Rà soát quy hoạch phát triển kt-xh tỉnh đIỆn biêN ĐẾn năM 2020, TẦm nhìN 2030 Mục lục



tải về 1.57 Mb.
trang5/19
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích1.57 Mb.
#4144
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19

V. THỰC HIỆN TỔ CHỨC LÃNH THỔ

1. Phát triển mở rộng TP Điện Biên Phủ và các đô thị khác


* TP Điện Biên Phủ: Thực hiện QH 2006, TP Điện Biên Phủ đã được mở rộng cả về diện tích và số đơn vị hành chính trực thuộc. Theo Nghị định số 110/2003-NĐ-CP ngày 26 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về thành lập TP Điện Biên Phủ, khi đó diện tích thành phố có 6.009 ha, đã tăng lên 6.427 ha năm 2010 và ổn định diện tích cho đến hiện nay (2014). Khi mới thành lập năm 2003, thành phố Điện Biên Phủ có 8 đơn vị hành chính, gồm 7 phường và 1 xã, đã tăng lên 9 đơn vị hành chính gồm 7 phường và 2 xã, trong đó xã Tà Lèng lã xã mới.

* Các đô thị khác: Đất đô thị toàn tỉnh Điện Biên khá ổn định trong giai đoạn 2010-2014 là 14.393 ha (chiếm 1,51% tổng diện tích tự nhiên của Tỉnh), tuy nhiên diện tích đất ở tăng thêm gần 1,3% trong cùng thời kỳ.

Các đô thị khác bao gồm: Thị xã Mường Lay là đô thị loại IV, nằm ở đầu mối giao thông quan trọng (ngã ba QL12 và QL6), là trung tâm kinh tế thương mại, dịch vụ ở khu vực cửa ngõ phía Bắc của tỉnh. Các thị trấn huyện lỵ là đô thị loại V gồm thị trấn Tuần Giáo (huyện Tuần Giáo), thị trấn Mường Ảng (huyện Mường Ảng), thị trấn Điện Biên Đông (huyện Điện Biên Đông), thị trấn Tủa Chùa (huyện Tủa Chùa) và thị trấn Mường Chà (huyện Mường Chà), trung tâm huyện lỵ Mường Nhé.

2. Tổ chức không gian các ngành và lĩch vực


a) Không gian công nghiệp. Trong giai đoạn 2007-2014, không gian công nghiệp mới được bổ sung trên địa bàn Tỉnh, sát với QH 2006, theo quốc lộ 279 đi từ thành phố Điện Biên Phủ đi Sơn la và đường ra cửa khẩu quốc tế Tây Trang, bao gồm: Nhà máy xi măng Điện Biên; Nhà máy gạch tuynel; Nhà máy chế biến gỗ thanh, ván ép; Nhà máy chế biến tre; Nhà máy thủy điện Nậm He; Nhà máy thủy điện Nậm Mức.
b) Không gian du lịch. Không gian du lịch trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã được định hình khá rõ nét có trọng tâm, trọng điểm và theo các tuyến. Trọng tâm du lịch gồm TP Điện Biên Phủ và thị xã Mường Lay; đã hình thành 2 tuyến du lịch trọng điểm trên địa bàn là: tuyến du lịch dọc quốc lộ 12 và quốc lộ 4 D (cửa khẩu Tây Trang - TP Điện Biên Phủ - thị xã Mường Lay - Lào Cai) và tuyến du lịch dọc quốc lộ 279 (TP Điện Biên Phủ - Tuần Giáo - đèo Pha Đin - Sơn La). Ngoài 2 tuyến chính nêu trên đã hình thành một số tuyến du lịch phụ với vai trò bổ trợ cho tuyến chính để đa dạng thêm các loại hình du lịch và kéo dài thời gian tham quan của du khách.

Trong giai đoạn 2007-2014, đã tiếp tục tập trung xây dựng một số cụm du lịch quan trọng trên cơ sở liên kết giữa các điểm du lịch trong từng khu vực, trong đó trọng tâm là:

+ Cụm du lịch TP Điện Biên Phủ và vùng phụ cận mà trọng tâm là khu vực TP Điện Biên - Pa Khoang - Mường Phăng đã được Chính phủ phê duyệt là Khu du lịch chuyên đề văn hóa - lịch sử quốc gia.

+ Cụm du lịch thị xã Mường Lay và vùng phụ cận

+ Các cụm du lịch Tuần Giáo - Pha Đin, Mường Nhé, Pú Nhi
c) Các vùng kinh tế, các khu tái định cư tập trung. Trong giai đoạn 2007-2014, tỉnh Điện Biên đã tập trung đầu tư phát triển 3 vùng kinh tế là: i) trục kinh tế động lực quốc lộ 279 đã có nhà máy chế biến gõ thanh và ván ép Tuần Giáo; ii) Vùng kinh tế (lâm, nông nghiệp) sinh thái sông Đà và iii) Vùng kinh tế Mường Chà - Mường Nhé.

d) Tổ chức sắp xếp lại các đơn vị hành chính gắn với bố trí lại dân cư trên toàn địa bàn. Trong giai đoạn 2007-2014 đã thực hiện tổ chức sắp xếp lại đơn vị hành chính, theo Nghị quyết số 45/NQ-CP, ngày 25/8/2012.


3. Không gian tái định cư


Theo quy hoạch tổng thể tái định cư đã được phê duyệt điều chỉnh, trên địa bàn có 5 vùng, 11 khu, 11 điểm tái định cư có khả năng dung nạp toàn bộ 4.436 hộ tái định cư trên địa bàn tỉnh. Đến nay đã triển khai 278 dự án thành phần trong đó đã hoàn thành đưa vào sử dụng là 181 dự án15. Các dự án được xây dựng cơ bản đảm bảo chất lượng phát huy hiệu quả đầu tư góp phần hoàn thiện hạ tầng kinh tế- xã hội, giúp nhân dân tái định cư nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Đến nay, đã hoàn thành di chuyển 4.359/4.436 hộ, tăng 23 hộ so với Quyết định số 801/QĐ-TTg16, cụ thể: Thị xã Mường Lay thực hiện di chuyển 3.579 hộ với 12.466 nhân khẩu; thành phố Điện Biên Phủ 245 hộ với 980 nhân khẩu; huyện Tủa Chùa 388 hộ với 2.374 nhân khẩu; huyện Mường Chà 20 hộ với 111 nhân khẩu; huyện Mường Nhé 37 hộ với 336 nhân khẩu; và dự án đường tránh ngập quốc lộ 12 (trên địa bàn tỉnh Điện Biên) 190 hộ với 743 nhân khẩu.

Tổng số hộ được bố trí tại 11 khu gồm 14 điểm tái định cư trên địa bàn tỉnh là 4.329/4.423 hộ (giảm 2 khu, 3 điểm so với quy hoạch tổng thể được phê duyệt). Công tác di chuyển, tái định cư được đảm bảo tiến độ và an toàn tuyệt đối.

VI. NHỮNG LỢI THẾ SO SÁNH, KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN

1. Các lợi thế


- Diện tích tự nhiên rộng, tài nguyên đa dạng, trong đó một số loại có tiềm năng lớn như tài nguyên rừng và đất rừng, tiềm năng thuỷ điện, tài nguyên du lịch... là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất hàng hoá.

- Có cửa khẩu Tây Trang với Khu kinh tế cửa khẩu Tây Trang và một số cửa khẩu khác với Lào và với tỉnh Vân Nam Trung Quốc; có đường xuyên Á dự kiến đi qua địa bàn, tao cơ hội phát triển kinh tế cửa khẩu, mở rộng giao thương quốc tế, phát triển kinh tế đối ngoại, du lịch và dịch vụ vận tải quốc tế.

- Nghị quyết 37/NQ-TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính Trị về phương hướng phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 tiếp tục là “cú hích” mạnh tạo đà cho phát triển KT-XH của tỉnh với tốc độ nhanh hơn. Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đã được phê duyệt đã có những định hướng lớn về phát triển kinh tế-xã hội cả vùng nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng.

- Việc triển khai xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La và nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ trên địa bàn (QL 6; QL 279 và QL 12) là những cơ hội và nguồn lực to lớn trong việc tổ chức xắp xếp lại dân cư, lao động, tạo điều kiện khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của tỉnh để phát triển sản xuất hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Những năm gần đây nền kinh tế của tỉnh phát triển khả quan, đạt tốc độ tăng trưởng khá và có xu hướng tăng dần vào những năm cuối kỳ tạo đà cho sự phát triển thuận lợi trong giai đoạn tiếp theo.

- Các lĩnh vực văn hoá - xã hội đạt được nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được bảo vệ vững chắc.


2. Những khó khăn


(1). Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội gần 500 km về phía Tây; phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam – Trung Quốc; phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, qui mô nền kinh tế còn nhỏ bé, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế còn thấp, năng suất lao động và trình độ công nghệ chưa cao, sức cạnh tranh kém, khả năng thu hút nguồn vốn kể cả trong nước và ngoài nước còn nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng khá nhưng chưa ổn định, còn nhiều yếu tố chưa đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Giá trị các sản phẩm công nghiệp - xây dựng, dịch vụ tuy có tăng nhưng chiếm tỷ lệ chưa tương xứng. Phát triển nông nghiệp thiếu tính bền vững; công tác quản lý tài nguyên - nhất là quản lý bảo vệ rừng, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên nước còn nhiều bất cập, xã hội hóa nghề rừng còn yếu…

(2). Là một trong số các tỉnh nghèo nhất cả nước, sản xuất hàng hóa chậm phát triển, đời sống đồng bào vùng cao còn nhiều khó khăn; quy mô nền kinh tế rất nhỏ bé, chưa có tích lũy, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm...Nhu cầu đầu tư cho phát triển trên tất cả các lĩnh vực là rất lớn, trong khi đó nguồn thu ngân sách còn thấp; huy động các nguồn vốn trong dân cư và các thành phần kinh tế còn khó khăn; thu hút đầu tư từ bên ngoài còn hạn chế. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày càng xa hơn so với trung bình cả nước và các tỉnh khác trong khu vực vẫn là thách thức lớn.

(3). Kết cấu hạ tầng KT-XH tuy đã được quan tâm đầu tư và có bước phát triển đáng kể, nhưng vẫn còn yếu kém, thiếu đồng bộ, chưa đủ đáp ứng cho một nền sản xuất hàng hoá và phát triển dịch vụ trong điều kiện cạnh tranh. Xa Trung ương và các Trung tâm kinh tế lớn, giao thông đối ngoại còn nhiều hạn chế. Địa bàn rộng, địa hình chủ yếu là núi cao chia cắt mạnh, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém và chưa đồng bộ đã và sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút đầu tư từ bên ngoài, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài.

(4). Khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa vùng thấp với vùng cao và giữa khu vực nông nghiệp (chiếm đại đa số) với khu vực phi nông nghiệp còn rất lớn (thu nhập bình quân đầu người khu vực nông nghiệp mới đạt 6,42 triệu đồng/năm, chỉ bằng 37,3% mức thu nhập bình quân toàn tỉnh) cũng là thách thức lớn cần giải quyết.

(5). Trình độ dân trí và nguồn nhân lực thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu tiếp thu, vận dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất và đời sống. Phong tục tập quán sản xuất và sinh hoạt của một bộ phận lớn dân cư còn lạc hậu, dễ bị lôi kéo, kích động. Tập quán sản xuất tự túc tự cấp của đồng bào vùng cao và tư tưởng trông chờ bao cấp ở một bộ phận cán bộ, đảng viên còn tồn tại...là những cản trở lớn đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

(6). Một số tổ chức chính trị cơ sở còn yếu kém. Đường biên giới phía Tây dài, vùng biên giới rộng nhưng dân cư thưa thớt và phân tán, là địa bàn trọng điểm chống phá của bọn phản động và các thế lực thù địch với âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, truyền đạo trái phép nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc... là nguy cơ gây mất ổn định chính trị và chủ quyền biên giới Quốc gia.


3. Cơ hội


- Cơ hội trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế: Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội về thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông lâm sản của tỉnh: cà phê, cao su, tinh bột sắn, gỗ chế biến và các sản phẩm đồ thủ công mỹ nghệ

- Cơ hội phát triển cùng với các tỉnh Tây Bắc nói riêng và cả vùng TDMNBB nói chung đang là địa bàn chiến lược được Trung ương Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm đầu tư, có nhiều chính sách hỗ trợ. Đặc biệt đang có những bước tiến mạnh mẽ về hạ tầng kết nối, sản xuất nông nghiệp, du lịch...được sự quan tâm của nhiều nhà tài trợ quốc tế.

- Cơ hội tái cấu trúc, chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Cả nước đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tăng trưởng có chất lượng, hướng vào các mục tiêu tăng trưởng bền vững, trong đó đặc biệt lưu tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu. Nắm bắt cơ hội này tỉnh cần tập trung vào các mục tiêu có tính bền vững, tăng trưởng đi đôi với các mục tiêu về môi trường, tranh thủ nguồn vốn của các nhà tài trợ.

4. Thách thức


- Thách thức về cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu hàng hóa nông sản đặc biệt là các quốc gia chủ yếu dựa vào xuất khẩu nông lâm sản và khoáng sản: Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gia tăng cạnh tranh, thị trường trong và ngoài nước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, phẩm cấp của sản phẩm, trên bình diện quốc gia nói chung và địa phương nói riêng nếu không nâng cao chất lượng các sản phẩm sẽ khó giữ chân được tại các thị trường có yêu cầu ngày càng khắt khe hơn. Ngoài ra, môi trường trong và ngoài nước thường xuyên biến đổi đòi hỏi tỉnh phải luôn có chính sách thích ứng.

- Thách thức về nguồn lực đầu tư trước những yêu cầu phát triển mới: Có điều kiện phát triển nhưng để phát triển đòi hỏi nguồn lực lớn về con người có kỹ năng lao động, nguồn lực đầu tư,...và cần có những bước đi thích hợp.

- Thách thức về sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực phát triển, các đô thị và vùng sâu, vùng xa: Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn cao, tái nghèo và chênh lệch mức sống giữa các vùng trong tỉnh còn khá lớn, có xu thế ngày càng doãng ra, làm gia tăng nguy cơ những bất ổn trong đời sống xã hội. Trong khi tỉnh đứng trước yêu cầu phải tập trung phát triển có trọng tâm, trọng điểm để tạo tính lan tỏa.

- Thách thức về nguy cơ bất ổn chính trị, trật tự an ninh trong điều kiện phát triển mới: Các tỉnh Tây Bắc nằm ở địa bàn nhạy cảm về chính trị an ninh, tình hình tội phạm và các tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp. Tỉnh lại đứng trước yêu cầu phải tập trung phát triển kinh tế, thu hút đầu tư kể cả các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài nên vừa phải có cơ chế thu hút đầu tư nhưng lại phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác.

- Thách thức về bảo vệ môi trường trong điều kiện ứng phó biến đổi khí hậu: đứng trước yêu cầu về mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên, xây dựng các công trình thủy điện, phát triển các khu công nghiệp, đặt ra các yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ môi trường, không phát triển bằng mọi giá, trong đó quan tâm đến các điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu, nguy cơ gia tăng tần suất các ảnh hưởng xấu của thiên tai như lũ quyét, lũ ống, sạt lở núi, hạn hán, cháy rừng ...

4. Vị thế của Điện Biên với các tỉnh phụ cận


So với các tỉnh phụ cận (Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình), Điện Biên là tỉnh có diện tích lớn chỉ sau tỉnh Sơn La và trên tỉnh Hòa Bình; là tỉnh có tiềm năng và lợi thế trong phát triển nông lâm nghiệp, nhất là lâm nghiệp; song GRDP bình quân đầu người đứng thứ 3/4 tỉnh trong Tây Bắc và thứ 10/12 tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc Bộ.

Năm 2014, Điện Biên tăng 17 bậc trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, từ 60/63 năm 2006 lên xếp hạng 43/63 tỉnh thành. Nếu tính trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, PCI 2014 của Điện Biên xếp hạng 3/14 tỉnh, thành, tăng 10 bậc so với năm 2006 (13/14 tỉnh).

Năm 2014, trong số 9 chỉ tiêu thành phần của CPI, Điện Biên có 6 chỉ số thành phần cao hơn trung bình vùng TDMNBB, và có 5 chỉ tiêu thành phần cao hơn vùng Tây Bắc. Các chỉ số thấp hơn nhiều so với mức trung bình vùng TDMN BB và vùng Tây Bắc là chỉ số về chi phí thời gian và chỉ số thiết chế pháp lý.


Bảng 11: So sánh vị thế kinh tế tỉnh Điện Biên và các tỉnh phụ cận năm 2013


Chỉ tiêu

Điện Biên

Lai

Châu


% so

Lai Châu

Sơn La

% so

Sơn La

V. Tây Bắc

(4 tỉnh)


% so với

Tây Bắc

Vùng TDMNBB

(14- tỉnh)



% so với

TDMNBB

1. Diện tích (km2)

9562,9

9068,8

105,4

14174,4

67,5

37414,8

25,6

95273,0

10,0

2. Dân số (ngàn người)

519,3

403,2

128,8

1134,3

45,78

2862,9

18,14

11421,4

4,547

Mật độ dân số (người/km2)

54,3

44,5

122,1

80,0

67,86

76,5

70,97

119,9

45,3

3. GRDP (giá TTế) – tỷ đồng

7378,6

4073,5

181,1

18941,7

38,95

48025,4

15,36

173189,5

4,26

4.Tăng trưởng GRDP: (%)

10,0

13,1

76,4

12,5

80,1

10,5

95,1

11,7

85,0

- Giai đoạn 2006-2010

11,6

12,9

89,9

14,0

82,9

10,8

107,6

10,7

108,7

- Giai đoạn 2011-2014

8,0

13,2

60,1

10,6

75,4

10,1

78,7

13,1

60,9

5. GTSX CN+XD giá 2010 (tỷ đ)

1696,1

2859,5

59,31

4330,0

39,17

24020,4

7,061

140761,3

1,205

6. GTSX NN giá 2010 (tỷ đ)

2732,8

1766,3

154,7

5395,2

50,65

16272,1

16,79

71618,4

3,816

7. Thu NS trên địa bàn (tỷ đ)

2282,7

7898,7

28,9

16119,4

14,16

28147,6

8,11

100533,2

2,271

8. Giá trị xuất khẩu (tr. USD)

13885.0

5907.0

235.1

3670.0

378.3

72576.1

19.1

1842867.0

0.8

9. TNBQ đầu người (tr.đ)

17,2

12,2

141,6

20,0

86,0

19,8

86,8

17,8

96,6

10. Thu NS/ người (1000đ)

4396

19590

22,44

14211

30,93

9832

44,71

8802

49,94

11. Xuất khẩu/ người (USD)

27

15

180

3

900

25

108

161

16,77

12. Lương thực BQ/người (kg)

450

440

102,3

746

60,32

565

79,65

410

109,8

13. HSPT/1vạn dân (người)

2171

2069

104,9

1892

114,7

1886

115,1

1685

128,8

14. Tỷ lệ đô thị hóa (%)

15,0

14,4

104,0

14,0

107,5

14,5

103,4

17,1

87,9

15. Tỷ lệ hộ nghèo (%)

38,2

41,4

92,4

31,9

119,9

31,5

121,3

23,5

162,4





tải về 1.57 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương