Rà soát quy hoạch phát triển kt-xh tỉnh đIỆn biêN ĐẾn năM 2020, TẦm nhìN 2030 Mục lục


V. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH KINH TÊ



tải về 1.57 Mb.
trang9/19
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích1.57 Mb.
#4144
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   19

V. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH KINH TÊ

1. Phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản


Về lâu dài sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn là ngành chính, có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của Điện Biên, đặc biệt là trong việc giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm tại chỗ; giữ ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn, nhất là ở khu vực biên giới; bảo vệ đầu nguồn các công trình thủy điện lớn của quốc gia, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh... Vì vậy, từ nay đến năm 2030 Điện Biên cần tập trung phát triển lâm nghiệp là ngành tỉnh có thế mạnh,theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, nhằm tạo ra khối lượng nông lâm sản lớn, ổn định, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn cung cấp cho thị trường ngoài tỉnh. Hướng phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh trong 10 - 15 năm tới là:

1.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển nông nghiệp


- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp từ phát triển nông nghiệp toàn diện sang phát triển nông nghiệp bền vững trên cơ sở phát triển các ngành nông nghiệp mà Tỉnh có thế mạnh gắn với công nghiệp chế biến, đồng thời kết hợp giữa cây trồng có chu kỳ kinh doanh ngắn hạn với cây trồng dài hạn có giá trị kinh tế cao.

- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất cây công nghiệp tập trung, cây lâm nghiệp tập trung và cây lương thực tập trung để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến đã xây dựng trên địa bàn Tỉnh, đồng thời ổn định diện tích sản xuất lương thực theo Nghị quyết của Quốc hội.

- Hình thành mối liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu với người chế biến và người lưu thông hàng hóa trên cơ sở giảm thiểu rủi ro và phân chia lợi ích kinh tế hợp lý.

- Tốc độ tăng trưởng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt bình quân khoảng 2,5-3,5%/năm trong giai đoạn 2016 – 2020, và 2-3% trong cả thời kỳ 2021-2030.


1.2. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển nông nghiệp

1.2.1. Phát triển nông nghiệp


Phát huy có hiệu quả tiềm năng đất đai, khí hậu và nguồn nhân lực trên địa bàn để phát triển sản xuất nông nghiệp ổn định ở mức cao. Tiếp tục chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đồng thời phù hợp với điều kiện tự nhiên - sinh thái của từng khu vực, tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái hiệu quả và bền vững. Phát triển mạnh kinh tế trang trại, đầu tư phát triển nhanh các vùng sản xuất tập trung cây lương thực, cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc để hình thành các sản phẩm chủ lực (gồm: gạo đặc sản, ngô, đậu tương, chè, cây ăn quả, ...), coi đây là khâu đột phá quan trọng để phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong thời gian tới.

Mở rộng các ngành nghề TTCN và dịch vụ ở nông thôn, giảm bớt số hộ nông dân thuần tuý, tăng số hộ nông dân kiêm ngành nghề TTCN và dịch vụ để tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống dân cư. Nâng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn lên 15% năm 2020 và trên 25% năm 2030.


(1). Về trồng trọt


a) - Đối với cây lương thực: Dự báo dân số của Điện Biên đến năm 2020 là 586,3 ngàn người, năm 2030 là 680 ngàn người. Với mức lương thực cho tiêu dùng trực tiếp bình quân 300 kg/người.năm thì nhu cầu lương thực của các đối tượng này năm 2020 khoảng 184 ngàn tấn và năm 2030 là 210 ngàn tấn; nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi ước tính khoảng 10 - 12%; lương thực dự trữ để bảo đảm an ninh lương thực khoảng 20% và sản lượng lương thực hàng hoá khoảng 14 - 15%. Như vậy tổng sản lượng lương thực của Điện Biên dự tính năm 2020 phải đạt khoảng 270 ngàn tấn và năm 2030 đạt khoảng 300 ngàn tấn.

* Cây lúa: Để đáp ứng nhu cầu trên, từ nay đến năm 2020 cần phát triển ổn định sản xuất lương thực trên cơ sở giữ ổn định đất lúa theo nghị quyết của Quốc hội (năm 2020 đạt 79.922 ha). Kết hợp đẩy mạnh thâm canh tăng vụ với mở rộng diện tích trồng lúa nước ở những nơi có khả năng nhằm bảo đảm an ninh lương thực trên từng khu vực, đồng thời tăng sản lượng lương thực hàng hóa. Đối với những vùng đã đảm bảo diện tích ruộng nước có khả năng tự túc lương thực thì vận động và hỗ trợ đồng bào chuyển diện tích lúa nương sang trồng cây công nghiệp, cây lâu năm...để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Đối với các vùng có điều kiện canh tác thuận lợi sẽ tập trung đầu tư về thuỷ lợi, giống, phân bón...để sản xuất lúa hàng hoá cung cấp cho thị trường ngoại tỉnh.

Đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống thủy lợi để đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, tăng năng suất lúa nước ở các khu vực sản xuất lúa trọng điểm (lòng chảo Điện Biên, Tuần Giáo), đồng thời mở rộng diện tích lúa nước ở các khu vực khác như: Pú Nhi, Háng Trợ (Điện Biên Đông), Mường Báng (Tủa Chùa), Mường Chà (gắn với khu tái định cư Mường Chà), khu vực Mường Toong, Chung Chải (Mường Nhé)... Tập trung xây dựng các vùng lúa cao sản, lúa đặc sản, hình thành các vùng trọng điểm sản xuất lúa hàng hóa tại các khu vực có điều kiện như:

Lòng chảo Điện Biên: Sản xuất và chế biến gạo đặc sản Điện Biên

Huyện Tuần Giáo: 2.000 - 2.500 ha

Huyện Mường Nhé: 1.500 - 2.000 ha,

* Cây ngô: Đối với cây ngô, ổn định diện tích ngô trên nương, mở rộng diện tích trồng ngô trên các chân ruộng 1 vụ tại các địa bàn khó khăn về thủy lợi, nâng diện tích ngô toàn tỉnh năm 2020 lên khoảng 30 ngàn ha. Sau năm 2020 tiếp tục đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất trên diện tích ngô hiện có, đưa cây ngô thành cây hàng hoá trọng điểm tại các địa bàn vùng cao. Các vùng ngô trọng điểm dự kiến phát triển gồm: Vùng Pú Nhung - Phình Sáng - Ta Ma (Tuần Giáo), vùng Tủa Chùa, Điện Biên Đông và Điện Biên.

Như vậy, đến năm 2020 diện tích gieo trồng cây lương thực trong tỉnh đạt khoảng 70 - 71 ngàn ha, trong đó diện tích lúa khoảng 40 - 41 ngàn ha, sản lượng lương thực đạt 270 ngàn tấn (riêng thóc đạt 150 - 160 ngàn tấn), đạt mức lương thực bình quân từ 440 - 450 kg/người. Sau năm 2020, duy trì diện tích cây lương thực theo Nghị quyết quốc hội.



b) - Đối với các cây trồng khác: Đầu tư xây dựng một số vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung với quy mô tương đối lớn, đảm bảo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến tại địa bàn.
* Cây đậu tương: Ưu tiên phát triển mạnh cây đậu tương. Tập trung tăng vụ đậu tương dưới ruộng bằng các giống mới năng suất cao. Mở rộng diện tích trồng đậu tương trên địa bàn toàn tỉnh, nhất là trên các chân ruộng 1 vụ. Trong giai đoạn 2016-2020, trồng mới khoảng 6419 ha, đưa diện tích đậu tương lên khoảng 9-10 ngàn ha vào năm 2020, sản lượng đạt trên 16.500 tấn. Sau năm 2020 giữ ổn định diện tích đậu tương lên 18 - 20 ngàn ha, sản lượng đạt 35 - 40 ngàn tấn. Đầu tư xây dựng các vùng chuyên canh đậu tương ở những khu vực có điều kiện thuận lợi như: Pú Nhung - Phình Sáng - Ta Ma (Tuần Giáo); Sa Dung - Pú Nhi - Keo Lôm - Phình Giàng (Điện Biên Đông); khu vực Si Pa Phìn, Nà Hỳ, Chà Cang… tạo nguồn hành hoá lớn, ổn định.

* Cây chè: Cây chè phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu của Điện Biên, đặc biệt là chè ở vùng núi cao trên 1.000 mét (chè tuyết) có chất lượng cao, được thị trường ưa chuộng. Từ nay đến năm 2020 tập trung phát triển cây chè với quy mô thích hợp, đặc biệt là chè cây cao gắn với chương trình tái định cư của tỉnh, đưa tổng diện tích trồng chè trong tỉnh lên 1.000 ha, trong đó có 605 ha chè trồng mới. Năm 2030, diện tích chè toàn tỉnh dự kiến đạt 2.200-2.500 ha. Các vùng sản xuất chè tập trung dự kiến là:

- Vùng cao nguyên Tả Phình (Tủa Chùa): Vùng chè tập trung ở 4 xã: Sín Chải, Tả Sìn Thàng, Tả Phình, Sính Phình huyện Tủa Chùa. Đến năm 2020, vùng chè 4 xã này khoảng 800 ha, theo Quyết định 1055/QĐ-UBND ngày 21/9/2007, phê duyệt dự án Quy hoạch phát triển vùng chè huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên và dự án Trồng, chế biến chè tuyết Shan tại xã Trung Thu và Lao Xả Phình.

- Vùng cao nguyên Điện Biên Đông (gồm 3 xã Pú Nhung, Na Son, Keo Lôm), quy mô đến năm 2020 là 300-500 ha, sau nâng lên 2.000 ha. Đến nay đã có dự án Trồng, chế biến chè tuyết núi cao-xã Pú Nhung với quy mô trồng 500 ha và nhà máy chế biến 12 tấn/ngày. Dự án Trồng, chế biến chè đen, chè xanh ven chân núi lòng chảo Điện Biên với dự kiến trồng chăm sóc 1.000 ha và nhà máy chế biến 12 tấn/ngày.

- Vùng Mường Nhé - Mường Toong - Nà Hỳ (gắn với vùng kinh tế-quốc phòng Mường Chà). Năm 2020 khoảng 200 ha, sau nâng lên hơn 1.000 ha cây chè.



* Cây cà phê: Cà phê chè là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và tương đối thích hợp với điều kiện ở Điện Biên. Diện tích cây cà phê toàn tỉnh khoảng 6.139 ha, trong đó huyện Mường Nhé là 2.150 ha, huyện Mường Ảng là 3.073 ha, huyện Tuần Giáo là 746 ha, huyện Điện Biên là 170 ha, theo Quyết định số 532/QĐ-UBND ngày 25/6/2012, xác định vùng cà phê tỉnh Điện Biên đến năm 2020. Năm 201323, diện tích cây cà phê đạt 3.979,6 ha, bằng 64,8% diện tích quy hoạch, trong đó có 2129,68 ha cho thu hoạch, đạt năng suất bình quân 2,5 tấn/ha. Vì vậy, trong thời kỳ 2016-2030, tiếp tục trồng mới trên diện tích đã được quy hoạch, khoảng 4.905ha. Hiện nay, đã có hai dự án xây dựng nhà máy chế biến cà phê là Nhà máy chế biến cà phê huyện Mường Ảng với công suất 5 triệu tấn/năm và Nhà máy chế biến cà phê Quải Cang.

* Cây cao su: Phát triển trồng cây cao su vừa mang lại lợi ích kinh tế và lợi ích bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần quan trọng vào phát triển bền vững. Vùng trồng cao su phân bố trên địa bàn 7 huyện, thành phố, với tổng diện tích là 72.900 ha, gồm: Điện Biên 10.391 ha; Mường Chà 15.503 ha; Tuần Giáo 9.502 ha; Mường Ảng 6.475 ha; Điện Biên Đông 7.279 ha, Mường Nhé 21.917 ha và đại bàn TP Điện Biên Phủ 1.833 ha, theo Quyết định số 1305/QĐ-UBND, ngày 30/7/2009 về quy hoạch phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Điện Biên đến năm 2020. Đến năm 2013, diện tích trồng cây cao su đạt 4.231,67ha, chưa có diện tích cho thu hoạch, cây sinh trưởng phát triển bình thường, bằng gần 6% diện tích quy hoạch. Vì vậy, trong giai đoạn 2016-2020 tiếp tục trồng mới trên 9.988 ha. Trong thời kỳ 2021-2030, cần căn cứ vào kết quả cho thu hoạch để quyết định đẩy nhanh tiến độ trồng mới trên 86% diện tích đã được quy hoạch hay dãn tiến độ. Để chế biến, dự kiến xây dựng thêm các nhà máy chế biến mủ cao su.

* Cây bông: Đẩy mạnh thâm canh diện tích bông hiện có. Cây bông tập tung lớn nhất ở huyện Điện Biên Đông (năm 2012, 64% diện tích và 77% sản lượng, huyện Điện Biên (9% diện tích, 7,2% sản lượng). Triển khai dự án thí điểm trồng bông chất lượng cao, đánh giá hiệu quả cây bông để nhân rộng diện tích ở những nơi có điều kiện như Điện Biên Đông, Mường Chà, Tuần Giáo... phấn đấu đến năm 2020 diện tích bông trong tỉnh đạt 1.000 ha. Hiện nay, Dự án trồng và chế biến Bông, Ngô, Đậu tương tại Xã Mường Luân huyện Điện Biên Đông đang nằm trong danh sách kêu gọi nhà đầu tư của Tỉnh.

* Cây ăn quả: Phát triển trồng cây ăn quả ở rộng khắp các địa phương trong tỉnh, nhất là cam, nhãn, vải, xoài, hồng, mận.... Đến năm 2030, diện tích cây ăn quả toàn tỉnh vào khoảng 3.500-4.000 ha, tăng trung bình 7,3%/năm. Trước mắt tập trung cải tạo vườn tạp ở các hộ gia đình ven TP Điện Biên Phủ và ven các trục quốc lộ chính thành các vườn cây ăn quả có năng suất, chất lượng cao. Khuyến khích phát triển kinh tế trang trại kết hợp giữa trồng cây ăn quả và chăn nuôi. Đầu tư phát triển một số vùng cây ăn quả tập trung gắn với công nghiệp chế biến, trong đó ưu tiên một số vùng trọng điểm sau:

- Vùng lòng chảo Điện Biên với tập đoàn cây chính gồm: cam, xoài, nhãn, vải, hồng không hạt...

- Vùng Pú Nhi - Na Son với tập đoàn cây chính gồm: cam, hồng không hạt, mơ, mận...

- Vùng Mường Nhà - Mường Lói với tập đoàn cây chính gồm các cây ăn quả có múi.



* Cây thực phẩm: Phát triển trồng rau, đậu và cây thực phẩm khác tại các khu vực ven đô, nhất là ven TP Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay, ven các thị trấn, thị tứ và các khu vực tập trung dân cư để đáp ứng nhu cầu rau thực phẩm tại chỗ của nhân dân.

(2). Về chăn nuôi. Điện Biên có lợi thế rất lớn về phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc (diện tích đồng cỏ lớn tập trung, nguồn nguyên liệu cho chế biến thức ăn gia súc khá dồi dào, thị trường tiêu thụ lớn). Vì vậy, thời gian tới cần phát triển chăn nuôi bền vững, trên cơ sở tăng hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường.


- Phấn đấu đến năm 2030, GTSX chăn nuôi đạt 35% tổng GTSX khu vực nông nghiệp theo mô hình chăn nuôi trang trại quy mô hộ gia đình.

Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng đàn gia súc ở mức cao và ổn định (khoảng 4,5- 5,5%/năm). Đến năm 2020 tổng đàn trâu trong tỉnh đạt 125 nghìn con (năm 2012 có 116 ngàn con), đàn bò đạt 45 nghìn con và năm 2030 đàn trâu đạt 205 nghìn con, đàn bò đạt 122 ngàn con.

Phát triển nuôi lợn và gia cầm ở rộng khắp các địa phương trong tỉnh, chủ yếu ở quy mô hộ gia đình. Phấn đấu năm 2020 tổng đàn lợn trong tỉnh đạt khoảng 320 ngàn con (không kể lợn sữa), đàn gia cầm đạt khoảng 1,6 triệu con; đến năm 2030 đàn lợn đạt 500 ngàn con (tăng bình quân 4,6%/năm) và đàn gia cầm đạt 4,9 triệu con, tạo nguồn sản phẩm hàng hoá cung cấp cho nhà máy chế biến thịt quy mô nhỏ phục vụ du khách và nhu cầu nội tỉnh.

(3). Phát triển các sản phẩm chủ lực


Căn cứ điều kiện đất đai, khí hậu của Điện Biên và nhu cầu thị trường nông sản trong khu vực, dự kiến trong 10 - 15 năm tới sẽ tập trung phát triển một số sản phẩm chủ lực sau:

Bảng 18: Định hướng phát triển các sản phẩm chủ lực của Điện Biên



  1. Các sản phẩm trồng trọt:

TT

Loại SP

2015

2020

2030

DT

(ha)

SL

(Tấn)

DT

(1000 ha)

SL

(1000 T)

DT

(1000 ha)

SL

(1000 T)

1

Lúa cả năm

48.659

163.787

56-57

196-200

57-58

212-216




Lúa ruộng

25.310

131.436

30 - 32

156-166

31-32

168-179

2

Ngô cả năm

29.768

74.689

34 - 35

85 - 88

35-37

88-93

3

Đậu tương

7.922

10.061

18 - 20

22-25

20-22

25-28

4

Lạc

1.778

2.105

4,5 - 5

5-6

5-6

6-7

5

Cây chè

655

393

4 - 4,5

4,5 - 5

5

5-6

6

Cây cà phê

4.818

6.065

6.139

7674

6139

7981

Ghi chú: Diện tích lúa theo Nghị quyết số 71/NQ-CP, ngày 7/6/2013

b) Các sản phẩm chăn nuôi:

TT

Loại SP

Đơn vị

2013

2015

2020

2030

1

Đàn trâu

1000 con

119,4

126,7

147,0

197,0

2

Đàn bò

"

43,885

49,3

66,0

118,0

3

Đàn lợn

"

312,01

350,6

469,0

840,0

Nguồn: Báo cáo1432/BC-SNN, 04/11/2013 và xử lý của tư vấn

Ghi chú: Theo Quyết định số 397/QĐ-UBND, ngày 20/4/2007, phê duyệt đề án chăn nuôi trâu bò thịt: Tăng đàn trâu 3,56%, đàn bò 10,14%. Theo số thống kê 2012: Đàn trâu tăng 1,9%, đàn bò tăng 4,9%, đàn lợn tăng 5%. Do đó, đối với dài hạn, đàn trâu tăng 3%, đàn bò và đàn lợn tăng 6%/năm, có tính khả thí cao hơn.

(4). Các giải pháp phát triển


- Nhanh chóng hoàn thiện việc quy hoạch chi tiết các vùng sản xuất tập trung, đồng thời xây dựng cơ chế, chính sách để hình thành mối liên kết sản xuất-chế biến-phân phối-tiêu dùng, trong đó doanh nghiệp hỗ trợ về giống, kỹ thuật canh tác để hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung.

- Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ khai hoang. Đầu tư xây dựng hoàn thiện và kiên cố hoá hệ thống thuỷ lợi, nhất là hệ thống kênh mương để mở rộng diện tích canh tác lúa nước và tăng diện tích lúa 2 vụ.

- Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là công nghệ giống vào sản xuất. Củng cố các trạm, trại, các trung tâm giống để nghiên cứu sản xuất các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao và phù hợp với điều kiện của từng vùng phục vụ phát triển sản xuất. Đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm và đưa vào sản xuất đại trà các loại giống mới, đảm bảo 100% diện tích lúa ruộng; 50 - 60% diện tích ngô, lạc, đậu tương được gieo trồng bằng các loại giống mới có năng suất, chất lượng cao.

- Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến ngư. Đầu tư xây dựng các mô hình thí điểm để phát triển các loại cây trồng khác trên đất 1 và 2 vụ lúa.

- Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chính sách tín dụng đối với trồng cây công nghiệp dài ngày trong thời gian kiến thiết cơ bản. Tiếp tục thực hiện chương trình 135/CP, chương trình 186/CP. Ban hành các chính sách hỗ trợ giá về giống lúa, ngô, đậu tương, lạc... về giá cước vận chuyển vật tư đầu vào; về kinh phí phòng, chống dịch bệnh; về áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất; về xây dựng các mô hình trình diễn... để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.

1.2.2. Định hướng phát triển ngành lâm nghiệp

(1). Quan điểm và mục tiêu


- Phát triển lâm nghiệp tỉnh Điện Biên bền vững trên cơ sở đẩy nhanh tiến độ phát triển vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tre, gỗ đã xây dựng trên địa bàn Tỉnh. Đưa lâm nghiệp trở thành ngành có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh, góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường.

- Phát triển hợp lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất, trong đó tập trung bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh đối với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, giành nguồn kinh phí đầu tư trồng mới cho phát triển rừng sản xuất.

- Trong thời gian ngắn nhất, cần hình thành hai vùng nguyên liệu với tổng diện tích khoảng 44-45,6 nghìn ha, chiếm gần 4,8% tổng diện tích tự nhiên toàn Tỉnh, trong đó vùng nguyên liệu gỗ cho Nhà máy chế biến gỗ ghép thanh kết hợp sản xuất ván dăm (Công ty Cổ phần rừng Việt Tây Bắc) khoảng 4.000-5.600 ha, vùng nguyên liệu tre cho Nhà máy chế biến tre và gỗ (Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên) khoảng 40.000 ha24.

- Trong giai đoạn 2016-2020, tập trung bảo vệ rừng hiện có 215.856 ha, trồng rừng mới 18.300 ha, khoanh nuôi tái sinh 166.706 ha nâng độ che phủ lên 46,2% vào năm 2020.

- Thực hiện độ che phủ của rừng theo Quyết định số 2117/QĐ-UBND25 và sát với thực tiễn (Báo cáo số 1432/BC-SNN, ngày 04/11/2013), phấn đấu năm 2015 đạt 42,48%, năm 2020 đạt 46,2% và đạt 50-55% vào năm 2030. Bảo đảm yêu cầu phòng hộ đầu nguồn các lưu vực sông lớn trên địa bàn, đặc biệt là đầu nguồn sông Đà.

(2). Nhiệm vụ phát triển ba loại rừng (theo quyết định 2117/QĐ-UBND nêu trên)

* Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn:

- Phải xây dựng tập trung, liền vùng, liền khoảnh và có cấu trúc nhiều tầng tán; những nơi có điều kiện kết hợp phòng hộ với sản xuất nông nghiệp, kinh doanh cảnh quan môi trường, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, khai thác lâm sản phụ và các lợi ích khác của rừng phòng hộ.

- Tiến hành bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và trồng rừng với loài cây đa dạng, đa tác dụng để vừa đảm bảo yêu cầu phòng hộ, vừa cho hiệu quả kinh tế.

* Đối với rừng đặc dụng: Quy hoạch phát triển 2 khu vực rừng đặc dụng là khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé và khu di tích Mường Phăng với tổng diện tích 66 ngàn ha, chiếm trên 11% diện tích rừng toàn tỉnh, trong đó:

- Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé với diện tích 60 ngàn ha, hiện đang nằm trong danh sách kêu gọi hợp tác đầu tư của tỉnh.

- Khu di tích Mường Phăng với diện tích 6 ngàn ha.

* Đối với rừng sản xuất:

- Đầu tư phát triển 2 vùng nguyên liệu rừng sản xuất tập trung lớn (gắn với các cơ sở chế biến) tại Mường Ảng, Tuần Giáo, Điện Biên, Điện Biên Đông và thị xã Mường Lay, là những khu vực có tiềm năng đất đai lớn và điều kiện giao thông thuỷ, bộ tương đối thuận tiện...

- Rừng sản xuất là rừng tự nhiên cần tác động lâm sinh cần thiết nhằm đạt tối đa năng suất và hiệu quả. Những diện tích rừng quá nghèo kiệt, tái sinh kém, hiệu quả kinh tế thấp tiến hành trồng rừng, cải tạo rừng.

- Phát triển mạnh trồng cây phân tán để đáp ứng nhu cầu gỗ gia dụng và củi cho địa phương.

(3). Các giải pháp phát triển

- Kêu gọi hợp tác đầu tư: Hiện nay, dự án Trồng rừng sản xuất Mướng Ảng đã nằm trong danh sách kêu gọi hợp tác đầu tư của tỉnh.

- Củng cố xắp xếp và đổi mới quản lý của các lâm trường Quốc doanh; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cấp quản lý Nhà nước về lâm nghiệp khắc phục tình trạng chồng chéo và buông lỏng quản lý hiện nay.

- Hoàn chỉnh công tác quy hoạch phân định rõ ranh giới của 3 loại rừng phù hợp với điều kiện tự nhiên và định hướng phát triển. Tiến hành đóng mốc rừng đặc dụng quốc gia. Tăng cường các biện pháp phòng chống cháy rừng, đặc biệt là các khu rừng đầu nguồn xung yếu.

- Điều chỉnh cơ chế hỗ trợ trong quản lý rừng theo hướng: i) Giao cho nhân dân trực tiếp quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh diện tích rừng phòng hộ với định mức hỗ trợ phù hợp đảm bảo lợi ích của người lao động; ii) Giao cho các tổ chức chuyên trách quản lý diện tích rừng đặc dụng; iii) Giao cho các lâm trường, các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu phát triển diện tích rừng sản xuất với các chính sách ưu đãi về tín dụng, hỗ trợ cây giống và kỹ thuật.

- Đầu tư cho nghiên cứu khảo nghiệm đưa các giống cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế, phù hợp với điều kiện tự nhiên đưa vào sản xuất đại trà. Trong số các cây cần nghiên cứu là cây gỗ xưa, dó bầu, tuy thời gian cho thu hoạch khá dài, song có giá trị kinh tế cao. Đến nay đã đúc kết được kinh nghiệm sử dụng chế phẩm sinh học, hóa học và cơ học để khích thích cây dó bầu tạo trâm hương.

1.2.3. Định hướng phát triển ngành thủy sản


(1). Quan điểm và mục tiêu

- Tận dụng tối đa diện tích mặt nước các ao, hồ để nuôi trồng thủy sản. Phát triển nuôi cá lồng bè ở lòng hồ thủy điện Sơn La. Chú trọng phát triển các giống thuỷ sản mới có giá trị kinh tế cao và đã được khảo cứu thành công để nhân rộng ra các địa bàn trong tỉnh.

- Phấn đấu đến năm 2020 diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 2.075 ha, sản lượng đạt 2.998 tấn.

(2). Nhiệm vụ và giải pháp


- Chú trọng phát triển các giống thuỷ sản mới có giá trị kinh tế cao và đã được khảo cứu thành công như tôm càng xanh, cá rô phi đơn tính... để nhân rộng ra các địa bàn trong tỉnh. Chủ động cung cấp các loại giống tốt với giá cả phù hợp cho nông dân, nâng tỷ trọng thuỷ sản nuôi trong ngành thuỷ sản lên 90%.

- Đa dạng hình thức nuôi trồng như: nuôi cá truyền thống, cá lúa, cá hồ; Nuôi tập trung tạo sản phẩm hàng hóa; Khai thác thủy sản, và nuôi thủy đặ sản.

- Chủ động cung ứng thức ăn nuôi cá, hiện nay dự án xây dựng Nhà máy chế biến thức ăn cho cá đã nằm trong danh mục kêu gọi hợp tác đầu tư của Tỉnh.

2. Định hướng phát triển công nghiệp, TTCN


Phát triển công nghiệp là hướng chiến lược quan trọng, góp phần quyết định vào thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Trong thời gian tới, phát triển nhanh và vững chắc công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, là “khâu đột phá quan trọng” của tỉnh.

2.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển


- Phát triển nhanh và vững chắc các ngành CN – TTCN, trong đó vững chắc là theo từng bước từ thấp tới cao và luôn coi trọng quy trình sản xuất sạch, hiệu quả, nhanh là rút ngắn khoảng thời gian của từng bước.

- Khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và các tiềm năng, lợi thế của tỉnh để đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ ra ngoài tỉnh.

- Phấn đấu, đến năm 2030 về cơ bản Điện Biên có một nền công nghiệp vững chắc với cơ cấu hợp lý, phù hợp với điều kiện, tiềm năng, lợi thế của tỉnh, và có khả năng cạnh tranh cao.

- Bảo đảm GTTT công nghiệp tăng 14-15%/năm trong giai đoạn 2016-2020 và tăng khoảng 11-12%/năm trong giai đoạn 2021 - 2030.


2.2. Nhiệm vụ và giải pháp


- Trong thời kỳ từ nay (2014) đến 2030, các ngành công nghiệp chủ yếu của Điện Biên gồm i) Chế biến nông lâm sản gắn với vùng nguyên liệu tập trung; ii) Phát triển công nghiệp thủy điện; iii) Khai thác chế biến khoáng sản, và iv) Sản xuất VLXD.

- Trong giai đoạn 2016-2020, tiếp tục triển khai thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng 8 cụm công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh với tổng quy mô diện tích là 146,1 ha, theo quy hoạch đã được phê duyệt .


2.2.1. Nhiệm vụ và giải pháp để phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản


Do lịch sử để lại, trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã hình thành một số vùng sản xuất nông lâm nghiệp tập trung có quy mô khá lớn, đủ nguyên liệu cho chế biến công nghiệp. Vì vậy, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, bao gồm:

- Xúc tiến đầu tư với mục đích kêu gọi các doanh nhân đầu tư vào công nghiệp chế biến nông lâm sản, trong đó ưu tiên các nhà đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến, gắn với vùng sản xuất tập trung, như: Vùng cà phê Mường Ảng, Điện Biên; Vùng cao su huyện Điện Biên, Mường Chà, Mường Nhé;

- Đồng thời kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng nhà máy gạo chất lượng cao tại huyện Điện Biên; xây dựng cơ sở sản xuất nông sản sấy khô ở các vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của tỉnh như: huyện Điện Biên, huyện Tuần Giáo...và khuyến khích hoặc tạo điều kiện phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm trong dân cư.

- Cần xây dựng chính sách đặc thù để chủ doanh nghiệp liên kết với chủ sử dụng ruộng đất cùng đầu tư trồng rừng nguyên liệu cho i) Nhà máy máy chế biến tre, gỗ ghép thanh Điện Biên, ii) Nhà máy chế biến gỗ ghép thanh kết hợp sản xuất ván dăm Tuần giáo, iii) xưởng chế biến chè Tủa Chùa. Các nhà máy này đã xây dựng, nhưng còn thiếu vùng nguyên liệu.

- Phát triển rộng rãi các cơ sở sơ chế gắn với các công nghệ sau thu hoạch và chế biến nhỏ như chế biến chè, xay sát, chế biến thức ăn gia súc, chế biến lương thực, thực phẩm...

- Phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm đặc thù địa phương và các sản phẩm có thị trường tiêu thụ ổn định, như sản xuất đồ uống có cồn đi từ gạo, ngô, là đặc sản địa phương.

- Đầu tư xây dựng lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung ở vùng lòng chảo Điện Biên Phủ phục vụ nhu cầu của nhân dân khu vực thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên; Xây dựng nhà máy chế biến thức ăn cho cá tại thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay.

- Hoàn thành việc xây dựng các nhà máy chế biến thức ăn gia súc quy mô 10.000 tấn/năm ở huyện Điện Biên. Xây dựng mới nhà máy chế biến thức ăn gia súc Tuần Giáo, gắn với vùng ngô, đậu tương Pú Nhung - Phình Sáng - Ta Ma.

- Phát triển công nghiệp cung cấp nước và xử lý rác thải: Xúc tiến nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà máy nước tại các thị trấn, huyện lỵ còn lại chưa có nhà máy nước với công suất từ 1000-2500m3/ngày đêm. Triển khai tốt công tác xây dựng nâng cấp nhà máy nước TP Điện Biên Phủ theo dự án được duyệt. Xây dựng nhà máy xử lý rác và chất thải tại thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên.

2.2.2. Nhiệm vụ và giải pháp để phát triển công nghiệp điện


Tiềm năng thuỷ điện ở các sông suối của Điện Biên khá lớn, thị trường điện của khu vực còn nhiều. Vì vậy, chậm nhất đến năm 2025, các nhà đầu tư sẽ khai thác hết tiềm năng thủy điện nhỏ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Do đó, nhiệm vụ và giải pháp phát triển công nghiệp năng lượng bao gồm :

Tromg giai đoạn 2016-2020 cần tập trung vào,

- Phấn đấu hoàn thành và đưa vào khai thác các dự án đã khởi công, các dự án đã được cấp phép đầu tư (Nậm Pay, Nậm Núa, Sông Mã 3, Trung Thu, Huổi Vang, Lông Tạo, Nậm Khẩu Hu, ...).

- Cần hoàn thiện các thủ tục, dự án đầu tư để khởi công xây dựng các nhà máy thủy điện được cho chủ trương khảo sát, nghiên cứu lập dự án đầu tư.

Trong giai đoạn từ nay đến 2030, cần tập trung vào:

- Đầu tư phát triển các dạng năng lượng khác ở vùng sâu, xa không có khả năng kéo điện lưới quốc gia như: sử dụng giàn pin năng lượng mặt trời, sử dụng thủy điện cực nhỏ (thủy điện mini 250-500W).

- Cần đẩy mạnh đầu tư xây dựng phát triển hệ thống lưới điện phân phối trên địa bàn các xã trong tỉnh bao gồm đầu tư xây dựng mới, mở rộng và cải tạo lưới điện.

- Nâng cao vai trò giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, trên cơ sở đua ra yêu cầu: trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình Chủ đầu tư các dự án và các đơn vị liên quan cần kiểm tra, khảo sát kỹ các điều kiện tự nhiên, khu vực dự án; Tính toán, phân tích để chuẩn xác các thông số kỹ thuật chính, tác động môi trường, khảo sát để lập phương án bồi thường và hỗ trợ dân tái định cư của dự án.


2.2.3. Nhiệm vụ và giải pháp để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng


- Định hướng phát triển trong giai đoạn đến 2020: Trong giai đoạn này, tập trung phát triển một số sản phẩm có nhu cầu lớn và sản xuất tại địa bàn có ưu thế cạnh tranh cao như: xi măng, vật liệu xây, vật liệu lợp, đá xây dựng, cát xây dựng, ...

- Xi măng: Tiếp tục duy trì sản xuất đồng thời cần có phương án xử lý hoàn nguyên khu vực khai thác theo các quy định về bảo vệ môi trường của Luật khoáng sản ( phục hồi môi trường, môi sinh và đất sau khi kết thúc từng giai đoạn; xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường);

- Vật liệu xây: Đầu tư chiều sau, cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở cơ sở sản xuất gạch tuynel, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường; không đầu tư mới các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung. Phát triển sản xuất gạch không nung, các loại vật liệu nhẹ; Hạn chế dần tiến tới xoá bỏ toàn bộ việc sản xuất gạch đất nung bằng lò thủ công ở khu vực tư nhân để hạn chế việc lấy đất ruộng và bảo vệ môi trường.

- Vật liêu lợp: Phát triển sản xuất các sản phẩm tấm lợp như tấm lợp kim loại, tấm lợp 3 lớp, tấ lợp polycarbonate-hợp kim nhôm;

- Đá xây dựng: Đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ khai thác đá xâ dựng ở tất cả các cơ sở sản xuất hiện có. Tổ chức quản lý, sắp xếp lại ác cơ sở khai thác; nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm; tiết kiệm tài nguyên và giải quyết tốt hơn vấn đề môi trường; đồng thời xóa bỏ các cơ sở khai thác kém hiệu quả và không đảm bảo các quy định về môi trường và bảo vệ tài nguyên;

- Cát xây dựng: Tổ chức khai thác cát ở những vị trí thích hợp, có quản lý chặt chẽ khai thác cát ở các lòng sông Nậm Rốm, sông Nậm Núa, sông Mã, sông Đà...và một số nhánh sông nhỏ trên địa bàn Tỉnh, quy định phạm vi khai thác và độ sâu khai thác để không gây sạt lở... Đầu tư sản xuất cát nghiền từ đá tự nhiên ở một số huyện.

- Vật liệu xây dựng khác như vôi xây dựng, vật liệu ốp lát, bê tông: Đầu tư xây dựng một số cơ sở sản xuất vôi công nghiệp ở huyện Điện Biên, Mường Ảng và Tuần Giáo. Đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất gạch lát bê tông màu các loại gạch lát vỉa hè, gạch lát terrazzo, đá ốp lát, tấm nhựa, tấm xi măng cốt sợi gỗ, tấm thạch cao, tấm ốp tướng alumin composte. Phát triển và ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất bê tông cấu kiện đúc sẵn; phát triển đa dạng các loại bê tông đặc biệt khác như tê tông nhẹ, bê tông cường độ cao, bê tông chịu nhiệt, bê tông cách âm, cách nhiệt; Phát triển sản xuất bê tông (tươi) thương phẩm cung cấp cho thi công công trình.

- Định hướng đến năm 2030: Trong giai đoạn 2021-2030, ngành VLXD tỉnh Điện Biên phát triển theo hướng thỏa mãn nhu cầu trong tỉnh và cung cấp cho các tỉnh lân cận và một số tỉnh phía Bắc Lào. Định hướng phát triển một số sản phẩm VLXD chủ yêu như sau:

- Từng bước giảm dần tiến tới không sản xuất gạch nung. Nhưng nơi có điều kiện thì sản xuất gạch tốn ít nguyên liệu và có giá trị cao như gạch ốp lát, tranh trí, ngói. Tiếp tục đầu tư phát triển gạch không nung, vật liệu composite, tấm bê tông rỗng và bê tông nhẹ; phát triển vật liệu lợp nhẹ, bền, có khả năng chống nóng, chống ồn, chống rêu móc... Đầu tư mở rộng công xuất và nâng cấp công nghệ sản xuất xi măng; Đầu tư xây dựng dây chuyền khai thác đá xây dựng công suất lớn, hiện đại, đảm bảo môi trường; Tiếp tục đầu tư về mặt công nghệ để nâng cao công suất và chất lượng sản phẩm cát nghiền; Sản xuất vôi theo phương thức công nghiệp; Tập trung sản xuất các loại gạch ốp lát với kích cỡ lớn, đa dạng về chủng loại sản phẩm, về màu sắc, chống mài mòn cao; Đầu tư mở rộng các cơ sảo sản xuất đá ốp lát, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, sản xuất đá ốp lát nhân tạo cao cấp (terastone và bretonstone); Sản xuất vật liệu hợp kim nhôm, nhựa thạch cao, vật liệu cách âm, bê tông xây dựng cung cho công trình xây dựng.


2.2.4. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển công nghiệp khai khoáng


Tỉnh Điện Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản khá lớn, trong đó có một số mỏ nằm gần đường giao thông thuận tiện trong việc khai thác và lưu thông. Tuy nhiên, hầu hết mỏ, điểm mỏ này chưa được thăm dò, đánh giá đầy đủ. Do vậy, thời gian tới cần đẩy mạnh công tác điều tra thăm dò, tiến hành đánh giá một cách cụ thể cả về trữ lượng và chất lượng của từng mỏ, đảm bảo khai thác có hiệu quả và bền vững.

(1). Về quan điểm và mục tiêu hoạt động khoáng sản (Quyết định số 1053/QĐ-UB ngày 31/8/2010, về việc phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa ban tỉnh Điện Biên), như sau:

- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2025, các hoạt động chủ yếu trong ngành khai thác khoáng sản là tập trung vào công tác thăm dò, đánh giá trữ lượng và khai thác một số loại khoáng sản đã đánh giá được trữ lượng kinh tế.

- Phát triển bền vững ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên.

- Để bảm đảm khai thác, sử dụng bền vững cần tăng cường công tác thẩm định dự án, thẩm định cấp phép hoạt động khoáng sản; tăng cường công tác phối hợp kiểm tra, giám sát các hoạt động khoáng sản; Phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép cấp phép các điểm mỏ chì kẽm có trữ lượng thấp.

- Tăng cường đầu tư đổi mới đồng bộ công nghệ và trang thiết bị khai thác nhằm nâng cao hệ số thu hồi khoáng sản có ích; cung cấp khoáng sản cho các hộ tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh lân cận than, quặng và tinh quặng kim loại (chì kẽm, đồng...). Nâng cao tính tập trung công nghiệp tạo điều kiện hình thành một số vùng khai thác và chế biến khoáng sản với giá thành hạ.

(2). Nhiệm vụ và giải pháp hoạt động khai thác khoáng sản (chi tiết xem Quyết định số 1053/QĐ-UB ngày 31/8/2010 nêu trên):

- Khoáng sản nhiên liệu: Giai đoạn đến 2015, tập trung đánh giá chi tiết cấp tài nguyên 3 điểm than: Huổi Mưa, Huổi Xa và Huổi Khao. Giai đoạn 2016-2020, khảo sát và đánh giá triển vọng điểm than Huổi Lá và đầu tư khai thác, chế biến ở 3 điểm than: Huổi Mưa, Huổi Xa và Huổi Khao. Đến năm 2020, dự kiến sản lượng than sạch đạt 28 nghìn tấn.

- Quặng sắt: Đến năm 2020, khai thác và chế biến quặng sắt theo hướng khai thác tận thu, khai thác quy mô nhỏ, sơ chế sản phẩm cuối cùng. Dự kiến sản lượng khai thác hàng năm khoảng 20-25 nghìn tấn.

- Thăm dò, khai thác, chế biến quặng chì kẽm: Giai đoạn đến năm 2015, hoàn thành thăm dò và khai thác chế biến quặng chì kẽm Háng Chơ, Xá Nhè; Đánh giá triển vọng điểm quặng chì kẽm Cáng Tý và Xá Phình-Tủa Chùa; Tiếp tục đầu tư khai thác Pú Bò. Giai đoạn 2016-2020, đánh giá chi tiết để khai thác, chế biến điểm quặng chì kẽm Nà Tòng và tiếp tục đầu tư khai thác, chế biến quặng chì kẽm Háng Chơ.

- Thăm dò, khai thác, chế biến quặng đồng: Trong giai đoạn đến 2020, tập trung thăm dò và đầu tư khai thác, chế biến quặng đồng của điểm mỏ Nạm He- Huổi Sẩy. Phấn năm 2020, quặng, tinh quặng đồng đạt 8 nghìn tấn.

- Thăm dò, khai thác, chế biến quặng vàng đến năm 2015 theo hướng đầu tư đánh giá tài nguyên trước và trong quá trình khai thác quặng vàng gốc vùng Mường Luân-Phì Nhừ. Chế biến quặng đến sản phẩm vàng cốm và thu hồi bạc đi kèm: Đến năm 2020, đánh giá và tiến tới khai thác tuyển quặng vàng gốc Na Sản, Háng Trợ, Thanh Hưng.

- Thăm dò, khai thác, chế biến quặng nhôm và antimon: Giai đoạn đến 2020 chủ yếu khai thác tận thu quặng antimon và thúc đẩy đầu tư khai thác, sơ chế quặng nhôm Pá Sáng.

- Nhóm khoáng chất công nghiệp gồm alit, kaolin, pyrit, quarzit và talc. Định hướng khai thác đến năm 2020 là đầu tư đánh giá triển vọng các điểm quặng barit và quặng talc Pac Nậm. Nếu kết quả tốt sẽ đầu tư thăm dò đánh giá trữ lượng, hoạt động đầu tư khai thác, chế biến sau năm 2020.

- Thăm dò, khai thác, chế biến các khoáng sản khác: Đến năm 2015, thực hiện đánh giá triển vọng/thăm dò 5 nguồn nước khoáng: Mường Luân, Pom Lót, Pa Thơm, Nậm Nưa, Bản Sáng và Pá Vạt. Trong giai đoạn 2016-2020 nghiên cứu đầu tư và khai thác, phấn đấu đến năm 2020, sản lượng khai thác nước khoáng đóng chai 20 triệu lít. Tập trung đánh giá triển vọng và trữ lượng đá vôi trắng và đá ốp lát Quyết Tiến và đá granit Nà Nhạn, đầu tư khai thác trong giai đoạn 2016-2020; đá vôi xi măng 390 nghìn tấn; sét xi măng 100 nghìn tấn; đá xây dựng thông thường 640 nghìn tấn; cát, cuội, sỏi 160 nghìn tấn.

2.2.5. Các ngành công nghiệp khác

Các ngành công nghiệp khác, bao gồm: sản xuất hàng tiêu dùng thông thường và hàng thủ công mỹ nghệ, địa chất khoáng sản, sản xuất và cung cấp nước, sản xuất đồ uống, và công nghiệp xử lý môi trường; lắp ráp;.

- Phát triển các ngành nghề sản xuất hàng tiêu dùng: Sản xuất nông cụ, cơ khí sửa chữa... ở khu vực TP Điện Biên Phủ, các thị xã, thị trấn và các khu vực tập trung dân cư, từng bước tạo ra các làng nghề, các cụm công nghiệp nhỏ trên toàn địa bàn, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của dân cư, đồng thời góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân trong tỉnh.

Xây dựng một vài cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, giầy dép, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ... tại TP Điện Biên Phủ đáp ứng nhu cầu trên địa bàn, tiến tới có thể xuất khẩu sang nước bạn Lào.

Đầu tư xây dựng tại TP Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay, huyện Tuần Giáo... một số xưởng cơ khí sửa chữa quy mô vừa với trang thiết bị hiện đại, có thể đáp ứng một số việc như đại tu, bảo dưỡng ôtô, sửa chữa các máy móc thiết bị công nghiệp và nông nghiệp... Tại khu vực nông thôn, thị trấn, thị tứ cần phát triển các xưởng cơ khí có quy mô nhỏ, kết hợp với các xưởng rèn, xưởng cơ khí sửa chữa dân dụng, sản xuất nông cụ cầm tay... đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất. Phấn đấu đến năm 2020, công nghiệp cơ khí điện tử đạt khoảng 10% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh.

- Hàng thủ công mỹ nghệ: Khôi phục và phát triển các nghề và làng nghề thủ công ở rộng khắp các địa phương trong tỉnh, trong đó tập trung vào các ngành nghề truyền thống, chế biến nông lâm sản, sản xuất đồ gia dụng, cơ khí sửa chữa và các ngành nghề thủ công mỹ nghệ như dệt thổ cẩm, mây tre đan, lụa tơ tằm... phục vụ du lịch và xuất khẩu. Khuyến khích và hỗ trợ đầu tư phát triển tiểu thủ công nghiệp, góp phần giải quyết việc làm, tăng thời gian sử dụng lao động trong nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Phấn đấu mỗi huyện có ít nhất 1 hợp tác xã chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ khách du lịch và xuất khẩu.

- Địa chất khoáng sản: Đánh giá triển vọng nguồn nước khoáng và nước, triển vọng một số đá như: đá ốp lát Quyết Tiến, đá vôi trắng Ka La Vô, đá vôi xi măng Pú Nhung, đá cát kết làm cát xây, đánh giá và khai thác vàng...

- Sản xuất và cung cấp nước như nâng cấp các nhà máy nước ở một số thị trấn, xây dựng mới nhà máy nước ở cụm dân cư.

- Sản xuất đồ uống như nước khoáng Mường Luân, Nước khoáng Tây Nậm Chim...

- Công nghiệp xử lý môi trường: Đây là ngành công nghiệp mới, nhưng rất cần thiết, nhằm bảo vệ môi trường, nhất là khi phát triển các ngành chế biến nông lâm sản. Xây dựng các nhà máy chế biến phân hữu cơ, vi sinh tổng hợp và các nhà máy tái chế, xử lý chất thải và rác thải sinh hoạt.

- Sản xuất và lắp ráp hàng gia công xuất khẩu, lắp ráp thiết bị thông tin, nghe nhìn.

Bảng 19: Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu đến năm 2020



TT

Nội dung

Đơn vị

2015

2020

QH06/ĐCQH2014



2030

QH 2006

U.TH

1

Điện thương phẩm

Tr. kw

158

250

1.094/140

185

2

Than

1000 Tấn

35

13,4

100/14

15

3

Xi măng

-nt-

392

392

752

750

4

Nước sinh hoạt

1000 m3

12.000

7.150

20.000




5

Gạch các loại

Tr.viên

286

71,5

600

600

6

Đá xây dựng

1000 m3

330




350/650

880

7

Phân vi sinh

Tấn

2.000

-

20.000

-

8

Thức ăn gia súc

-nt-

750

-

2.000




9

Hoa quả chế biến

-nt-

250

-

500




10

Giấy, bìa các loại

-nt-

2.000

-

4.000



3. Phát triển các ngành dịch vụ


Phát triển các ngành dịch vụ có trọng tâm, trọng điểm, trong đó trọng tâm là các đô thị và các dịch vụ du lịch, thương mại, tài chính, xuất nhập khẩu, đồng thời nâng cao chất lượng hiệu quả của các dịch vụ công; trọng điểm là các điểm tái định cư; Phát triển sản phẩm dịch vụ theo hướng đa dạng hoá các loại hình phục vụ sản xuất và đời sống, mở rộng ngành nghề và giải quyết lao động tại chỗ, đưa dịch vụ thành ngành kinh tế tiếp nối và nâng đỡ sản xuất vật chất trên cơ sở tạo thành chuỗi liên kết sản xuất-chế biến-thương mại, nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ bình quân thời kỳ 2016-2020 đạt 8-9%/năm (KH 15,81%/năm). Nâng tỷ trọng dịch vụ trong GDP của tỉnh lên khoảng 48,8% vào năm 2020. Trong thời kỳ 2021-2030 tăng 9-9,5%/năm và nâng tỷ trọng dịch vụ trong GRDP của tỉnh lên trên 54%/năm vào năm 2030. Định hướng phát triển khu vực dịch vụ nêu trên, được cụ thể hóa cho một số ngành dịch vụ chủ yếu như sau:

3.1. Phát triển thương mại


a) Quan điểm và mục tiêu phát triển thương mại:

Thương mại là ngành dịch vụ quan trọng có tác động rất lớn đến toàn bộ KT-XH của tỉnh. Đối với tỉnh Điện Biên, thương mại còn gắn liền với quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước có chung biên giới, đặc biệt là với các tỉnh Bắc Lào. Vi vậy,phát triển thương mại cần quán triệt một số quan điểm và mục tiêu sau đây:



- Tăng cường hợp tác với các nước có chung biên giới nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, buôn bán hàng giả qua biên giới giữa tỉnh Điện Biên với các tỉnh Bắc Lào và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, để vừa khuyến khích và vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển, gắn hiệu quả kinh doanh thương mại với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

- Khai thác và phục vụ tốt thị trường trong tỉnh, đồng thời thích ứng nhanh với xu thế tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tiềm năng của tỉnh.

- Từng bước hiện đại hóa và đồng bộ hóa kết cấu hạ tầng thương mại trên cơ sở tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống chợ trung tâm huyện, thị xã, thành phố; ưu tiên đầu tư xây dựng chợ nông thôn vùng sâu, vùng xa, chợ biên giới, cửa khẩu.

- Phấn đấu tốc độ tăng GTTT của ngành thương mại khoảng 15% trong giai đoạn 2011 – 2015; giai đoạn 2016 - 2020 là 14-15%/năm và thời kỳ 2021-2030 tăng trung bình 13-14%/năm.

- Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ26 trên địa bàn cả 5 năm 2016-2020 đạt 350 triệu USD, và tăng gấp 3,5 lần sau 10 năm tiếp theo. Xuất nhập khẩu năm 2020 đạt 100 triệu USD, gấp 2,78 lần năm 2015.

b) Nhiệm vụ và giải pháp phát triển thương mại


- Đầu tư hoàn thiện chợ đầu mối tại TP Điện Biên Phủ; cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các chợ và trung tâm thương mại ở các cửa khẩu, các thị xã, thị trấn, thị tứ và trung tâm cụm xã; quy hoạch phát triển hợp lý các chợ, các điểm thương mại tại các vùng nông thôn, vùng cao và vùng biên giới...từng bước hình thành một thị trường thông suốt, lưu thông hàng hóa thuận tiện trong toàn tỉnh, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.

- Đối với xuất-nhập khẩu: Phát triển mạnh các hoạt động xuất, nhập khẩu với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế. Chuyển dịch mạnh cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến và sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tập trung đầu tư phát triển một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, hạn chế xuất thô, tăng nhanh tỷ trọng hàng chế biến;



- Đối với phát triển thương mại cửa khẩu: Xây dựng, phát triển TP Điện Biên Phủ và cửa khẩu Tây Trang, khu vực cửa khẩu Huổi Puốc (huyện Điện Biên), khu vực cửa khẩu A Pa Chải (huyện Mường Nhé) thành các trung tâm trung chuyển để phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch;

- Ở thành thị:Hình thành cấu trúc cân đối, hợp lý giữa các khu thương mại - dịch vụ ở TP, thị xã; khu thương mại - dịch vụ ở các khu dân cư và các thị trấn huyện. Cải tạo đường phố thương mại để cùng với chợ truyền thống trở thành hạt nhân ở các khu thương mại - dịch vụ tổng hợp. Phát triển các trung tâm logistics.

- Ở nông thôn miền núi: Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ thương mại bám sát việc sản xuất hàng hoá ở các vùng sản xuất chuyên canh. Tại các cụm kinh tế thương mại dịch vụ trên địa bàn các huyện phát triển các cơ sở thu mua, phân loại, sơ chế, đóng gói, thu gom hàng hoá cho các nhà máy hoặc các doanh nghiệp lớn.

- Đối với các thị trấn: QH 2006 đã luận chứng xây dựng các Trung tâm thương mại huyện với quy mô 5.000 - 6.000 m2 có sức hút và lan toả đến các khu vực lân cận, song thực tiễn cho thấy hiệu suất thấp. Vì vậy, điều chỉnh lại là nâng cấp chợ huyện để đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và phòng tránh hỏa hoạn tốt.

- Đối với các thị tứ và trung tâm cụm xã: Xây dựng các chợ, các điểm thương mại cung cấp hàng tiêu dùng, vật tư sản xuất và tổ chức thu mua nông sản hàng hoá, đáp ứng yêu cầu trao đổi sản phẩm của nhân dân trong khu vực.

- Đối với các trung tâm xã: xây dựng các điểm, các cửa hàng thương mại đảm bảo cung cấp các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng được trợ cước, trợ giá cho nhân dân.

Dự kiến từ nay đến năm 2020 sẽ đầu tư xây dựng và cải tạo nâng cấp các chợ, trung tâm thương mại sau:

- Đối với TP Điện Biên Phủ: i) Mạng lưới chợ bao gồm chợ đầu mối nông sản tổng hợp; chợ loại 2; và 3 chợ loại 3 (chợ Thanh Trường, nâng cấp chợ Trung tâm 2, chợ Trung tâm 3, chợ Mường Thanh (Nam Thanh). Tổng diện tích chợ đến năm 2020 là 53.000 m2. ii) Trung tâm thương mại bao gồm Trung tâm mua sắm và Siêu thị (xây dựng Trung tâm thương mại TP Điện Biên Phủ, văn phòng đại diện cấp vùng; TTTM bán lẻ, siêu thị tổng hợp). iii) Trung tâm Bán buôn - trung chuyển và kho vận cấp vùng. iv) Khu thương mại - dịch vụ dịch vụ tổng hợp ở các khu dân cư và tại khu phố đi bộ trên địa bàn TP. v) Trung tâm Hội chợ - Triển Lãm Thương mại; vi) Mạng lưới xăng dầu.

Hiện nay, dự án Đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại tỉnh quy mô 20.000 m2 là một trong các dự án thu hút đầu tư của tỉnh.



Huyện Mường Nhé: đầu tư xây dựng mới chợ trung tâm thị trấn Mường Nhé và trung tâm thương mại tại các cụm xã Chung Chải, Chà Cang, Nà Hỳ, Mường Toong...

Huyện Mường Chà: xây dựng mới Trung tâm thương mại cụm xã Nậm Hằng, Trung tâm thương mại cụm xã Huổi Lèng, Trung tâm thương mại cụm xã Si Pa Phìn.

Huyện Điện Biên: Nâng cấp chợ Nà Tấu, chợ khu vực Bản Phủ, xây dựng mới khu vực chợ Pú Tửu, trung tâm thương mại cửa khẩu Huổi Puốc, trung tâm thương mại cụm xã Mường Nhà, trung tâm thương mại KKT cửa khẩu Tây Trang.

Huyện Tuần Giáo: Nâng cấp chợ huyện Tuần Giáo. Xây dựng mới Trung tâm thương mại Tuần Giáo, trung tâm thương mại thị trấn Mường Ẳng, trung tâm thương mại cụm xã Phình Sáng, trung tâm thương mại cụm xã Quài Nưa, trung tâm thương mại cụm xã Mường Mùn, trung tâm thương mại cụm xã Chiềng Sinh.

Huyện Điện Biên Đông: Xây dựng mới trung tâm thương mại cụm xã Mường Luân, trung tâm thương mại cụm xã Sứ Lư, trung tâm thương mại cụm xã Pú Nhi.

Huyện Tủa Chùa: nâng cấp chợ huyện Tủa Chùa, trung tâm thương mại các cụm xã Tả Sìn Thàng và Xá Nhè; xây dựng mới trung tâm thương mại cụm xã Tả Phình, trung tâm thương mại Sính Phình.

Thị xã Mường Lay: Xây dựng mới trung tâm thương mại thị xã Mường Lay.

Sau năm 2020 tiếp tục nâng cấp hiện đại hoá các Trung tâm thương mại ở các đô thị, các cửa khẩu và xây dựng đồng bộ mạng lưới thương mại đến các điểm dân cư phù hợp với tiến độ phát triển KT-XH của tỉnh.


c) Xây dựng cửa khẩu và phát triển kinh tế cửa khẩu


Điện Biên có đường biên giới chung với khu vực Bắc Lào và Nam Trung Quốc, là khu vực có tiềm năng lớn về thị trường xuất khẩu các hàng hoá tiêu dùng, VLXD, nông, lâm thủy sản và nguyên liệu khoáng,..Đây là điều kiện rất thuận lợi để Điện Biên mở mang các cửa khẩu và đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu. Vì vậy, thời gian tới cần tận dụng lợi thế này để phát triển kinh tế cửa khẩu, coi đây là "khâu đột phá quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh" như tinh thần Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị.

Đẩy mạnh đầu tư phát triển toàn diện kinh tế cửa khẩu, gắn phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mại dịch vụ...với phát triển các cửa khẩu. Xây dựng cơ sở hạ tầng các cửa khẩu, tổ chức các hoạt động đa dạng ở các cửa khẩu, khuyến khích thu hút đầu tư để khai thác lợi thế của các cửa khẩu biên giới. Tuy cửa khẩu Tây Trang đã được nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế, song cần hoàn thành việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Triển khai xây dựng cửa khẩu Huổi Puốc (Điện Biên) và cửa khẩu A Pa Chải (Mường Nhé) thành cửa khẩu Chính (Quốc gia); mở thêm một số cửa khẩu phụ khác để mở rộng buôn bán qua biên giới với nước bạn Lào và Trung Quốc, thúc đẩy thương mại của tỉnh phát triển, đồng thời tạo điều kiện mở rộng thị trường, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Sớm hoàn thành đề án áp dụng chính sách KKT cửa khẩu đối với A Pa Chải để thu hút đầu tư phát triển.

Mở rộng quan hệ với các tỉnh Bắc Lào đến Viên Chăn và sang các tỉnh Đông bắc Thái Lan và phía Tây Trung Quốc để phát triển xuất khẩu. Điều chỉnh chiến lược phát triển hàng xuất khẩu, hình thành một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh, trong đó hướng vào các sản phẩm như: chè, hoa quả, gỗ chế biến, măng chế biến, xi măng, vật liệu xây dựng, khoáng sản...


3.2. Phát triển du lịch

a) Quan điểm và Mục tiêu


- Đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển trên cơ sở đẩy mạnh phát triển dịch vụ du lịch lịch sử, văn hóa dân tộc và nghỉ dưỡng, xây dựng Điện Biên thành trung tâm du lịch của khu vực Tây Bắc.

- Phát triển du lịch bền vững trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; thu hút các nguồn lực đầu tư vào nâng cấp và xây dựng mới cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, chỉnh trang, nâng cấp các tuyến du lịch, điểm du lịch; đảm bảo an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.

- Tăng cường liên kết hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh Tây Bắc mở rộng, các tỉnh Bắc Lào và Đông Bắc Thái Lan;.

- Trong giai đoạn 2011-2015, phấn đấu số lượt khách du lịch tăng bình quân 21,5%/năm, tăng 15,7% trong giai đoạn 2016-2020, tăng 12% trong thời kỳ 2021-2030. Năm 2020 thu hút khoảng 870 ngàn lượt du khách (trong đó có 220 ngàn lượt khách Quốc tế), năm 2030 gấp trên 3,0 lần năm 2020.


b) Nhiệm vụ và giải pháp


- Phát triển thị trường khách du lịch bao gồm thị trường khách du lịch truyền thống và thị trường khách du lịch tiềm năng.

Thị trường truyền thống: Với hai loại hình du lịch trọng tâm là du lịch văn hóa lịch sử và du lịch sinh thái, thị trường khách du lịch trọng tâm là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, thị trường khối các nước ASEAN, thị trường Úc; Thị trường khách trong nước từ các tỉnh khác.

Thị trường tiềm năng được xác định gồm: Các nước khối Bắc Âu, các nước Bỉ, Hà Lan, Luxambua, Ấn Độ, Niu Zi Lân, Canada...

- Phát triển ba loại hình và sản phẩm du lịch chủ yếu: 1) Sản phẩm dựa trên loại hình du lịch văn hóa-lịch sử; 2) Sản phẩm dựa trên loại hình du lịch sinh thái; và 3) Sản phẩm du lịch dựa trên loại hình du lịch thương mại, công vụ.

- Tổ chức hợp lý không gian du lịch trong toàn tỉnh. Tập trung đầu tư có chọn lọc một số khu, tuyến, điểm du lịch trọng điểm có ý nghĩa quốc gia, tạo ra những sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, có chất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh và giàu bản sắc dân tộc. Trung tâm phát triển du lịch cả tỉnh là TP Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay là trọng tâm phát triển du lịch ở khu vực phía Bắc tỉnh có vai trò phụ trợ cho trung tâm cả tỉnh.

Không gian ưu tiên phát triển du lịch lat TP Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay và phụ cận, khu vực Mường Nhé, khu vực thị trấn Tuần Giáo và đèo Pha Đin.

- Khu, điểm du lịch. Khu du lịch quốc gia chuyên đề văn hóa lịch sử và sinh thái gồm: Điện Biên Phủ-Pá Khoang-Mường Phăng; Khu, điểm du lịch địa phương, khu vực gồm Hồ Pá Khoang và Sở chỉ huy Chiến dịch ở Mường Phăng, Noong Bua; nước nóng Hua Pe, U Pe, U Va; Khu du lịch Him Lam; thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất, động Pa Thơm; khu bảo tồn Mường Nhé, tx Mường Lay và phụ cận, nước nóng bản Sáng, đèo Pha Đin,...

- Cụm du lịch gồm cụm du lịch TP Điện Biên Phủ và vùng phụ cận; Cụm du lịch Mường Lay và vùng phụ cận; Cụm du lịch Tuần Giáo-Pha Đin và phụ cận; Mường Nhé được xác định là cụm du lịch tiềm năng.

- Tuyến du lịch nội tỉnh hình thành theo các tuyến đường bộ điển hình như i) tuyến du lịch TP Điện Biên Phủ-TX Mường Lay, ii) Tuyến TP Điện Biên Phủ-Tuần Giáo-vùng phụ cận,... Tuyến du lịch đường sông: dọc theo sông Đà; tuyển du lịch liên tỉnh qua miền Tây Bắc,... Tuyến du lịch quốc tế như tuyến từ Trung Quốc qua cửa khẩu Ma Lu Thàng-TX Mường Lay-TP Điện Biên Phủ sau đó đi các điểm du lịch khác, tuyến qua cửa khẩu Tây Trang- TP Điện Biên Phủ sau đó đi các điểm du lịch khác,...

- Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng du lịch:

(1) Đầu tư phát triển các khu, tuyến, điểm du lịch;

(2) Phát triển hệ thống lưu trú và công trình dịch vụ: Xây dựng mới một số khách sạn, nhà nghỉ khác với quy mô phù hợp tại TP Điện Biên Phủ, KKT cửa khẩu Tây Trang, khu nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí hồ Pa Khoang, thị xã Mường Lay và các khu cửa khẩu khác (theo tiến độ nâng cấp cửa khẩu)... Việc phát triển hệ thống khách sạn du lịch trong tỉnh cần chú trọng cả các khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế và các khách sạn, nhà nghỉ mang tính "dân tộc, dân dã" để phục vụ mọi đối tượng du khách.

(3) Phát triển hệ thống các công trình vui chơi giải trí như các công trình văn hóa-thể thao, hội nghị-hội thảo-hội chợ và xây dựng hệ thống công viên vui chơi giải trí. Tôn tạo hệ thống di tích lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng và hệ thống các bản văn hóa dân tộc Tây Bắc. Xây dựng hệ thống các công trình vui chơi giải trí gắn liền với các đô thị lớn, các trung tâm, các cụm, điểm du lịch như: các công trình văn hóa - thể thao, hội nghị - hội thảo - hội chợ triển lãm, khu thương mại, hệ thống công viên giải trí tại TP Điện Biên Phủ; các công trình vui chơi giải trí ở hồ Pa Khoang, Noong Bua, Uva, Hua Pe, Pa Thơm, khu nghỉ mát núi cao Pú Nhi, hồ Na Ngam...; các công trình văn hóa - thể thao, vui chơi giải trí, các tuor du lịch dọc sông Đà... (thị xã Mường Lay).

(4) Đầu tư nâng cao trình độ quản lý, nghiệp vụ du lịch. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch với tốc độ nhanh trong thời gian tới. Xây dựng chương trình toàn diện và có kế hoạch cụ thể cho việc đào tạo mới, đào tạo lại nguồn nhân lực cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, kiến thức lịch sử văn hóa, phong cách thái độ giao tiếp, đặc biệt là cho các hướng dẫn viên, nhân viên buồng, bàn, bar, tiếp thị, quảng cáo... là những người thường xuyên tiếp xúc, giao dịch với khách quốc tế. Lập kế hoạch tuyển chọn và cử cán bộ trẻ có năng lực đến các trung tâm đào tạo du lịch lớn trong nước như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu...để học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ quản lý cũng như nghiệp vụ du lịch.




3.4. Các dịch vụ khác


- Dịch vụ tư vấn bất động sản có vai trò quan trọng góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh cho các ngành công nghiệp trên cơ sở thu hẹp dần độ doãng về chênh lệch giá bất động sản với thu nhập bình quân từ các ngành công nghiệp.

- Phát triển đồng bộ các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ vận tải, thông tin, bưu điện, tư vấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ xã hội khác...để phát huy sức mạnh tổng hợp của khu vực dịch vụ, đồng thời hình thành một thị trường dịch vụ sôi động, có hiệu quả tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, đáp ứng các yêu cầu về giao lưu kinh tế, văn hoá trong xu thế hội nhập.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động tài chính ngân hàng, đáp ứng cao nhất nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất của nhân dân và các doanh nghiệp. Củng cố và mở rộng các hình thức cho vay vốn của các ngân hàng đóng trên địa bàn, tạo cơ chế linh hoạt để mọi thành phần kinh tế được vay vốn phát triển sản xuất một cách thuận tiện. Xúc tiến việc mở thêm một số chi nhánh ngân hàng khác đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng lớn trong thời gian tới. Thực hiện đa dạng hoá các tổ chức tín dụng. Từng bước mở rộng các hình thức tín dụng (Hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân...) đến các vùng nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động vốn và vay vốn của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân để phát triển sản xuất kinh doanh.

Tập trung khai thác tốt các nguồn lực tài chính cho phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu cho ngân sách tỉnh. Thực hiện thu đúng, thu đủ và kịp thời, kiên quyết chống thất thu, buôn lậu và gian lận thương mại, nhất là ở các khu vực cửa khẩu. Quản lý việc chi ngân sách theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, nhất là trong xây dựng cơ bản. Làm tốt công tác quản lý ngân sách xã, tăng cường thanh tra, kiểm tra, thực hiện chế độ công khai tài chính, ngân sách ở các cấp và các đơn vị cơ sở. Xây dựng kế hoạch và cơ cấu thu - chi hợp lý, phù hợp với tình hình của địa phương

Đa dạng hóa các hình thức và các thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực vận tải hàng hóa bằng đường bộ và đường sông; quản lý và nâng cao chất lượng vận tải hành khách, đáp ứng nhu cầu đi lại và giao lưu hàng hóa của nhân dân. Chuẩn bị điều kiện để có thể tham gia thị phần vận tải quốc tế trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc khi có điều kiện.

- Đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng phục vụ của ngành bưu chính viễn thông, đáp ứng nhu cầu thông tin cho phát triển kinh tế và đời sống nhân dân trong tỉnh, nhất là cho các xã vùng cao, vùng xa. Chỉ tiêu số điện thoại trên 100 dân năm 2013 khoảng 65,9 là khá cao, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu. Trong những năm tới, nhiệm vụ chủ yếu là nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đảm bảo thông tin kịp thời, giảm nghẽn mạch vào các dịp lễ tết.

- Khuyến khích phát triển các dịch vụ hướng nghiệp, khuyến nông, khuyến lâm cho đồng bào các dân tộc ít người; hướng dẫn luật pháp, bảo hiểm, đào tạo ngành nghề, ngoại ngữ, tin học và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân... Mở rộng mạng lưới dịch vụ phục vụ sản xuất ở nông thôn, tạo điều kiện giúp đỡ nông dân đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

Việc phát triển toàn diện các loại hình dịch vụ như trên tạo cho khu vực này ngày càng có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế của tỉnh (năm 2015 chiếm 45,7% và năm 2030 chiếm trên 55% tổng GRDP) và trở thành ngành mũi nhọn, tham gia giải quyết việc làm có hiệu quả và văn minh cho người lao động, đồng thời góp phần hiện đại hoá nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.





tải về 1.57 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương