,9 triệu năm 2001. HIV/AIDS là nguyên nhân chính gây tử vong tại cận Sahara châu Phi [58]. Bên cạnh xu hướng giảm số lượng ca nhiễm mới tại cận Sahara châu Phi trong giai đoạn 2001 – 2007, số lượng nhiễm HIV mới hàng năm cũng giảm tại khu vực Nam và Đông Nam á từ 450.000 năm 2001 xuống 340.000 trong năm 2007, và tại Đông Âu từ 230.000 vào năm 2001 xuống 150.000 năm 2007 [58].

Trong năm 2007, có 15,4 triệu phụ nữ nhiễm HIV, đã tăng thêm 1,6 triệu so với con số 13,8 triệu năm 2001. Tại Cận Sahara Châu Phi, gần 61% người lớn nhiễm HIV là phụ nữ, khu vực Ca-ri-bê con số này là 43% (so với 37% năm 2001). Tại Đông Âu và Trung á, ước tính phụ nữ chiếm 26% số người lớn nhiễm HIV trong năm 2007 (so với 23% năm 2001), trong khi tại Châu á tỷ lệ đó lên đến 29% năm 2007 (so với 26% năm 2001). Trẻ em (dưới 15 tuổi) sống với HIV, Số lượng trẻ em nhiễm HIV trên toàn cầu đã tăng từ 1,5 triệu năm 2001 lên 2,5 triệu vào năm 2007. Tuy nhiên số ca nhiễm mới ước tính trong trẻ em đã giảm khoảng 460.000 trường hợp. Gần 90% tổng số trẻ em nhiễm HIV đang sống tại khu vực cận Sahara châu Phi . Số ca tử vong do AIDS ở trẻ em đã tăng từ 330.000 năm 2001 lên 360.000 năm 2005 [58][54][18][53].

Miền Nam châu Phi chiếm 35% tổng số người đang sống với HIV và gần một phần ba (32%) tổng số các ca nhiễm HIV mới và tử vong vì AIDS trên toàn cầu trong năm 2007. Dịch tại hầu hết các nước trong tiểu vùng này hoặc đang tăng lên chậm hoặc đang tiến tới bình ổn [58]. Tại Zimbabwe, tỷ lệ hiện nhiễm ở phụ nữ có thai đã giảm mạnh trong những năm vừa qua, từ 26% năm 2002 xuống còn 18% năm 2006 [28]. Nam Phi là nước có số người nhiễm HIV cao nhất thế giới. với tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ có thai là 30% năm 2005 và 29% năm 2006 [24]. Tại Sierra Leone, tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ khám thai năm 2006 là 4,1% (3% năm 2003) số liệu gần đây nhất cho thấy dịch ở Sierra Leone có thể đang gia tăng [35].

Tình hình dịch HIV/AIDS ở Châu á: Trong năm 2007 ước tính trên toàn châu á có 4,9 triệu [3,7 – 6,7 triệu] người đang sống với HIV, trong đó có 440.000 người nhiễm mới. Ước tính 300.000 người đã tử vong vì các bệnh liên quan đến AIDS trong năm 2007 [58] [60] [61]. Tất cả các tỉnh của Trung Quốc đều công bố có các ca nhiễm HIV, song tập trung nhiều nhất tại các tỉnh Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Tân Cương và Vân Nam. 50% người bị nhiễm do dùng chung dụng cụ tiêm chích ma túy. tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới từ 1,5% tại Thượng Hải năm 2007 và 3,1% - 4,6% tại Bắc Kinh [22][36].

Khoảng 2,5 triệu [2 – 3,1 triệu] người tại ấn Độ đang sống với HIV trong năm 2007, với tỷ lệ hiện nhiễm HIV quốc gia là 0,36% [60] [33].

Tại Karachi-Pakistan, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy đã tăng từ dưới 1% vào đầu năm 2004 lên 26% vào năm 2005, ở Karachi gái mại dâm nhiễm HIV năm 2005 là 2% [37] [26].

In-đô-nê-xi-a là một trong những nước có dịch HIV tăng nhanh nhất châu á. Năm 2005, hơn 40% số người tiêm chích ma túy ở Jakarta có kết quả xét nghiệm HIV dương tính và khoảng 13% ở West Java [60] [61].

Tại Campuchia tỷ lệ nhiễm HIV đã giảm xuống còn 0,9% ở người lớn (15-49 tuổi) trong năm 2006, giảm mạnh từ đỉnh dịch 2% năm 1998 [43].

Số các ca nhiễm HIV mới hàng năm tại Thái Lan tiếp tục giảm. 43% các ca nhiễm mới trong năm 2005 là ở phụ nữ, phần lớn họ bị nhiễm HIV từ chồng hoặc bạn tình. Tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhóm

đồng tính nam (tại Bangkok từ 17% năm 2003 lên 28% năm 2005) [59] [60].

Dịch HIV tại Myanmar cũng đang có dấu hiệu giảm, với tỷ lệ nhiễm HIV trong phụ nữ có thai tại các cơ sở khám thai đã giảm từ 2,2% năm 2000 xuống 1,5% năm 2006 [60] [42].

Tổng số người nhiễm HIV tại Đông Âu và Trung á là 1,6 triệu năm 2007 [27] [29]. Dịch HIV tại Cộng hòa Liên bang Nga tiếp tục gia tăng. Trong năm 2006, theo báo cáo chính thức, có 39.000 ca nhiễm HIV mới tại nước này, nâng tổng số ca nhiễm HIV lên 370.000 [20] [27]. Tiêm chích ma túy vẫn là đường lây truyền HIV chính tại Liên bang Nga, trong năm 2006 có 66% do tiêm chích ma túy và khoảng 32% do quan hệ tình dục khác giới không an toàn [34] [51]. Tại Ukraine, số ca nhiễm HIV là 16.094 trong năm 2006 và vượt quá 8.700 trong sáu tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm TCMT từ 13% ở Kiev, và 89% ở Krivoi Rog [21] [27] [29] [40]. Dịch HIV tại Belarusia, tập trung chủ yếu tại nhóm tiêm chích ma túy, với tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao 31% tại Minsk [38]. Các ca nhiễm HIV mới ở Cộng hòa Moldova đã tăng lên hơn gấp đôi từ năm 2003, tới 621 trong năm 2006. Tại Kazakhstan, số ca nhiễm HIV mới đã tăng từ 699 năm 2004 lên 1.745 năm 2006 [19][39] [58].

Khu vực Caribe, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người trưởng thành năm 2007 là 1%. Có 17.000 ca nhiễm mới và 11.000 người tử vong vì AIDS trong năm 2007. Đường lây nhiễm HIV chính tại khu vực này là quan hệ tình dục,tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm gái mại dâm là 3,5% tại Cộng hòa Dominica, 9% tại Jamaica và 31% tại Guyana [31][48].

Tại Châu Mỹ La tinh, trong năm 2007 có 1,6 triệu người nhiễm HIV và tử vong do AIDS là 58 000 người [58]. Tình dục đồng giới nam không an toàn là nguyên nhân chính gây dịch tại Bolivia, Chi lê. Khoảng một phần ba số người nhiễm HIV tại Châu Mỹ La tinh hiện đang sống tại Brazil,có 620 000 người nhiễm HIV năm 2006 [58] [52] [25]. Tiêm chích ma túy là nguyên nhân gây ra khoảng 5% số ca nhiễm HIV mới tại thủ đô Buenos Aires của Argentina từ năm 2003 đến năm 2005 [44][58]. Tại Bolivia, Colombia, Ecuador các ca nhiễm HIV tiếp tục tập trung ở đồng tính nam. Tỷ lệ hiện nhiễm ở đồng tính nam ở Peru vẫn giữ nguyên ở mức 18% đến 22%. Tỷ lệ hiện nhiễm ở nhóm phụ nữ mại dâm tại Honduras (10%), Guatemala (4%) [58][48].

Tại khu vực Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu: Tổng số người nhiễm HIV đang tăng lên. ước tính trong năm 2007 có 2,1 triệu người tại Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu nhiễm HIV, có 78.000 người mới nhiễm trong năm 2007. Số người tử vong vì AIDS trong năm 2007 khá thấp, chỉ có 32.000 người [58][27].

Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất thế giới. Nam giới chiếm 74% tổng số người nhiễm HIV/AIDS, trong đó 53% là ở đồng giới nam, 18% ở nhóm tiêm chích ma túy [57][58]. Tổng số người nhiễm HIV tại Canada bắt đầu tăng lên vào cuối những năm 1990. Tình dục đồng giới nam không an toàn là nguyên nhân chính gây nhiễm HIV mới (45% năm 2005 so với 42% năm 2002) [49].

Tây Ban Nha, Italia, Pháp và Anh tiếp tục là các nước có dịch HIV lớn nhất Tây và Trung Âu. Số ca nhiễm HIV mới hàng năm tại Anh đã tăng từ 4.152 năm 2001 lên 8.925 năm 2006 [27] chủ yếu là ở các ca nhiễm qua đồng tính nam [30]. Tại Tây Âu (không tính Anh), số ca nhiễm HIV năm 2006 là 16.316 người. Những nước có số ca nhiễm nhiều nhất là Pháp (năm 2006 có 5.750 ca nhiễm HIV mới), Đức (2.718) và Bồ Đào Nha (2.162). Tiêm chích ma túy là đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất tại ba nước vùng Bal­tic (Estonia, Latvia, và Lithuania) [27][58]

Khu vực Trung Đông và Bắc Phi: Trong năm 2007 ở khu vực này đã có 35.000 người nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV ở đây lên đến 380.000. Ước tính có 25.000 người đã tử vong do AIDS trong năm 2007 [58].

Khu vực châu Đại Dương: Trong năm 2007, ước tính có 14.000 người nhiễm HIV tại Châu Đại dương, Tổng số người sống với HIV tại khu vực này lên 75.000 người. Hơn 70% số người này sống tại Papua New Guinea [58] [45]. Tại Australia, HIV tiếp tục lây truyền chủ yếu qua tình dục đồng giới nam. Trong khi những nỗ lực dự phòng phối hợp đã khống chế được dịch trong những năm 1990, số chẩn đoán HIV lại tăng lên 41% trong những năm 2001 – 2005 [41][50][46][47]. Tại New Zealand nguyên nhân chính lây nhiễm HIV bên trong lãnh thổ vẫn là tình dục đồng giới nam không an toàn [41].

1.3.2. Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng 12 năm 1990. Đến năm 1998, HIV/AIDS đã lan tràn trên phạm vi toàn quốc. Đến nay HIV đã có mặt ở 63/63 tỉnh, thành phố, 98% số huyện, 78% số xã của Việt Nam [3].

Đến ngày 30/6/2012, số trường hợp nhiễm HIV còn sống là 204.019 trường hợp; số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 58.569 người; có 61.856 trường hợp tử vong do AIDS. Trong đó, 10 tỉnh/thành phố có tỷ lệ người nhiễm HIV hiện đang còn sống cao nhất là Thành phố Hồ Chí Minh có 49.429 người, Hà Nội có 19.701 người, Hải Phòng 6.890 người, Sơn La 6.294 người, Nghệ An 5.182 người, Đồng Nai 5.139 người, Điện Biên 5.024 người, Thanh Hóa 4.908 người và An Giang 4.761 người.

Trong 6 tháng đầu năm 2012 ở Việt Nam, số trường hợp phát hiện nhiễm HIV mới là 5.927 trường hợp, Số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 2.118 bệnh nhân và số bệnh nhân tử vong do AIDS là 633 người.

So sánh số trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm HIV 6 tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ năm 2011, số trường hợp nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS và tử vong do AIDS tiếp tục giảm, HIV giảm 2.872 trường hợp, số bệnh nhân AIDS giảm 1.589 trường hợp, số người tử vong do AIDS giảm 596 trường hợp.

Phân bố người nhiễm HIV theo giới tính: Người nhiễm HIV tập trung nhiều nhất vẫn là ở nam giới chiếm 68,6% và nữ giới là 31,4%.

Phân bố người nhiễm theo độ tuổi: Phần lớn trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam nằm trong độ tuổi trẻ từ 20-39 tuổi chiếm 81,8%, trong đó số người nhiễm HIV từ 20-29 tuổi chiếm 38,5%; từ 30-39 chiếm 43,3%. Tỷ lệ nhiễm ở độ tuổi từ 40-49 tuổi chiếm 11,1% và trên 50 tuổi chiếm 3,0%. Nhiễm HIV ở lứa tuổi vị thành niên từ 14-19 tuổi chiếm 3,9%, các trường hợp nhiễm ở trẻ em dưới 13 tuổi chiếm 2,5%.

Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo đường lây truyền: trong số người nhiễm HIV được báo cáo trong 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy: lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 45,5%), tỷ lệ này tăng hơn 3% so với cùng kỳ năm 2011, tiếp đến là tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền qua đường máu chiếm 41,6% giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2011, tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,4%, có 10,6% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền.

Phân tích người nhiễm HIV theo nhóm đối tượng: Người nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu là người nghiện chích ma tuý chiếm 37,3% giảm xuống 3,3% so với cùng kỳ với năm 2011. Tình dục khác giới chiếm 24,4% tăng 1,9% so với cả năm 2011; bệnh nhân Lao là 4,3%; bệnh nhân nghi AIDS là 0,9%; gái mại dâm là 0,6% và bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục là 0,3%.

Dịch HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2012 ghi nhận số trường hợp báo cáo mới phát hiện giảm so với cùng kỳ năm 2011. Hình thái dịch HIV lây truyền qua đường tình dục lần đầu tiên ghi nhận cao hơn lây truyền qua đường máu. Bên cạnh đó tỷ lệ người nhiễm HIV mới phát hiện trong nhóm tuổi 30-39 ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Cảnh báo nguy cơ làm lây truyền HIV do lây truyền qua đường tình dục sẽ là nguyên nhân chính làm lây truyền HIV ở Việt Nam trong những năm tiếp theo và khả năng khống chế lây nhiễm HIV qua đường tình dục sẽ khó khăn hơn nhiều lần so với khống chế lây truyền qua đường tiêm chích qua nhóm nghiện chích ma túy.

Dịch HIV/AIDS ở mức cao khó kiểm soát ở phần lớn các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa. Riêng hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh diễn biến dịch phức tạp, khó kiểm soát [3].

1.3.3. Tình hình HIV/AIDS tại tỉnh Điện Biên

Tính đến tháng 9/2012, luỹ tích các trường hợp nhiễm HIV là 6.574 người; số bệnh nhân AIDS là 3.483, số người tử vong do AIDS là 2.162. Trong 9 tháng đầu năm 2012 phát hiện thêm 628 trường hợp nhiễm HIV mới, hiện còn sống quản lý được là 3.825 người, số mất dấu là 509 người. Hiện nay 9/9 số quận/huyện và 91/112 xã, phường trong tỉnh có người nhiễm HIV/AIDS. Tỷ lệ người nhiễm HIV còn sống trên dân số là: 0,75%.

Lây qua đường máu chiếm 79,29%; đường tình dục 17.84%; Mẹ truyền sang con 2,67%. Qua số liệu trên tỷ lệ lây qua đường máu vẫn là nguyên nhân chủ yếu làm lây nhiễm HIV.

Lây nhiễm HIV theo nhóm tuổi: 0-15 tuổi chiếm 2.67%; từ 16-20 tuổi 4,58%; từ 21-39 tuổi 80.53%; từ 40- 49 tuổi 10,21%; từ 50 tuổi trở lên 2,01%. Nhiễm HIV ngày càng trẻ hóa độ tuổi từ 21-39 tuổi chiếm cao nhất 80,53%.

Nhiễm HIV theo giới tính: Nam chiếm 84.54%; Nữ chiếm 15.46%.

Nhiễm HIV trong nhóm NCMT qua giám sát trọng điểm cao nhất vào các năm 2003, 2004 với tỷ lệ 49,2% và 50%; tỷ lệ này còn rất cao 18,3% năm 2012. Tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm thanh niên khám tuyển NVQS có dấu hiệu dịch chững lại, không cao như năm 2006. Năm 2012 là 0,9%. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân STI năm 2008 là 10,26%; năm 2012 là 1,3%. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm GMD qua giám sát trọng điểm từ năm 2003-2007 luôn thấp hơn so với chỉ số Quốc gia; song tỷ lệ này tăng lên rất cao 20% trong năm 2009. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai nông thôn năm 2008 là 2,25%, cao hơn chỉ số Quốc gia 9,7 lần; tỷ lệ năm 2012 là 0,8%.



Bảng 1.1. Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS ở các xã biên giới Việt- Lào


TT

Tên huyện/xã

HIV

AIDS

Tử vong

Quản lý

Phát hiện mới

Tích

lũy

Phát hiện mới

Tích lũy

AIDS Còn sống

Phát hiện mới

Tích

lũy

Quản lý được

Số mất dấu

I

Huyện Điện Biên

1

Thanh Luông

1

207

2

97

32

2

65

106

36

2

Thanh Hưng




224




102

36




66

134

24

3

Thanh Nưa

5

114




50

31




19

87

8

4

Thanh Chăn

6

164

1

75

24

1

51

104

9

5

Mường Pồn

6

100




34

18




16

81

3

6

Mường Nhà

1

54




22

10




12

42

0

7

Mường Lói




9




3

2




1

7

1

8

Na Ư




8




2

2




0

8

0

9

Pa Thơm




4




1

0




1

3

0

II

Huyện Mường Chà

1

Si Pa Phìn




8




2

2




0

8

0

2

Mường Mươn

1

62

2

26

16




10

52

0

3

Na Sang

2

34

2

13

11




2

32

0

4

Phìn Hồ




0




0

0




0

0

0

5

Chà Nưa




9




3

2




1

8

0

6

Ma Thì Hồ




0




0

0




0

0

0


1.4. NGHIỆN MA TÚY VÀ LÂY NHIỄM HIV

1.4.1. Nghiện ma tuý và nhiễm HIV/AIDS

1.4.1.1. Khái niệm ma tuý

Ngày nay nghiện ma tuý đã trở thành hiểm họa toàn cầu. Cuộc đấu tranh phòng chống và kiểm soát ma tuý để bảo vệ sự hưng thịnh của chế độ xã hội, sự phát triển sức khoẻ, trí tuệ, tinh thần và văn hoá của các thế hệ tương lai đang là vấn đề bức xúc của nhiều nước trên thế giới.

Ma tuý là chất gây nghiện, gây trạng thái say, hư ảo, mê mẩn, lâng lâng ma quái. Theo các chuyên gia nghiên cứu ma tuý của Liên hiệp quốc thì: "Ma tuý là các chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi xâm nhập cơ thể người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, buộc con người lệ thuộc vào chúng, gây tổn thương cho cá nhân và cộng đồng" [13].

1.4.1.2. Khái niệm nghiện ma tuý

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm nghiện ma tuý đầy đủ, thống nhất.

- Về mặt hành vi: nghiện ma tuý nghĩa là ham thích sử dụng một hoặc nhiều chất đến mức thành thói quen, tệ nạn, không bỏ được [13].

- Về mặt sinh học: nghiện ma tuý là một trạng thái nhiễm độc hệ thần kinh và toàn bộ cơ thể có tính chu kỳ, mạn tính, dễ tái phát do sử dụng lặp lại nhiều lần một chất ma tuý tự nhiên hay tổng hợp (thực chất là tình trạng lệ thuộc thuốc).

- Về mặt xã hội: nghiện ma tuý là một bệnh [13].

Nghiện ma tuý là một trạng thái lệ thuộc của cơ thể người vào một (hay nhiều) loại ma tuý, khi sử dụng lâu dài thành thói quen, gây nên trạng thái "đói" ma tuý trường diễn theo từng thời kỳ và những rối loạn cả về thể chất và tinh thần, gây hại cho cá nhân người nghiện và xã hội [13].



1.4.1.3. Tình hình ma tuý thế giới và ở Việt Nam.

Năm 2008, tình hình tệ nạn ma túy trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Theo thống kê của UNODC hiện nay có khoảng gần 180 triệu người sử dụng cần sa (chiếm khoảng 4% dân số thế giới từ 15 - 64 tuổi) [14].

- Sản xuất ma tuý trên thế giới : Năm 2007, tổng diện tích trồng cây thuốc phiện tăng lên đạt 235.700 hecta, tăng 17% so với năm 2006. Riêng Afghanistan đã chiếm tới 82% tổng diện tích trồng cây thuốc phiện trên toàn thế giới. Sản lượng thuốc phiện đã tăng gấp đôi từ năm 2005 đến 2007, đạt kỷ lục 8.870 tấn năm 2007.

Năm 2007, sản lượng cây cần sa thế giới là 41.400 tấn. Sản lượng ma tuý tổng hợp (ATS) năm 2007 là 494 tấn. Sản lượng Ectasy giảm (113 tấn năm 2005 so với 103 tấn năm 2006), lượng Methamphetamine cũng giảm (278 tấn năm 2005 so với 267 tấn năm 2006). Sản lượng Amphetamine trên thế giới là 126 tấn năm 2006. Trên thế giới tỉ lệ người sử dụng Amphetammine khoảng 0,6% và của Ectasy là 0,2% [14].

- Xu hướng về buôn bán ma tuý: Năm 2005, số lượng cây cần sa thu giữ tăng tới 12% so với năm 2004 đạt 5.200 tấn. Năm 2006, lượng thu giữ thuốc phiện và Morphine tăng lần lượt 10% và 31% do sản lượng tăng ở Afghanistan. Số lượng Amphetamine, Methamphetamin và Ectasy thu giữ giảm từ 8% đến 15% từ 2005 đến 2006.

- Sử dụng ma tuý trên Thế giới: Trong 4 năm liền, tỷ lệ người sử dụng ma tuý trong độ tuổi 15 - 64 trên thế giới trong khoảng từ 4,7 đến 5,0% dân số thế giới. Tỷ lệ toàn cầu trong thời gian 2006 - 2007 so với 2005 - 2006 như sau: Cần sa từ 3,8% lên 3,9%, cocain từ 0,34% lên 0,37%, chất chứa thuốc phiện từ 0,37 lên 0,39%, heroin từ 0,27% lên 0,28% và Amphetamine giảm từ 0,6% xuống 0,58%. Theo ước tính của UNODC, sản lượng các chất kích thích dạng Amphetamin (ATS) trên thế giới năm 2006 vào khoảng 494 tấn. Theo thống kê, Methamphetamine chiếm tới 68% nhóm Amphetamine năm 2006. Số lượng các cơ sở điều chế ATS phát hiện được trên thế giới là 18.639 cơ sở năm 2004 và sau đó giảm xuống còn 8.245 phòng điều chế năm 2006. Năm 2006, bắt giữ ATS lại tăng, đạt tới 47,6 tấn. Năm 2006 có 24,7 triệu người trên thế giới (chiếm 0,6% dân số độ tuổi 15-64) sử dụng Amphetamine. Theo UNODC, trên thế giới có khoảng 9 triệu người (0,2%) dùng Ectasy [14]. India là một trong những nước xuất khẩu lớn nhất Ephedrine và Pseudoephedrine.

Thuốc giảm đau, lượng thu giữ Methaqualone toàn cầu là 5,3 tấn năm 2006. Năm 2007, Trung Quốc thu giữ một lượng lớn Benzodiazepines, 402 kg, hơn 400.000 viên. Tuy nhiên, trong năm 2007 số lượng thu giữ Benzodiazepines giảm còn 1l 000 viên. Năm 2006, Australia và New Zealand thu giữ một lượng lớn Hydroxybutanoic acid (GHB), chiếm 90% lượng thu giữ toàn cầu và tất cả lượng GHB thu giữ được ở khu vực châu á Thái Bình Dương. Số lượng này là 202 lít ở New Zealand và 141 lít ở Australia [14].

- Tình hình tệ nạn ma túy ở Việt Nam:

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, đến cuối tháng 6/2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma túy, người nghiện ma túy có ở 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước [2].

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, tính tới cuối tháng 6/2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma túy. So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng 6.000 người nghiện mỗi năm. Người nghiện ma túy đã có 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước [2].

Cơ cấu người nghiện ma túy theo vùng miền cũng đã có những thay đổi đáng kể. Giữa những năm 90 của thế kỷ trước, nghiện ma túy chủ yếu phổ biến ở người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm 2000 đã tăng mạnh xuống vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Đông Nam bộ. Năm 1994 có tới hơn 61% người nghiện ma túy ở Việt Nam thuộc khu vực các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc thì tới năm 2009 tỷ lệ này là gần 30%. Ngược lại, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong tổng số người nghiện ma túy của cả nước đã tăng từ 18,2% lên 31% trong cùng kỳ. Tương tự, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc các tỉnh miền Đông Nam bộ đã tăng từ 10,2% lên 23% [2].

Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa. Cuối năm 2010, gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 trong khi năm 1995 tỷ lệ này chỉ khoảng 42%. Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới. Tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng trong những năm qua.

Theo số liệu khảo sát cuối năm 2009, đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, khoảng 10% không biết chữ, 59% có trình độ văn hóa từ tiểu học tới trung học cơ sở. Có khoảng 2/3 số người nghiện chưa từng được đào tạo nghề; gần 20% đã được học nghề nhưng không được cấp bằng, chứng chỉ; khoảng 12% được đào tạo nghề một cách chính quy, được cấp bằng, chứng chỉ tốt nghiệp. Đa số người nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn định, chi tiêu chủ yếu từ nguồn hỗ trợ của gia đình, thu nhập hợp pháp chỉ bằng 1/3 số tiền chi cho ma túy.

Loại ma túy được sử dụng và hình thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi phức tạp. Thay cho vai trò của thuốc phiện trong hơn 10 năm trước đây, heroin hiện là loại ma túy được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam, có tới 96,5% người nghiện thường xuyên sử dụng heroin trước khi tham gia cai nghiên. Mặc dù tỷ lệ người nghiện thuốc phiện và các chất kích thích dạng Amphetamine (ATS hay ma túy tổng hợp) tương đương nhau, khoảng 1,2% - 1,4% nhưng theo đánh giá của Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy của Liên hợp quốc, việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methamphetamine, đang có xu hướng gia tăng trong người nghiện ma túy tại Việt Nam, nhất là khi Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chiếm 1/2 số người lạm dụng loại ma túy này trên toàn thế giới. Việc gia tăng lạm dụng các loại ma túy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho nhóm người nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn.

Cách thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi. Nếu như năm 1995 chỉ có chưa đến 8% số người nghiện tiêm chích ma túy và hơn 88% chủ yếu hút, hít thì tới cuối năm 2009 số người chích ma túy chiếm hơn 3/4 tổng số người nghiện ma túy của cả nước. Hình thức sử dụng ma túy chủ yếu là tiêm chích với việc dùng chung bơm kim tiêm đã dẫn tới tỷ lệ lây nhiễm HIV cao trong nhóm người nghiện chích ma túy (17,2%). Theo số liệu từ Bộ Y tế, người nghiện chích ma túy cũng là nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người nhiễm HIV ở Việt Nam (41,1% tính đến cuối tháng 6/2011) [2].

Khoảng 50% số người nghiện đã gặp những vấn đề về sức khỏe tâm thần như lo lắng, trầm cảm, mất ngủ, ảo giác, căng thẳng thần kinh, trong đó 11,4% thường xuyên hoặc luôn luôn gặp những vấn đề như vậy. Hơn 1/3 số người nghiện ma túy gặp những khó khăn, mâu thuẫn trong quan hệ với người thân trong gia đình.

Ngoài ra, nghiện ma túy là nguồn gốc, nguyên nhân tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm xâm phạm trật tự xã hội như giết người, cướp của, trộm cắp, cố ý gây thương tích, bạo lực gia đình… Số liệu khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, có gần 38% số học viên được tiếp nhận và hỗ trợ cai nghiện tại các Trung tâm đã có tiền án hoặc tiền sự. Theo số liệu từ Bộ Công an, khoảng 11% trong tổng số 143.196 người nghiện có hồ sơ quản lý của cả nước cuối năm 2010 đang được quản lý tại các Trại giam, Cơ sở Giáo dưỡng, Trường giáo dưỡng do Công an quản lý do có các hành vi vi phạm pháp luật hình sự.

Như vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma túy mới, hình thức sử dụng ma túy không an toàn làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV. Đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, chưa được đào tạo nghề và không có việc làm ổn định, thường gặp các vấn đề về sức khỏe, kinh tế khó khăn, nhiều người không được sự hỗ trợ của người thân, gia đình [2].

- Tình hình tệ nạn ma túy tại tỉnh Điện Biên:

Theo báo cáo điều tra người nghiện ma túy toàn tỉnh, của Sở lao động và Thương binh Xã hội tỉnh Điện Biên tháng 11/2011, toàn tỉnh Điện Biên có 6.298 người NCMT [16].



Đặc điểm người nghiện ma túy: Người nghiện ma tuý có ở hầu hết các dân tộc, ở các lứa tuổi, trình độ khác nhau (Trong đó, tuổi từ 12-18 chiếm 0,53%, tuổi từ 19-30 chiếm 24,06%, tuổi từ 31-50 chiếm 63,37%, tuổi trên 50 chiếm 12,03%; mù chữ chiếm 44,52%, đã tốt nghiệp tiểu học chiếm 33,25%, đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở chiếm 17,53%, đã tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 3,56%, đang học trung cấp chuyên nghiệp chiếm 0,32%, đã tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp chiếm 0,79%; không có việc làm chiếm 22,75%, có việc làm không thường xuyên chiếm 60,18%, có việc làm thường xuyên chiếm 17,06%; dân tộc thái chiếm 32,8%, dân tộc Mông chiếm 37,3%, dân tộc kinh chiếm 18,4%; người nghiện ma túy thuộc gia đình chính sách ưu đãi chiếm 2,4%, thuộc gia đình nông dân chiếm 78,14%; nghiện thuốc phiện 56,56%, Heroin 42,2%, ma túy tổng hợp chiếm 0,98%, tân dược gây nghiện chiếm 0,29%; tỷ lệ hút chiếm 56,8%, tỷ lệ hít chiếm 15,9%, tỷ lệ chích 26,9%, nuốt chiếm 0,3%; thời gian nghiện ma túy lâu năm trên 3 năm chiếm 85%, từ 1-3 năm chiếm 13,4%, dưới 1 năm chiếm 1,6%. Nguyên nhân nghiện chủ yếu do thiếu hiểu biết, ăn chơi, đua đòi chiếm 76,2% . Đã được cai nghiện nhiều lần 1-4 lần chiếm 59%, chưa đi cai nghiện lần nào chiếm 41%. Tỷ lệ tái nghiện sau cai từ 1-3 tháng là 39,4%, trên 3 tháng là 38,4%. Số người nghiện có tiền án chiếm 11,6%, tiền sự chiếm 12%; số lần sử dụng ma túy trong ngày từ 2-6 lần [16].

Các hành vi ở người NCMT tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng lây nhiễm HIV. Theo kết quả đề tài nghiên cứu cấp tỉnh do Sở Y tế thực hiện năm 2009 cho thấy: tỷ lệ sử dụng chung BKT 35,2%, trong đó thị xã Mường Lay là 47,1%, tiếp đến là Mường Ảng (10,6%), TP Điện Biên Phủ (7,8%), huyện Điện Biên (6,5%). tỷ lệ không làm sách BKT là 60,5%, có 65,2% người NCMT không bao giờ sử dụng BCS. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT rất cao, theo kết quả nghiên cứu IBBS năm 2009, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 50%. Ước tính tỉnh Điện Biên có khoảng 9.000 người NCMT, đây là nguồn lây nhiễm HIV rất lớn cho cộng đồng. Năm 2009, đã tổ chức cai nghiện cho 1400 người nghiện ma túy, tuy nhiên công tác cai nghiện và quản lý người nghiện sau cai hiệu quả thấp, tỷ lệ tái nghiện rất cao > 95%. Các chỉ số trên phản ánh những hành vi không an toàn trong tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục [16] .



1.4.1.4. Các nhóm nguy cơ cao nghiện ma tuý

Là những nhóm trong một quần thể dân số nghiên cứu có tính mẫn cảm (vulnerability) cao đối với nghiện ma tuý cùng các hậu quả của nó [8]. Các cuộc điều tra tại Việt Nam đã xác định được rằng: tuổi trẻ (nhất là thanh thiếu niên các vùng đô thị) có nguy cơ cao nghiện ma tuý, trong đó phân ra 2 nhóm lớn là nhóm được quản lý và nhóm chưa được quản lý (captive and noncaptive group) [5][9].

- Nhóm được quản lý: học sinh, sinh viên các trường phổ thông, đại học, dạy nghề; công nhân một số ngành nghề (lái xe đường dài, taxi...).

- Nhóm chưa được quản lý: tuổi trẻ thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp; trẻ em đường phố; gái bán dâm; học sinh, sinh viên bị đuổi học hoặc bỏ học; những người lao động tự do trong các đô thị, trên các khu đào vàng, đá quý, khai thác rừng bất hợp pháp...; một số nhóm dân cư các vùng trồng cây thuốc phiện [10][11].



1.5. NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM TĂNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS QUA KHU VỰC BIÊN GIỚI

Do có sự giao lưu của người dân qua khu vực biên giới Việt- Lào, thông qua các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa; thăm thân; tình trạng xâm canh làm nương rẫy và chăn nuôi đại gia súc; tình trạng qua biên giới để săn bắn hoặc khai thác gỗ, lâm sản… Nên có các yếu tố nguy cơ làm tăng lây nhiễm HIV giữa người dân hai nước, đó là:

Do trình độ học vấn của người dân còn thấp; ít được tiếp cận với các thông tin về HIV/AIDS; Nhận thức của người dân về HIV/AIDS còn hạn chế dẫn tới chủ quan trong việc phòng lây nhiễm HIV cho bản thân và người khác.

Tình trạng sử dụng ma túy: Dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma túy; dùng lại bơm kim tiêm đã qua sử dụng của người khác mà không được làm sạch đúng cách.

Quan hệ tình dục không an toàn: Quan hệ tình dục ngoài hôn nhân không dùng bao cao su với gái bán dâm, với người Việt Nam hoặc người Lào. Tập quán và kỹ năng quan hệ tình dục của người dân. Tại khu vực biên giới Việt - Lào có các ổ nhóm gái bán dâm là người Việt Nam hoạt động, thường xuyên di chuyển địa điểm hành nghề tại các thôn bản, gái bán dâm có kèm theo sử dụng ma túy, làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho khách hàng. Tình trạng săm trổ không an toàn.

*. Các điểm nóng trên địa bàn khu vực biên giới:

Theo kết quả nghiên cứu Nguy cơ lây nhiễm HIV tại biên giới Việt - Lào, thực trạng và giải phápcủa Viện chiến lược và chính sách Y tế, Bộ Y tế công bố năm 2012:

- Người bán dâm: Hầu hết người bán dâm đều là nữ, độ tuổi từ 25-30. Gái mại dâm (GMD) người Lào trẻ hơn so với người Việt. Trình độ học vấn của họ ở mức trung bình khá, hầu hết đều đang sống độc thân, hoặc ly thân, ly dị. Số đông đều không phải là người địa phương, sinh trưởng trong những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt (nghèo, mồ côi, bố mẹ li dị, thiếu sự chăm sóc đầy đủ, bị chồng hoặc bị người yêu lừa gạt, ruồng rẫy, bị cưỡng bức...) [17].

- Người tiêm chích ma túy: Phần đông người TCMT đều là nam giới, tuy nhiên số phụ nữ sử dụng ma túy có chiều hướng gia tăng ở một vài khu vực. Độ tuổi trung bình của nhóm TCMT phía Lào (16 – 37 tuổi) thấp hơn phía Việt Nam (19 – 62). Trình độ học vấn của họ đạt ở mức trung bình khá, nghề nghiệp chủ yếu là nghề nông, buôn bán nhỏ và lao động tự do... Phần lớn họ đều đã có gia đình và hiện đang sống cùng vợ con.

  - Lái xe đường dài: Hầu hết lái xe đường dài là nam giới tuổi từ 30 – 50, trình độ học vấn phổ biến là phổ thông trung học và tiểu học. Phần đông họ vận chuyển gỗ, hoa quả, hàng điện tử của Thái Lan; thu nhập tùy thuộc theo công việc đảm nhận (5-8 triệu đồng/tháng). Số đông lái xe đường dài đã có gia đình. Phần lớn họ đều có chung một số sở thích như: quan hệ tình dục, các dịch vụ giải trí thư giãn (karaoke, gội đầu thư giãn…), chơi bài…

- Các nhóm di biến động khác: Chủ yếu là nam giới làm công nhân xây dựng, công nhân, chủ thầu, làm thuê... trong độ tuổi từ 20 – 50, trình độ học vấn ở mức thấp. Người đã lập gia đình chiếm số đông song do điều kiện công việc họ thường xuyên phải sống xa vợ con và người thân. Thu nhập của nhóm này ổn định từ 4 - 5 triệu đồng/tháng. Điều kiện làm việc và sinh hoạt tại nơi heo hút khiến họ rất dễ bị lôi kéo vào các hành vi nguy cơ [17].

- Hành vi nguy cơ cao và khả năng tiếp cận với dịch vụ dự phòng và điều trị HIV:

Quan hệ tình dục của GBD: GMD người Việt có tuổi QHTD lần đầu thấp (từ 16 - 25 tuổi) nhưng GMD người Lào còn thấp hơn (từ 13 – 25 tuổi). Khách mua dâm rất đa dạng (người Việt, Lào, Campuchia, Thái, Trung Quốc...). Ngoài khách mua dâm, GMD còn có từ 1-3 bạn tình thường xuyên. Thâm niên hành nghề trung bình của GMD từ 1-5 năm. Hình thức QHTD chủ yếu của GMD là qua đường âm đạo. Bình quân GMD Lào tiếp từ 2-4 lần/tuần trong khi người Việt là 2 - 3 lần/ngày, thậm chí 7 - 8 lần/ngày. Hành vi an toàn tình dục (sử dụng bao cao su - BCS) của GMD còn thấp, nhất là với người yêu, bạn tình hoặc khách quen. Tuy nhiên với khách mua dâm thì tỷ lệ GMD sử dụng BCS trong QHTD lại cao (97% với GMD người Lào và 80% GMD người Việt). Mặc dù vậy, phần đông GMD chưa biết sử dụng BCS đúng cách, hiểu biết về đường lây truyền HIV và cách phòng ngừa cũng rất hạn chế [17].

Hành vi sử dụng ma tuý: Một số GMD và khách hàng đã sử dụng ma túy trước khi QHTD (uống Amphetamine hoặc hít/chích heroin). Thời gian đầu, GMD Lào thường uống ma túy tổng hợp trong khi GMD Việt thường hít hêrôin, sau đó họ chuyển sang chích. Sự cộng hưởng nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm này là rất cao.

- Nhóm TCMT:

Hành vi sử dụng ma tuý ở nhóm TCMT: (cả Lào và Việt Nam) đều bắt đầu sử dụng ma túy từ sau năm 1990, ở độ tuổi từ 16 - 39 tuổi (số đông từ 18 - 25 tuổi). Hình thức sử dụng ma túy phổ biến là hút sau đó chuyển sang chích. Địa điểm TCMT luôn thay đổi và khó xác định. Mỗi tụ điểm tiêm chích ở Lào thường tập trung từ 3 - 5 người có cả nam và nữ (nữ chủ yếu là GMD). Mức độ sử dụng thấp nhất là từ 1 - 2 lần/ngày, mỗi lần 50.000 đồng, trung bình từ 3 – 5 lần/ngày và cao nhất có thể lên đến 10 lần/ngày. Tất cả người TCMT được phỏng vấn đều đã từng dùng chung hoặc dùng lại BKT bẩn mà không qua công đoạn làm sạch.

Hành vi tình dục: Hầu hết số người sử dụng ma túy đều có tuổi QHTD thấp (dưới 20 tuổi). Bạn tình của họ thường là bạn học, người yêu hoặc GMD. Hành vi tình dục an toàn thường rất thấp: tất cả đều không dùng BCS khi quan hệ với vợ , rất ít sử dụng BCS khi quan hệ với GMD. Hiểu biết của họ về phòng ngừa lây nhiễm HIV tương đối đầy đủ song chỉ số hành vi an toàn trong nhóm họ hiện vẫn còn rất thấp. Khả năng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc điều trị HIV/AIDS còn nhiều hạn chế [17].

- Lái xe đường dài ở khu vực biên giới Việt - Lào không chỉ là nhóm thường xuyên có nhiều bạn tình, đặc biệt là GMD mà còn là nhóm có một số  thành viên sử dụng ma túy. Đây là sự cộng hưởng của các hành vi nguy cơ, tiềm ẩn các yếu tố làm gia tăng sự lây truyền HIV.

- Các nhóm di biến động khác có hành vi QHTD (đặc biệt là QHTD với GMD) tương tự như nhóm lái xe đường dài song tần suất ít hơn do tính chất công việc và mức độ di chuyển thiếu ổn định. Hành vi TCMT trong nhóm công nhân xây dựng và công nhân làm đường có tỷ lệ cao hơn so với nhóm lái xe qua biên giới. Sự cộng hưởng hành vi nguy cơ và các yếu tố tiềm ẩn làm lây nhiễm HIV trong nhóm này cũng rất đáng lưu ý.

- Địa bàn hoạt động trong QHTD và TCMT của các nhóm di biến động cũng rất đa dạng và phức tạp không chỉ tại Việt Nam, Lào mà còn cả các nước lân cận như Trung Quốc, Campuchia.

- Mạng lưới quan hệ xã hội và QHTD: Nhóm GMD quan hệ xã hội bó gọn trong cùng nhóm hoặc với những nhóm có liên quan trực tiếp (chủ chứa, chủ quán, bảo kê, khách hàng,...). Nhóm TCMT phần đông chỉ quan hệ với những người trong gia đình và bạn chích. Đáng lưu ý, quan hệ xã hội của lái xe đường dài và các nhóm di biến động khác rất đa dạng và phức tạp (bạn cùng sở thích, bạn hàng, chủ nhà hàng, khách sạn, chủ chứa, bảo kê, GMD...)

- Mạng lưới QHTD của các nhóm di biến động tại khu vực biên giới Việt – Lào thường có độ mở khá lớn trong QHTD; GMD và lái xe đường dài cùng một số nhóm di biến động khác có mạng lưới QHTD phức tạp hơn so với người TCMT.

- Mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm có nguy cơ: Có thể thấy nhóm GMD và nhóm lái xe đường dài là hai nhóm có mối quan hệ mật thiết và tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng sự lây nhiễm HIV [17].



*. Thực trạng kiểm soát lây truyền HIV qua biên giới Việt- Lào.

Tại khu vực đường biên phía Việt Nam, khả năng cung cấp các dịch vụ tư vấn, xét nghiệm và điều trị STDs, HIV/AIDS còn nhiều hạn chế. Hiện vẫn chưa có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương ở hai bên đường biên trong triển khai các hoạt động dự phòng cũng như phát hiện, chăm sóc và điều trị  HIV/AIDS.

Tại khu vực đường biên của Lào chưa có đủ khả năng cung cấp các dịch vụ khám điều trị STDs cũng như sàng lọc và xét nghiệm HIV. Đã có một số hoạt động can thiệp giảm tác hại trong nhóm mại dâm ở khu vực biên giới của Lào, song mới dừng lại ở các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi.
Các điểm nóng về tệ nạn xã hội đặc biệt là các cơ sở vui chơi giải trí trá hình đã xuất hiện ngày càng nhiều xung quanh khu vực hai bên đường biên.
GMD hành nghề tại khu vực biên giới Việt – Lào thường hành nghề ở nhiều vùng khác; tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm STDs và HIV[17].

Nguy cơ lây truyền HIV qua biên giới cao nhất là ở nhóm GMD (đặc biệt là mại dâm người Việt), lái xe đường dài, công nhân các công trình xây dựng. Người bản địa tại hai bên đường biên cũng là nhóm tiềm ẩn nguy cơ và cũng là nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV qua biên giới.

Khả năng tiếp cận với các thông tin về phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS của các nhóm di biến động tại khu vực biên giới Việt – Lào hiện còn hạn chế. Do vậy nhận thức của họ về các đường lây và biện pháp phòng nhiễm HIV còn rất mơ hồ. Nguy cơ mắc các bệnh STIs và STDs trong nhóm GMD nhất là mại dâm người Việt hành nghề ở Lào và mại dâm đường phố là rất cao trong khi điều kiện tiếp cận với dịch vụ khám và điều trị ở cả 2 bên đường biên. Khả năng tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS của các nhóm di biến động tại đường biên còn nhiều khó khăn. Hoạt động can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV hiện mới bước đầu được triển khai với quy mô nhỏ lẻ, với một vài nhóm đối tượng cụ thể [17].

Hiện chưa có sự phối hợp giữa hai nước trong kiểm soát, giám sát tình hình dịch cũng như triển khai các hoạt động dự phòng và chăm sóc điều trị HIV/AIDS.

Điện Biên là tỉnh duy nhất của cả nước có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc, có 03 cửa khẩu với nước bạn Lào đó là Tây Trang, Hổi Puốc, Hổi Lả là cửa ngõ thông thương quan trọng của vùng Tây Bắc. Hiện nay, Điện Biên là tỉnh trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS. Điện Biên là địa bàn phức tạp nằm trên huyết mạch trung chuyển ma túy từ Mi-an-ma qua Lào vào Việt Nam để chuyển tiếp đi nước khác; Tình hình buôn bán, vận chuyển và sử dụng ma túy rất phức tạp, khó kiểm soát. Các xã biên giới Việt –Lào là những xã có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi, giao thông đi lại rất khó khăn; người dân sinh sống ở các xã biên giới chủ yếu là đồng bào dân tộc, có trình độ văn hóa thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu; sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, làm nương rẫy, chăn nuôi đại gia súc, săn bắn và khai thác gỗ. Người dân ở dọc biên giới 02 nước Việt- Lào có mối quan hệ mật thiết, có quan hệ huyết thống, do đó có sự giao lưu mạnh giữa người dân hai nước; thông qua các hoạt động buôn bán, giao lưu trao đổi hàng hóa, thăm thân… Người dân đi qua biên giới theo các đường qua cửa khẩu, đường tiểu mạch, đi bộ qua rừng, đi thuyền. Thông qua các quan hệ xã hội, phát sinh các vấn đề làm gia tăng lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường quan hệ tình dục, như quan hệ tình dục không an toàn giữa người dân với người dân, giữa người dân với gái bán dâm; tình trạng sử dụng chung BKT khi TCMT. Các hoạt động phòng chống HIV ở khu vực biên giới Việt- Lào chưa được quan tâm; chưa có sự hợp tác giữa các cơ quan Y tế của tỉnh Điện Biên với 03 tỉnh bắc Lào về phòng chống HIV ở khu vực biên giới. Người dân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS. Những yếu tố trên làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV ở đồng bào dân tộc khu vực biên giới Việt – Lào thuộc tỉnh Điện Biên.



tải về 1.29 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương