Rà soát quy hoạch phát triển kt-xh tỉnh đIỆn biêN ĐẾn năM 2020, TẦm nhìN 2030 Mục lục



tải về 1.57 Mb.
trang16/19
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích1.57 Mb.
#4144
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ


Để các mục tiêu trong quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Điện Biên trở thành hiện thực, rút ngắn khoảng cách so với các vùng miền trong cả nước, bên cạnh sự nỗ lực, quyết tâm trong công tác chỉ đạo của Đảng bộ và Chính quyền địa phương đòi hỏi phải có nguồn lực đầu tư thoả đáng. Do vậy, đề nghị Chính phủ và các Bộ ngành TW quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ địa phương trong một số lĩnh vực cụ thể sau:

1. Kiến nghị với Chính phủ


1. Có các hình thức, chính sách tín dụng ưu đãi hơn và hỗ trợ đầu tư theo suất đầu tư cao hơn mức trung bình cả nước để khuyến khích các doanh nghiệp lên đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại Điện Biên, nhất là trong các lĩnh vực chế biến nông lâm sản, phát triển thủy điện vừa và nhỏ, sản xuất vật liệu xây dựng...

2. Việc bảo vệ và phát triển rừng ở Điện Biên để đảm bảo chức năng phòng hộ đầu nguồn cho các công trình thủy điện lớn của quốc gia trên sông Đà là nhiệm vụ nặng nề và hết sức quan trọng. Đề nghị Chính phủ có chính sách trích một khoản kinh phí nhất định từ nguồn thu của các công trình thủy điện trên (ngoài nguồn vốn ngân sách hàng năm) để tái đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ của Điện Biên.


2. Kiến nghị với các Bộ ngành TW


1. Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư bổ sung nguồn vốn ODA cho tỉnh để giải quyết một số vấn đề bức xúc hiện nay như xóa đói giảm nghèo, xây dựng hạ tầng đô thị, cải tạo môi trường, phát triển kết cấu hạ tầng xã hội cho các xã nghèo, các xã vùng cao, vùng xa...

2. Đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hỗ trợ về giống, kỹ thuật để phát triển các vùng sản xuất nông lâm sản hàng hóa tập trung như: vùng chăn nuôi trâu, bò lấy thịt (gồm cả giống bò vàng địa phương và bò lai nhập ngoại); vùng gạo đặc sản Điện Biên, vùng chè đặc sản cây cao, vùng đậu tương, vùng rừng nguyên liệu gỗ, giấy...; hỗ trợ dự án xây dựng kè sông Nậm Rốm và chỉnh trị dòng sông kết hợp với xây kè bờ sông Nậm Lúa để bảo vệ đời sống nhân dân và một số di tích lịch sử trong khu vực.

3. Đề nghị Bộ Nội vụ đưa Điện Biên vào Chương trình đào tạo công chức của Chính phủ để có kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ và năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ của tỉnh; các Bộ ngành khác quan tâm, tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo lại cho lực lượng cán bộ chủ chốt của tỉnh Điện Biên.

Trên đây là những nội dung cơ bản về rà soát Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Điện Biên thời kỳ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đề nghị Chính phủ xem xét phê duyệt, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng kế hoạch và chỉ đạo phát triển KT-XH của địa phương để phát triển nhanh hơn, sớm thoát khỏi khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết 37 NQ/TW của Bộ Chính trị nói riêng và sự nghiệp CNH, HĐH trên địa bàn Điện Biên nói chung./.


Phụ lục 1.

ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

I. ĐIỀU KIỆN TƯ NNIÊ –TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

1.1. Vị trí địa lý


Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới nằm phía Tây Bắc của tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km, có tọa độ địa lý: 20054’-22033’ vĩ độ Bắc và 102010’-103036’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu mới, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 956.290,37 ha (chiếm 2,92% diện tích cả nước) bao gồm 9 đơn vị hành chính là TP Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay, các huyện: Mường Nhé, Mường Chà, Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ảng, Tuần Giáo và Tủa Chùa.

Về vị trí địa kinh tế, chính trị, xã hội của Điện Biên có những điểm nổi bật sau:

- Là tỉnh miền núi cực Tây của tổ quốc, cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội và cả vùng Bắc Bộ. Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới giáp với 2 quốc gia Trung Quốc và Lào, trong đó đường biên giới với Lào dài 360 km và đường biên giới với Trung Quốc dài 40,86 km(44). Trên tuyến biên giới Việt - Lào có 3 cửa khẩu là Huổi Puốc, Tây Trang, Si Pa Phìn và tuyến biên giới Việt - Trung có cửa khẩu A Pa Chải, trong đó Đặc biệt cửa khẩu Tây Trang từ lâu đó là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc và cả nước đã được Chính phủ quy hoạch, xây dựng thành KKT cửa khẩu. Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vựng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào - Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Mianma.

- Điện Biên nằm cách xa trung tâm kinh tế lớn của đất nước (Hà Nội), giao thông đi lại khó khăn nên việc thu hút đầu tư và giao lưu kinh tế còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, tỉnh có tiềm năng rất lớn về phát triển kinh tế cửa khẩu. Nếu được đầu tư phù hợp thì đây sẽ là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế của tỉnh những năm tới. Điện Biên có vai trò quan trọng về kinh tế và quốc phòng - an ninh. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, vùng Tây Bắc nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng luôn giữ vai trũ là vị trí tiền đồn, là địa bàn chiến lược quan trọng trong phòng thủ đất nước. Các di tích lịch sử như: thành Tam Vạn, thành Bản Phủ... đặc biệt là di tích về Chiến thắng Điện Biên Phủ, trận chiến quyết định của quân và dân ta chống thực dân Pháp, buộc Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ lập lại hoà bình trên toàn miền Bắc nước ta đã phản ánh vị trí quan trọng chiến lược của Điện Biên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

- Điện Biên là một trong những tỉnh có nhiều dân tộc anh em sinh sống (21 dân tộc), có nền văn hóa rất đa dạng, giàu bản sắc với nhiều ngôn ngữ, phong tục tập quán khác nhau... Đây là một lợi thế lớn để khai thác phục vụ phát triển du lịch, song cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng trong vấn đề giữ gìn, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc và ổn định chính trị xó hội. Hiện nay các khu vực biên giới của vùng Tây Bắc cũng như trên địa bàn Điện Biên vẫn đang là những khu vực trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong. Với chiến lược “Diễn biến hoà bình” chúng đang lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng để truyền đạo trái phép, kích động bạo loạn, chia rẽ dân tộc, tuyên truyền chống phá, lôi kéo đồng bào, tạo nên những làn sóng di dịch cư tự do gây rối trật tự xã hội... hòng làm suy yếu uy tín lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong những nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị và chủ quyền biên giới Quốc gia không chỉ riêng đối với Điện Biên và khu vực mà còn đối với cả nước.

- Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn của cả nước là sông Đà, sông Mó và sông Mờ Kụng, trong đó riêng lưu vực Sông Đà trên các huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay có diện tích khoảng 5.300 km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, do vậy rừng của Điện Biên có vai trò hết sức quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ các công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà và điều tiết dòng chảy cho các khu vực hạ lưu.


1.2. Địa hình địa mạo


Địa hình Điện Biên có những đặc điểm rất riêng biệt so với các khu khác ở Tây Bắc, đó là kết hợp của nhiều kiểu địa hình khác nhau, phổ biến là địa hình núi cao do được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao biến đổi từ 200 m đến trên 1.800 m.

Địa hình có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông. Ở phía Bắc có đỉnh núi cao trên 2.000 m nằm trong dãy núi Pu Tu Lum (thuộc Mường Nhé) phân chia biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Ở phía Tây có điểm cao 1.860 m và dãy điểm cao từ Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo. Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bố khắp nơi trên địa bàn tỉnh, trong đó đáng kể có thung lũng Mường Thanh rộng hơn 15.000 ha, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây Bắc.

Núi cao ở đây bị bào mòn mạnh mẽ tạo nên những bình nguyên khá rộng như bình nguyên A Pa Chải (huyện Mường Nhé), Tả Phình (huyện Tủa Chùa). Ngoài ra còn có các dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi, sườn tích, hang động caster, mô sụt võng,... phân bố rộng khắp trên địa bàn nhưng diện tích nhỏ.

Tổng diện tích tự nhiên là 956.290,37 ha, trong đó đất trên độ dốc 25-30o chiếm tỷ lệ cao nhất 55,48%, tiếp đến độ dốc 30-35o chiếm 17,69%; độ dốc trên 35o chiếm 3,92%; độ dốc dưới 20o chiếm 12,30%

Nhìn chung địa hình ở Điện Biên khá hiểm trở, ngoài lòng chảo Điện Biên và một số khu vực thuộc thuộc huyện Mường Ảng, Tuần Giáo, cao nguyên ở Mường Nhé, Tủa Chùa... địa hình tương đối bằng phẳng, còn hầu hết là địa hình đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nhất là mạng giao thông kết nối và tổ chức các điểm dân cư xã hội.

1.3. Khí hậu


Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông tương đối lạnh, khô và ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến bất thường, phân hóa đa dạng, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam chứa một lượng ẩm lớn kèm theo các nhiễu động khí quyển mạnh và thường xuyên (dãy hội tụ nhiệt đới, xoáy thuận trong các cơn bão, rãnh thấp,...) đã tạo ra các cơn mưa dông, mưa rào kéo dài 2 đến 3 ngày. Vì vậy, mùa hè là mùa mưa với cường độ mưa lớn và tập trung.

- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 - 230C, biên độ nhiệt ngày đêm dao động lớn từ 9 - 120C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 và cao nhất vào tháng 5. Các tháng có nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 200C phổ biến từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Các tháng có nhiệt độ trên 250C phổ biến từ tháng 5 đến tháng 9 và chỉ xảy ra ở các vùng thấp(45).

- Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.700 - 2.500 mm, nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa lớn thường tập trung vào các tháng 4, 5, 6, 7, 8, 9 và chiếm 80% lượng mưa cả năm. Các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau và chỉ chiếm khoảng 20% lượng mưa hàng năm. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 80 - 85%. Số giờ nắng hàng năm bình quân từ 1.580-1.800 giờ.

- Nhìn chung, Điện Biên ít chịu ảnh hưởng của bão nhưng lại bị ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, thường xuất hiện giông, mưa đá vào mùa hè và sương muối vào mùa đông. Đây là hiện tượng thời tiết bất lợi cho đời sống và sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp nên cần tránh để giảm thiểu thiệt hại.

Bên cạnh những khó khăn bất lợi về địa hình, điều kiện khí hậu của Điện Biên cũng khá phù hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi như các cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc... và khoanh nuôi tái sinh rừng. Đặc biệt sự đa dạng về địa hình, cảnh quan và sinh thái của Điện Biên là một lợi thế để quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi và mở rộng các khu bảo tồn thiên nhiên gắn với phát triển du lịch sinh thái.

1.4. Thuỷ văn

Điện Biên nằm ở thượng nguồn của 3 hệ thống sông chính là sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông. Các sông có trắc diện dọc dốc xấp xỉ 350, lòng hẹp, phát triển thành các mạng lưới phân cắt mạnh mẽ địa hình. Các chỉ lưu chảy vào sông thường ngắn, dốc trên 350 phân bố phổ biến ở thị xã Mường Lay. Ở Mường Nhé, Điện Biên Đông, Điện Biên, Tuần Giáo, sông suối có độ dốc trên 150. Đây là một trong những điều kiện cho phát sinh các tai biến lũ bùn đá và lũ quét đặc biệt là ở các lưu vực sông Nậm Rốm và sông Nậm Lay.

- Hệ thống sông Đà ở phía Bắc tỉnh Điện Biên bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc chảy qua huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu), thị xã Mường Lay, huyện Tủa Chùa, huyện Tuần Giáo rồi chảy về Sơn La. Phụ lưu của Sông Đà trên địa bàn tỉnh Điện Biên gồm có các sông Nậm Mạ, sông Nậm Bum, sông Nậm Na, sông Nậm Pô, sông Nậm Nhé và sông Nậm Mức,... Tổng diện tích lưu vực khoảng 5.300 km2.

- Hệ thống sông Mã ở phía Nam tỉnh Điện Biên có các phụ lưu chính là sông Nậm Khoai thuộc huyện Tuần Giáo và sông Nậm Mạ huyện Điện Biên Đông. Tổng diện tích lưu vực 2.550 km2.

- Hệ thống sông Mê Kông có diện tích lưu vực là 1.650 km2 với các nhánh sông chính là sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa. Sông Nậm Rốm bắt nguồn từ phía Bắc huyện Điện Biên chảy qua TP. Điện Biên Phủ, qua xã Pa Thơm (huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào. Sông Nậm Núa bắt nguồn từ xã Mường Nhà (huyện Điện Biên) chảy theo hướng Nam - Bắc sau đó chuyển sang hướng Đông - Tây gặp sông Nậm Rốm ở dông lòng chảo Điện Biên rồi chảy sang Lào.

- Sông Đà ở phía Bắc tỉnh (giáp với tỉnh Lai Châu mới) bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) qua Mường Tè (tỉnh Lai Châu) - thị xó Mường Lay - Tuần Giáo rồi chảy về tỉnh Sơn La. Sông Đà (trên địa bàn Điện Biên có các phụ lưu chính là Nậm Ma, Nậm Bum, Nậm Na, Nậm Pô, Nậm Mức... với tổng diện tích lưu vực khoảng 5.300 km2, chiếm 55% diện tớch tự nhiờn của tỉnh.

- Hệ thống sông Mó cú cỏc phụ lưu chính là sông Nậm Khon thuộc huyện Tuần Giáo và sông Nậm Mạ thuộc huyện Điện Biên với diện tích lưu vực 2.550 km2. Đây là hệ thống sông lớn thứ hai của tỉnh.

- Hệ thống sông Mê Kông có diện tích lưu vực là 1.650 km2 với cỏc nhỏnh chớnh là sụng Nậm Rốm, Nậm Nỳa. Sụng Nậm Rốm bắt nguồn từ Bắc huyện Điện Biên qua TP Điện Biên Phủ - Pa Thơm (huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào. Sông Nậm Núa bắt nguồn từ Mường Nhà chảy theo hướng Nam - Bắc sau đó chuyển sang hướng Đông - Tây và gặp sông Nậm Rốm ở lũng chảo Điện Biên rồi chảy sang Lào.

Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều ghềnh, nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà và sông Nậm Rốm. Lưu lượng dũng chảy lại phõn bố khụng đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ (chiếm khoảng 60 - 80% tổng lượng dũng chảy trong năm) nên việc khai thác sử dụng khó khăn, đũi hỏi đầu tư lớn. Dòng chảy mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 chiếm khoảng 75 - 80% tổng lượng dòng chảy của năm.

Dòng chảy mùa kiệt kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Trong suốt những tháng mùa kiệt dòng chảy chiếm khoảng 20 - 25% tổng lượng dòng chảy cả năm. Tháng kiệt nhất xảy ra trong tháng 3(46).

Vì vậy cần có giải pháp hợp lý về công tác quy hoạch xây dựng các công trình thuỷ lợi, kết hợp với nâng cao độ che phủ của rừng, nhất là các rừng đầu nguồn để đảm bảo nguồn nước cho phát triển kinh tế - xó hội của tỉnh trong tương lai.

Nhìn chung hệ thống sông, suối trên địa bàn tỉnh Điện Biên khá phong phú và đa dạng (với hơn 1.000 sông, suối lớn nhỏ) nên việc khai thác, tận dụng yếu tố thủy văn có những thuận lợi và khó khăn nhất định. Tại những nơi có địa hình bằng phẳng, độ dốc thấp như lòng chảo Điện Biên, một số khu vực thuộc các huyện Tuần Giáo, Mường Ảng, Mường Nhé, Tủa Chùa thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp: trồng lúa nước, rau đậu các loại, nuôi trồng thủy sản... Những nơi có địa hình cao, độ dốc lớn thường bị hạn chế về khả khả năng khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, hay xảy ra lũ quét, lũ ống, việc xây dựng các công trình thủy lợi đòi hỏi phải đầu tư rất lớn nhưng đồng thời khu vực này cũng là nơi cung cấp nguồn thuỷ năng lớn thuận lợi cho xây dựng các công trình thuỷ điện.


2. Các nguồn tài nguyên

2.1. Tài nguyên đất


- Tổng diện tích tự nhiên tỉnh Điện Biên là 956.290,37 ha. Trong đó hầu hết đất đai có độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng. Do tác động chủ đạo của nhiều yếu tố như: địa hình, đá mẹ, khí hậu, thực vật, hoạt động sản xuất của con người v.v…nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau. Cấu tạo địa chất đất của tỉnh được chia thành 5 nhóm chính như sau:

- Nhóm đất phù sa: Có diện tích 35.222,43 ha chiếm 3,68%, phân bố thành dải hẹp ven các con sông suối trong tỉnh như suối Nậm Rốm, Nậm Mức, Nậm Pô.

Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi đắp của phù sa sông suối, quá trình thổ nhưỡng xảy ra yếu cho nên có đặc tính xếp lớp, địa hình khá bằng phẳng, ở thượng nguồn phần lớn có thành phần cơ giới nhẹ, phân lớp tương đối rõ, đọ phì thấp, lẫn nhiều sỏi sạn, ở cuối nguồn thành phần cơ giới nặng hơn, ít sỏi sạn hơn.

- Nhóm đất đen: Nhóm đất đen có diện tích 126,66 ha chiếm 0,01% diện tích tự nhiên, phân bố ở huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo. Đây là nhóm đất có quá trình tích luỹ chất huỹ cơ và quá trình tích luỹ các chất kiềm trong điều kiện đá mẹ xung quanh phong hoá giàu chất kiềm như: đá vôi, đá bazơ và siêu bazơ.

Nhóm đất đen ở tỉnh Điện Biên có 2 loại : Đất nâu thẫm trên sản phẩm phong hóa của đá bazan (Ru) diện tích 36,59 ha và đất đen trên sản phẩm bồi tụ của các bon nát (RDv) diện tích 90,07 ha. Cả hai loại đất này đều ở độ dốc < 3o, có độ dày tầng đất mịn từ 70-100cm.

Các loại đất đen đều có ưu điểm là có độ phì tự nhiên cao, đất không chua thích hợp với các loại cây đậu đỗ, ngô, các loại cây ăn quả, ở địa hình thấp thoát nước kém nên trồng lúa. Chú ý sử dụng các loại phân bón phù hợp trong môi trương trung tính và kiềm giàu Ca++, Mg++.

- Nhóm đất đỏ vàng : Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 485.559,62 ha chiếm 50,78% diện tích tự nhiên, phân bố ở tất cả các huyện trong tỉnh. Đây cũng là nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất và đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội.

- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi : (Hk, Hv, Hs, Ha, Hq): Có diện tích 424.086,44 ha chiếm 44,35% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đất phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau ở độ cao trên 900m. Phân bố trên địa hình đồi núi cao của tất cả các huyện. Loại đất này khác với đất đỏ vàng ở những điểm chủ yếu sau : Hàm lượng mùn trong đất khá cao, thường trên 4% ở tầng mặt, sau đó giảm nhanh ở tầng dưới, màu đất chuyển dần từ đỏ vàng sang vàng và nâu, mối liên hệ giữa chất hữu cơ và các cation trao đổi chặt hơn, hầu như không xuất hiện kết von đá ong, mức độ phong hoá feralit của đất và mẫu chất giảm nên tầng đất thường mỏng hơn đất đỏ vàng cùng đá mẹ.

Đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến nặng (phụ thuộc vào đá mẹ), phản ứng của đất khá chua pHKCl thường < 4,5, tổng lương cation kiềm trao đổi từ rất thấp đến trung bình, dung tích hấp thu CEC từ trung bình đến cao, sắt và nhôm di động ở mức trung bình.

Hàm lượng mùn và đạm tổng số tầng mặt rất giàu ( > 4,5% và > 0,25%) tầng 2 khá. Lân và kali tổng số trung bình đến khá, lân và kali dễ tiêu từ trung bình đến thấp.

Đất mùn vàng đỏ trên núi là loại đất tốt, có độ phì tự nhiên khá, nhưng đất ở cao, địa hình hiểm trở, đi lại rất khó khăn. Vì vậy hướng sử dụng chính trên loại đất này là khoanh nuôi bảo vệ rừng.

- Nhóm đất mùn trên núi cao: Diện tích đất mùn trên núi cao là 1169,84 ha chiếm 0,12% tổng diện tích đất tự nhiên, là nhóm đất thường nằm trên đỉnh cáo dãy núi cao, với độ cao tuyệt đối > 2000m, nhiệt độ bình quân năm < 15oC, ở phía Bắc một số ngọn núi cao trong mùa đông có tuyết rơi, nước bị đóng băng. Thực vật thường là đỗ quyên, trúc và một số cây lá kim ôn đới.

Đá phong hóa yếu nên đất có tầng mỏng lẫn nhiều mảnh đá vụn nguyên sinh. Trên cùng là tầng thảm mục hoặc lớp mùn thô, than bùn trên núi. Ở đây quá trình hình thành mùn là quá trình chủ đạo.

Vì ở trên núi quá cao, nên đất này không có ý nghĩa thực tế trong sản xuất nông nghiệp.



- Nhóm đất thung lũng : Diện tích 1.966,07 ha chiếm 0,21% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đất được hình thành ở các thung lũng, xung quanh là đồi núi cao khép kín, địa hình khó thoát nước. Hàng năm được bồi tụ các sản phẩm từ các sườn đồi núi cao xung quanh đưa xuống.

Do địa hình thung lũng nên đặc điểm của loại đất này phụ thuộc nhiều vào tính chất đất đai của các vùng đồi núi xung quanh thung lũng như thành phần cơ giới độ chua, mức độ lẫn đá và sỏi sạn...



2.2. Về hiện trạng sử dụng đất

Theo tài liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Điện Biên, đất đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp của Điện Biên có 757.140 ha, chiếm 79,17% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đất phi nông nghiệp là 24.087 ha, chiếm 2,52%.



Bảng 23PL: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Điện Biên năm 2012

TỔNG SỐ

Tổng số (ha)

Cơ cấu (%)

956.290,37

100,00

I. Đất nông nghiệp

757.140,36

79,17

1

Đất sản xuất nông nghiệp

154.093,95

16,11




Đất trồng cây hàng năm

141.507,96

14,80




Đất trồng lúa

60.412,34

6,32




Đất cỏ dùng vào chăn nuôi

1.667,91

0,17




Đất trồng cây hàng năm khác

79.427,71

8,31




Đất trồng cây lâu năm

12.585,99

1,32

2

Đất lâm nghiệp có rừng

602.021,62

62,95




Rừng sản xuất

179.187,82

18,74




Rừng phòng hộ

376.499,02

39,37




Rừng đặc dụng

46.334,78

4,85

3

Đất nuôi trồng thuỷ sản

961,45

0,10

4

Đất làm muối

0,00

0,00

5

Đất nông nghiệp khác

63,34

0,01

II. Đất phi nông nghiệp

24.087,51

2,52

1

Đất ở

4.671,27

0,49




Đất ở đô thị

684,57

0,07




Đất ở nông thôn

3.986,70

0,42

2

Đất chuyên dùng

10.748,19

1,12




Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp

262,85

0,03




Đất quốc phòng, an ninh

1.279,13

0,13




Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp

925,36

0,10




Đất có mục đích công cộng

8.280,85

0,87

3

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

0,00

0,00

4

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

688,89

0,07

5

Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng

7.919,39

0,83

6

Đất phi nông nghiệp khác

59,77

0,01

III. Đất chưa sử dụng

175.062,50

18,31

1

Đất bằng chưa sử dụng

912,01

0,10

2

Đất đồi núi chưa sử dụng

170.382,72

17,82

3

Núi đá không có rừng cây

3.767,77

0,39

Nguồn: Kết quả thống kê đất đai 2011_Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Điện Biên

2.2.1.Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp


* Đất trồng lúa. Đất trồng lúa toàn tỉnh Điện Biên có 60.821 ha (đất chuyên trồng lúa nước là 11.612 ha). Trong đó huyện Điện Biên có diện tích trồng lúa chiếm nhiều nhất 11.763 ha, thị xã Mường Lay có diện tích trồng lúa ít nhất 870 ha.

Bảng 24PL: Hiện trạng đất trồng lúa tỉnh Điện Biên



STT

Phân theo huyện, thị

Đất trồng lúa (ha)

Đất chuyên trồng lúa nước (ha)

1

TP Điện Biên Phủ

987

571

2

TX Mường Lay

870

323

3

Huyện Mường Chà

8.757

244

4

Huyện Mường Ảng

5.310

931

5

Huyện Tủa Chùa

5.232

440

6

Huyện Mường Nhé

10.408

119

7

Huyện Tuần Giáo

8.913

1.090

8

Huyện Điện Biên

11.763

7.351

9

Huyện Điện Biên Đông

8.582

545

 

Tổng

60.821

11.61

Nguồn: Kết quả thống kê đất đai 2011_Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh

2.2. Tài nguyên nước

a. Nước mặt.

Nguồn nước mặt của tỉnh Điện Biên rất phong phú với 3 hệ thống sông chính là sông Đà (chiếm 56%), thượng nguồn sông Mã (chiếm 26%), sông Mê Kông (chiếm 18% với các nhánh chính là sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa). Dòng chảy của các sông trong năm biến đổi từ 10 - 15 l/s/km2. Tổng lượng dòng chảy/năm của hệ thống sông tỉnh Điện Biên vào khoảng 9.840 triệu m3, phân bố giảm dần từ Bắc xuống Nam. Lưu vực sông Mã có tổng lượng dòng chảy/năm là 200 triệu m3, lưu vực sông Nậm Rốm là 1.299 triệu m3 còn lại là lưu vực sông Đà.

Ngoài ra còn hệ thống hồ chứa nước như:

- Hồ Pa Khoang là hồ chứa nước lớn nhất của tỉnh Điện Biên với diện tích 6 km2, dung tích khoảng 37,2 triệu m3. Góp phần điều tiết nước sông Nậm Rốm, cung cấp nước cho cánh đồng Mường Thanh, bổ sung nước cho thuỷ điện Thác Bay và đảm bảo cung cấp nước cho TP Điện Biên Phủ.

- Hồ Huổi Phạ có chiều dài 700 m, rộng trung bình 200 m, lưu vực thu nước của hồ khoảng 13 km2. Hồ làm nhiệm vụ cấp nước cho TP Điện Biên Phủ.

- Hồ Hồng Sạt thuộc xã Sam Mứn - huyện Điện Biên có chiều dài 2 km, rộng trung bình 200 m, diện tích lưu vực khoảng 9 km2, cung cấp nước tưới cho 360 ha ruộng lúa và hoa màu xã Sam Mứn.

- Hồ Pe Luông, Hồng Khếnh, Bồ Hóng, Huổi Cánh,.. (47).

Đánh giá về chất lượng nước cho thấy hầu hết các sông và hồ chứa trong tỉnh đều chưa bị ô nhiễm, tuy nhiên ở một số đoạn sông suối chảy qua các khu tập trung dân cư đã có biểu hiện ô nhiễm cục bộ do nước thải của các cơ sở sản xuất và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý.

b. Nước dưới đất

Do tài nguyên nước dưới đất ở tỉnh Điện Biên chưa được đánh giá, khảo sát đầy đủ, song qua tài liệu đánh giá sơ bộ và tình hình khai thác sử dụng phục vụ sinh hoạt của người dân cho thấy, trữ lượng nước dưới đất ở các vùng thấp, ven sông suối là khá dồi dào. Riêng các khu vực dạng địa chất caster như Tủa Chùa, phía Đông huyện Tuần Giáo tiềm năng nước rất hạn chế.

- Nước lỗ hổng: Tồn tại và vận động trong lỗ hổng của các loại trầm tích vụn, bở rời hệ đệ tứ.

- Nước khe nứt và khe nứt caster: Tồn tại vận động trong các khe nứt hoặc khe nứt caster của các loại đá cứng có tuổi trước đệ tứ. Các đá này bao gồm các trầm tích lục nguyên, lục nguyên cacbonat, lục nguyên phun trào, cacbonat, các đá biến chất và mắc ma.

Các tầng chứa nước được phân chia theo mức độ giàu nghèo nước như sau:

+ Tầng giàu nước.

+ Tầng tương đối giàu nước.

+ Tầng nghèo nước.

+ Các thể chất rất nghèo nước.

+ Nước lỗ hổng - tầng giàu nước.

Các thành tạo đệ tứ phân bố rộng, song nơi có khả năng trữ nước đáng kể nhất là thung lũng Điện Biên Phủ. Các thành tạo đệ tứ ở đây có chiều dày thay đổi từ vài mét (xung quanh viền thung lũng) đến 150 m (trung tâm thung lũng), trung bình khoảng 40 – 50 m(48).


c. Nước mưa

Toàn tỉnh Điện Biên có lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.700 - 2.500 mm. Tuy nhiên chế độ ở từng vùng cũng thay đổi theo độ cao. Càng lên cao lượng mưa càng lớn. Một số trung tâm mưa lớn đạt 2.000 – 2.500 mm/năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4, kết thúc vào tháng 9 kéo dài 6 tháng. Ở các trung tâm mưa lớn, mưa cũng không kéo dài hơn, song lượng mưa các tháng này rất cao, mưa nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9. Mùa khô, ít mưa từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa năm.

Nhận xét: Sông suối ở Điện Biên nhiều, nguồn nước đa dạng và tương đối dồi dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc đa dạng hóa cây trồng vật nuôi; phát triển du lịch nghỉ dưỡng, công nghiệp chế biến nước tinh khiết tại các khu suối khoáng; du lịch văn hóa dọc theo sông Đà; phát triển thủy điện…. Tuy nhiên đa số sông suối phân bố ở địa bàn thượng lưu, độ dốc cao, dòng chảy lớn, mặt nước thấp so với địa bàn canh tác do vậy điều kiện khai thác cho sử dụng vào sản xuất nông nghiệp bị hạn chế. Mặt khác do thảm rừng che phủ thấp khiến trong mùa mưa lưu lượng dòng chảy của sông suối tăng rất cao gây lũ, lụt, sạt lở, ngược lại vào mùa khô lưu lượng bị giảm thấp, 90% hệ thống sông suối trên địa bàn hầu như bị cạn kiệt. Các yếu tố này gây thiệt hại đáng kể tới sản xuất, đời sống dân cư, đặc biệt đối với vùng cao. Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm của tỉnh Điện Biên lại tập trung chủ yếu ở các thung lũng lớn như Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Ảng... Đối với những khu vực vùng cao, trữ lượng nước ngầm rất hạn chế và thường nằm ở độ sâu hơn 200m, rất khó để khai thác và sử dụng.
1.2.3. Tài nguyên rừng

Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm năng phát triển rừng và đất rừng rất lớn. Toàn tỉnh có 602.478,40 ha đất rừng, chiếm 63,00% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó đất rừng phòng hộ là 376.106,13 ha, chiếm 62,43% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng đặc dụng 46.259,30 ha, chiếm 7,68% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất 180.112,97 ha, chiếm 29,89% diện tích đất lâm nghiệp. Độ che phủ rừng toàn tỉnh là 36,2%(49).

- Hệ thực vật rừng khá phong phú với 740 loài cây gỗ thuộc 500 chi của 156 họ trong 5 ngành thực vật. Hiện còn có nhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao, cũng như trong nghiên cứu khoa học gồm Lát, Tếch, Giổi, Pơ Mu, Sa Mu, Trám, Muồng đen, Vối thuốc và tre, nứa...

- Hệ động vật rừng có nhiều loài quý hiếm khoảng 59 loài thú, 185 loài chim, 36 loài bò sát, 11 loài lưỡng cư. Những loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như: Gấu chó, Gấu ngựa, Vượn bạc má, Voọc xám, các loài Hổ, Báo hoà mai, các loài Khỉ, Rái cá, Công, Niệc cổ hung, Trăn gấm,...

Nguồn tài nguyên rừng của tỉnh Điện Biên đang giảm dần về tính đa dạng phong phú vốn có về thành phần loài cũng như số lượng cá thể. Các nguồn gen đặc hữu và quý hiếm ngày càng mất đi, nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng. Vì vậy cần có biện pháp nhằm khoanh giữ và phát triển nguồn tài nguyên này.

Nhìn chung, rừng Điện Biện chứa đựng nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú, song những năm gần đây, do vấn đề bùng nổ dân số, nạn du canh du cư tự do, người dân thiếu ý thức bảo vệ môi trường... đã khiến diện tích rừng và chất lượng rừng bị suy giảm đáng kể. Chất lượng môi trường sinh thái vẫn tiếp tục bị suy giảm, gây nên thiên tai, lũ lụt lớn, sản xuất nông lâm nghiệp mất ổn định.

Tuy nhiên cũng cần phải nhận định rằng: đa dạng về thành phần loài sinh vật ở Điện Biên còn khá phong phú. Vì vậy, việc bảo vệ nghiêm ngặt các loài thực vật, động vật đang tồn tại là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng tài nguyên sinh vật để phát triển bền vững ở Điện Biên.


1.2.4. Tài nguyên khoáng sản


Trên địa bàn tỉnh hiện nay đã xác định, đăng ký khoảng 162 mỏ, thuộc các nhóm khoáng sản như: Khoáng sản nhiên liệu, kim loại, khoáng chất công nghiệp, nước khoáng - nước nóng thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu xây dựng.

- Khoáng sản nhiên liệu

Trên địa bàn tỉnh Điện Biên đến nay có khoảng 14 mỏ (quy mô nhỏ) gồm: Than Thanh An (Thanh An - huyện Điên Biên), than Ta Lé (Pú Nhi - Điện Biên Đông), Than Tia Ló (Pú Nhi - Điện Biên Đông), than Huổi Mưa (Keo Lôm - Điện Biên Đông), than Huổi Xa (Keo Lôm - Điện Biên Đông) và than Huổi Khao (Phình Giàng - Điện Biên Đông),…Nhóm khoáng sản nhiên liệu trữ lượng thấp, khai thác, chế biến ở quy mô nhỏ và chủ yếu là nhằm đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và một số tỉnh lân cận.

- Khoáng sản kim loại

Khoáng sản kim loại chủ yếu là quặng Sắt, quặng Chì, Kẽm, quặng Đồng, quặng Vàng (đa kim), quặng Bauxit (nhôm) và quặng Antimon.

+ Quặng sắt chủ yếu tập trung ở huyện Mường Chà và Tuần Giáo.

+ Quặng chì, kẽm trên địa bàn tỉnh có khoảng 8 mỏ. Tập trung ở huyện Mường Chà, huyện Tủa Chùa, huyện Điện Biên Đông, huyện Điện Biên, huyện Tuần Giáo,…

+ Quặng Vàng trên địa bàn tỉnh Điện Biên có khoảng 17 điểm quặng. Trong đó có 11 điểm là vàng sa khoáng tập trung ở huyện Mường Chà, huyện Điện Biên Đông, huyện Điện Biên và huyện Tủa Chùa.

+ Bauxit (nhôm). Trên địa bàn tỉnh quặng nhôm phân bố tại các điểm mỏ như: Nà Sảng (Tả Sìn Thàng - huyện Tủa Chùa), Pò Tấn, Pá Sáng (Thanh Nưa - huyện Điện Biên) và Bản Tấu (Mường Lạn - huyện Mường Ảng).

+ Quặng Antimon Tây Púng Dắt (Mường Mươn - huyện Mường Chà).

- Khoáng chất công nghiệp

Trên địa bàn tỉnh có 6 loại: 3 điểm Alit (huyện Tủa Chùa và huyện Tuần Giáo), 2 điểm quặng Barit (Sáng Tổng và Háng Lìa), 2 mỏ và điểm quặng Kaolin (Bản Kéo và Huổi Phạ trữ lượng 52.000 tấn cấp C1+C2), 1 điểm quặng Pyrit (Nà Pheo), 1 điểm Quarzit (Nà Tòng), 1 điểm quặng Talic (Pác Nậm).

- Nhóm nước khoáng - nước nóng thiên nhiên

Nước khoáng, nước nóng thiên nhiên là một trong những loại khoáng sản phong phú nhất của tỉnh Điện Biên với khoảng 26 nguồn (điểm, mỏ) nước phân bố chủ yếu trên 3 địa bàn gồm huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và huyện Tuần Giáo.

- Khoáng sản làm vật liệu xây dựng

Khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh khá đa dạng và có tiềm năng đáng kể như: sét gạch ngói, sét xi măng, đá vôi xi măng, đá cuội sỏi, đá ốp lát, đá trắng, đá hoa, đá lợp và đá xây dựng thông thường,… Tập trung chủ yếu ở huyện Điện Biên, huyện Tuần Giáo, Thị xã Mường Lay, huyện Mường Chà, huyện Tủa Chùa và huyện Điện Biên.

Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản ở Điện Biên khá phong phú, nhiều loại có tiềm năng khai thác lớn có thể phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng hướng đến thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, công tác thăm dò, tìm kiếm và đánh giá trữ lượng còn nhiều hạn chế, nhiều mỏ chưa được đánh giá cụ thể, phân bố ở vị trí khó khai thác, giao thông đi lại khó khăn, việc khai thác mới chỉ là bước đầu, hiệu quả chưa cao. Do vậy, trong thời gian tới cần phải tiến hành điều tra khảo sát kỹ nguồn tài nguyên này để xây dựng kế hoạch khai thác phục vụ phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường.

1.2.5. Tài nguyên du lịch và nhân văn. Tỉnh Điện Biên có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.



Về tài nguyên du lịch tự nhiên: Được thiên nhiên ưu đãi với địa hình đa dạng, nhiều sông, hồ và những cảnh quan đẹp... Điện Biện có tài nguyên du lịch tự nhiên khá lớn mà không phải nơi nào cũng có được. Các tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng ở Điện Biên phải kể đến: hồ Pa Khoang, rừng nguyên sinh Mường Nhé, Mường Toong, rừng Mường Phăng, động Pa Thơm, động Thẩm Púa, những thác nước trong mát, những cảnh quan tự nhiện kỳ vĩ trong lòng hồ thủy điện Sơn La...Đây là những điều kiện lý tưởng để Điện Biện phát triển các loại hình du lịch đa dạng và hấp dẫn.

Về hệ thống sông, hồ, Điện Biên là khu vực có nhiêu hồ nước rộng, dung tích lớn (hồ Pa Khoang có dung lượng 47 triệu m3, nằm ở độ cao 920 mét), cảnh quan lũng hồ sinh động và mát mẻ là một trong những điểm du lịch hấp dẫn. Ngoài ra các nguồn nước khoáng nóng, nhất là điểm nước khoáng nóng Hua pe, Uva và điểm nước khoáng Tuần Giáo... cũng là lợi thế lớn để Điện Biên phát triển các hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí, tắm và chữa bệnh...


* Tài nguyên nhân văn


Điện Biên là một trong những tỉnh có con người đến cư trú rất sớm, tại các khu di tích khảo cổ học ở hang Thẩm Púa (Búng Lao), Thẩm Khương (Chiềng Sinh) thuộc huyện Mường Ảng và Tuần Giáo đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá giữa và đồ đá mới. Ngoài ra người ta còn tìm thấy ở Điện Biên những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại Hùng Vương như: Trống đồng Mường Thanh, trống đồng Na Ngum (huyện Điện Biên), trống đồng Chiềng Nưa (huyện Mường Chà)…

Trên địa bàn tỉnh hiện có 19 dân tộc chung sống, mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc trưng riêng, gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Tỉnh Điện Biên luôn có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước và cách mạng. Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển KT-XH, trong xu hướng hội nhập cả nước, khu vực và quốc tế; là thuận lợi để Đảng bộ và chính quyền các cấp lãnh đạo nhân dân vững bước tiến lên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng tỉnh Điện Biên giàu, đẹp, văn minh.

Tỉnh Điện Biên có nhiều di tích lịch sử gắn với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, tiêu biểu là các di tích như: Tháp Mường Luân, một công trỡnh văn hoá từ thế kỷ 16 ở Điện Biên, thành Tam Vạn, thành Bản Phủ và đền thờ Hoàng Công Chất và đặc biệt là cụm di tích Điện Biên Phủ (hầm Đờ cát, cầu Mường Thanh, đồi A1, khu di tích Mường Phăng, bảo tàng Điện Biện Phủ, khu tưởng niệm các chiến sĩ vô danh cùng với tượng đài chiến thắng mới được xây dựng)... là những tài sản vô cùng quý giá để khai thác phát triển du lịch lịch sử.

Đặc biệt Điện Biên có một nền văn hóa đa dân tộc có ý nghĩa rất lớn đối với du lịch (tại Điện Biên có 21 dân tộc anh em chung sống). Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc trưng riêng, gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể; những thiết chế văn hóa xó hội truyền thống của từng dân tộc như: thiết chế Bản mường của người Thái dựa trên lãnh thổ cụng, thiết chế Lang đạo của người Mường, thiết chế dũng họ của người H’Mông...; những phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt và trong tín ngưỡng, hội hè của mỗi dân tộc, cùng với những món ăn đặc sản mang đậm nét của vùng Tây Bắc... là những tài nguyên du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối với du khách, nhất là các du khách quốc tế. Thêm vào đó, tinh thần mến khách và lũng nhiệt thành của con người Điện Biên cũng là nền tảng vững chắc cho ngành du lịch phát triển.

Bên cạnh các tiềm năng du lịch trong nội tỉnh, với vị trí địa lý khá đặc biệt, Điện Biên cú thể mở rộng liên kết với các địa phương trong vùng và cả nước, đặc biệt là liên kết với cố đô Luông Prabang của Lào và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) để hình thành các tour du lịch hấp dẫn qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh.

Với những tiềm năng và lợi thế trên, trong tương lai việc xây dựng các điểm, các tour du lịch hợp lý, có sự liên kết chặt chẽ của từng địa danh trong tỉnh sẽ tạo cho ngành du lịch ở Điện Biên có cơ hội phát triển mạnh, trở thành điểm đến hấp dẫn và lý thú của nhiều du khách. Tuy nhiên vì Điện Biên nằm xa các trung tâm TP lớn, đó là một điều kiện khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư, nên phát triển du lịch ở đây cần xem xét kỹ với bước đi phù hợp, tương xứng với tiềm năng và khả năng thực tế của tỉnh.



II . ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ VÀ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA

1. Dân số

Là tỉnh vùng núi cao, Điện Biên có quy mô dân số không lớn. Dân số trung binh năm 2010 là 501163 và năm 2012 là 519286 mật độ dân số bình quân 54,3 người/ km2, là một trong những tỉnh có mật độ dân số thấp nhất cả nước và thấp hơn nhiều so với mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc (67 người/km2) và của cả nước (246 người/km2).

Trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện có 21 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 42,2%, tiếp đến là dân tộc H’Mông chiếm 27,2%, dân tộc Kinh chiếm 19%, dân tộc Khơ Mú 3,9%, cũn lại là cỏc dõn tộc khỏc như Dao, Hà Nhì, Hoa, Khỏng... Cỏc dân tộc ở Điện Biên có những nét văn hoá đặc trưng của đồng bào khu vực Tây Bắc. Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều lễ hội và phong tục truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc đang được phục hồi và phát triển theo hướng tiến bộ và trở thành một trong những nguồn lực phát triển quan trọng của tỉnh, nhất là phát triển du lịch.

Bảng 25PL: Dân số và lao động tỉnh Điện Biên đến năm 2012



Danh mục

2005

2010

2012

Tăng BQ

2006-2012

1. Tổng dân số (người)

450.684

501163

519286

2,0

Dân số thành thị (người)

76.214

75175

77963

0,3

Tỷ trọng (%)

16,91

15,00

15,01

 

Dân số nông thôn (người)

374.470

425988

441323

2,4

Tỷ trọng (%)

83,01

85,00

84,99

 

2. Lao động trong độ tuổi

229.849

270649

285923

3,2

- LĐ làm việc các ngành KTQD (người)

191.175

268404

283873

5,8

- Số LĐ được g/quyết VL/năm (người)

5.500







13,6

- Tỷ lệ sử dụng TGLĐ ở nông thôn (%)

76










- Tỷ lệ Lao động được đào tạo so với số LĐ trong độ tuổi (%)

16,4










Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Điện Biên 2008; 2012; Sở KH & ĐT tỉnh Điện Biên.

Về phân bố dân cư: Sự phân bố dân cư ở Điện Biên mang đậm nét đặc thù của một tỉnh miền núi với nhiều dân tộc sinh sống và phân bố rất không đều giữa các vùng, các khu vực. Hầu hết dân cư sinh sống ở địa bàn nông thôn, chiếm trên 83%; dân cư thành thị chỉ chiếm gần 17% dân số cả tỉnh, thấp hơn nhiều so với trung bỡnh của cả nước (trung bình cả nước là 25,8%). Điều đó cho thấy mức độ đô thị hoá, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Điện Biên trong những năm qua còn rất thấp.

Phân bố dân cư giữa các huyện và các vùng trong tỉnh cũng không đều. Huyện có số dân đông nhất là Tuần Giáo (107.431 người) và huyện Điện Biên (104.267 người); nơi có số dân ít nhất là Thị xã Mường Lay (14.009 người) và huyện Mường Nhé (36.837 người). Mật độ dân số thường tập trung cao ở vùng thấp, cao nhất là ở TP Điện Biên Phủ (tới 716 người/km2), ngược lại ở các vùng cao dân cư rất thưa thớt, thấp nhất là huyện Mường Nhé mật độ dân số chỉ có 13 người/km2.



2. Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của tỉnh Điện Biên tương đối dồi dào. Theo số liệu ước tính thì số lao động trong độ tuổi của tỉnh năm 2005 là 229.849 người. Năm 2012, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 283873 người, trong đó hầu hết là lao động nông, lâm nghiệp chiếm tới 85,9% tổng số lao động đang làm việc; lao động công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 4,1% và lao động khu vực dịch vụ chiếm 10%. Số lao động chưa có việc làm hiện còn khá lớn, khoảng 29.327 người, chiếm 12,7% tổng số lao động; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn trong tỉnh mới đạt khoảng 76%.



Về chất lượng nguồn nhân lực: Những năm gần đây chất lượng lao động ở Điện Biên đó được cải thiện một bước, trỡnh độ văn hoá của lực lượng lao động ngày được nâng cao. Tỷ lệ lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp phổ thông giảm, số lao động tốt nghiệp THCS và THPT ngày càng tăng. Số lao động có trỡnh độ chuyên môn kỹ thuật tăng nhanh.



tải về 1.57 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương