Rà soát quy hoạch phát triển kt-xh tỉnh đIỆn biêN ĐẾn năM 2020, TẦm nhìN 2030 Mục lục


II. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH SẢN XUẤT



tải về 1.57 Mb.
trang3/19
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích1.57 Mb.
#4144
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19

II. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH SẢN XUẤT

1. Nông, lâm, ngư nghiệp (khu vực nông nghiệp)


Khu vực nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào ổn định xã hội, nhất là ổn định tái định cư thủy điện, trên cơ sở ổn định thu nhập và phát triển sản xuất tại nơi ở mới, bảo đảm các hộ tái định cư có thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi đại gia súc, gia cầm.

Đạt được thành tựu nêu trên, là do khu vực nông nghiệp đã giữ vững được tốc độ tăng trưởng, trong khi diện tích đất canh tác nông nghiệp giảm. Theo con số thống kê, trong giai đoạn 2006-2010, giá trị tăng thêm (GRDP) khu vực nông nghiệp tăng trung bình 4,8%/năm; giai đoạn 2011-2013 tăng 4,43%, dự kiến cả giai đoạn 2011-2015 tăng khoảng 4,48%.

Về quy mô tính theo giá trị, khu vực nông nghiệp nhỏ nhất, sau khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp + xây dựng. Năm 2013, GRDP (GRDP) khu vực nông nghiệp đạt 1.768 tỷ đồng; Năm 2015 ước đạt 1.820 tỷ đồng, giá 2010. Trong cùng năm 2010, GTSX đạt 2.882 tỷ đồng (giá SS năm 2010). Cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nông nghiệp, tỷ trọng lâm nghiệp giảm khá nhanh, trên 1%/năm, tuy độ che phủ của rừng tăng, đây là dấu hiệu đáng báo động.

Bảng 6: Giá trị sản xuất các ngành nông lâm ngư nghiệp



Đơn vị: tỷ đồng, %




Giá SS 1994

Giá SS 2010

Tốc độ tăng trưởng BQ

2005

2010

2010

2013

2006-2010

2011-2013

2006-2013

GTSX toàn ngành (giá SS)

642,8

874,0

2882

3224

6,1

3,8

5,4

1. Nông nghiệp

503,4

705,5

2349

2827

7,0

6,4

6,8

Tr. đó: Trồng trọt

406,9

539,7

1819

2144

5,8

5,6

5,7

Chăn nuôi

91,6

143,8

509

665

9,4

9,3

9,4

Dịch vụ NN

4,7

22,0

20

17

36,2

-5,3

18,8

2. Lâm nghiệp

132,3

160,4

490

328

3,9

-12,5

-2,6

3. Thuỷ sản

7,2

11,2

43

69

9,2

17,1

12,1

4. GTSX toàn ngành (HH)

1054,5

3.129

3.129

4.279

+2075

+1150




Nông nghiệp

797,3

2622

2622

3.747

+1825

+1125




Lâm nghiệp

241,0

453,3

453,3

426

+212

-27




Thuỷ sản

16,1

54.1

54.1

105

+38

+52




5. Cơ cấu GTSX (HH)

100,0

100,0

100,0

100,0










Nông nghiệp

75,6

83,8

83,8

87,6

+8,2

+3,8




Lâm nghiệp

22,9

14,5

14,5

10,0

-8,4

-4,5




Thuỷ sản

1,5

1,7

1,7

2,4

+0,2

+0,7




Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Điện Biên đến năm, 2009 và 2012

- Ngành trồng trọt, những năm gần đây (2008-2014) phát triển khá mạnh cả về số lượng và chất lượng, các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chịu hạn đã được đưa vào sản xuất ngày càng nhiều. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt năm 2015 ước đạt trên 1.951,483 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 4,48%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015.

 Sản xuất lương thực có bước phát triển khá, cơ bản đã bảo đảm an ninh lương thực trên địa bàn. Lương thực bình quân đầu người đạt 446,7 kg/người (năm 2013) và ước đạt 481 kg/người (dự ước năm 2015).

 Việc chuyển đổi các loại cây lương thực trên đất dốc sang trồng cây công nghiệp dài ngày có giá trị cao như cà phê, cao su được doanh nghiệp và nhân dân tích cực hưởng ứng triển khai thực hiện từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn để thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến trong giai đoạn 2016- 2020. Cây cà phê tập trung chủ yếu ở địa bàn huyện Mường Ảng, Tuần Giáo, đến cuối năm 2013 có 3.996 ha, ước tính năm 2015 đạt 4.786 ha, tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2011- 2015 là 14%/năm, sản lượng cà phê nhân đạt 5.409 tấn, năm 2015 ước đạt 9.564, tăng sản lượng bình quân đạt 34%/năm. Cây cao su, bắt đầu được trồng mới từ năm 2008, đến hết năm 2013 có 4.255 ha, ước tính năm 2015 đạt 6.230 ha.



- Ngành chăn nuôi luôn được duy trì và phát triển cả về số lượng và chất lượng. GTSX ngành chăn nuôi năm 2015 ước đạt trên 530 tỷ đồng, chiếm 21,36% tổng GTSX nông nghiệp của tỉnh, tốc độ tăng trung bình giai đoạn 2011 - 2015 đạt 5%/năm. Tuy nhiên, việc tổ chức sản xuất còn manh mún chưa khai thác hết tiềm năng, chưa tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, ổn định cho phát triển công nghiệp chế biến trên địa bàn.

- Ngành lâm nghiệp: Công tác bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi và phát triển rừng được chú trọng, tỷ lệ che phủ rừng tăng bình quân 1,2%/năm. Tuy nhiên, việc phát triển rừng sản xuất theo quy hoạch để tăng thu nhập cho người trồng rừng còn chậm, mức đóng góp của ngành lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 5,8% GRDP của tỉnh. Do, cơ cấu đầu tư trong ngành lâm nghiệp chưa hợp lý, các chương trình, dự án tập trung hỗ trợ trồng mới rừng phòng hộ, nên hiệu quả thấp, trong khi điều kiện tự nhiên, đất đai của Điện Biên cho phép phục hồi rừng tự nhiên rất nhanh nếu được đầu tư bảo vệ tốt.

- Đạt được kết quả nêu trên, do tác động của nhiều yếu tố, trong đó ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất là rất quan trọng, đã được quan tâm hơn, kể cả ở những vùng cao, vùng xa góp phần quan trọng vào tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.


2. Phát triển nông thôn mới và quản lý sắp xếp dân cư


Xây dựng nông thôn mới được Tỉnh tích cực triển khai thực hiện và đạt được kết quả khả quan. Dự kiến đến hết năm 2015, 100% số xã hoàn thành phê duyệt quy hoạch và phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới; 01 xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới, cơ sở hạ tầng các xã khác đã có những cải thiện tích cực6.

Về quản lý và chỉ đạo: Tỉnh đã có ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh, đồng thời đã thành lập Văn phòng điều phối giúp ban chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện chương trình. Cấp huyện: 100% huyện, thị, TP thành lập ban chỉ đạo; cấp xã có 79/98 (81%) xã thành lập Ban chỉ đạo nông thôn mới và 98/98 xã thành lập ban quản lý xây dựng nông thôn mới.

Về quy hoạch và xây dựng đề án nông thôn mới: Đến nay đã có 65 xã hoàn thành phê duyệt quy hoạch chung. Hiện còn 33 xã, đang hoàn tất thủ tục để trình thẩm định phê duyệt, dự kiến hoàn thành trong quý 4 năm 2013.

Kết quả đánh giá theo bộ tiêu chí quốc gia: Nhóm các xã đạt chuẩn từ 10-14 tiêu chí có 2/98 xã (xã Thanh Chăn, Thanh Xương của huyện Điện Biên). Nhóm đạt 5-9 chỉ tiêu có 9/98 xã. Nhóm đạt chuẩn dưới 5 tiêu chí có 87/98 xã.

Sắp xếp dân cư: Theo Quyết định số 570/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh đã xây dựng hai dự án sắp xếp, ổn định dân cư biên giới Viêt-Trung, huyện Mường Nhé. Trong năm 2013, phối hợp với UBND huyện Mường Nhé, UBND huyện Điện Biên đã trao trả dân di cư tự do về cho tỉnh Sơn La. Tiếp nhận dân di cư trái phép của huyện Mường Nhé do Tổng cục An ninh Lào trao trả tại Cửa khẩu Cầu Treo, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng


Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đang đi những bước đi ban đầu, tập trung chủ yếu ở công nghiệp chế biến thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng. Từ thực tiễn này cho thấy, phát triển công nghiệp là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, có tính tuần tự đi từ trình độ công nghệ thấp đến trình độ công nghiệp cao, trong đó cần bước nhanh qua mỗi giai đoạn, song bỏ qua sự tuần tự phát triển ngay công nghiệp trình độ cao là rất khó thu hút các nhà đầu tư.

Sản xuất công nghiệp trong những năm gần đây, đã có những chuyển biến khá tích cực. Trong giai đoạn 2011-2015 tỉnh đã thu hút thêm nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp mới được đầu tư và đi vào hoạt động như nhà máy chế biến gỗ ghép thanh kết hợp sản xuất ván dăm do Công ty cổ phần Rừng Việt Tây Bắc làm chủ đầu tư; nhà máy thuỷ điện Nậm He hoàn thành đi vào hoạt động, thuỷ điện Nậm Mức đang trong giai đoạn hoàn thiện; các dự án sản xuất vật liệu xây dựng như khai thác đá xây dựng, khai thác khoáng sản được nhiều thành phần kinh tế quan tâm đầu tư góp phần giảm giá thành xây dựng, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp.

Nhờ vậy, tốc độ tăng trưởng công nghiệp khá nhanh và tương đối ổn định. Trong giai đoạn 2006-2010, giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp – xây dựng tăng trung bình 13,1% (bằng 74,8%7 so với QH 2006), giai đoạn 2011-2015 ước tăng 6,55% (bằng khoảng 40% so với QH 2006), chi tiết xem bảng 7. Tuy nhiên vẫn còn tình trạng, một số các dự án công nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư như thủy điện, trồng rừng... còn chậm triển khai so với tiến độ cam kết, do nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, chi phí vốn cao và nhu cầu thị trường giảm sút.

Bảng 7: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá 2010)



Đơn vị: tỷ đồng




2005

2010

2013

2015

Tốc độ tăng (%)

2006-2010

2011-2013

2011-2015

Tổng số

2023

5091

5987

7240

20,3

5,6

7,3

Công nghiệp

622

1453

1839

2644

18,5

8,2

12,7

Công nghiệp khai thác

56

101

92

116

12,6

-3,2

2,8

Công nghiệp chế biến

498

1173

1618

2360

18,7

11,3

15,0

Sản xuất, phân phối điện, ga

60

152

105

137

20,5

-11,5

-2,0

Cung cấp nước và xử lý rác

8

28

24

31

28,5

-4,8

2,1

Xây dựng

1401

3638

4148

4596

21,0

4,5

4,8

Kinh tế Nhà nước

398

292

309

345

-6,0

1,9

3,4

Kinh tế ngoài Nhà nước

1003

3346

2994

3211

27,2

-3,6

-0,8

Loại hình khác

163

670

845

1041

32,7

8,0

9,2

Xã phường

10

28

4

68

22,5

-46,5

19,4

Hộ dân cư

28

642

841

973

87,3

9,4

8,7

Nguồn: NGTK tỉnh năm 2009, 2012 và số liệu thống kê tháng 3 năm 2014
Xây dựng: Tính theo giá so sánh 2010, GTSX xây dựng các năm 2005, 2010 và 2013 tương ứng đạt 1.401 tỷ, 3.636 tỷ, 4.148 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2006-2010, 2011-2013 tương ứng đạt 21,% và 4,5%. Dự kiến trong giai đoạn 2011-2015 tốc độ xây dựng tăng khoảng 4,8%.
Bảng 8: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành)




GTSX (tỷ đồng)

Cơ cấu (%)

2005

2010

2013

2015

2005

2010

2013

2015

Tổng số

1289

5052

7946

9680

100,0

100,0

100,0

100,0

Công nghiệp

535

1414

2397

3440

41,5

28,0

30,2

35,5

Công nghiệp khai thác

32

101

144

182

2,5

2,0

1,8

1,9

Công nghiệp chế biến

440

1173

2077

3029

34,1

23,2

26,1

31,3

Sản xuất, phân phối điện, ga

56

123

136

177

4,4

2,4

1,7

1,8

Cung cấp nước và xử lý rác

7

17

40

52

0,6

0,3

0,5

0,5

Xây dựng

754

3638

5550

6240

58,5

72,0

69,8

64,5

Kinh tế Nhà nước

180

292

413

460

14,0

5,8

5,2

4,8

Kinh tế ngoài Nhà nước

574

3346

4006

4359

44,5

66,2

50,4

45,0

Loại hình khác

3

670

1131

1413

0,2

13,3

14,2

14,6

Xã phường

559

28

6

92

43,4

0,6

0,1

1,0

Hộ dân cư

13

643

1125

1321

1,0

12,7

14,2

13,6

Nguồn: NGTK tỉnh năm 2009, 2012 và số liệu thống kê tháng 3 năm 2014
Tỷ trọng GRDP và tỷ trọng GTSX đều thấp hơn so với mục tiêu QH 2006, xem bảng 8.


4. Khu vực kinh tế dịch vụ.


Khu vực kinh tế dịch vụ tăng nhanh nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất, xem bảng 9. Tuy vậy, trong giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng còn thấp hơn so với mục tiêu QH 2006 (13,8%/ năm).

Bảng 9: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010

Đơn vị tính: Tỷ đồng, giá 2010





2005

2010

2013

2015

2006-2010

2011-2013

2011-2015

Tổng số (tỷ đồng)

3089

5399

6957

8194

11,8

8,8

8,7

Nông lâm, thủy sản

1442

1564

1768

1932

1,64

4,2

4,3

Công nghiệp + XD

741

1559

1922

2210

16,0

7,2

7,2

- Công nghiệp

336

430

542

767

5,1

8,0

12,3

- Xây dựng

405

1129

1380

1442

22,7

6,9

5,0

Dịch vụ

906

2276

3266

4052

20,2

12,8

12,2

Nguồn: NGTK tỉnh năm 2009, 2012 và số liệu thống kê năm 2014

Bảng 10: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành






2005

2010

2013

2015

2005

2010

2013

2015

Tổng số (tỷ đồng)

2.008

5.625

10.443

14.610

100

100

100

100

Nông lâm, thủy sản

746

1.984

2.701

3.536

37,1

35,3

25,9

25,02

Công nghiệp + XD

504

1.621

3.082

4.399

25,1

28,8

29,5

29,79

Trong đó: Công nghiệp

278

586

884

1.435

13,8

10,4

8,5

9,8

Dịch vụ

758

2.020

4.660

6.676

37,8

35,9

44,6

45,19

Nguồn: NGTK tỉnh năm 2009, 2012 và số liệu thống kê năm 2014

Tỷ trọng dịch vụ trong GRDP của Tỉnh năm 2010 đạt 35,9% đạt mục tiêu QH 2006 (36%), dự kiến tỷ trọng dịch vụ đạt 45,19% vào năm 2015, thấp hơn so với mục tiêu QH 2006.


4.1. Thương mại:


a) Nội thương. Thương mại tại các đô thị đã thu hút được các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư, doanh nghiệp và hộ kinh doanh thương mại phát triển mạnh, song tập trung tại địa bàn thành phố Điện Biên Phủ; một số doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa vẫn giữ được vai trò cung ứng các hàng hóa thiết yếu trên thị trường đảm bảo cung ứng đầy đủ trong mùa mưa lũ và vùng sâu, vùng xa của tỉnh; Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát được tăng cường. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại và kinh doanh trái phép được tăng cường kiểm tra, xử lý, trật tự kỷ cương trên thị trường được đảm bảo. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2015 ước đạt 29.339,15 tỷ đồng, riêng năm 2015 ước đạt 7.500 tỷ đồng, gấp 2,26 lần so với năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 17,67%/năm.

b) Về xuất nhập khẩu: Để đẩy mạnh thương mại, tỉnh đã nâng cấp cửa khẩu chính Tây Trang thành cửa khẩu quốc tế. Tỉnh đang triển khai xây dựng và đã hoàn thành cửa khẩu Huổi Puốc (huyện Điện Biên), đang quy hoạch cửa khẩu A Pa Chải (huyện Mường Nhé) trở thành cửa khẩu chính; Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2013 đạt 27,45 triệu USD, năm 2015 ước đạt 34,6 triệu USD; nhịp độ tăng trưởng giai đoạn 2011-2015 ước đạt 21%/năm. Trong đó: Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 là 15,7 triệu USD, đạt mục tiêu QH 2006 (16 triệu USD). Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2011-2015 ước đạt 17,45%/năm; các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: Xi măng, thép xây dựng, đá xây dựng, giống cây trồng và đồ dùng bằng nhựa. Trong đó, xi măng là mặt hàng chiến lược được quy hoạch phát triển cho xuất khẩu. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu năm 2013 đạt 11,75 triệu USD, năm 2015 ước đạt 15,6 triệu USD, nhịp độ tăng trưởng giai đoạn 2011-2015 ước đạt 26,58%/năm; các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm: máy móc thiết bị cho các công trình thủy điện, các nhà máy sản xuất công nghiệp; hàng nông lâm sản và một số hàng tiêu dùng khác.

4.2. Về du lịch:


Trong khu vực dịch vụ, du lịch đóng vai trò quan trọng, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế. Trong những năm gần đây, du lịch của tỉnh đã có chuyển biến tích cực và phát triển khá tốt; cơ sở hạ tầng cũng như các dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch được khuyến khích đầu tư. Tỉnh đã thu hút được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng dịch vụ du lịch tạo nên những khu du lịch sinh thái đẹp và quy mô lớn như Khu du lịch sinh thái Him Lam, khách sạn Mường Thanh, A1... Tổ chức trồng đại trà hoa ban trắng tại các địa bàn đô thị trong tỉnh gắn với tổ chức thành công Lễ hội hoa Ban trắn lần đầu tiên vào năm 2014 gắn với kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, đã để lại những ấn tượng sâu sắc đối với du khách, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng du lịch; sản phẩm du lịch dần được đa dạng hóa, bao gồm du lịch lịch sử, du lịch văn hóa trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng, mang tính cạnh tranh cao so với các tỉnh trong khu vực; lượng khách du lịch tăng bình quân từ 5-5,5%/năm, trong đó khách quốc tế tăng bình quân 5,5-6,0%/năm, và doanh thu từ hoạt động tăng khá. Đến năm 2015 ước đạt 400 nghìn lượt khách, trong đó khách quốc tế là 70 nghìn lượt, tăng 31,14% so với năm 2010; số ngày lưu trú bình quân của khách du lịch tăng từ mức 1,5 ngày năm 2010 lên mức 2,3 ngày năm 2015; tổng doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 600 tỷ đồng, tăng 4 lần so với năm 2010 .

4.3. Các ngành dịch vụ khác:


- Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển mạnh đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội. Chất lượng dịch vụ ngày một nâng cao, mạng lưới phục vụ rộng khắp trên địa bàn bảo đảm thông tin liên lạc. Năm 2013, trên địa bàn tỉnh có 100% số xã có điểm phục vụ bưu chính; Hạ tầng truyền dẫn cáp quang, cáp đồng đến 100% trung tâm các xã. Tổng chiều dài truyền dẫn được ngầm hóa là 297,5 km. Tổng số thuê bao Internet đạt 13.000 thuê bao (tăng hơn 2.600 thuê bao so với năm 2010); 97/130 xã, phường được kết nối internet băng thông rộng (đạt tỷ lệ 74,6%). Tổng số thuê bao điện thoại di động đạt 341.834 thuê bao; số thuê bao điện thoại cố định đạt 18.930 thuê bao (bao gồm cả hữu tuyến và vô tuyến). Tổng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông trong 3 năm 2011-2013 đạt 825.139 tỷ đồng. Dự ước năm 2014- 2015 tổng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông ước đạt 560.000 tỷ đồng.

- Tài chính – Ngân hàng: Hoạt động tài chính đạt được kết quả tiến bộ, góp phần cải thiện cân đối thu, chi ngân sách tạo nguồn cho đầu tư phát triển. Đã cụ thể hóa và triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách tài khóa – tiền tệ của Chính phủ tại địa phương, góp phần kiềm chế lạm phát, thực hiện tốt và đảm bảo các chính sách an sinh xã hội. Chỉ số giá cả giai đoạn 2011- 2014 được kiềm chế, năm 2014 chí số giá dự kiến chỉ tăng 5,32%, năm 2011 là 24% năm.

- Hoạt động ngân hàng trên địa bàn đảm bảo chặt chẽ, đúng định hướng. Trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 05 Ngân hàng thương mại cấp tỉnh, các Ngân hàng Nông nghiệp và Chính sách có chi nhánh ở hầu hết các huyện thị và có điểm giao dịch ở 130/130 ở xã, phường, thị trấn. Công tác tiền mặt và an toàn kho quỹ được chú trọng đảm bảo an toàn, đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển. Công tác tín dụng đã có những chuyển biến tích cực. Dự ước giai đoạn 2011 – 2015 tổng nguồn vốn huy động ước đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, đạt mức tăng bình quân tăng 15%/năm. Dư nợ tín dụng thực hiện đến cuối năm 2015 đạt khoảng 9.250 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng ước đạt khoảng 14,4%, cơ bản đạt các mục tiêu về huy động và tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh kinh tế còn khó khăn. Chất lượng tín dụng được đảm bảo tỷ lệ nợ xấu được khống chế dưới 3% tổng dư nợ.




tải về 1.57 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương