Rà soát quy hoạch phát triển kt-xh tỉnh đIỆn biêN ĐẾn năM 2020, TẦm nhìN 2030 Mục lục


III. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC XÃ HỘI



tải về 1.57 Mb.
trang4/19
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích1.57 Mb.
#4144
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19

III. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC XÃ HỘI

1. Dân số, lao động, giải quyết việc làm và giảm tỷ lệ nghèo


- Dân số: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao hơn so với mục tiêu, năm 2010 là 1,68% cao hơn so với quy hoạch 1,65%, năm 2013 dự kiến tăng tự nhiên là 1,68% và 1,4% năm 2015. Với xu thế trên năm 2020 đạt khoảng 1,35% sát với QH 2006 (1,35% vào năm 2020).

Việc làm: Trên thực tế, giai đoạn 2011-2013 ngoài việc ổn định việc làm thường xuyên cho 280.432 lao động/năm đã tạo việc làm mới cho 25.594 lao động (bình quân 8.5001 lao động/năm), về cơ bản đạt mục tiêu QH 2006 (7-8 ngàn lao động), dự kiến giai đoạn 2011-2015, số lao động được tạo việc làm mới tăng lên 42.594 lao động vượt mục tiêu quy hoạch. Tỷ lệ lao động được đào tạo năm 2010 đạt 29,51%, vượt mục tiêu QH (25%), năm 2013 đạt 38,35%, đến năm 2015 dự kiến đạt 42,7%, vượt mục tiêu (QH năm 2020 là 35%).

- Công tác xóa đói giảm nghèo được các cấp các ngành quan tâm thực hiện bằng nhiều giải pháp và chương trình dự án. Trong năm 2013 tỉnh Điện Biên đã được Chính phủ bổ sung thêm huyện Nậm Pồ vào diện thụ hưởng Chương trình 30a, ngoài ra có 02 huyện Tuần Giáo và Mường Chà có tỷ lệ hộ nghèo cao được hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng bằng 70% huyện nghèo (QĐ293/QĐ-TTg). Kết quả công tác xóa đói giảm nghèo có nhiều tiến bộ, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm 22% từ 50,01% năm 2010 xuống còn 28,01% năm 2015, với 18.844 hộ thoát nghèo, tỷ lệ giảm nghèo bình quân ước đạt 4,4%/năm. Riêng 5 huyện nghèo đã giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo từ 70,44% năm 2010 xuống còn 41,03% (bình quân giảm 5,88%/năm). Tuy tốc độ giảm hộ nghèo nhanh, song còn cao hơn so với mục tiêu quy hoạch, xuống dưới 20% vào năm 2010 và còn dưới 3% vào năm 2020. Vì vậy, mục tiêu 3% cần xem xét điều chỉnh, con số này còn thấp hơn cả mức thất nghiệp tự nhiên 5%.


2. Y tế, giáo dục-đào tạo và khoa học công nghệ


- Y tế: Mạng lưới cơ sở y tế từ tỉnh đến xã, bản được tăng cường, củng cố, về cơ bản đạt và vượt các mục tiêu quy hoạch. Năm 2010, có 16,1% trạm y tế xã có bác sĩ, 32,1% thôn bản có nhân viên y tế , đạt 5,8 bác sĩ/1vạn dân . Dự kiến năm 2015 đạt 60% trạm y tế xã có bác sĩ và đạt hơn 10,8 bác sĩ/1 vạn dân. Từng bước kiên cố hóa các cơ sở y tế từ tỉnh đến xã.

Năm 2013 toàn tỉnh hiện có 175 cơ sở y tế với 1.490 giường bệnh, dự ước đến năm 2015 có 175 cơ sở với 1.634 giường bệnh, tăng 144 giường bệnh so với năm 2013. Lực lượng cán bộ y tế được tăng cường về số lượng và chất lượng. Năm 2013 toàn tỉnh có 3.186 cán bộ y tế, trong đó có 460 bác sĩ, dự ước đến năm 2015 có 3.846 cán bộ y tế, trong đó có 585 bác sỹ, tăng 660 cán bộ, trong đó số cán bộ y tế có trình độ đại học (bác sĩ) tăng 1,27 lần.

Năm 2010, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi) còn 22,97% sát với mục tiêu quy hoạch là dưới 20% vào năm 2015.

- Giáo dục - đào tạo: Những thành tựu đã đạt được đáp ứng mục tiêu quy hoạch. Toàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ, phổ cập giáo dục THCS, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ học sinh các cấp lên lớp đạt 99%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 97,5%; 241/520 trường (46,3%) số trường đạt chuẩn quốc gia. Huy động trẻ từ 3-5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 92,3% (trong đó trẻ 5 tuổi ra lớp mẫu giáo chuẩn bị vào lớp 1 đạt 98,4%); học sinh 6-10 tuổi đến trường đạt 99,2%; học sinh 11-14 tuổi đi học THCS đạt 90,2%; học sinh 15-18 tuổi đi học THPT đạt 55,2%.

- Khoa học - công nghệ được đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, chú trọng phát triển công nghệ bảo quản sau thu hoạch và chế biến sản phẩm như chế biến chè, cà phê.

3. Văn hóa – TDTT- Phát thanh truyền hình


- Văn hóa - thông tin đạt và vượt mục tiêu quy hoạch: Đời sống văn hoá ở cơ sở được chú trọng. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được đẩy mạnh. Dự ước năm 2015 có 60% hộ gia đình, 45% thôn, bản đạt chuẩn văn hoá (tăng 24,26% về tỷ lệ hộ gia đình văn hóa và tăng 28,6% tỷ lệ thôn, bản văn hóa so với năm 2010). Hoạt động văn học, nghệ thuật đã bám sát cuộc sống, có những tác phẩm tốt phục vụ nhu cầu hưởng thụ của nhân dân. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa được quan tâm. Đến năm 2015, 17 di tích được xếp hạng di tích cấp Quốc gia và cấp tỉnh, tăng 142,8% so với năm 2010. Trong giai đoạn 2011-2015 đã tổ chức phục dựng và lưu giữ 12 lễ hội truyền thống thuộc các dân tộc tỉnh Điện Biên; bảo tồn được 3/7 loại hình di sản văn hóa các dân tộc.

- Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan thông tấn, báo chí, PTTH từng bước được nâng lên, nhất là, mạng lưới thông tin ở cơ sở. Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động và dịch vụ văn hoá, ngăn chặn có hiệu quả các vi phạm, đặc biệt là vi phạm trong dịch vụ quảng cáo, băng đĩa hình, internet và quản lý di tích.

- Thể dục - thể thao quần chúng phát triển mạnh, nhất là phong trào thể dục thể thao quần chúng gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thể dục thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Dự ước năm 2015, số người tham gia tập luyện thể thao thường xuyên đạt 24%, tăng 22,4% so với năm 2010; số gia đình được công nhận gia đình thể thao đạt 15% tổng số gia đình toàn tỉnh, đạt 106,2% KH, tăng 13,3% so với năm 2010. Thể thao thanh tích cao đạt kết quả khá, từ năm 2011-2015, tỉnh đã đạt trên 234 huy chương các loại trong các cuộc thi khu vực và toàn quốc (tăng 30,7% so với giai đoạn 2006-2010)..

IV. PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG, NHẤT LÀ GIAO THÔNG, ĐIỆN, THUỶ LỢI, GÓP PHẦN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT.

1. Kết cấu hạ tầng kinh tế


Kết cấu hạ tầng kinh tế được bổ sung trong thời kỳ thực hiện QH 2006: Đã hoàn thành gồm nhà máy Xi măng Điện Biên (01/10/2009), Nhà máy Chế biến gỗ ghép thanh kết hợp sản xuất ván dăm (27/4/2014), Nhà máy chế biến tre huyện Điện Biên (đến nay còn nhiều ý kiến trái chiều), Nhà máy Gạch tuynel Na Hai, nhà máy thủy điện Nậm He (6/2014), Nậm Mức (9/2014)8 .

Kết cấu hạ tầng khu tái định cư: Các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phúc lợi công cộng tại các khu điểm tái định cư được tập trung đầu tư xây dựng cơ bản đáp ứng được tiến độ chuyển dân và phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân tái định cư và sở tại, các hộ đã được giao và tạm giao đất sản xuất, tập trung canh tác, từng bước đi vào ổn định. Việc triển khai hỗ trợ đầu tư khai hoang ruộng nước mới để chia cho các hộ tái định cư và các hộ sở tại chậm, do kinh phí hỗ trợ thấp. Các hộ nông nghiệp bị mất đất sản xuất đời sống còn gặp nhiều khó khăn, do chưa thể chuyển sang hoạt động thương mại hay sản xuất tiểu thủ công nghiệp

Mạng lưới giao thông:

- Các tuyến giao thông chính cơ bản đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi, đảm đương được vai trò là trục đường chính kết nối giao thông các vùng trong tỉnh với các khu vực lân cận và trung ương. Riêng 02 dự án: Cải tạo, nâng cấp QL 6 đoạn Tuần Giáo -Mường Lay theo tiêu chuẩn đường cấp V dài 105Km và dự án thành phần hai đoạn đoạn Điện Biên -Tây Trang Quốc lộ 279 dài 42Km) phải giãn tiến độ đầu tư sau năm 2015 nên giao thông đi lại rất khó khăn. Đường tỉnh tuy chưa được đầu tư nhiều, nhưng về cơ bản đi lại khá thuận lợi đảm bảo thông suốt bốn mùa. Đường hành lang biên giới được đầu tư, đảm bảo quốc phòng-an ninh. Giao thông nông thôn: Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có 130 xã, phường, thị trấn (116 xã). Trong đó, có 94/116 xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi lại được các mùa trong năm, còn 22/116 xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi được mùa khô.

- Bến bãi vận tải: Đến hết 2015 dự kiến xây dựng hoàn thành 4/7 bến xe đảm bảo theo tiêu chuẩn bến xe tại các huyện: Tủa Chùa, Mường Nhé, Điện Biên Đông, thị xã Mường Lay; các bến xe tại huyện Mường Chà, Tuần Giáo đã được xây dựng tuy nhiên không đủ theo quy hoạch diện tích nhỏ hơn 3.000m2;

- Hệ thống đường thủy nội địa: Giai đoạn 2011-2015 đã hoàn thành quy hoạch chi tiết cơ sở tầng giao thông đường thủy nội địa đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Tuy nhiên, hiện nay luồng tuyến và cơ sở hạ tầng (cảng, bến thủy) chưa được đầu tư xây dựng.

- Nâng cấp sân bay Điện Biên Phủ: Trong giai đoạn 2011-2015 việc nâng cấp sân bay Điện Biên Phủ theo tiêu chuẩn ICAO và sân bay quân sự cấp II chưa thực hiện theo kế hoạch đề ra do khó khăn về nguồn vốn và mặt bằng. Đã thực hiện trước các nội dung về xây dựng hàng rào, giải phóng tĩnh không

Kết cấu hạ tầng thủy lợi tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng đa mục tiêu. Giai đoạn 2011-2015 đã đầu tư xây dựng mới 96 công trình thủy lợi và nâng cấp sửa chữa 66 công trình. Đến nay, toàn tỉnh hiện có 793 công trình thuỷ lợi, trong có 522 công trình kiên cố, 271 công trình tạm, 1.370 km kênh mương các loại trong đó có 949,7Km kênh đã được kiên cố hóa, 420,4 km kênh đất9. Đảm bảo nước tưới cho trên 17.118 ha lúa mùa tăng 1.178 ha so với năm 2010, và tưới cho 9.638 ha lúa chiêm xuân, tăng 719 ha so với năm 2010. Hệ thống hồ, đập, kênh dẫn nước tưới được đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân khai hoang, tăng diện tích gieo trồng, thâm canh, tăng vụ, nâng cao năng suất và sản lượng các loại cây trồng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Kết cấu hạ tầng cấp điện: Hiên nay, 30/130 xã, phường thị trấn có điện và có trên 87,18% số hộ dân được sử dụng điện. Hiện tại nguồn cấp điện của tỉnh, chủ yếu từ lưới điện quốc gia tuyến đường dây 110kV Sơn La - Thuận Châu - Tuần Giáo - Điện Biên. Trên địa bàn tỉnh đến thời điểm hiện tại có 8 nhà máy thủy điện đang hoạt động với tổng công suất 36,54MW; trong đó 5 nhà máy có công suất trên 1MW là thuỷ điện Nậm He công suất 16MW; thủy điện Thác Bay (2,4 MW), thủy điện Nà Lơi (9,3 MW), thủy điện Thác Trắng (6 MW), thủy điện Pa Khoang (2,4 MW). Dự kiến cuối năm 2014 có thêm thủy điện Nậm Mức công suất 44MW được xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng.

Việc phát triển hạ tầng lưới điện được quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn vốn. Dự ước đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 170,74 km đường truyền tải điện cao thế (110KV); 2.077km đường dây trung thế (10-35KV); 2.061km đường dây hạ thế (0,4kV); trạm phân phối 777 trạm, tổng dung lượng khoảng 84.119kVA.

Kết cấu hạ tầng cấp nước:

- Cấp nước đô thị: Trong giai đoạn 2011- 2015, tỉnh đã hoàn thành đầu tư công trình cấp nước sạch tại các huyện lỵ Điện Biên Đông, Mường Lay và khu vực huyện lỵ Điện Biên, đến hết năm 2015 có 8/10 huyện thị đã được xây dựng Nhà máy xử lý nước sạch,10 nâng tổng số dân đô thị được cấp nước sạch ước đạt 97,49%, tăng 3,65% so với năm 2010. Đang tiến hành đầu tư nâng quy mô của Nhà máy nước thành phố Điện Biên Phủ lên 16.000m3/ngày, tiếp tục xúc tiến tìm kiếm nguồn vốn đầu tư nâng cấp hệ thống cấp nước thị trấn Mường Ảng theo quy hoạch đô thị được duyệt.

- Cấp nước nông thôn: Các công trình cấp nước sinh hoạt cho đồng bào vùng cao trong giai đoạn vừa qua được tích cực được triển khai bằng nhiều chương trình, dự án với tổng số 190 công trình được đầu tư xây dựng11, nâng tổng số dân nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh đến năm 2015 đạt 61,18%, tăng 7,23% so với năm 2010.

Kết cấu hạ tầng thông tin liên lạc, truyền thông, phát thanh, truyền hình: phát triển rộng khắp với nhiều hình thức khác nhau như đài phát thanh, báo chí, truyền hình, internet, thư viện…Ngày càng đáp ứng được nhu cầu học tập, cập nhật thông tin và liên lạc của người dân.

Tuy vậy, so với QH 2006, thì nhiều công trình thuộc kết cấu hạ tầng vẫn chưa được xây dựng và còn chậm tiến độ so với quy hoạch.

2. Kết cấu hạ tầng xã hội


Y tế: Hiện nay và đến năm 2015, toàn tỉnh có: 05 bệnh viện tuyến tỉnh 12, 01 khu điều trị bệnh nhân phong; 10 Trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh; 09 bệnh viện tuyến huyện (trong đó: thành lập mới bệnh viện huyện Nậm Pồ, nhưng chưa được ĐTXD cơ sở vật chất), 17 phòng khám đa khoa khu vực và 130/130 xã, phường, thị trấn có trạm y tế; 01 Trung tâm chữa bệnh giáo dục xã hội. Tổng số giường bệnh là 1.712 giường, trong đó tại các bệnh viện là 1.126 giường. Tuy vậy, các trạm y tế xã, phường còn thiếu thốn về vật chất, trang thiết bị cần thiết, nhất là các trạm y tế vùng cao, vùng xa.

Kết cấu hạ tầng giáo dục: Về hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh đã từng bước được cải thiện, nâng cấp, bổ sung đáp ứng cơ bản yêu cầu dạy và học. Năm 2014, toàn tỉnh có 4.132/7.350 phòng học được kiên cố hóa chiếm 56,2%. Trong 5 năm gần đây đã đầu tư xây dựng mới 1.000 phòng học (808 phòng học kiên cố); 137 Phòng bộ môn, 667 phòng công vụ (418 phòng kiên cố); 1.115 phòng nội trú (461phòng kiên cố). Đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012 được triển khai tích cực, song đến nay tổng mức vốn TPCP Chính phủ và huy động lồng ghép nguồn vốn CĐNSĐP mới đầu tư được 53,2% mục tiêu của cả giai đoạn. Công tác giáo dục và đào tạo nghề từng bước được phát triển. Hệ thống các trường đào tạo đã và đang được đầu tư xây dựng khá đồng bộ và hoàn chỉnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu giảng dạy, học tập của học sinh, sinh viên. Đến năm 2013, tỉnh có 03 trường cao đẳng gồm trường Cao đẳng Y tế Điện Biên, trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên và trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Điện Biên.

 Việc xây dựng, phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở được chú trọng, tăng cường. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 318 nhà văn hóa thể thao huyện, xã, bản13. Trong 5 năm đã xây dựng được 3 trung tâm hội nghị văn hóa huyện14, 1 trung tâm đào tạo phát triển cộng đồng huyện Tuần Giáo; 19 nhà văn hóa bản và 20 trung tâm sinh hoạt cộng đồng bản.

3. Kết cấu hạ tầng đô thị


Cơ bản hoàn thành xây dựng hạ tầng các trung tâm huyện lỵ mới thành lập (không kể huyện Nậm Pồ), Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ, các khu tái định cư thủy điện Sơn la trên địa bàn toàn tỉnh.

- Giao thông đô thị: Giai đoạn 2011 -2015 tổng chiều dài đường đô thị được đầu tư xây dựng khoảng 65Km. Trong đó bằng nguồn vốn Tái định cư thủy điện Sơn La đã cơ bản hoàn thành hạ tầng giao thông đô thị thị xã Mường Lay; hạ tầng giao thông khu tái định cư Noong Bua -Thành phố Điện Biên Phủ. Đến nay có 7/10 trung tâm đô thị cơ bản được đầu tư hệ thống giao thông đô thị góp phần tạo diện mạo khang trang, lưu thông thuận lợi cho các Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa trên địa bàn theo quy hoạch đô thị được duyệt. Cở sở hạ tầng trung tâm huyện lỵ huyện Mường Nhé, huyện Điện Biên đã cơ bản hoàn thành; huyện Nậm Pồ đã xây dựng xong khu trụ sở làm việc tạm cơ bản hoàn thành đáp ứng nhu cầu và điều kiện làm việc của cán bộ công chức của các huyện mới chia tách.

- Về thoát nước: Đã đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước đô thị gắn với các tuyến giao thông nội thị. Song, hệ thống thoát nước mới được đầu tư xây dựng tại một số đô thị như TP Điện Biên Phủ, huyện lỵ Điện Biên Đông và thị trấn Mường Chà, nhưng chưa được đầu tư hoàn chỉnh và chưa có hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra sông suối, gây ô nhiễm môi trường. Trong giai đoạn 2011 - 2015 năm quan Điện Biên đã tiếp tục hoàn chỉnh thủ tục Dự án thu gom xử lý nước thải thành phố Điện Biên Phủ (đã tổ chức đấu thầu EPC) bằng nguồn vốn ODA Phần Lan, dự kiến sẽ hoàn thành thủ tục để khởi công xây dựng vào cuối năm 2014.

- Thu gom xử lý rác thải: Đã hoàn thành dự án xây dựng bãi rác thải khu vực thị trấn Tuần Giáo, đang tiến đầu tư xây dựng bãi rác thải cho các thị trấn huyện Mường Nhé, Điện Biên Đông theo hình thức chôn lấp, đầu tư xử lý rác tại huyện Mường Ảng theo hình thức lò đốt băng khí tự nhiên từ nguồn vốn Bộ Tài nguyên và Môi trường hỗ trợ đầu tư bằng nguồn vốn từ Quỹ môi trường lồng ghép với vốn cân đối ngân sách địa phương và dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2015; Tiếp tục tìm kiếm nguồn lực để đầu tư xây dựng bãi rác mới thay thế bãi rác Noong Bua cho khu vực thành phố Điện Biên Phủ.




tải về 1.57 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương