Rà soát quy hoạch phát triển kt-xh tỉnh đIỆn biêN ĐẾn năM 2020, TẦm nhìN 2030 Mục lục


Giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực



tải về 1.57 Mb.
trang14/19
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích1.57 Mb.
#4144
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19

2. Giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực


Dự báo đến năm 2030, số lao động trong độ tuổi của tỉnh Điện Biên sẽ là 409 ngàn người (chiếm khoảng 63,8% dân số), tăng gần 90 ngàn người so với năm 2015 và năm 2020 là 358,8 ngàn người (chiếm khoảng 62,7% dân số), tăng 40 ngàn người so với năm 2015. Đây là nguồn lực rất quan trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong thời gian tới, tuy nhiên cũng là áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm. Hiện nay hầu hết lao động trong tỉnh là lao động phổ thông, xuất thân từ sản xuất nông nghiệp nên trình độ, năng lực thấp. Vì vậy, thời gian tới cần có chính sách tích cực để đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh.

- Mở rộng các hình thức đào tạo, dạy nghề, trong đó tập trung vào các ngành nghề như: y tế, giáo dục, chế biến nông, lâm nghiệp, xây dựng, khai khoáng, cơ khí sửa chữa, du lịch, tin học, quản lý kinh tế... bằng các hình thức chính quy, tại chức, ngắn hạn, dài hạn.

- Tăng cường năng lực đào tạo của các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn, tiến tới thành lập Trường đại học tổng hợp Điện Biên đa ngành để mở rộng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh và cả khu vực Tây Bắc. Chú trọng đầu tư cho các trung tâm dạy nghề, trang bị tốt về phương tiện và cơ sở vật chất, củng cố đội ngũ cán bộ giảng dạy, nâng cao khả năng đào tạo. Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia dạy nghề cho lực lượng lao động của tỉnh.

- Xây dựng chính sách ưu tiên đặc biệt trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở ở vùng biên giới, vùng cao đặc biệt khó khăn; đào tạo bồi dưỡng các cán bộ là người dân tộc thiểu số và cán bộ chuyên môn được điều động từ miền xuôi lên các vùng biên giới, vùng cao, vùng xa của tỉnh. Có cơ chế chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối với lao động nông nghiệp và đồng bào dân tộc để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn.

- Tiếp tục đẩy mạnh liên kết giữa cơ sở đào tạo của tỉnh với các trung tâm đào tạo, dạy nghề ở Hà Nội để mở rộng quy mô và các hình thức đào tạo cho lực lượng lao động của Điện Biên.

- Mở rộng dạy nghề, truyền nghề bằng nhiều hình thức thích hợp. Có chính sách khuyến khích các nghệ nhân truyền nghề và hỗ trợ học nghề cho lực lượng lao động. Tổ chức tốt các hình thức xúc tiến, hỗ trợ và giới thiệu việc làm cho lực lượng lao động của tỉnh, nhất là lực lượng lao động trẻ.


3. Giải pháp khoa học - công nghệ


Các giải pháp về khoa học- công nghệ đòi hỏi phải gắn phát triển khoa học, công nghệ với sản xuất, tạo điều kiện ứng dụng nhanh các thành tựu của khoa học - công nghệ mới như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ chế biến và bảo quản nông sản, thực phẩm theo hướng ứng dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ thích hợp cho khu vực nông thôn và miền núi, đặc biệt chú trọng các địa bàn đặc biệt khó khăn nhằm phát huy thế mạnh của 3 vùng kinh tế theo qui hoạch của Tỉnh, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân.

Tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác nghiên cứu khoa học, đảm bảo tỷ lệ tối thiểu trong hạn mức chi tiêu ngân sách hàng năm theo quy định, tập trung lĩnh vực nghiên cứu vào việc khảo nghiệm các giống cây, con mới có giá trị kinh tế cao đưa vào sản xuất tại địa bàn. Giành kinh phí thoả đáng cho việc ứng dụng đại trà những tiến bộ khoa học đã được thực nghiệm vào sản xuất, gắn công tác nghiên cứu với thực tiến sản xuất.

Có các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư áp dụng các công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất. Xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất tốt, kinh doanh giỏi, có hiệu quả kinh tế cao, nhất là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Đối với nông nghiệp, cần đẩy mạnh ứng dụng các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, khả năng chịu bệnh tốt, phù hợp với điều kiện của tỉnh; ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong các khâu bảo quản, chế biến nông sản và các ngành công nghiệp chế tác khác.

Có chính sách đồng bộ để khuyến khích thúc đẩy các ngành, các doanh nghiệp tích cực ứng dụng khoa học - công nghệ mới. Miễn thuế đối với phần vốn của doanh nghiệp dành cho đổi mới công nghệ. Miễn giảm thuế có thời hạn cho các doanh nghiệp sản xuất thử. Đa dạng hoá các nguồn vốn nhằm tăng lượng đầu tư cho công tác triển khai đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp của tỉnh.

Thực hiện các biện pháp để phát triển mạnh nguồn nhân lực cho khoa học - công nghệ, tăng cường lực lượng khoa học cho cấp cơ sở. Có chính sách đặc biệt để thu hút các cán bộ khoa học về công tác tại Điện Biên và chuyển giao công nghệ cho tỉnh.

4. Đề xuất cơ chế chính sách riêng (đặc thù) cho tỉnh


- Ưu tiên nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, tín dụng nhà nước và nguồn ODA đầu tư dứt điểm hệ thống cơ sở hạ tầng KT-XH quan trọng (trục đường giao thông chính trong tỉnh, trục đường liên vùng, liên tỉnh, trục đường giao thông quốc tế; các công trình thuỷ lợi đầu mối quan trọng; hạ tầng KKT cửa khẩu, KKT quốc phòng; khu dân cư tập trung ven biên giới; hạ tầng trong và ngoài hàng rào các khu công nghiệp; công trình văn hoá thể dục thể thao) phục vụ nhu cầu phát triển của Điện Biên và vùng Tây Bắc.

- Điều chỉnh chính sách tài chính cho Tỉnh thông qua việc phân bổ hợp lý nguồn thu từ việc sử dụng tài nguyên (thuỷ điện, nước, rừng…): Rừng ở vùng Tây Bắc nói chung và của tỉnh Điện Biên nói riêng có chức năng đặc biệt trong việc bảo vệ đầu nguồn cho các công trình thủy điện lớn của quốc gia trên sông Đà. Vì vậy, việc bảo vệ và phát triển rừng ở Điện Biên là nhiệm vụ nặng nề và hết sức quan trọng. Đề nghị Chính phủ có chính sách trích một khoản (theo tỷ lệ % diện tích lưu vực của các tỉnh) từ nguồn thu của các công trình thủy điện trên (ngoài vốn cân đối ngân sách hàng năm) để tái đầu tư cho công tác bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ của Điện Biên.

- Đưa tỉnh Điện Biên vào danh mục ưu tiên triển khai các dự án sử dụng nguồn vốn ODA do các Bộ ngành TW quản lý phục vụ quá trình phát triển KT-XH và xoá đói giảm nghèo của tỉnh như: Phát triển lâm nghiệp đi đôi với xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ quá trình điều chỉnh dân cư, hỗ trợ phát triển ngành nghề truyền thống; hỗ trợ xây dựng thủy điện nhỏ, điện mặt trời ở những nơi có điều kiện phục vụ sản suất và sinh hoạt, xây dựng hệ thống thuỷ lợi nhỏ phục vụ tưới tiêu và cung cấp nước sạch cho người dân; phát triển giao thông nông thôn; xây dựng các trường dân tộc nội trú; tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở y tế; hỗ trợ xây dựng đô thị Mường Nhé nhằm đưa đô thị này trở thành đầu mối phát triển hợp tác Việt - Trung trong khuôn khổ "Sáng kiến hai hành lang và một vành đai kinh tế"...

- Phát triển kinh tế cửa khẩu, mở rộng giao lưu biên giới là mũi đột phá quan trọng cho sự phát triển của Điện Biên. Mặt khác các KKT cửa khẩu trên địa bàn có vị trí vô cùng quan trọng trong việc đưa dân ra sát biên giới để bảo vệ quốc phòng an ninh. Vì vậy, cần hỗ trợ lập qui hoạch và đầu tư hoàn chỉnh hệ thống KKT cửa khẩu và cho phép các KKT cửa khẩu trên địa bàn tỉnh được hưởng mọi ưu đãi ở mức cao nhất trong chính sách ưu đãi hiện hành chung đối với loại hình này, đồng thời ưu tiên, hỗ trợ điều tiết về nguồn hàng xuất nhập khẩu trong 1 thời gian nhất định giúp tỉnh phát huy tiềm năng các KKT cửa khẩu và hệ thống chợ đường biên.

- Sớm ban hành và thực hiện một số chính sách đặc thù thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào tỉnh Điện Biên nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung theo hướng:

+ Về chính sách hỗ trợ đầu tư: Hỗ trợ về tín dụng; hỗ trợ cước phí vận chuyển nguyên liệu, vật tư hàng hoá; hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp; hỗ trợ giải phóng mặt bằng; trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực.

+ Về chính sách ưu đãi đầu tư: ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn tiền sử dụng đất; miễn giảm thuế sử dụng đất; miễn giảm tiền thuê đất; miễn thuế thu nhập cá nhân.

- Do đặc thù điều kiện địa hình, vị trí địa lý nên suất đầu tư các công trình trên địa bàn vùng cao, vùng xa của tỉnh cao hơn nhiều so với mức bình quân chung của cả nước. Do đó trong quá trình xây dựng kế hoạch hỗ trợ để thực hiện các mục tiêu cần căn cứ vào địa bàn cụ thể của từng tỉnh để xây dựng mức hỗ trợ phù hợp, không lấy mức trung bình của các tỉnh làm chuẩn chung.




tải về 1.57 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương