Rose jewelry



tải về 1.86 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu27.11.2017
Kích1.86 Mb.
#3080
1   2   3   4   5   6   7

Quảng cáo. Là một phương thức phổ biến về truyền thông phi cá thể, sử dụng những phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, truyền thanh, bảng quảng cáo, tờ poster. Các thông điệp quảng cáo cần có 3 đặc điểm:


  • Giàu ý nghĩa: chỉ ra lợi ích làm cho sản phẩm được ưa chuộng hoặc có tính hấp dẫn đối với người tiêu dùng.

  • Đáng tin cậy: để những người tiêu dùng sẽ tin rằng sản phẩm hay dịch vụ sẽ tạo ra những lợi ích hứa hẹn.

  • Độc đáo: cho mọi người thấy sản phẩm tốt hơn các sản phẩm khác.

Khuyến mãi. Là những kích thích ngắn hạn nhằm khuyến khích việc tiêu thụ sản phẩm. Công cụ khuyến mãi gồm các hình thức như tặng quà, xổ số, trưng bày sản phẩm, quảng cáo hợp tác.

Marketing trực tiếp. Là hệ thống marketing tác động trực tiếp tới khách hàng, thường áp dụng các hình thức marketing trực tiếp như: gửi thư đến khách hàng, catalog, marketing trên mạng,…

Quan hệ công chúng. Quan hệ công chúng hấp dẫn nhờ vào các đặc điểm sau như sự tín nhiệm cao, không cần cảnh giác, giới thiệu cụ thể.

Bán hàng trực tiếp. Người bán hàng không chỉ truyền thông điệp đến khách hàng về lợi ích và tính ưu việt sản phẩm mà còn thu nhận phản hồi của khách hàng về sản phẩm.



Hình 3.4. Tầm Quan Trọng Tương Đối của Các Công Cụ Chiêu Thị Cổ Động.

Nguồn: Marketing Căn Bản - Trần Đình Lý - Khoa Kinh Tế - ĐH Nông Lâm TP.HCM



3.1.2. Lý thuyết về lập kế hoạch kinh doanh

a) Khái niệm về kế hoạch kinh doanh

Kế hoạch kinh doanh là sự mô tả quá trình kinh doanh của bạn trong một khoảng thời gian. Nó mô tả việc kinh doanh của bạn đã thành công tới đâu và tìm kiếm những triển vọng để phát triển và thành công trong tương lai. Kế hoạch kinh doanh của bạn sẽ mô tả mọi mặt trong công ty của bạn và sẽ là tài liệu quan trọng nhất mà các nhà đầu tư,các đối tác tài chính,các đối tác liên doanh sẽ đọc.

Không có phương pháp đúng hay sai nào trong việc soạn thảo ra một kế hoạch kinh doanh. Một kế hoạch tốt là một tài liệu có tính sáng tạo, phản ánh bản chất cuả một cơ sở và cho ta một bức tranh rõ ràng về việc cơ sở này đang đi tới đâu. Số lượng các chi tiết và cơ cấu phụ thuộc nhiều vào bản chất của cơ sở, các mục tiêu và mục đích và có thể quan trọng nhất là người nghe (nhà đầu tư các cán bộ quản lý của công ty, các đối tác kinh doanh,v.v…)

b) Các chức năng của kế hoạch kinh doanh

Có nhiều lý do để xây dựng một kế hoạch kinh doanh và điều quan trọng là phải hiểu được các mục tiêu để có thể đưa ra được một kế hoạch có hiệu quả cao nhất. dưới đây là một số lý do quan trọng nhất các nhà quản lý phải viết ra kế hoạch kinh doanh của họ:

Công cụ bán hàng: Trong trường hợp này kế hoạch là một bản đề cương nhằm thuyết phục các nhà đầu tư, người cho vay tiền hay một đối tác liên doanh rằng đang có những cơ hội kinh doanh đáng tin cậy và bạn hiểu rõ được việc kinh doanh của mình đủ tốt để tận dụng được cơ hội này.

Công cụ để suy nghĩ: với tư cách là một văn bản kế hoạch nội bộ nhằm giúp hiểu rõ hơn quá trình kinh doanh của bạn và giúp ra những quyết định tốt hơn. Kế hoạch này giúp bạn phân tích những mặt mạnh và yếu của công ty, định ra những mục tiêu cụ thể và đưa ra một kế hoạch hành động nhằm thực hiện những mục đích này

Công cụ để kiểm tra và quản lý: với tư cách là một văn bản nội bộ để giúp bạn quản lý công ty của bạn được tốt hơn. Kế hoạch này có thể được sử dụng để trao đổi, khuyến khích và dẫn dắt công ty của bạn cũng như các hoạt động cá nhân khác. Kế hoạch này cũng nhằm giúp các nhân viên liên hệ các mục tiêu của chính họ với các mục tiêu của công ty và theo dõi những tiến bộ trong công ty của bạn để có thể tiến hành những hiệu chỉnh cần thiết.

3.1.3. Lý thuyết về nghiên cứu thị trường

a) Khái niệm

Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập và xử lý dữ liệu thị trường để cung cấp thông tin hổ trợ cho các quá trình ra quyết định liên quan đến hoạt động Marketing. Mục đích của nghiên cứu thị trường là giảm rủi ro cho các quyết định Marketing bằng cách cung cấp thông tin thị trường cập nhật và đáng tin cậy trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng rõ ràng.
b) Vai trò của nghiên cứu thị trường

Giúp phát hiện những cơ hội Marketing, chẳng hạn như những nhu cầu chưa được thỏa mãn của khách hàng. Nghiên cứu thị trường cũng giúp phát hiện ra những đe dọa, chẳng hạn như phát hiện thị phần bị giảm sút và khách hàng không còn trung thành với thương hiệu. Các nhà quản lý Marketing sẽ dùng những thông tin mà NCTT cung cấp để ra các quyết định thích hợp, chẳng hạn như phát triển sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay xây dựng một chương trình truyền thông hiệu quả hơn. Đôi khi các nhà quản lý Marketing muốn thử nghiệm trước khi tiến hành một quyết định nào đó, NCTT sẽ giúp thực hiện các thử nghiệm này, chẳng hạn như thăm dò ý kiến của người tiêu dùng về một sản phẩm nào đó.

c) Các bước nghiên cứu thị trường

Hình 3.5. Quy Trình Nghiên Cứu Thị Trường

Nguồn: Business Edge



3.1.4. Định nghĩa sự thoả mãn khách hàng (Philip Kotler, 2003)

“Sự thoả mãn là mức độ của trạng thái cảm giác con người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó” (Kotler, 2003).

“Sự thoả mãn là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó với việc sau khi sử dụng sản phẩm” (Tse và Wilton, 1988).

“Sự thoả mãn là sự phản ứng của người tiêu dùng với việc được đáp ứng những mong muốn” (Oliver, 1997).

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về sự thoả mãn khách hàng, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu sự thoả mãn khách hàng chính là sự hài lòng của người tiêu dùng trong việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ do nó đáp ứng những mong muốn của họ, bao gồm cả mức độ đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mong muốn.

Yêu cầu ngầm định (đặc tính phải có): là yêu cầu mà khách hàng không cho ta biết nhưng họ cho là sản phẩm hay dịch vụ đơn nhiên phải có. Nếu không có khách hàng sẽ thất vọng ghê gớm, nhưng nếu tăng mức độ của nó khách hàng sẽ xem như đương nhiên, sự thoả mãn của họ hầu như chẳng thay đổi.

Yêu cầu có trao đổi trước (đặc tính một chiều): là yêu cầu khách hàng muốn có và ta đáp ứng được. Mức độ chất lượng của thuộc tính này càng cao, khách hàng càng hài lòng.

Yêu cầu chưa tiết lộ (đặc tính thích thú): là yêu cầu khách hàng chưa mong đợi hoặc chưa nghĩ tới mà thiếu nó khách hàng không phật ý, nhưng nếu có nó sẽ làm cho họ vô cùng thích thú và khuyến khích họ mua sản phẩm hoặc dịch vụ.



3.1.5. Mối quan hệ giữa sự thoả mãn khách hàng và chất lượng dịch vụ

Hình 3.6. Các Nhân Tố Tác Động Đến Sự Thoả Mãn Khách Hàng

Nguồn tin: Philip Kotler, 2003

Ba trụ cột cơ bản của thoả mãn khách hàng là yếu tố sản phẩm, yếu tố thuận tiện, yếu tố con người. Trong đó chất lượng dịch vụ là một nhân tố tác động đến sự thoả mãn khách hàng. Điều này cho thấy sự thoả mãn khách hàng có ý nghĩa bao hàm rộng hơn so với chất lượng dịch vụ.

3.1.6. Thương hiệu

Thương hiệu là tên hay một biểu tượng dùng để:

- Nhận biết và phân biệt với các sản phẩm khác trên thị trường

- Đại diện cho những nhận thức của khách hàng khi nghĩ về tên của sản phẩm hoặc công ty.

Thương hiệu là một khái niệm trừu tượng hiện diện trong tâm trí người tiêu dùng. Thương hiệu là tài sản vô hình, là phần linh hồn của doanh nghiệp.

Khi sản phẩm hay hình ảnh của công ty được người tiêu dùng nhận diện rộng khắp thì việc phân phối sản phẩm sẽ gặp thuận lợi rất nhiều. cho nên cùng với việc xây dựng hệ thống phân phối tốt cũng chú ý đến việc xây dựng thương hiệu



3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

- Tham khảo, nghiên cứu, tập hợp các thông tin, tài liệu có liên quan đến chế tác và buôn bán lẻ vàng, trang sức, đá quý trên báo, tạp chí, truyền hình và internet.

- Khảo sát thực tế hoạt động bán lẻ trang sức tại khu vực chợ Bến Thành, Q1, TP.HCM để nắm bắt hiện trạng thị trường của ngành và nhận biết hành vi, thói quen của khách đến mua trang sức tại khu vực này.

- Tiến hành điều tra phỏng vấn trực tiếp khách hàng đến mua sắm tại khu vực chợ Bến Thành, Q1, TP.HCM để nắm bắt thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng.

- Thực hiện phỏng vấn chuyên gia trong ngành, là những người có nhiều kinh nghiêm thực tế, có tầm nhìn bao quát có thể cho những nhận định khá chính xác về thị trường và đưa ra những dự báo, xu hướng trong tương lai.

3.2.2. Phương pháp xử lý số liệu

Bước 1: Sàng lọc câu trả lời

Những phiếu trả lời mà hầu hết những câu hỏi quan trọng bị bỏ qua hoặc trả lời không nghiêm túc, hay trả lời chưa hết những thông tin trong phiếu trả lời đều được coi là không hợp lệ.

Tổng số phiếu điều tra là 104 phiếu, thu về được 104 phiếu, trong đó có 100 phiếu hợp lệ . Do điều tra với hình thức hỏi từng khách hàng nên đảm bảo không có sự chênh lệch giữa số phiếu phát ra và số phiếu thu vào, đồng thời người phỏng vấn sẽ tiến hành hướng dẫn và đánh chọn vào bảng câu hỏi nên trên 96% số phiếu là hợp lệ (vẫn đảm bảo được tính khách quan vì người phỏng vấn viên cam kết phản ánh đúng sự lựa chọn của người được phỏng vấn)

Bước 2: Mã hoá dữ liệu

Kết quả khảo sát trên 100 bảng câu hỏi được tổng hợp và xử lý, tính toán, so sánh và biểu hiện qua các bảng biểu với sự hỗ trợ của phần mềm Excel.



CHƯƠNG 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Dẫn nhập

Khi muốn bắt đầu việc kinh doanh thì bạn phải luôn đặt ra cho mình một loạt câu hỏi: Bán cái gì (what)? Bán cho ai (who)? Khi nào (when)? Ở đâu (where)? Tại sao (why)? Và bán thế nào (how)?

Với mục tiêu đề tài đã được xác định rất cụ thể ngay từ đầu: Xây dựng kế hoạch mở cửa hàng kinh doanh bán lẻ vàng, trang sức, đá quý ở khu vực chợ Bến Thành - Trung tâm Nữ trang Sài Gòn, Q1, Tp.HCM thông qua việc nghiên cứu đặc thù ngành nghề, đặc điểm thị trường và khảo sát thị hiếu khách hàng tại khu vực dự định kinh doanh. Đã trả lời khá đầy đủ cho 3W (when, where, why) trong mô hình 5W-H cho kế hoạch mở cửa hàng kinh doanh bán lẻ vàng, trang sức, đá quý .

Where: bạn quyết định việc kinh doanh của mình sẽ diễn ra ở đâu? Và câu trả lời là khu vực chợ Bến Thành - Trung tâm nữ trang Sài Gòn, Q1, Tp.HCM.

Why:


  • Tại sao tôi lại chọn kinh doanh bán lẻ vàng, trang sức, đá quý mà không phải là một ngành khác? Câu trả lời rất đơn giản tôi chọn hoạt động kinh doanh VBĐQ vì nhận thấy rằng đây là một ngành kinh doanh đầy triển vọng, khả năng mang lại lợi nhuận cao, thỏa mãn sự đam mê của bản thân về trang sức và đồng thời với hoạt động kinh doanh của mình tôi sẽ góp phần làm cho đất nước, con người Việt Nam ngày càng giàu đẹp.

  • Tại sao lại chọn khu vực chợ Bến Thành - Trung tâm Nữ trang Sài Gòn, Q1, Tp.HCM mà không phải là một nơi nào khác? Câu trả là không còn nơi nào có thể tốt hơn cho hoạt động kinh doanh VBĐQ ngoại trừ khu vực này, đây là Trung tâm Nữ trang của Sài Gòn và cũng chính là trung tâm nữ trang của cả nước.

When:

  • Thời gian hoạt động làm việc của cửa hàng ra sao? Thời gian mở cửa hoạt động của cửa hàng cũng như bao cửa hàng khác từ 7h30 đến 17h00

  • Khi nào bạn bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình? Khi có đủ điều kiện về vốn hoặc tìm được nhà đầu tư, đối tác kinh doanh và triển khai kế hoạch càng sớm càng tốt nếu không sẽ bỏ qua cơ hội tìm kiếm thị phần trước.

Với 3W (when, where, why) đã được giải đáp khá rõ ràng cụ thể nên không cần phân tích thêm nữa việc quan trọng bây giờ là phải đi vào phân tích 2W-H còn lại: Bán cái gì? Bán cho ai? Và bán như thế nào? Do đó phần nội dung của bản kế hoạch sẽ gồm 3 phần chính:

- Xác định khách hàng mục tiêu, hành vi khách hàng (who)

- Xác định chiến lược sản phẩm/dịch vụ (what)

- Công tác tổ chức, cách thức thực hiện (how)



4.2. Một số thuật ngữ sử dụng trong bài

4.2.1 Vàng

Vàng là một nguyên tố kim loại hiếm, có độ nóng chảy là 1.0640C và độ sôi là 28080C. Au là ký hiệu hoá học của vàng, là chữ viết tắt của vàng theo tiếng Lating, “aurum” với nghĩa chính xác là “Bình minh đỏ”. Trong suốt thời gian tồn tại vàng có một số đặc tính thực sự hữu ích đối với con người, trong đó đáng chú ý là đặc tính dẫn điện, dẫn nhiệt tốt, không chịu phản ứng của nước và oxi.Từ “Vàng” có nguồn gốc từ màu vàng (yellow) trong hệ ngôn ngữ Ấn – Âu, thể hiện một trong số các đặc tính vốn có của vàng là màu vàng.



4.2.2. Vàng trắng

Vàng trắng là hợp kim của vàng và các kim loại quý khác, trong đó vàng là thành phần chính. Vàng trắng có màu trắng ngà nên khi thành đồ trang sức sẽ được phủ lên bề mặt một lớp kim loại Rhodium - quý hơn vàng - nên có màu trắng sáng rực rỡ. Do vậy, vàng trắng dùng một thời gian thường bị ngả vàng. Để nữ trang vàng trắng luôn đẹp, tốt nhất khoảng 2 tháng khách hàng mang tới cửa hàng xi lại lớp Rhodium và kiểm tra lại các ổ hột.



4.2.3. Bạch kim

Bạch kim còn gọi là Platium là kim loại quý có giá trị cao gấp 1,7 - 2 lần so với vàng 99.99. Bạch kim có màu trắng, có độ bóng và sáng cao hơn vàng trắng. Bạch kim có tỷ trọng cao hơn vàng do đó nữ trang làm bằng bạch kim nặng hơn rất nhiều so với nữ trang vàng có cùng kiểu dáng và kích cở. Platium dùng để chế tác trang sức thường có độ tinh khiết là 95% (vàng trắng 18 carat, độ tinh khiết 75%) không bị mờ cũ bởi thời gian và năm tháng. Platium hiếm gấp 30 lần so với vàng.

Hiện nay, người tiêu dùng thường gọi vàng trắng là bạch kim do giá cao, vẻ đẹp cũng giống như vàng trắng. Platine có màu trắng tự nhiên, trong khi vàng trắng là vàng tự nhiên kết hợp cùng với một vài kim loại khác. Màu trắng của vàng trắng có được thường do một lớp mạ (xi) dầy bên ngoài của trang sức. Do vậy, vàng trắng có khi là màu trắng hoặc trắng đục. Tại thị trường Việt Nam rất hiếm có nữ trang làm bằng bạch kim.

4.2.4. Cách phân biệt Bạch kim và Vàng trắng

“Bạch kim” là từ hán việt, dịch ra tiếng Việt có nghĩa là "Vàng trắng" (Bạch là trắng, Kim là vàng). Về ngữ nghĩa thì không sai nhưng về hàng nữ trang thì đây là một nhầm lẫn nghiêm trọng vì cơ bản đây là hai chất liệu khác nhau.



-Platium người Việt quen gọi là "bạch kim" đây là một kim loại quý có giá trị cao hơn vàng, bởi vì trữ lượng của bạch kim rất ít, hàm lượng bạch kim trong mỏ khoáng thấp, phân bố phân tán, khó khai thác. Platium có ký hiệu hoá học là Pt, là nguyên tố kim loại đơn chất có màu trắng, độ nóng chảy 1.7680C khối lượng riêng 21,45g/cm khối. Bạch kim được người Nhật Bản ưa chuộng nhất.

-White gold là từ tiếng Anh, dịch ra tiếng Việt cũng là "vàng trắng". Đây là một hợp kim được pha trộn (theo nhiều công thức) cơ bản gồm vàng y(vàng 4 số 9) + bạc + pladium (hoặc nikel) + một số kim loại khác. Vì platium rất hiếm và mắc nên trên thế giới người ta đã dùng các kim loại có màu trắng như Paladium (Pd) hoặc Nikel (Ni) khi pha trộn với các kim loại khác sẽ tạo thành một hợp kim có màu vàng rất nhạt (gần như trắng). Tuy nhiên, vì muốn trắng hơn người ta phải xi mạ thêm bên ngoài một thứ kim loại khác (củng nằm trong nhóm platium) đó là Rhodium (Rd) để có màu sắc trắng sáng rất đẹp không thua gì platium mà giá thành thấp hơn nhiều.

Sử dụng nữ trang platium khi cũ chỉ cần đánh bóng là màu sắc sẽ trắng sáng trở lại. Còn nữ trang Vàng trắng (white gold) sau khi đánh bóng thì lớp xi mạ củ có thể mất đi vì vậy cần xi mạ lại lần 2 để được đẹp như mới mua, chi phí này không mắc lắm (giá hiện tại khoảng từ 6.000đ đến 9.000đ cho một chiếc nhẫn). Hiện nay giá vàng trắng (white gold) còn cao hơn so với vàng 18k vì các kim loại dùng để pha trộn như Pd giá cũng khá cao, dù tỉ lệ pha rất ít. Các nhà sản xuất nữ trang thường đóng dấu có chử cái "P" hoặc "Pt" cho nữ trang platium tức bạch kim và đóng chử cái "WG" cho nữ trang làm bằng vàng trắng (white gold). Ngoài ra còn có các loại vàng khác như Green gold ( vàng xanh) Yellow gold (vàng vàng) red gold... Những doanh nghiệp có uy tín luôn sẵn sàng giải thích rỏ ràng điểm này cho khách hàng khi mua chọn nữ trang.



4.2.5. Vàng 2 - 3 màu

  Là những dạng màu của vàng hợp kim (vàng tây). Vàng tây được pha chế từ vàng nguyên chất(24k) với hợp kim đa nguyên tố (kẽm, bạc, đồng, niken…) gọi tắt là “Hội”. Trong đó vàng là nguyên tố chính, chiếm 58,3% (14k) đến vàng 75% (18k). Để vàng tây có nhiều màu sắc, nhà chế tác đã chọn và chế Hội ở những công thức khác nhau, nấu chảy cùng với vàng nguyên chất ở nhiệt độ trên dưới 1.1000C sau khi kết tinh sẽ thu được vàng từ 1 màu, 2 màu đến 3 màu. Màu sắc của vàng phụ thuộc vào công thức pha Hội, nếu công thức có hàm lượng đồng lớn, vàng có ánh hồng; nhiều bạc và kẽm vàng có ánh cam; nếu bài Hội có nhiều Niken, Pladi, Platin…, vàng thu được có màu vàng trắng. 



4.2.6. Đá quý

Vỏ trái đất tạo nên từ các loại đá (crock), khoáng vật và khoáng sản và đá quý là một loại khoáng vật tự nhiên được tạo thành do các quá trình kiến tạo địa chất. Khi mới tìm thấy đá quý chủ yếu chỉ là dạng đá thô, hầu hết các loại đá quý được sử dụng cho đến ngày nay là phần trên cùng của vỏ trái đất. Con người đã tìm ra hơn 1000 loại đá quý nhưng chỉ có 25 loại đá quý phổ biến, chúng được con người sử dụng vào mục đích trang sức, trang trí hoặc mỹ nghệ. Để được coi là đá quý thì nó phải có các giá trị sau: Đẹp, Bền, Độ hiếm,Thị hiếu, Hoàn hảo, Gọn nhẹ, Chế tác. Thường thì 3 tiêu chí đẹp - bền - hiếm là tiêu chuẩn giá trị của đá quý được chiếm phần lớn.



4.2.7. Kara/ Cara

Vàng trang sức thường được gọi bằng thuật ngữ vàng “karat” (karatage–từ dùng tại Mỹ) hoặc “carat” (caratage–từ dùng tại Anh). Karat đo lường độ tinh khiết của vàng cho biết hàm lượng vàng chứa trong một hợp kim. Vàng 24 karat theo lý thuyết là 100% vàng hay được gọi là vàng ròng; vàng 1 karat chứa khoảng 4,17% vàng. Cứ tính theo tỷ lệ, một hợp kim được gọi là vàng 18 karat phải chứa 18/24x100=75% vàng. Trên thế giới, ngoài việc gọi vàng trang sức theo karat người ta còn gọi theo độ tinh chất vàng biểu thị bằng con số phần nghìn. Ví dụ: vàng 750 (nghĩa là 750 phần nghìn vàng hay 75,0% vàng) chính là vàng 18k, người Việt chúng ta thường gọi vàng theo tuổi: vàng 18k được gọi là vàng “bảy tuổi rưỡi”.

Thực tế, phải chấp nhận một sai số nhất định, và sai số đó là bao nhiêu lệ thuộc vào tập quán sử dụng hoặc quy định của cấp có thẩm quyền trong mỗi nước. Ở nước ta, vàng ròng theo tập quán phải là vàng bốn số 9 (999,9 phần nghìn vàng), sai số chỉ là -0,10/00; ở Trung Quốc, vàng ròng được định nghĩa là có tối thiểu 99,0% vàng, sai số -1,0%.

Bảng 4.1. Cách Xác Định Giá Trị Vàng theo Cara và Cách Xác Định Tuổi Vàng


Chỉ tiêu

Tỷ lệ vàng/hợp kim (%)

Tuổi vàng (theo cách gọi của người Việt Nam)

Lý thuyết

Thực tế

24k

100

95 - 99.99

Mười tuổi

18k

75

65 - 75

Bảy tuổi rưỡi

14k

58.33

45 - 58.33

Năm tuổi tám

12k

50

40 - 50

Năm tuổi









Nguồn: Điều tra tổng hợp

4.2.8. Đóng dấu tuổi vàng

Người mua trả tiền cho món hàng trang sức cần biết chính xác hàm lượng vàng chứa trong món hàng mình mua. Bởi vậy, các nhà sản xuất hoặc kinh doanh buộc phải công bố và đóng dấu xác nhận hàm lượng vàng cho món hàng trang sức. Hầu hết các nhà kim hoàn trên thế giới đều đóng dấu xác nhận hàm lượng vàng theo chỉ số karat (ví dụ: 24k, 18k, 14k…) hoặc theo chỉ số tinh chất vàng tính trên phần nghìn (ví dụ: 999, 750, 583…) trên món hàng trang sức họ sản xuất hoặc bán ra.



4.3. Mô tả hoạt động của doanh nghiệp

Rose Jewelry là một doanh nghiệp mới hoạt động trong ngành vàng, bạc, đá quý tại khu vực chợ Bến Thành ,Q1, TP.HCM. Hoạt động chính của doanh nghiệp là kinh doanh bán lẻ và chế tác trang sức với phương châm cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo nhất dựa trên sự chuẩn mực về giá cả cùng với đỉnh cao về chất lượng, mẫu mã, bên cạnh dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng và bảo hành sản phẩm ưu việt.

Khi đến với Rose Jewelry, quý vị sẽ tìm thấy tất cả các loại trang sức - vàng bạc - đá quý cao cấp với nhiều mẫu mã độc đáo, được chế tác trên nhiều chất liệu vàng: vàng 24K, 18K, vàng trắng, vàng màu, kim cương, ruby, saphia, ngọc trai và nhiều loại đá quý khác. Công ty hoạt động từ 7h30 đến 17h00 suốt 7 ngày trong tuần không chỉ thực hiện giao dịch buôn bán vàng trang sức – đá quý mà còn cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế cho khách hàng. Điểm đặc biệt của công ty là hình thức bán hàng “Face to Face”, với hình thức này thì mỗi khách hàng sẽ có cơ hội sở hữu cho mình những sản phẩm độc nhất. Những sản phẩm không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn mang giá trị tinh thần rất lớn nó giúp bạn khẳng định đẳng cấp của mình.

Với phương pháp kim hoàn cổ truyền, những ý tưởng sáng tạo độc đáo, các nghệ nhân nhiều kinh nghiệm, công ty hứa hẹn sẽ cho ra đời những sản phẩm trang sức đạt chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật cao, mẫu mã đẹp, đa dạng , nhiều chủng loại phù hợp với trào lưu, xu hướng thẩm mỹ hiện đại mới không thua kém trang sức nhập ngoại nhưng giá bán phù hợp và đáp ứng tối đa thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng. Ngoài ra công ty còn thường xuyên nhập khẩu nhiều mẫu mã trang sức đang thịnh hành của các nước tiên tiến như Ý, Pháp, Mỹ, Hàn Quốc…để khách hàng có nhiều lựa chọn hơn.

Công ty sẽ không ngừng phấn đấu để trở thành một trong những thương hiệu vàng nổi tiếng, uy tín và giành được nhiều tình cảm yêu mến của khách hàng trong thị trường vàng - trang sức cao cấp của cả nước.

4.4. Phân tích thị trường và các đối thủ cạnh tranh

4.4.1. Đánh giá thị trường

Kinh tế Việt Nam đang phát triển, người dân giàu hơn, thị trường nữ trang tại đây cũng đang phát triển với tốc độ cao và đang có rất nhiều cơ hội kinh doanh tại đây. Điểm hấp dẫn nhất của thị trường Việt Nam là có dân số đông và phần lớn là dân số trẻ, những người thích và dễ chấp nhận những mẫu mã hiện đại.

Khá nhiều doanh nghiệp nhận định rằng thị trường nữ trang Việt Nam thực sự hấp dẫn và đầy tiềm năng, nhất là trong những năm gần đây khi Việt Nam nổi lên là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất trên thế giới và thu hút rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến đây. Nằm trong xu thế phát triển đó, thị trường nữ trang của Việt Nam cũng đang là mục tiêu nhắm tới của khá nhiều công ty sản xuất kinh doanh nữ trang nước ngoài. Đó là lý do vì sao có đến 100 doanh nghiệp từ 15 nước và vùng lãnh thổ như Mỹ, Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia, Italy… tham gia giới thiệu sản phẩm tại hội chợ nữ trang quốc tế lần đầu tiên tại Việt Nam.  

Ngành nữ trang Việt Nam hiện nay vẫn còn non trẻ, chưa thật sự trưởng thành như công nghiệp nữ trang của Thái Lan, Singapore, kể cả Indonesia. Nữ trang Việt Nam hiện nay dường như vẫn chưa mở rộng cửa với những mẫu mã thiết kế mang phong cách hiện đại, mà chủ yếu vẫn là những mẫu mã mang tính chất truyền thống và những thế hệ trẻ thì thường không thích lắm những sản phẩm mang tính truyền thống số doanh nghiệp có những mẫu mã đẹp như PNJ, SJC tại Việt Nam rất ít. Nhìn chung những doanh nghiệp nữ trang Việt Nam chưa thực sự sáng tạo trong thiết kế mẫu mã.

Với mục đích là xác định độ mạnh của một số nhãn hiệu trang sức tôi đã sử dụng 2 câu hỏi với hình thức khác nhau để có thể đánh giá một cách khách quan về độ mạnh của các thương hiệu. Câu hỏi số 3 và 12 nhằm mục đích khảo sát khả năng nhận biết thương hiệu có và không có gợi nhớ của người tiêu dùng “Câu hỏi 3: anh/ chị thường mua sản phẩm của thương hiệu nào?” và “Câu hỏi 12: Anh /chị đã từng nghe đến những thương hiệu nào sao đây? Bảo Tín, PNJ, Cửu Long, Bảo Tín Minh Châu, SJC, Mi Hồng, Kim Hoàn Thanh Niên (YTJ),VBĐQ Bến Thành”.

Mặc dù thị trường trang sức Việt Nam rất có tiềm năng nhưng lại không có nhiều thương hiệu cho người tiêu dùng lựa chọn. Khi sử dụng câu hỏi đánh giá độ nhận biết thương hiệu không gợi nhớ thì SJC (27), PNJ (24) là 2 thương hiệu được người tiêu dùng nhắc đến nhiều nhất. Ngoài ra cũng có một loạt các thương hiệu được nhắc đến nhưng với tỷ lệ thấp hơn rất nhiều như Anphana (8), Kim Hoàn Thanh Niên (7), Bảo Tín (7), VBĐQ Bến Thành (6) Bảo Ngọc (5), Cửu Long (4), Mi Hồng (3) và các thương hiệu nhỏ lẻ khác.




tải về 1.86 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương