Quê hương đất nước của mình, Mà sao mình nỡ dứt tình ra đi



tải về 308.76 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.01.2022
Kích308.76 Kb.
#148

TẬP HỢP BÀI VIẾT CỦA NGUYÊN KIM

1/ VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG

“Quê hương đất nước của mình,

Mà sao mình nỡ dứt tình ra đi”

                            Huyền Không

Chuyện về thăm viếng quê hương đất nước Việt Nam là cả một nghịch lý, khó bề lý giải cho thấu suốt căn nguyên. Có biết bao nhiêu uẩn khúc, vui buồn, âu lo sợ hãi, phải đối diện với bao nhiêu là may rủi, hiểm nguy… Biết bao giờ mới có được tấm lòng hào hiệp bao dung, bao giờ tâm hồn mới thật sự thong dong tự tại, tự do hít thở không khí thoải mái thanh bình. Mọi người nhìn nhau với đôi mắt hiền từ thân thiện, không còn dáng vẻ ngờ vực ngại nghi. Để được sống hồn nhiên vui cười như con trẻ.

Sau chuyến về thăm Huế lúc mẹ tôi bị ốm nặng, đến nay đã ba năm. Bây giờ cha tôi càng già yếu hơn, trên 89 tuổi rồi, nên tôi muốn về thăm cụ, tận mắt nhìn thấy cụ và cụ cũng nhìn thấy tôi, cha con chuyện vãn nhau cho thỏa lòng, thỏa dạ để rồi điều bất hạnh còn lại không là điều ân hận…

Hỏi thăm các người quen cho biết rằng hãng máy bay ASIANA của Đại Hàn đang hạ giá rẻ, nên tôi đến phòng bán vé máy bay bên chợ Việt Hoa ở trước chùa,  mua vé đi Việt Nam vào ngày 1 tháng 6. Giá vé đi và về gồm cả làm visa là 700 Mỹ kim. Tôi muốn làm một passport (hộ chiếu) mới của Việt Nam có thời hạn lâu hơn là 3 hay 5 năm và có giá trị khi máy bay quá cảnh Seoul, Đại Hàn đến  trên 8 giờ sẽ được họ chở đi thăm viếng các nơi thắng cảnh trong thủ đô. Nhưng không hiểu tại sao tòa lãnh sự của VN tại Mexico trả lời là hết giấy cấp hộ chiếu, phải chờ VN gởi qua đã mới làm được! Bởi vậy, trong chuyến bay trở lại Hoa Kỳ, khi ghé lại Seoul, tôi phải chờ tại phi trường 10 tiếng đồng hồ mà không được đưa đi thăm thú thủ đô… 

ALEXIA Liên Hoa.

Trong nhóm học Phật pháp vào mỗi chiều Chủ Nhật, có các bạn học viên Mỹ cũng muốn đi du lịch với tôi như Toby, Alexia, Esther, James, Ly Vinh, Daniel, và Janet. ... Cuối cùng chỉ có Alex và Toby mua vé đi VN. Còn các bạn khác chưa nghỉ Hè nên hẹn sẽ đi sau.

Alexia là một Phật tử đến chùa hơn một năm nay. Cô sinh tại Luân đôn, nước Anh, cha người Tàu, mẹ người Anh. Từ nhỏ theo mẹ sang Nhật học và làm việc, rồi sang

Canada, và qua Seattle làm counselor cho nhà quàn Bonney-Watson, từ nhỏ Alex đã chịu nhiều đắng cay buồn khổ, gặp nhiều trắc trở gian nan trên đường đời, nên cô tìm việc làm cho một nhà quàn, có thiện chí muốn giúp đỡ cho những người trong cộng đồng Á Châu biết cách chuẩn bị cho ngày ra đi, tận tình hướng dẫn cho mọi người những ích lợi trong việc mua trước đất để chôn, lựa chọn nơi chốn và quan tài hay muốn thiêu theo ý mình quyết định trước, để đến giờ ra đi con cháu khỏi bối rối, và phải mua mọi thứ với giá đắt hơn. Nếu mua trước thì rẻ hơn và có tiền thưởng, và nhiều năm sau giá vẫn giữ như cũ..và cũng có thể nhường lại cho người khác với giá thỏa thuận. Nhưng người Á Châu hay tin dị đoan, không muốn chuẩn bị trước cái chết, vì họ nghĩ rằng nói đến cái chết, và lo sắm sửa trước thì sẽ bị chết sớm! Bởi vậy Alex gặp nhiều khó khăn, tốn rất nhiều công sức và thời gian mà vẫn không nhận được kết quả gì, không kiếm được nhiều tiền để sống đầy đủ tiện nghi như một cô gái thành phố (a city girl), cho nên cô sống rất đơn giản, tiết kiệm, không thích mua sắm nhiều, món nào cần thiết lắm mới chọn lựa kỹ rồi mới mua dùng, mỗi tháng chỉ cần 500$ để nuôi sống bản thân, mặc dù Alexia còn trẻ đẹp, biết nói ba ngoại ngữ Anh, Nhật và tiếng Hoa. Tuổi của Alex đã trên 30, mà ai nhìn cô cũng tưởng là mới 22 hay 25 tuổi thôi. Chưa có ai đoán đúng tuổi cô. Có nét mặt tươi vui, và tâm hồn trong sáng, nên cô có nụ cười ngây thơ như trẻ con, làm cho mọi người thương mến. Nhưng trong cuộc sống Alex thường bị đàn bà đố kị, không thật tình thương yêu giúp đỡ, trái lại đàn ông nhiều người thích làm bạn và mời cô đi chơi hay ăn uống. Nhưng từ ngày Alex trở thành một Phật tử ăn chay thì cô ít còn đi chơi hay ăn uống với bạn bè, Alexia hiểu rằng người ta chỉ yêu thương cái vẻ đẹp bề ngoài, quả thật đàn ông thì tham sắc, đàn bà thì tham tài và nhiều lòng đố kỵ, ai cũng muốn phô trương cái vẻ đẹp bên ngoài để quyến rũ, chứ ít ai biết quý trọng giá trị đạo đức thật sự yêu thương hy sinh vì kẻ khác, cô chuyên tâm làm việc và đọc sách tìm hiểu chân lý cuộc đời và tâm lý con người, khi rảnh thường ở nhà xem phim truyện và trao đổi chuyện trò với bà con bè bạn thân thiết. 

Tôi còn nhớ vào một buổi sáng tháng 11 năm 2004, Alexia đến chùa giới thiệu công việc của mình. Tôi tiếp tại phòng khách, lắng nghe cô trình bày công việc với giọng nhỏ nhẹ  dễ cảm thông. Tôi hứa sẽ giúp đỡ, giới thiệu với những Phật tử đến chùa. Thế rồi, Chủ nhật tuần sau, cô đem những tờ quảng cáo đến để dán lên bảng thông báo, và để một số trên bàn giấy của văn phòng. Lần nầy Alex đề nghị nhờ tôi thông dịch cho cô khi có gia đình người Việt Nam nào muốn hỏi chuyện hay muốn mua đất nghĩa trang, tôi đồng ý. Độ một tháng sau, Alex lái xe đến chùa chở tôi đến nghĩa trang để phiên dịch cho một gia đình người Việt muốn mua đất. Chúng tôi giải thích và giới thiệu mọi thứ như các loại quan tài, hủ đựng tro sau khi thiêu, rồi dẫn ra nghĩa trang để chọn đất chôn. Nói chuyện suốt 4 tiếng đồng hồ, từ 10am đến 2pm, cuối cùng hai vợ chồng nầy bằng lòng mua ba mảnh đất để sau nầy chôn cất cho bà mẹ và cho chính họ. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối Alex bán được ba lô đất cho người Việt để nhận tiền hoa hồng do nhà quàn phát cho. Từ đó đến mấy tháng sau, mặc dù đi gõ cửa từng nhà mỗi ngày 10 tiếng đồng hồ, có nhiều người nghe giải thích xong rồi cũng chẳng muốn mua. Nhưng Alex vẫn kiên nhẫn đi đến những nhà thờ, chùa, hội đoàn và từng gia đình để giới thiệu và giải thích những điều ích lợi của việc chuẩn bị trước cho ngày ra đi để cho tâm trí được nhẹ nhàng khỏi lo âu bận rộn và tốn nhiều tiền hơn cho việc ma chay. Tôi cũng đã cố gắng giúp đỡ bằng cách đưa cô đến các chùa quen trong các dịp lễ lạt, để giới thiệu và phiên dịch cho Alex, nhưng kết quả vẫn không được gì. Không than van gì cả, Alex chỉ tự nhận

rằng trong quá khứ mình đã tạo ra những nghiệp xấu, cho nên bây giờ cố gắng làm việc thiện giúp ích cho mọi người mà vẫn thất bại! Alex đã tự nhận mình là một người tin theo Phật giáo, nguyện ăn chay trường và thường đọc kinh sách để học hỏi thêm về đạo Phật. Cô thích đọc sách của Datlai Latma, và hiểu thấu căn bản của đạo Phật. Alexia rất siêng năng chịu khó làm việc, tính thích ngăn nắp sạch sẽ, cho nên ở đâu cũng lau chùi, dọn dẹp từ nhà trên xuống nhà dưới, từ phòng ở đến nhà bếp và phòng vệ sinh..

Ngày trước Tết Ất Dậu, được sự đồng ý của thầy Trụ trì, Alex dọn đến ở chung với cô Quảng Ngộ trong ngôi nhà mới trên đồi, mỗi buổi sáng thức dậy từ 4 giờ rưỡi, đến 5giờ sáng thì xuống chùa nghe tụng kinh Lăng nghiêm, buổi chiều, tụng Pháp Hoa từ 7 giờ đến 8 giờ tối. Dù không hiểu tiếng Việt, nhưng Alex vẫn chăm chú ngồi lắng nghe suốt những thời kinh. Những ngày Chủ Nhật thì giúp các bà dưới nhà bếp hay bưng dọn thức ăn lên cúng trên bàn thờ. Nhiều buổi tối sau bữa cơm chiều còn xuống bếp rửa chén bát xong rồi mới lên đồi nghỉ ngơi.

Alexia rất thẳng thắn, nóng tính, thấy việc gì sai là nói ngay và ưa biện luận cho đến cùng, cái gì đúng thì sẵn sàng chấp nhận. Thích làm vui lòng người khác, tính tình rộng rãi, tâm hồn cởi mở, nhận xét tinh vi, thấy rõ tâm tình và nỗi khổ của kẻ khác...

Qua nhiều ngày nói chuyện Phật pháp, tôi giải thích cho Alex hiểu rõ về nhân quả nghiệp báo và luân hồi sanh tử, rồi đến lý Bát nhã trí tuệ cao siêu của đức Phật, phải lý luận và thí dụ thật nhiều cô ta mới bằng lòng nghe theo. Có nhiều Phật tử đến học hỏi, nhưng chưa có ai tin tưởng và phục vụ cho người thầy của mình như Alex, cô thường vào phòng tôi để dọn dẹp cho ngăn nắp sạch sẽ, ngày cuối năm của Tết Ất Dậu. Alex đã làm việc suốt ngày để dọn dẹp, lau chùi trang hoàng lại căn phòng, loại bỏ tất cả những thứ không cần thiết ra ngoài, lau chùi, sắp xếp đồ vật dụng cụ  trang trí lại toàn bộ, làm cho phòng của tôi rộng rãi và đẹp hơn trước kia rất nhiều, ai vào cũng khen Tết nay phòng thầy Kim đẹp quá, sạch sẽ và rộng rãi hơn trước rất nhiều.

Alexia sống theo nguyên tắc và tôn trọng luật lệ, mỗi lần tôi lái xe đi đâu mà có Alex đi theo là cô thường la lối chỉ trích những điều tôi phạm phải khi lái xe. Tôi im lặng cảm ơn và Alex chỉ nóng nảy tức giận một lúc rồi thôi. Lý do là Alex sợ xảy ra tai nạn xe cộ khi mình không chú ý và cẩn thận... Đây là người đệ tử đầu tiên biết lo lắng cho thầy như vậy.

Những ngày cuối của chuyến đi về VN. Alex đưa tôi đi mua sắm các món quà và vật dụng như bánh,  kẹo sô-cô-la, dầu xanh, những cuộn giấy Wrap, một cái máy đặc biệt ít thấy dùng ở VN trước đây dùng để rảy sạch nước khi ăn rau sống. nhiều nhất là những hộp sữa bột Ensure của các Phật tử cho tôi để đem về tặng Ba tôi và các em, các cháu... Áo quần vật dụng cá nhân chỉ đem theo ít thôi, cái gì cần có thể mua ở VN rẻ và tiện lợi hơn.

Toby cũng là một Phật tử, tính tình vui vẻ, cách đây hai năm đã thường đến chùa vào mỗi ngày Chủ Nhật để dự lễ, học Phật pháp, ăn chay và học tiếng Việt với tôi. Hè năm trước Toby đã du lịch VN một tháng, có ghé lại thăm và nói chuyện với Ba tôi. Toby nói tiếng Việt đã khá. Hè này Toby trở lại VN. Sau khi đi thăm viếng từ Nam ra Bắc sẽ

tìm một việc gì đó, như dạy tiếng Anh, để ở lại một năm. Toby thích nhất là được ở Huế. Phong cảnh đẹp và môi trường yên tịnh trong sạch hơn Sàigòn.

ASIANA AIRLINE 

Sáng ngày 1 tháng 6 năm 2005, anh Chương chở tôi đến phi trường Sea-Tac lúc 10 giờ, làm xong thủ tục hải quan, chúng tôi qua phòng đợi lúc 11:30, chờ đến 1:40 phi cơ cất cánh...  Chiếc phi cơ vận tải Asiana Airline khổng lồ, chuyên chở hành lý và thức ăn, nước uống cho khoảng 400 hành khách và phi hành đoàn… Con người cảm thấy thật bé nhỏ trước chiếc máy bay vĩ đại nầy, từng đoàn người đi vào trong thân máy bay, trông giống như một tòa nhà dài và rộng rãi, chia làm ba phần, mỗi phần có 12 hàng ghế, mỗi hàng có 10 chỗ ngồi. Sau lưng ghế, trước mặt mỗi người có một màn hình nhỏ để khách chọn âm nhạc hay phim truyện tùy theo ý thích. Các cô tiếp viên đi lại phục vụ hành khách nhanh nhẹn vui tươi, cô nào cũng xinh đẹp trong bộ đồng phục màu cà phê nhạt.

Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, trên màn hình và các cô tiếp viên hướng dẫn hành khách mang dây an toàn, áo phao bảo vệ và những lối thoát hiểm hai bên hông con tàu.

Máy bay cất cánh an toàn, mỗi hành khách được phát một cái khăn nhỏ có nhúng nước nóng để lau mặt và tay rồi các cô tiếp viên đẩy một xe đủ các loại nước khoáng, trái cây, sữa hay cà phê... tùy ý mỗi người chọn lấy cho mình để uống.. Trên chuyến bay nầy chúng tôi ăn ba bữa cơm: bữa tối, sáng và trưa. Ai ăn chay thì báo trước và người ta đưa đến cho mình phần cơm chay trước, sau đó là những người ăn mặn. Nước uống thì có đủ thứ và có cả rượu nho nữa. Chuyến về nầy những món cơm chay không được ngon miệng lắm, chúng tôi chỉ ăn được một ít thôi... 

Bay suốt đêm cho đến 5giờ 30 tối thì đến sân bay quốc tế Inchon, Seoul thủ đô Hàn Quốc. Sân bay, những phòng đợi, những gian bán hàng kỷ niệm, những cửa hàng ăn uống ở đây rộng và sạch sẽ đẹp đẽ hơn cả ở Mỹ. Chúng tôi đi dạo xem các cửa hàng, chờ đến 8giờ 30 lên chuyến bay khác để về VN. Chiếc máy bay nầy nhỏ hơn, chỉ chở độ 200 người thôi. 

Đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc 11:40 đêm, làm thủ tục hải quan và nhận hành lý xong lúc 1:30 mới ra được bên ngoài. Người nhà đi đón rất đông mặc dù đã quá nửa đêm, chúng tôi thấy có thầy Toàn Châu, Thầy Đồng Tiến, Sư Cô Như Minh, Phạm thị Trang, Minh Đức (Pi) và Lou đang đứng đợi, chào hỏi vui vẻ, rồi theo xe taxi của thầy Toàn Châu đã thuê sẵn để đón về chùa ở Bình Dương. Cô Như Minh và Thầy Đồng Tiến cũng muốn mời về chùa nhưng xin hẹn vào dịp khác. 

Tịnh Thất Pháp Hạnh.

Thầy Toàn Châu và tôi đã quen biết nhau từ năm 1960 hồi còn ở chùa Diệu Đế, Huế.

Chúng tôi nương tựa dưới sự bao dung dìu dắt của bổn sư đã viên tịch là HT. Diệu Hoằng, một vị thầy đức độ, sống tri túc, bình dị đơn giản… Các bạn đồng tu lúc ấy khá đông như  thầy Toàn Đức tức chú Dương, có giọng tán tụng kinh rất hay, bây giờ đang

Trụ trì một ngôi chùa lớn là Linh Thứu Tự, ở Di Linh, Lâm Đồng), thầy Đức Thanh tức chú Mãn, nhỏ người rất ham thích học hành, tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa Huế, làm Hiệu Trưởng Bồ Đề Long Quang, Phú Ốc, Huế, bây giờ là Trụ trì chùa Báo Quốc, Huế, thầy Toàn Thiện  tức Phan Gia Du, bạn thân cùng lớp trường Quốc học, Huế, học giỏi rất thông minh, tốt nghiệp Dược Sĩ và Cử Nhân Phật Học, ĐH Vạn Hạnh, Sài gòn, bây giờ đang lưu lạc ở đâu mà bặt, Toàn Anh  tức chú Dũng, bây giờ dạy học ở Ban Mê Thuột, Toàn Thiệt tức chú Hóa, tính tình chơn chất hiền hòa, Trụ trì chùa Thiện Hương, Huế, Toàn Lạc tức chú Bình, Trụ trì chùa Kim Quang, Huế. Minh Thành tức chú Lư, em thầy Đức Thanh, có tính nghệ sĩ, đang bịnh nặng, hiện ở Long Khánh, điệu Sơn, điệu Thứ và tôi Nguyên Kim Toàn Viên, từ 1962 đến 1975 dạy học các trường Trung học Sông-Cầu ở chùa Long Quang chung với thầy Nguyên An từ 1962-64, Bồ Đề Tuy Hòa, Phú Yên , ở chùa Bảo Tịnh với thầy Viên Dung, Tâm Thủy, Nguyên Đức từ 1964-68. Bồ Đề Thành Nội, Bồ Đề Long Quang Huế ở chùa Diệu Đế và Long Quang 1968-1970, ở chung với thầy Đức Thanh, Mặc Lư, Toàn Anh, Toàn Thiệt, Toàn Châu… Bồ Đề Vạn Ninh và Trung Học Vạn Ninh, Khánh Hòa ở chùa Phật Giáo Vạn Ninh, với thầy Phước Thắng, Thiện Thành, Đồng Tu...từ 1970-75. Từ năm 1975-2000 ở chùa Nhân Quả, Quy Nhơn, Bình Định. Từ tháng 1 năm 2001 tôi qua Mỹ, bây giờ đang ở chùa Cổ Lâm, Seattle, WA.  Nhớ mãi những ngày chung sống dưới mái chùa đi dạy học tại các trường Bồ Đề thật là lý tưởng. Có nhiều bạn bè và học trò thân thương tâm hồn vô tư thanh tịnh, luôn yêu thương giúp đỡ nhau trên đường tu học... Bây giờ tất cả đều lớn khôn, mỗi người một phương trời, mỗi hoàn cảnh khác nhau, nhưng vẫn còn mãi những kỷ niệm vui buồn của một thời son trẻ sống bên nhau cùng nhau tu tập và làm việc cho Đạo. Và giờ đây, qua bao dâu biển, chúng ta vẫn tiếp bước thầy tổ trên con đường giải thoát theo giáo lý Phật Đà. Tin rằng, quả tốt từ nhân lành ấy, chúng ta mãi mãi là những thiện trí thức của nhau  trong thế giới tất đàn này.

Tịnh Thất Pháp Hạnh, ở gần Suối Lồ - Ồ, Bình Dương, cách Sài gòn khoảng 30km do thầy Toàn Châu khởi công xây dựng từ năm 1998 đến nay. Ban đầu thầy mua một cái vườn rộng và một ngôi nhà sửa chữa lại làm thành tịnh thất và nơi thờ Phật. Trong vườn thầy trồng nhiều cây ăn trái và rau để dùng hàng ngày.  Đặc biệt có những cây mít già cho nhiều trái dùng kho nấu làm thức ăn hàng ngày, những trái lớn tốt thì để chín ăn rất ngọt. Thầy Toàn Châu thích nuôi nhiều chó và chim, có vài con chim đặc biệt biết nói tiếng người như những câu: -Bạch thầy có khách!  Hay câu: -A Di Đà Phật!  Còn có những con bồ câu trắng lông đuôi xòe rộng như đuôi công rất đẹp. Thầy thương yêu chăm sóc mấy bầy chim kỹ lưỡng. Mỗi buổi sáng và chiều thầy cho chúng ăn, từng bầy chim sáo, chim bồ câu bay quanh, xúm xít bên thầy trông rất trìu mến. 

Tượng Đài Quan Âm

Trong vườn chùa có một tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát bằng đá cẩm thạch trắng tinh, cao hơn 2m, tôn trí giữa một cái hồ tròn, chung quanh đắp hình non bộ bằng đá vôi. Ngoài ra, còn có cảnh giả sơn, hang động, cây cảnh trông rất nghệ thuật. Công trình nầy do Phật tử Diệu Ngọc (Nguyễn Thị Ngọc Hà) phát tâm cúng dường. Cô Diệu Ngọc là một Bồ tát tại gia, năm nay 75 tuổi,  cuộc đời đã trải qua nhiều thăng trầm sóng gió, cho dù tài sắc trí tuệ tuyệt vời nhưng vẫn phải gánh chịu nhiều khổ lụy. Từ cảnh ngộ tự thân ấy đã cho cô thấu hiểu lời Phật dạy như một Chân Lý, là con đường giải thoát chúng sanh

khỏi biển khổ Ta bà. Cô đã phát tâm tu hành ngày đêm chuyên cần tụng kinh, bái sám và niệm Phật. Một lòng cầu sanh Tịnh độ. Lại thêm tu hạnh bố thí cho trẻ mồ côi, những người tàn tật đau yếu không nơi nương tựa, và cúng dường chư Tăng Ni, xây chùa, đúc tượng, suốt mấy chục năm nay chưa ngừng nghỉ. Khắp nơi trong và ngoài nước nơi nào cũng có bàn tay đóng góp của cô Diệu Ngọc trong những công tác Phật sự. Cho dù hiện nay Diệu Ngọc đã già yếu, bịnh tật liên miên nhưng đạo tâm vẫn không thối chuyển, càng gặp tai nạn, càng đau ốm, cô càng cố gắng tu hành và nhât tâm niệm Phật mong  trả cho xong nghiệp báo để nhẹ nhàng vãng sanh Tịnh độ. Tin tưởng vào pháp môn niệm Phật, nên cô Diệu Ngọc phát tâm hộ trì cho những đạo tràng Tịnh Độ ở Huế.  Chúng  tôi xin cầu chúc cho cô được như ý nguyện.

Theo thầy Toàn Châu lên xe taxi  để về chùa. Trên đường đi trời đổ mưa lớn, nước mưa tràn ngập cả mặt đường. Thầy Toàn Châu nói lâu nay trời nắng nóng quá, bây giờ thầy Kim đem mưa từ Seattle về VN. Tôi nghĩ, không phải như vậy đâu, vì bây giờ là mùa mưa của Sài Gòn nên tôi có về hay không về trời vẫn mưa. Có mưa lớn không khí mát mẻ, khiến tôi cảm thấy điều may mắn và dễ chịu trong chuyến về thăm này… Hai giờ đêm xe mới về đến chùa . Chúng tôi uống nước chuyện trò một lúc rồi đi ngủ. Ngoài trời vẫn còn mưa, tiếng mưa rơi lộp độp trên mái tole làm cho Liên Hoa thích thú vì xưa nay chưa từng nghe tiếng mưa rơi đều đều như một bản hòa tấu mới lạ này.

Alexia được thầy Trụ trì cho ở một phòng riêng, nằm trên một cái ghế dài khi trải ra thành cái giường có nệm đàng hoàng. Alex sợ nhất là bị muỗi cắn, nên luôn luôn xoa thuốc chống muỗi vào chân tay, lúc ngủ và khi đi ra ngoài vườn, nhưng muỗi vẫn đốt  Liên Hoa. Cô nói muỗi VN không sợ thuốc Mỹ, chúng nó cứ thích hút máu của Liên. Dân ở xứ lạnh du lịch đến VN. vào mùa Hè, nóng bức, muỗi nhiều, Liên Hoa chắc ít nhiều cũng cảm thấy khó chịu … 

Một tuần ở lại tịnh thất Pháp Hạnh, chiều nào cũng có mưa nên không khí mát dịu, chúng tôi thường treo võng ngoài vườn để nằm ngắm trời đất, cây xanh, hoa lá, nghe chim chóc hót ca, hay chuyện vãn về phong cảnh và con người VN. Hàng ngày chúng tôi được ăn nhiều trái cây ngon ngọt có hương vị khác hẳn vớí những trái cây đã ăn ở Seattle, Mỹ quốc. Thầy cho dùng cơm chay trong phòng khách, vớí nhiều loại trái cây như Thanh Long, Xoài, Măng Cụt, trái Vải (lệ chi), Mảng Cầu, Chuối, Mít, Sầu riêng v.v.. Được thưởng thức trái cây tươi tốt tại chỗ, ngon ngọt và có mùi thơm đặc biệt không như trái cây được chuyên chở lâu ngày, bị ướp lạnh rồi đem ra bán, thì chẳng còn nhiều sinh tố bổ dưỡng cho chúng ta nữa. Có một điều đáng chú ý là giá tiền lại khác biệt nhau rất nhiều, những loại trái cây như khoai lang, củ mì (sắn), chuối tại VN rất rẻ. Một đô la có thể mua cả một buồng chuối gồm có 5 hay 10 nải chuối chín ngon lành, còn ở Mỹ một nải chuối có khi đến 5 đô la. Hoặc là một nắm rau muống ở VN chỉ một ngàn đồng, còn tại Mỹ, một nắm rau muống giá vài đô la (15.000Đ. X 3 = 45.000ĐVN.)

Ngày 5 tháng 6, lúc 7 giờ sáng, thầy Toàn Châu gọi xe taxi đưa chúng tôi về Sàigòn đến thăm thầy Phước Sơn ở Đại Học Vạn Hạnh. Thầy hướng dẫn cho đi xem Thiền viện mới xây dựng lại cao rộng trang nghiêm, cơ sở đại học Vạn Hạnh với ngôi nhà lầu 5 tầng đồ sộ, và tháp HT. Minh Châu viện trưởng. Sau đó, chúng tôi cùng với thầy Đông Tiến, sư cô Như Minh, em Trang là học trò cũ của trường Bồ Đề Vạn Ninh, cô

Quảng Diệu và con gái cùng đi một vòng quanh thành phố, ghé lại chùa Vĩnh Nghiêm.. .. qua chợ Bến Thành, dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà, đường Nguyễn Huệ, ra xa lộ, rồi  trực chỉ Vũng Tàu để thăm Đại Tòng Lâm. Đây là một trường Phật Học có cơ sở khang trang, vườn rộng mênh mông, có hàng trăm Tăng Ni sinh tu học nội trú. Bây giờ đang là mùa An Cư của quý thầy và sinh viên.

Chúng tôi được dùng bữa trưa trong nhà khách, ngoài trời nóng nực vô cùng. Sau đó được gặp thầy Quảng Hiển (hiệu trưởng tu viện Đại Tòng Lâm) và thầy Tịnh Nhãn (hiệu phó) là bạn xưa kia cùng ở chùa Bảo Tịnh, Tuy Hòa, nói chuyện, uống nước và trao tặng quà xong chúng tôi đi xem ngôi chánh điện lớn đang xây dựng rồi ra xe. Thầy Đồng Tiến hướng dẫn đến vùng kinh tế mới Xuyên Mộc thăm sư cô Quảng Bác, xe chạy qua nhiều làng mạc xa xôi, nhà cửa đơn sơ nghèo khó. Đến chỗ sư cô Quảng Bác mới thấy cảnh sống cơ hàn, kham khổ của những vị muốn tìm nơi xa vắng thanh tịnh để quyết chí tu luyện thân tâm. Có nhiều sư cô, sau hơn mười năm học tập ở chùa, ở trường Trung cấp Phật Học (bốn năm), ở Học Viện Phật Giáo Tp Sài Gòn ( bốn năm ) đã về đây tịnh tu, nguyện đem giáo lý Phật đà đến với người dân của vùng xa xôi hẻo lánh, nghèo nàn…làm nơi nương tựa tinh thần cho họ. Các sư cô đã thể hiện tinh thần độ sanh một cách vững mạnh, tinh tấn. Xin được tán dương công đức chư vị sư cô của vùng kinh tế mới Xuyên Mộc này…  Xe dừng lại trước một mảnh vườn khô khan, thầy Đồng Tiến vào trước báo cho sư cô Quảng Bác ra đón chúng tôi, giữa vườn có một tượng Bồ Tát Quan Thế Âm và ngôi chùa nhỏ như cái miếu, mỗi bề chỉ rộng 5 mét. Trong chùa có một bệ thờ tượng Phật Thích Ca cao 50cm. Phía trước có một bàn kinh nhỏ chỉ đủ chỗ cho một người ngồi. Ra phía sau là chỗ ở của sư cô Quảng Bác. Một căn nhà rách nát lợp tranh, chung quanh che những tấm tole và giấy các tông. Chỉ có một cái giường tre bé nhỏ và một bàn gỗ với mấy cái ghế cũ kỹ, trông cảnh trí tiêu sơ , thê thiết lắm. Cũng từ khổ hạnh ấy, mà tấm thân của sư cô Quảng Bác suy gầy  như người bịnh mới khỏi! Nhưng tấm thân ấy vẫn đứng vững giữa bao khó khăn thiếu thốn của cả một vùng nghèo nàn, lạc hậu đầy khắc nghiệt thì quả là điều xin cúi đầu bái phục. Về mùa Hè, sự khắc nghiệt càng hiện rõ ra, nhất là nước phải đi lấy từ suối xa. Vì thiếu nước nên rau quả không trồng được, sự khô cằn của đất đai đã làm cho sự sống càng cằn cội hơn. Trước cảnh tượng này, cô Diệu Thu và chúng tôi xin cúng dường cho sư cô một số tiền để đào một cái giếng lấy nước dùng hàng ngày. Và có hứa sau này khi sư cô muốn làm lại chùa và nhà để ở tu hành thuận tiện thì chúng tôi sẽ giúp đỡ thêm. 

Hỏi thăm chuyện mới biết, cô Quảng Bác mới về Sông Cầu thăm mẹ là cô Sen bị đau nặng, còn cha là thầy Thông Vân (Lê bá Lan, tôi quen biết từ năm 1962, tại Sông Cầu) xuất gia tại Thiền Viện Trúc Lâm, Đà Lạt…Được biết, hiện nay, một ngôi chùa Trúc Lâm khác đang xây dựng ở Vĩnh Phúc, miền Bắc. Tôi khuyên cô Quảng Bác phải ăn uống đầy đủ dưỡng chất, giữ gìn sức khỏe để tiếp tục con đường tu hành chứ ở một mình như vậy mà đau ốm thì rất nguy hiểm. Tạm biệt túp lều tranh của sư cô Quảng Bác chúng tôi lên xe theo hướng dẫn của sư cô Như Minh đến một vùng kinh tế mới xa xôi khác, xe chạy suốt 2 giờ qua nhiều quảng đường vắng vẻ không có làng xóm gì cả, trời xế chiều lại có mưa lớn, xe vào đến sân chùa, chúng tôi che dù mà đứng dưới một mái nhà tranh dài chung quanh không có vách tường che chắn, giữa có một cái bàn dài. Bước lên chùa thì cũng bị mưa dột, nền gạch đổ nát, tường vách và những cột gỗ bị mối mọt ăn hư hỏng nhiều nơi. Đây là một ngôi chùa làng lâu đời, đã hư nát nhiều, chưa có phương tiện

để sửa chữa, nhưng mỗi ngày rằm, mồng một và các lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan, ngày Tết.. dân chúng ở vùng kinh tế mới chung quanh đây cũng về chùa lễ Phật tụng kinh và thường được sư cô giúp đỡ vật chất và giảng dạy giáo lý. Dân chúng miền này rất nghèo khổ, nhờ cô Như Minh khéo léo chịu khó đi vận động nhiều nơi về đây cứu trợ giúp đỡ cơm gạo, bún, mì ăn liền, tiền bạc... và những phương tiện vật chất khác cho người dân bớt khổ. Sau khi thắp nhang lễ Phật, chúng tôi được cô Tám là mẹ của sư cô Như Minh đãi cho ăn bánh xèo và rau sống tươi tốt trồng trong vườn rất ngon... (cô Tám đã thọ Bồ tát giới tại gia, lúc còn ở Quy Nhơn thường lên sinh hoạt tại chùa Nhơn Quả với chúng tôi, bây giờ cô vào ở lại đây tu tập và giúp đỡ Phật sự. Cô có 2 người con gái đều đi tu, mỗi cô đều có chùa riêng. Sư cô Bảo Liên có chùa mới đang xây dựng khang trang hơn, và có vườn cây cảnh thật rộng và đẹp. Hai sư cô đều có học Anh Văn với tôi lúc còn học cấp hai tại Quy Nhơn. Cô nào cũng thông minh và lanh lợi, có chí hướng phụng sự xã hội, giúp đỡ mọi người nghèo khổ, nên chịu xa rời thành phố, về nơi thôn quê, vùng kinh tế mới chịu sống đời vất vả để làm Phật sự cứu khổ độ sanh, cả hai cô đều thành công như vậy, thật đáng quý phục.) Chúng tôi mong sao có nguồn tài chánh dồi dào để cùng quý sư cô giúp đỡ dân nghèo xây dựng xã hội tốt đẹp hạnh phúc hơn...

Xe chở chúng tôi về lại Tịnh thất Pháp Hạnh lúc 9 giờ tối, thầy Toàn Châu bao tiền thuê xe vì chúng tôi đi cứu trợ các chùa nghèo đã sạch túi, không còn đồng nào.

Ngày 6 tháng 6, thầy Đồng Tiến đi Honda đến chở tôi đi thăm Tiến Toàn, một học sinh cũ trường Trung Học Sông Cầu từ năm 1962-64. Qua vài lần tiếp xúc, tôi mới biết Tiến Toàn hiện rất khá giả, nhưng vẫn giữ nếp sống trọng nhân nghĩa từ thuở nào, tình nghĩa thầy trò không quên, biết tôn sư trọng đạo, biết thương yêu đùm bọc bà con, bạn bè... Từ tay không đã làm nên sự nghiệp, trải qua thời gian học tập cải tạo, khi được về nhà, Tiến Toàn được Mẹ cho một ít tiền đi buôn bán nhôm nhựa, chịu không biết bao gian truân tai họa, bao nỗi cay đắng nghiệt ngã, cuối cùng nhờ chí kiên nhẫn, có kế hoạch, biến vươn lên bằng tài năng của mình, nên bây giờ Tiến Toàn đã trở thành một giám đốc có đầu óc kinh doanh giỏi, anh nổi tiếng là một người trong những người làm ăn thành công nhất ở Việt Nam. 

Cơ sơ vật chất của Tiến Toàn gồm nhiều cây xăng dầu, một cơ xưởng sản xuất xe lăn lấy tên Kiến Tường, hai trường trung Học Tư thục một ở Sài Gòn, một ở tuy hoà, Phú Yên, một nhà máy sản xuất đá, vật liệu xây dựng nhà cửa…Nhờ thế, Tiến Toàn giúp đỡ người nghèo, bạn bè cũ, những người tàn tật neo đơn, cơ nhỡ, những học sinh nghèo không đủ điều kiện học hành, trẻ mồ côi, nói khác mọi công tác từ thiện xã hội Tiến Toàn đóng góp rất tích cực với tấm lòng nhân hậu sẵn có lúc hàn vi. Và tấm lòng này được nhân lên khi điều kiện tiền bạc, vật chất đầy đủ sung túc.

Con cái của Tiến Toàn hiện nay rất thành đạt, con gái đầu Thục Hoán đã tốt nghiệp tiến sĩ Y khoa, hiện cư trú tại Florida, Mỹ.Con gái thứ là Tường Nhi, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Anh Văn, làm hiệu trưởng trường Trung Học Dân Lập tại Sài gòn.Cậu con trai út đang học Đại Học tại Mỹ. Tiến Toàn và vợ đang sống trong ngôi biệt thự, có hồ bơi …giữa một ngôi vườn cây cảnh rộng rãi, xanh um. Đặc biệt có một cụm đá tạo thành một hòn non bộ, tảng đá cao lớn nhất có khắc hai chữ Hán ‘Kiến Tường’ rất mỹ thuật do một người Trung Hoa giỏi về thư pháp viết. Là một nhà kinh tế, Kiến Toàn còn

yêu văn chương thi phú, là bạn thân của thi sĩ Bùi Giáng, nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương..v.v.. Trong nhà có một gian phòng rộng dùng để tiếp những bạn thơ văn đến đọc thơ bình luận, quả là một đời sống có ý nghĩa thanh cao, khác với những kẻ giàu sang mà quên đi những lúc cơ hàn, không thương tưởng ngó ngàng gì đến lớp người cùng khổ, những trẻ em mồ côi thất học.

Tiến Toàn và gia đình con cái biết sống cuộc đời trong sạch lương thiện, có như vậy hạnh phúc mới lâu bền, và lưu danh hậu thế, làm gương cho con cháu và thế hệ trẻ noi theo trong việc làm người, trong việc tiến thân. Chúng tôi chụp mấy tấm hình để kỷ niệm  cảnh trí xinh đẹp của ngôi vườn. Chiều hôm sau, đúng 3 giờ vợ chồng Tiến Toàn lái xe tìm đến Tịnh Thất Pháp Hạnh thăm thầy Toàn Châu và chở chúng tôi đi thăm một ngôi chùa xưa trên đỉnh núi Châu Thới, đây là thắng cảnh duy nhất của vùng nầy, chùa nằm trên một ngọn đồi, có nhiều cây cổ thụ mọc chung quanh sườn, trên đồi người ta xây dựng chùa và nhiều nơi thờ thần thánh, chiếm hết cả không gian không còn chỗ cho số đông người tập trung làm lễ nữa. Ấy vậy, ngày Tết và các lễ lớn, dân chúng kéo nhau lên đây rất đông để xin xăm, bói toán và cầu nguyện toàn là chuyện làm ăn, công danh tiền bạc, không ai biết Chánh pháp của đức Phật Thích Ca để lại dạy cho con người những bài học quý báu như thế nào cả, chỉ toàn là mê tín, cầu xin tài lộc mà thôi. Thật uổng phí cho một nơi danh lam thắng cảnh.

Sau khi xem xong cảnh chùa, chúng tôi đến thăm Văn Miếu. Cơ ngơi ở đây thật to tát rộng rãi, những dãy nhà lợp ngói sứ xanh lục của Trung Quốc, giữa có hồ sen. Qua ba lớp sân mới vào nơi điện thờ, kiểu kiến trúc giống như cung điện nhà vua. Vào bên trong chúng tôi thấy chính giữa thờ một tượng của chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đồng cao lớn, hai bên có các loại gươm giáo, đao, phủ.. oai nghiêm. Không hiểu sao Văn Miếu mà lại thờ tượng Hồ Chí Minh như vậy? Thường thường Văn Miếu là nơi thờ Đức Khổng Tử mới phải.

Khi ra sân trước chúng tôi mới thấy có tượng của Khổng Tử bằng đá, đứng trên một cái bệ giữa sân. Không biết sau này lịch sử sẽ phê phán như thế nào đây?

Tiến Toàn còn muốn mời chúng tôi đến ở lại trong nhà cho mát và sẽ mời các bạn thơ văn ở Sài gòn về chơi tổ chức một buổi tối đọc thơ thân hữu, nhưng tiếc thay chúng tôi không có thì giờ nhiều để ở lại nhà anh Toàn, xin hẹn vào dịp khác... May mắn tôi còn có một tập thơ để tặng anh chị làm kỷ niệm. Xin cảm ơn tấm lòng ưu ái của anh chị Tiến Toàn. 

“Giàu sang nhưng chẳng đổi lòng

Kính thầy mến bạn tình nồng thắm hơn.

Dù xa cách vạn dặm trường

Mà trong tâm tưởng yêu thương không mờ...’’

    Thân tặng Tiến Toàn.

   Seattle, 20. July. 05. T-Kh    

Ngày 7 tháng 6. Chúng tôi đi xe bus về Sài gòn. Bây giờ trong thành phố và các vùng phụ cận đã có những tuyến xe bus chuyên chở hành khách đi lại thuận tiện và giá tiền rẻ hơn là đi taxi hay xe ôm. Từ khi bước lên xe mua vé, cho đến trạm cuối cùng xuống xe chỉ có 2.000ĐVN. dù đi xa hay gần cũng vậy. Xe còn mới, ghế ngồi êm và sạch, người đi lại đông đúc. Có lẽ, không đủ xe để phục vụ khách đi lại, nên trên đường phố vẫn tấp nập đủ loại xe cộ lớn bé chen chúc đua nhau chạy bất kể nguy hiểm, rất dễ xảy ra tai nạn…Trên mặt đường tràn ngập các loại xe gắn máy: Honda, Suzuki, Dream... thi nhau lạng lách, len lỏi qua từng kẻ hở trên đường phố đầy xe ôtô, xe đạp...xích lô. Ngồi trong xe nhìn ra ngoài thấy cảnh hỗn tạp, ngỗn ngang xe cộ xuôi ngược như vậy, lòng tôi rất lo lắng…Có lẽ cũng chính vì thế, nên những người Việt kiều về VN ít người dám tự mình lái xe ô tô hay xe gắn máy đi ra đường, ngay cả ngồi phía sau để cho người khác chở đi cũng thấy dễ sợ rồi. Không hiểu tại sao những tài xế VN can đãm và lanh lẹ quá vậy, nhiều khi tôi tự hỏi : - Họ không sợ chết hay sao !?

Ở Mỹ, luật lệ giao thông rất nghiêm nhặt, đường sá rộng rãi có nhiều lane đường, xe nào chạy theo lane (làn đường) ấy, cho nên, trên đường phố, từng dãy xe ô tô lớn nhỏ nối đuôi nhau trên làn đường qui định như đang chạy đua vậy. Không có cảnh lạng lách chen lấn. Khi muốn sang làn khác thì phải có dấu báo hiệu xin phép nếu xe bên kia đồng ý nhường thì mới được đổi lane. Bởi vậy, cho dù xe chạy với tốc độ cao như 60- 70 miles (70 x 1.km 600 = 112 km) mà vẫn an toàn. Nếu có trường hợp xảy ra tai nạn là do tài xế ngủ gật, lơ đãng, ham mê nói chuyện qua điện thoại di động... đặc biệt là say rượu thì mới xảy ra tai nạn thảm khốc… Khi tung nhau phần lớn xe bẹp dẹp, người bị chết hay bị thương trầm trọng. Bởi vậy, ở Mỹ kỵ nhất là lái xe khi say rượu, nếu cảnh sát thấy anh lái xe có vẻ bất thường, chận xe lại cho thở vào bình kiểm soát nồng độ rượu, nếu biết anh có uống rượu mà lái xe thì sẽ bị phạt tiền và bắt phải đi đến trung tâm cai rượu có khi mất 3 hay 6 tháng mới được lái xe trở lại. Ngưòi đi bộ khi muốn băng qua đường phải đến các nơi có đường kẻ những vạch trắng dành cho kẻ bộ hành, và đợi cho đến khi có dấu hiệu được phép mới đi qua đường một cách an toàn, không như ở VN ai muốn qua đường thì cứ mặc sức chạy thật nhanh bất kể có xe hay không, hay là vừa chạy băng qua đường vừa đưa tay chận xe, vừa len lõi chen lấn qua trước mũi xe, như điên vậy!

Tại Mỹ có nhiều công viên rộng lớn nhiều cây cối xanh tươi mát mẻ, đầy đủ tiện nghi là nơi nhiều người đến nghỉ ngơi giải trí thì có đường dành riêng cho xe ôtô, xe đạp, cho người đi bộ, không ai chen lấn với ai. Trẻ con thì có những sân chơi, có nhiều loại cây cảnh, bông hoa, có dụng cụ cho các em vui đùa luyện tập thân thể, như các xích đu, sân trượt dốc, hệ thống leo trèo... Đặc biệt có sẵn nhiều nhà vệ sinh cho mọi người xử dụng, có nhiều thùng đựng rác, có nhân công quét dọn hàng ngày rất sạch sẽ. 

Từ bến xe bus Sàigòn, chúng tôi đi taxi về nhà Hồng Phất đường Nguyễn Cảnh Chân, ở lại ăn cơm trưa rồi nhờ Phất mua vé máy bay về Huế. Bây giờ Hồng Phất đã có một ngôi nhà mới gọn gàng cao ráo trong khu vực chợ, nơi bà Bảy và cô Hồng bán gạo suốt mấy chục năm nay. Đến chiều cô Hồng dẫn chúng tôi đi xem chợ Bến Thành và các siêu thị. Hàng hóa ở VN bây giờ rất nhiều thứ sang và đẹp, chẳng khác gì những nhà hàng, những siêu thị của Mỹ. Cách mua hàng hóa hay mua vé xe, vé máy bay cũng rất tiện lợi, chỉ ngồi ở nhà gọi điện thoại đến cửa hàng hay hãng bán vé là người ta đưa ngay

hàng hay là vé đến tận nhà cho mình rồi mới nhận tiền. Thăm phố xá xong xuôi, chúng tôi đi taxi về lại Tịnh Thất Pháp Hạnh của thầy Toàn Châu sửa soạn để ngày mai về Huế.

Thành phố Huế

Sáng ngày 9, chúng tôi đến phi trường lúc 9 giờ. Có cả cô Lou cũng đi về Huế nữa. 10 giờ máy bay Vietnam Airline cất cánh, 11:10 đến phi trường Phú Bài, Huế. Con đường từ Phú Bài về Huế đã làm xong, rộng rãi hơn, nhà cửa hai bên đường mới xây dựng cao đẹp, có những cơ sở, những cửa hàng lớn. Xe taxi chở chúng tôi về nhà lúc 12 giờ, Ba tôi, cô Ân và mấy đứa cháu vui vẻ đón mừng. Lặng lẽ nhìn quanh nhà, tôi cảm thấy trống vắng lạnh lùng, tâm hồn bâng khuâng xao xuyến, một nỗi buồn thương thầm lặng khơi dậy trong tâm... Hình ảnh Mẹ tôi không còn! Những lần trước kia, mỗi khi tôi ở xa về nhà là có Mẹ tôi hỏi han vui mừng, tiếng cười nói, hình ảnh thân thương của Mẹ giờ đây không còn nữa, chỉ còn hình ảnh Mẹ trong bàn thờ chung cùng ông, bà phía sau bàn thờ Phật... Tôi thắp nhang lễ Phật và vái chào Mẹ xong rồi rửa mặt rửa tay cho mát và dùng cơm trưa. Chuyến về thăm nầy niềm vui không trọn vẹn vì Mẹ không còn. 

Sáng 12 tháng 6 chúng tôi và cô Ân lên thăm mộ của Mẹ ở trước vườn chùa Tây Thiên, đám đất nầy chúng tôi đã mua cách đây hơn 3 năm, bây giờ là mộ của Mẹ tôi đã xây hoàn thành, còn phần mộ của Ba tôi ở bên cạnh, khi nào ông ra đi là đã có chỗ sẵn sàng. Nằm nơi đây sớm hôm được nghe tiếng chuông chùa thức tỉnh mong rằng mọi hương linh đều biết quy về Tịnh Độ.

“Con đã về đây, Mẹ ở đâu!

Nhà xưa vắng Mẹ đượm u sầu.

Nhớ ba năm trước về thăm Mẹ.

Bây giờ trở lại Mẹ còn đâu!

Con lên thăm Mẹ, buổi chiều hè,

Nắng vàng hiu hắt vướng hàng tre.

Thắp nén hương lòng bên mồ Mẹ

Làn khói lung linh Mẹ hiện về.

Đứng lặng nhìn thôi chẳng nói gì

Lòng con vương nặng mối sầu bi.

Xác Mẹ hòa  tan vào lòng đất

Hồn Mẹ về nương chốn Phật Đà.

Liên Trì sen báu nở hoa

Con về gặp Mẹ bên tòa Như Lai.

                           Vu Lan 2549.

Không khí mùa hè ở Huế nóng bức khó chịu, quạt máy chạy hết tốc lực cũng vẫn nóng như thường, chúng tôi mua một cây nước đá lớn bỏ vào cái xô to để giữa nhà cho giảm bớt nhiệt độ, giống như là một cái máy lạnh vậy, Nhiệt độ trong nhà giảm xuống, nên cảm thấy mát hơn nhiều. Tôi cố giữ bình tĩnh không để lộ tình cảm khiến cho Ba tôi

và các em buồn lây. Trước khi về Huế thầy Toàn Châu có giới thiệu cho Alexia đến nhà của cô Mai một Phật tử quen thân (thường gọi là chị Gái) ở tại số 43 đường Huỳnh thúc Kháng để nghỉ lại cho mát vì nhà này rộng rãi ít người và phòng ngủ có gắn máy điều hòa không khí. Thầy còn viết thư giới thiệu với bà Lành mẹ của bác sĩ Hiền một Phật tử thuần thành nhờ bà nấu chè và làm bánh đãi cho chúng tôi nữa. May mắn chúng tôi về Huế đúng vào những ngày lễ Đoan Ngọ (5 tháng 5 âm lịch) và những ngày kỷ niệm thất thủ kinh đô 23 tháng 5 nên được ăn nhiều trái cây và chè Kê... Chỉ ở lại nhà cô Mai một tuần thôi, vì phải chở qua lại bất tiện nên Alexia muốn về ở nhà tôi để có bạn nói chuyện và đi chơi cho vui, đó là cháu Lài ở Quảng Bình vào Huế học sư phạm Anh Văn, ở lại nhà Ba tôi. Trong thời gian không có người giúp việc, có Mộng con cô Ân và Lài cũng giúp đỡ Ba tôi nhiều việc. Lài là sinh viên biết nói tiếng Anh nên có thể chuyện trò với Alex, còn Mộng và Liên rất thích nói chuyện với nhau mà không được. Alex khuyên Mộng nên học Anh Văn sau này có tương lai tốt đẹp hơn.

Những ngày ở Huế, chúng tôi dậy sớm lúc 5 giờ sáng, đến trung tâm thể thao Thừa Thiên Huế, để tập thể dục. Nơi đây trước kia là nhà cửa và ruộng, chỉ sau 3 năm nhà nước đã giải tỏa hết và xây dựng thành một trung tâm thể thao, gồm nhiều nhà lầu cho các cầu thủ ở để luyện tập, và có nhà dành cho các đội bạn đến thi đấu. Còn ngôi nhà 3 tầng to lớn cao rộng để thi đấu cầu lông, bóng chuyền, bóng rổ, tập võ và thể dục... Chung quanh có sân rộng và đường cho người đi bộ và tập dưỡng sinh vào mỗi buổi sáng, có nhiều người ra đây đánh cầu lông (vũ cầu), tôi cũng làm quen với các trẻ em và mấy ông già để đánh vũ cầu vớí họ, đây là môn thể thao mà tôi thích nhất, ngoài môn bóng bàn. Bởi vậy sáng nào tôi cũng dậy sớm cầm vợt và trái cầu ra sân thể thao để chơi vũ cầu.

Có khi tôi cùng cháu Lài, Tâm và Liên để Ba tôi ngồi trên xe lăn và đẩy ông đi ra trung tâm thể thao, hay đi vòng quanh các đường phố để ông được nhìn xem phong cảnh nhà cửa, đường sá mới xây, và hít thở không khí trong lành ban mai. Mong rằng sau này thỉnh thoảng các cháu sẽ tiếp tục việc đẩy xe lăn cho ông đi ra ngoài mỗi buổi sáng cho ông được khỏe mạnh vui vẻ.

Mỗi buổi sáng cô Ân thường mua bánh ướt bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc hay khoai sắn và có khi mua cháo gạo lức ra cho Ba tôi và cả nhà ăn bữa sáng. Khi đi chợ thì cô mua đủ thứ trái cây. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng ăn bánh mì và sữa đậu nành, Alex thích ăn đậu hũ nóng và bánh tráng nướng. Cả nhà đều vui vẻ ăn chay. Đặc biệt anh Đước ngày nào cũng đem cho nước đá để uống cho mát.

Một buổi chiều tháng sáu, tôi và Liên qua thăm vườn ông ngoại, thăm quán cà phê ‘Cũng Đành’ nhưng bây giờ Tường Vy đã qua Mỹ, Thái Dương để cho người khác làm chủ không còn để tên cũ nữa, nhưng vẫn có những chỗ ngồi dưới những bóng cây mát mẻ bên cạnh hồ hoa súng cũng đẹp đẽ nên thơ, và cà phê ở đây cũng nổi tiếng ngon nhất Huế, nên ban đêm có nhiều khách đến uống và ngồi chuyện trò thoải mái. 

Thắp hương trong nhà thờ xong chúng tôi qua thăm bác Lưu 99 tuổi bịnh nặng đã lâu.

Trước đây mỗi lần đến thăm tôi thường được bác đem bánh trái, nước ngọt cho ăn và nói chuyện thật tâm đắc, bác kể lại những chuyện tích, chuyện tu hành ngày xưa, những câu

chuyện đạo lý, những bài thơ bác làm từ lâu mà vẫn còn nhớ. Bây giờ bác yếu quá rồi, nằm nghiêng trên giường tay chân co lại, thân hình chỉ còn da bọc xương, tôi đến nằm bên cạnh, ghé miệng vào tai bác để chào hỏi và nói chuyện đạo, nhắc lại với bác về lý Bát nhã, mọi sự đều vô thường, xác thân là tạm bợ, chỉ có chân tâm, Phật tánh, trí tuệ là bất diệt, mọi người đều phải ra đi, nhưng người tu hành biết rõ đường đi về cõi Tịnh độ là nơi an dưỡng cuối cùng, chấm dứt sanh tử luân hồi... Vừa nói chuyện nhẹ nhàng bên tai, vừa nắm tay bác một cách thân mật, có lẽ bác cũng nghe và hiểu lời tôi nhắn nhủ, nên thỉnh thoảng mấy ngón tay của bác bóp nhẹ bàn tay tôi tỏ vẻ bác còn tỉnh và hiểu biết câu chuyện đạo lý tôi muốn trao đổi. Chúng tôi có chụp những bức ảnh cuối cùng nằm bên cạnh bác, như là đang nằm kề tử thần vậy... Ngày hôm sau nghe tin anh Tôn thất Hải ở Mỹ về trước tôi một tuần, báo tin là bác Lưu vừa qua đời và chiều hôm đó anh Hải đi Honda đến chở tôi qua nhà để tụng kinh cầu nguyện, vì các anh chị đều biết rằng bác có nhiều kỷ niệm và cảm tình với tôi. Cho đến ngày đưa đám chúng tôi có cả anh Tú, anh Vĩnh Thạnh, anh Xuân ở Quy Nhơn ra thăm cũng tiễn đưa bác đến nơi an nghỉ cuối cùng, chung một đám vườn với ông ngoại ở gần cầu Lim đi lên.

Thăm Tổ đình Tường Vân, Báo Quốc….

Sau lễ an táng Cụ Lưu, chúng tôi ghé lại Học Viện Phật Giáo Hồng Đức của tỉnh Thừa Thiên Huế, gặp lúc nhà trường đang thi cuối năm. Bây giờ thầy Chơn Thiện làm viện trưởng, nhưng thầy bận nhiều công việc xã hội quá nên ít đến trường, vào văn phòng tôi có gặp thầy Châu Trọng Ngô, giáo sư Toán trường Quốc Học trước 75, bây giờ là tổng thư ký của trường. Chúng tôi về chùa Tường Vân để thăm thầy Chơn Thiện, vốn là bạn cũ từ hồi còn học trường Quốc Học, Huế. Nhưng thị giả cho biết thầy mới đi họp quốc hội ở Hà Nội về bị mệt nên chưa tiếp khách được. Chúng tôi vào chùa lễ Phật, đi dạo quanh vườn xem cây cảnh rồi về chùa Báo Quốc, gặp thầy Đức Thanh trú trì và hiệu trưởng trường Trung cấp Phật Học Báo Quốc, thầy dẫn cho đi xem các phòng quý thầy và sư cô đang thi cuối năm. Thầy và tôi quen biết nhau từ hồi còn ở chùa Diệu Đế và lúc thầy làm hiệu trường Bồ Đề Long Quang, Phú Ốc, tôi cũng có ra dạy học ở đó, cùng với thầy Thiện Đạo, các bạn Trương Văn Lân, Nguyễn Kim Tuệ, Hoàng Đức Hòa, Lê Ty, Nguyễn Mặc Lư, cô Nguyễn Thị Hồng, cô Vân... và cô Nguyễn Thị Phương Lan (sau này làm hiệu trưởng thế thầy Đức Thanh vào làm hiệu trưởng trường Bồ Đề Tả Ngạn, Huế). Thầy Đức Thanh có tặng tôi mấy tập sách thầy soạn để dạy các lớp Phật Học. Vào lễ Phật ở chánh điện xong, tôi đến phòng thầy Minh Không. Thầy chỉ ở duy nhất một căn phòng tại chùa Báo Quốc, trên 30 năm chưa bao giờ ra khỏi chùa, thầy chuyên ngồi thiền trong phòng, ít tiếp xúc và nói chuyện với người ngoài, khi đến giờ ăn thầy mới ra khỏi phòng. Tôi đến gõ cửa và niệm -‘’A Di Đà Phật!’’, thầy nghe tiếng ra đón tiếp. Chúng tôi rất vui mừng khi được gặp lại nhau. Thầy Minh Không to cao, có phong độ thanh thoát nhẹ nhàng của một thiền sư thật sự, với nụ cười hiền từ nét mặt hoan hỉ, không có những vết ưu tư phiền muộn như người bình thường ở thế gian nhiều lo âu toan tính... Được gần gũi tiếp chuyện với thầy tôi cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, bình an trong bầu không khí thanh tịnh. 

Chùa Báo Quốc trước đây có một con chim sáo quý nổi tiếng biết nói tiếng người, chim được ở trong một cái lồng đẹp treo tại nhà khách, khi nào có người đến chùa là nó

nói rất to: -‘A di Đà  Phật! Chào khách!’’ Tôi muốn nghe sáo nói lời chào này nhưng sáo đã hoá kiếp từ lâu rồi… 

Bây giờ về Huế tôi chỉ còn gặp lại chỉ một người bạn cùng lớp tại trường Quốc Học (1960-62) là anh Trương Văn Lân, đã một thời đi học tập 7 năm ở Bình Điền, gia đình vợ con khốn khổ... Bây giờ Lân dạy kèm Anh Văn tại nhà nên hoàn cảnh gia đình đã khá hơn, các con đều tốt nghiệp có việc làm cả. Lần nào về Huế lên thăm chùa Báo Quốc là tôi ghé thăm chuyện trò tâm sự với anh. Còn có một người bạn thân để ghé thăm và tâm sự, kể lại những kỷ niệm vui buồn thời còn cắp sách đến trường cũng là một niềm hạnh phúc lớn lao trong đời vậy.

Đà Nẵng.

Ở Huế một tuần với Ba tôi và đi thăm viếng bà con, bạn bè, ngày 15 tháng 6, chúng tôi đến khách sạn Thuận Hóa mua vé xe du lịch vào Đà Nẵng, tưởng rằng sẽ được đi xe du lịch nhanh chóng hơn đi xe khách, nhưng gặp phải một chuyến xe lớn như xe bus, tài xế chạy quanh lấy khách khắp các khách sạn khác nữa, khi đã chất đầy khách và hành lý ngập xe rồi mới khởi hành, trễ hơn giờ ghi trên vé 1 giờ, đáng lẽ xe vào Đà Nẵng lúc 3 giờ 30 chiều, mà cho đến 5 giờ mới đến nơi! Bây giờ xe chạy qua đường hầm xuyên qua núi Hải Vân vừa mới khánh thành xong, chứ không còn chạy qua đèo Hải Vân dài 25 km quanh co nguy hiểm nữa, xe qua một đường hầm dài 6 km, có đường xe chạy hai chiều, nhưng mặt đường hẹp. Chỉ có loại xe nhỏ và trung bình mới được đi qua đường hầm, còn xe vận tải lớn thì phải đi theo đường đèo. Trong hầm có đèn điện chiếu sáng, có máy thổi lưu thông thay đổi không khí, hai bên tường hầm có phòng và cửa thoát hiểm. Xe qua đường hầm rút ngắn thời gian nửa giờ và an toàn hơn, nhưng đi đường đèo thì được nhìn thấy phong cảnh rừng núi, biển xanh và đặc biệt trên đỉnh đèo luôn luôn có mây bao phủ, tạo ra phong cảnh mờ ảo rất đẹp. Du khách thường dừng lại đây nghỉ ngơi, uống nước và ngắm nhìn và chụp hình phong cảnh đèo Hải Vân. Từ đỉnh đèo du khách có thể trông thấy cái mênh mông của trời đất, biển cả bao la từ hướng Đông xuống hướng Nam, đồng bằng và thành phố Đà Nẵng hiện ra trước mắt…Gần hơn là đồi núi chập chùng trông thật hùng vĩ. Con đường đèo vắt dài theo sườn núi Hải Vân ở bên này hay bên kia đỉnh trông như con trăn khổng lồ trườn mình khi ẩn, khi hiện giữa rừng cây xanh, điểm xuyết những bông hoa dại khiến cho cảnh đèo càng thêm sinh động trong cảnh xuôi ngược của đủ các loại xe. Ban đêm, Đà Nẵng là một thành phố hoa đăng, còn con đường đèo được quét sáng bởi ánh đèn pha của xe cộ như chọc thủng mọi hiểm nguy đang chực chờ ở phía trước nếu như những tay lái qua đèo thiếu kinh nghiệm hay bất cẩn, chủ quan. Vào mùa biển động sóng vỗ ì ầm tung bọt trắng xóa vào chân núi khúc khuỷu suốt mạn chân núi phía Đông. Hình ảnh này có thể nhìn thấy rõ trên đoạn đỗ đèo về phía Lăng Cô…Nói chung , phong cảnh đèo Hải Vân là một bức tranh sinh động, hoành tráng, bốn mùa hun hút nét đẹp riêng của nó với những gam màu đầy gợi cảm khác nhau, khiến du khách cảm thấy mình “hùng vĩ” phơi phới trong cảnh quan tươi thắm đó. 

Ra khỏi đường hầm, xe chạy theo con đường mới dọc theo bãi biển Liên Chiểu vào thành phố Đà Nẵng. Đến Đà Nẵng, chúng tôi ở lại nhà chú Nhân sồ 41E , đường 2/9. đối diện với công viên nước. Đây là con đường mới, rộng rãi và đẹp nhất thành phố, một bên là nhà cao tầng, bên kia là công viên, tượng đài. Chú Nhân là em trai tôi dạy ở trường

Đ.H. Bách Khoa Đà Nẵng, nhà chú xây dựng đã bảy năm rồi, có nhiều phòng rộng rãi, nên thuận tiện cho chúng tôi ở lại vui vầy.Nhà gần biển nên mỗi buổi sáng chúng tôi thường đi tắm với chú Nhân, thím Út và Su (Lê Tịnh Minh), Ri (Lê minh Trí) là hai đứa con của chú thím cũng đang học tại Đ.H. B.K. Đ.N.. 

Dân chúng Đà Nẵng rất thích tắm biển, mới 4 gìơ sáng đã có nhiều người đến đây bơi lội. Biển Đà Nẵng sạch và cạn, không sâu nên ít nguy hiểm. Vào mùa Hè sóng không lớn, nên người tắm rất đông. Khách sạn 5 sao Furama nằm trên bãi biển này, chúng tôi thường tắm ở bãi biển trước khách sạn, có khi đi xa hơn , tắm nơi bãi ít người , thoải mái hơn trong bơi lội cũng như tắm nắng mãi đến trưa mới về.  

Sáng Chủ Nhật, 19 tháng 6, lên Hòa Khánh thăm chú Xứng là em trai út của tôi cũng đang dạy tại trường Đ.H.B.K. Đà Nẵng. Nhà chú Xứng ở gần trường, có vườn rộng… Vợ chú là thím Phương làm Y tá, hai đứa con trai là Gen và Gôn mới đến tuổi đi học. Chúng tôi cùng vơí chú Nhân, Xứng và Gen Gôn đi tắm ở bãi biển Xuân Thiều, đây là nơi có nhiều khách du lịch đến nghỉ mát và bơi lội, có nhà hàng ăn uống rộng rãi sạch sẽ. Có nơi tắm lại bằng nước ngọt. Hai đứa con chú Xứng gan dạ, không sợ nước nên bơi lội vui vẻ, hai cháu  rất  thích nằm trên cái phao tắm để bơi đi như chiếc bè, hai phao này tôi mua từ Seattle về tặng cháu. Chú Nhân và chồng cô Ngọc, một người chuyên tắm biển đã chịu khó đi tìm mua cho được cái máy bơm để thổi phồng hai cái phao nầy. Chúng tôi cũng nhờ phao mà thoải mái bơi lội. Ngoài bãi tắm trước khách sạn Furama, chúng tôi còn thuê xe đi qua Sơn Trà (Chà), đến bãi Bụt, Bãi Rạng để tắm. Bãi Bụt có tên nầy vì bên bờ biển có mấy khối đá to giống hình người, hình Tiên hay Phật, nên bãi có tên gọi như
thế. Ở đây có một khách sạn mới xây dựng rất quy mô, sang trọng. Sơn Trà là một thị trấn mới xây dựng nên nhà cửa được qui hoạch khang trang, đường phố rộng rãi sạch đẹp. Thành phố Đà Nẵng là một nơi có nền kinh tế phát triển nhanh chóng, có sân bay, hải cảng khá lớn, có hạ tầng cơ sở tương đối tốt, cho nên kinh tế tăng trưởng đều trong những năm gần đây. Hàng hoá từ Đà nẵng đưa vào các tỉnh Miền Trung  sang cả Lào và Thái Lan hay ngược lại trong việc xuất khẩu.

Mặc dù bận dạy thêm lớp Hè tại nhà, nhưng thím Út cũng đã tổ chức, thuê xe du lịch sắm sửa đồ ăn uống cho chúng tôi vơí Su, mẹ con cô Ngọc em thím Út đi thăm Ngũ Hành Sơn, Cửa Đại và Phố Cỗ Hội An suốt một ngày đến tối mới về nhà.

Ngũ Hành Sơn không xa Đà Nẵng lắm, xe đi chỉ độ nửa giờ. Nơi  đây gồm có năm ngọn đồi cao có tên Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ (Ngũ hoành) vây nhau thành môt cụm, hùng vĩ giữa vùng đất cát gần bờ biển, quanh đồi có nhiều cây cối xanh um. Năm ngọn đồi tượng trưng cho ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong mỗi đồi có nhiều hang động, có những hình dáng chim chóc, thú vật hay thần tiên do thạch nhũ tạo nên đã hàng chục triệu năm. Có động lớn như động Huyền Không, bên trong động nầy có thờ tượng Bồ tát Quán Thế Âm cao lớn uy nghi. Bên sườn đồi còn có chùa Non Nước. Có đường lên Trời, du khách phải leo qua một đường hầm nhỏ hẹp đưa lên tận đỉnh mây, nơi đây, có thể nhìn thấy khắp vùng biển Thái Bình Dương và thành phố Đà Nẵng. Mặc dù mùa Hè nóng bức nhưng đỉnh trời lộng gió biển khơi, du khách cảm thấy mát mẻ dễ chịu sau khi vượt dốc tcực nhọc, đỗ mồ hôi để lên đến đây.

Quanh chân Ngũ Hành Sơn là một khu phố điêu khắc, hàng trăm cửa hàng trưng bày đủ các thứ hình tượng lớn nhỏ bằng đá, nhiều màu khác nhau rất đẹp, đa số là tượng Phật Thích Ca, Di Lặc, Quán Âm… và những vật kỷ niệm như bình hoa, hình thú vật voi, sư tử, rồng, cá heo…  Du khách vào ra nhìn ngắm tấp nập, nhưng hãy cẩn thận kẻo đụng phải những vật trưng bày rơi xuống hư hại sẽ bị bồi thường bằng giá mua. Đã xảy ra, nhất là trẻ em tinh nghịch, chen lấn …cha mẹ đã phải đền tiền khi vật kỷ niệm rơi vỡ hay hư hỏng… Ngũ Hành Sơn có loại đá màu rất qúi, người dân ở đây khai thác gần như cạn nguồn, bị cấm, họ phải ra tận Thanh Hoá, Nghệ An mua đá màu về để duy trì nghề điêu khắc truyền thống, đồng thời đáp ứng mức cầu của du khách ngày một đông. Nhờ thế đời sống của họ cũng được nâng lên.  

Vào xem hang động, phải mua vé 20.000ĐVN, thời gian không lâu bằng dạo qua các cửa hàng điêu khắc. Chúng tôi phải mất 3 giờ cho thoả mắt, thỏa lòng trước muôn trùng tượng Phật hay các vật kỷ niệm đủ kiểu cách trưng bày ở các gian hàng.  Chúng tên lên xe vào thăm Cửa Đại vào lúc 10 giờ . Đây là hải cảng đầu tiên được hình thành bởi thương lái người Tàu . Cách đây 300 năm thuyền buôn nhiều nước cập bến Cửa Đại mua bán trao đổi hàng hoá với chúng ta...  Bây giờ trở thành một nơi nghỉ mát, có bải biển đẹp, có nhà nghỉ và nhiều hàng quán nhỏ bày bán thức ăn nước uống dưới bóng mát của rừng dừa. Chúng tôi chỉ ghé lại xem cho biết di tích lịch sử nầy. Rồi tiếp tục vào thành phố cỗ Hội An. Dọc theo hai bên đường từ Cửa Đại đến Hội An, có rất nhiều khách sạn đủ loại lớn nhỏ được xây dựng để đón khách du lịch. Nhất là bên bờ sông có những nhà hàng nổi để khách hàng ngồi ăn uống và ngắm cảnh đồng quê rất hữu tình. Đến Hội An chúng tôi đến một tiệm cơm chay để ăn Mì Quảng, là món ăn đặc sản của xứ Quảng Nam. Sau đó, chúng tôi dạo  bộ vào trung tâm phố cỗ Hội An.

Trước tiên, đi qua Cầu Chùa, đây là một cây cầu bằng gỗ hình cong trên có mái lợp ngói, chính giữa dành cho xe cộ, hai bên có hành lang cho người đi bộ. Hai đầu cầu có miều thờ thần, và tượng  hình hai con chó bằng ximăng. Người qua cầu có thể dừng lại trên cầu để chuyện trò hay nhìn giòng sông nước chảy nhẹ nhàng... Xe cộ không được đi vào phố, vì đường sá nhỏ hẹp, hai bên đường nhà cửa lụp xụp tường vách, mái ngói, sườn nhà, cửa ngỏ bằng gỗ. Ít có nhà lầu, những tranh ảnh, lồng đèn màu bằng vải, vật lưu niệm bày bán tràn lan từ trong nhà ra tận hè phố. Du khách đi lại nhìn ngắm, người ngoại quốc thì vui thú vì chán  nhìn những phố xá nguy nga chọc trời, những siêu thị sang trọng… Bây giờ, thấy cảnh quê mùa, thấy hình ảnh của mấy trăm năm trước nên đua nhau đi xem, như là xem cỗ vật. Còn đa số người Việt Nam thì thấy buồn chán cho cảnh nghèo nàn lạc hậu…Chính quyền không thể tổ chức sao cho văn minh, ngăn nắp, sạch sẽ như nước ngoài, nhất là những quán ăn , gánh hàng rãi rác khắp nơi, không biết du khách có dám ngồi ăn , uống hai bên đường phố đông đúc rộn ràng, bụi bặm như thế không? Nhìn cảnh phố cỗ Hội An, chúng tôi chẳng cảm thấy hứng thú gì cả, thật ra là cứ nghe đồn miệng với nhau rồi rũ nhau đi xem vậy thôi. Ôi ! chúng ta dàn cảnh nghèo nàn lạc hậu ra cho người ngoại quốc đến xem, họ sẽ đánh giá sao đây trước một thực tại đáng buồn này…

Chúng tôi chỉ dạo quanh mấy đường phố xem qua rồi trở về Đà Nẵng.

Kỷ niệm khó quên của tôi trong thời gian ở chơi tại Đà Nẵng là tai nạn té xe Honda.

Sáng hôm ấy chúng tôi mượn xe Honda của nhà chú Nhân để đến thăm bà mẹ thím Út. Tuy già yếu nhưng bà cụ còn minh mẫn, chưa bị lẫn. Sau đó, cô Ngọc là con gái út đến thăm mẹ rồi mời chúng tôi đến thăm nhà…Trên đường về, cô Ngọc đưa tôi đến tiệm ảnh để sang hình rồi tiếp tục làm người dẫn đường, đến một ngã tư, xe cộ ngược xuôi đông đúc quá, thình lình cô Ngọc thắng gấp xe. Không kịp thắng, xe tôi liền chòm tới tông vào xe cô, tai nạn xảy ra, tôi té xuống giữa đường…Dù nặng hay nhẹ cũng phải nhanh chóng tự giải tỏa để tránh rắc rối cho người nhà. Có nhiều người đi đường trách móc cô Ngọc nhưng khi hiểu chuyện họ cũng mong đừng để cảnh sát làm rắc rối một tai nạn…Tôi ngăn cô Ngọc và thím Út đưa tôi đến bệnh viện… Hai chị em Út và Ngọc trong lo âu, sợ hãi lau vết máu, xoa dầu các chỗ bị xây xát, trầy trược ở tay chân tôi... Chiếc xe được ai đó đỡ dậy, tôi nổ máy theo Út, Ngọc trở về lại nhà. Tôi không bị chấn thương đầu, không bị gãy xương như hai cháu Su và Ri cách đây một năm bị tai nạn Honda như tôi phải băng bột đến mấy tháng. Mọi người trong gia đình đều mừng và chính tôi cũng cảm thấy chưa phải trả nghiệp nặng lắm. Tôi lại động viên thím Út và cô Ngọc đừng buồn…Mỗi buổi sáng tôi vẫn tiếp tục tắm biển…Các vết thương ở cùi chõ, dầu gối và mắt cá nhanh chóng khô mặt bớt đau rồi lành sau gần hai tuần ở nhà chú Nhân vừa vui chơi vừa chữa trị vết thương. Đà Nẵng một chuyến thăm nhiều kỷ niệm vui hơn buồn…   

Thề là, chương trình thăm Nha Trang, Vạn Giã, Phú Yên, Sông Cầu, Quy Nhơn tôi đành bỏ dỡ. Xin hẹn bao bạn bè, người thân và học trò cũ của các nơi này một dịp về thăm quê hương khác dù biết phía trước nhân duyên hội đủ để gặp lại là chuyện không hề như mong đợi. Xin cám ơn tất cả. 

.Nhóm Hướng Thiện Huế

Những ngày sống ở Huế, tôi tiếp xúc với nhóm Hướng Thiện do ông Phan Đình Huy cựu giáo sư Quốc Học Huế và cô Thái Thị Huề là một giáo sư về nghỉ hưu, tiếp tục đi theo đường lối thực hành Bi Nguyện của Bác Phạm Đăng Siêu nổi tiếng là một Bồ tát thực hành Bố thí ba la mật, giúp đỡ cho những người nghèo khổ, tàn tật, trẻ em mồ côi, những ngôi chùa hẻo lánh ở xa thành phố ít người đi lại … Thầy Huy và cô Huề hướng dẫn một số em Phật tử để làm Phật sự. Hàng tháng đi nhận gạo bỏ hũ do các nhà hảo tâm cúng dường, còn tiền bạc thì do một nhóm bà con ở ngoại quốc gởi về để làm quà, và mua các món vật thực nhu yếu cho người nghèo cần để sống. Chúng tôi đã theo đoàn Hướng Thiện đến thăm và chứng kiến cách làm việc của nhóm Hướng Thiện nầy.

* Trung Tâm đường Xuân 68.

10 giờ sáng Chủ Nhật 19 tháng 6, chúng tôi đến nơi sinh hoạt của nhóm Hướng Thiện, tại đường Xuân 68. Ôi tên con đường ven thành nội nầy làm tôi nhớ đến Tết Mậu Thân 1968.

Một mùa xuân kinh hoàng chết chóc máu lửa, gần một tháng trời người dân xứ Huế chạy loạn ra khỏi thành phố, bom đạn nổ trên đầu, cửa nhà đổ nát, người chết khắp mọi nẻo đường, một cái Tết tang thương đói lạnh, lang thang vất vưởng về nương náu chốn thôn quê, gạo cơm thiếu thốn, bà con láng giềng chia sớt cho nhau từng bát cơm, củ sắn, củ

khoai, tối lại xuống ngủ dưới hầm để tránh đạn bom vô tình… Quả thật là một Mùa Xuân khốn khổ! Tổng kết có trên 5.000 người dân thường bỏ mạng trong các hố chôn tập thể. Vậy mà bây giờ lại có tên một con đường để gợi nhớ, gợi thương cái gì đây???

Bước vào mái nhà che bởi tấm vải nhựa nối liền hai bờ vách tường, có gần 100 người gồm có trẻ em mồ côi, người già yếu, tàn tật, người mù… đang ngồi thành mấy hàng dài dọc theo vách tường. Thầy Huy và cô Huề đưa tôi đến ngồi vào một cái bàn ở cuối căn phòng tạm che ngoài trời nầy. Tôi bàng hoàng, không ngờ sao các em nhỏ và các cụ già, người tàn tật không có được một nơi nào tử tế hơn để sinh hoạt hàng tháng mà phải tập trung nhau một nơi khốn khổ thế nầy, nếu gặp lúc trời mưa thì làm sao! Mùa Hè Huế trời nắng nóng mà phải ngồi dưới một lớp vải nylon che trên đầu chói chang như vậy làm sao mà chịu nổi. Vậy mà người nghèo khổ cũng đành chịu chấp nhận kiếp sống như vậy. Trong khi phố xá vươn cao, hàng hóa tràn đầy, khách sạn mọc lên khắp nơi, mời đón khách du lịch, mà con em, bà con mình lại sống cơ cực như vậy được sao? Làm sao mà xóa đi cảnh đói nghèo nầy chứ, trách nhiệm thuộc về ai đây? Có ai để tâm đến cảnh đời nghèo khổ của những người nầy không?

Tôi cảm thấy ngậm ngùi, ngồi im lặng nhận diện những khuôn mặt đại diện cho đủ lứa tuổi, đủ hoàn cảnh khổ đau đang bày ra trước mặt… Thầy Huy và cô Huề giới thiệu sinh hoạt và mục đích của nhóm Hướng Thiện Huế, mỗi tháng tập trung những người nghèo khổ nầy một lần để khuyến khích nhau ăn chay niệm Phật và phóng sanh, và tặng quà, để chuyển cái nghiệp khổ đã gây tạo từ những kiếp trước, thì bây giờ dù nghèo đói mỗi tháng vẫn nhịn chút ít để cùng nhau góp tiền lại mua chim hay cá phóng sanh. Có người phát nguyện ăn chay trường hay ăn chay kỳ, ít nhất cũng ăn chay mỗi tháng 4 ngày. Trong buổi họp mặt nầy có bà Lành, mẹ bác sĩ Hiền, một gia đình Phật tử thuần thành thường hoan hỉ phát tâm bố thí cứu giúp người nghèo. Đứng trước cảnh nầy tôi biết nói gì đây, có khi cảm động quá, khi nghĩ đến cảnh dư dật phung phí vật thực tại Mỹ tôi muốn khóc, chỉ biết an ủi cho mọi người biết rằng, mặc dù mình nghèo khổ bây giờ, nhưng có một điều may mắn quý báu là được gặp Phật Pháp, được có những bàn tay từ thiện giúp đỡ, vậy thì hãy gắng tu để chuyển nghiệp, và cảm thấy mình cũng có được niềm vui Tinh Thần, trong khi nhiều người giàu sang khác không có được, họ tha hồ thọ hưởng dục lạc, tham ăn ham uống, cờ bạc rượu chè, hút xách, ỷ quyền cậy thế áp bức bóc lột kẻ cô thế, yếu kém, như thế là họ đang gây tạo nghiệp ác rồi sau này sẽ phải trả giá, phải chịu nghèo khổ khốn cùng, không ai thương mà cứu giúp cho đâu. Như thế xin quý vị hãy cố gắng ăn chay, niệm Nam Mô A Di Đà Phật thật nhiều, bất cứ khi nào, ở đâu cũng nhớ mà niệm Phật, để xóa bớt nghiệp cũ, gieo hạt giống lành, để hiện tại thân tâm được yên ổn, thoải mái, an phận nghèo mà vui tâm hồn, vì mình có được pháp Phật để tu hành, và cũng nên cầu nguyện cho mọi người được gặp đạo Phật như mình vậy. Nam Mô A Di Đà Phật!

Nhận thấy trong nhóm Hướng Thiện nầy có nhiều em học sinh mồ côi hay cha mẹ nghèo khổ, mà vẫn cố gắng đi học, muốn cho nhóm luôn luôn sống an vui hòa hợp, nên tôi dạy các em bài hát:

“Lời qua mà tiếng lại. Giải quyết mà chi đâu.  Sao không dừng lại. Kẻo hố thêm sâu.

Lời qua mà tiếng lại. Đưa ta tới đâu. Sao không thở nhẹ. Mỉm cười nhìn nhau”

Đối với các vị đã già chuyên tu niệm Phật, thì tôi đổi lại một câu:

“Lời qua mà tiếng lại. Đưa ta tới đâu. Sao không niệm Phật. Mỉm cười nhìn nhau”

Muốn cho gia đình êm ấm thuận hòa, thì chúng ta nên nhường nhịn là tốt nhất. Một sự nhịn chín sự lành. Không nên tranh cãi để gây ra sự bất hòa lộn xộn trong nhà. Đối xử với người ngoài cũng vậy, nếu ai nói xấu, trêu chọc hay vu khống mà ta không cần đôi co tranh luận, chỉ dùng câu Nam Mô A Di ĐÀ Phật chắp tay mà vái họ thì mọi sự sẽ êm hết. Mong quý vị đem bài hát này mà dạy lại cho con cháu trong nhà, như vậy sẽ tạo ra được không khí an lành hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Nam Mô A Di Đà Phật!

Mọi người già trẻ thích thú ca hát quên cả nắng nóng của buổi trưa Hè xứ Huế, nhiều người đã hát thuộc bài nầy và được tặng một chai dầu xanh của Hoa Kỳ làm quà.

Sau buổi nói chuyện, những gói quà được phận phát cho mọi người, gồm có gạo, mì gói, một chai nước tương, và một bì thư 50.000đ VN. Mọi người cùng dùng bữa cơm trưa rồi ra về hoan hỉ.

* Chùa Kim Đài.

Sáng Chủ Nhật 26 tháng 6, 05. Lúc 8 giờ, chúng tôi thuê xe cùng đi với đoàn Hướng Thiện, chở quà lên chùa Kim Đài, thăm những người dân nghèo khó nơi miền núi non xa xôi hẻo lánh, vùng đất nầy toàn là núi đồi đá sỏi, ít có đất ruộng, chỉ có nương rẫy trồng khoai sắn và cây lâu năm như mít xoài, ổi… Chùa Kim Đài có một vị thầy bị mù, sống ở đây trên 40 năm, dân chúng chung quanh nghèo nên chùa cũng khổ, nhóm Từ Thiện của Bác Siêu thường đem  gạo, dầu, nhang đèn lên cúng dường. Bây giờ có một số Phật tử nước ngoài biết nên phát tâm giúp đỡ và chùa mới xây lại khang trang sạch sẽ hơn. Khi xe chạy đến Bến Thang, chúng tôi dừng lại làm lễ phóng sanh cá. Hai thùng cá đặt sát bên nước, sau khi chú nguyện, chúng tôi đem xuống sông thả hết cá xuống nước và xua chúng đi xa nhưng những con cá cứ bơi lội quanh quẫn bên chân vui mừng như muốn bày tỏ lòng cảm ơn đã cứu mạng sống. Thật thế, mọi loài đều muốn sống và sợ chết, cũng như người tử tù mà được tha chết thì sung sướng vui mừng biết mấy! 

Xe đến chùa lúc 11 giờ, đã có độ 70 Phật tử tập trung tại chùa, thầy trú trì giới thiệu nhóm Hướng Thiện, chúng tôi lễ Phật và nói chuyện về món ăn tinh thần là giáo lý của đạo Phật nuôi dưỡng đời sống tâm linh, cứu con người thoát khỏi biển khổ sinh tử. Hướng dẫn cho họ pháp môn Tịnh Độ, an vui với đời sống nghèo để hết thì giờ mà tu hành niệm Phật, như vậy sẽ có tương lai tốt đẹp hạnh phúc hơn những người giàu sang quyền quý mà không biết tu hành, không biết đến những lời Phật dạy. Chúng tôi và các Phật tử dùng cơm trưa tại chùa Kim Đài rồi đi thăm tượng lộ thiên Quan Thế Âm cao hơn 20 mét, đứng trên một ngọn đồi bao quanh bởi rừng thông, phía dưới tượng đài là chùa thờ Phật, phía sau là rừng núi bao la, hùng vĩ, ngôi tượng bằng đá trắng tinh đứng lồng lộng giữa cảnh trời mây hoành tráng, cách xa hàng mấy chục cây số cũng thấy rõ ràng. Nguyên nhân có tượng nầy là do một vị thiếu tá QĐVNCH dựng lên trước năm 1975, để

tri ân và cúng dường Đức Quán Thế Âm đã báo mộng cho ông thoát chết. Tiếp đến chúng tôi ghé thăm lăng Khải Định, lăng mộ nầy xây dựng kiên cố toàn bằng xi măng cốt sắt, có nhiều tầng cấp từ cổng đi vào qua 2 khoảng sân rộng mới đến nơi đền thờ chính. Trên sân có đắp hình nhiều vị quan văn, võ đứng chầu. Những nhân công đang sửa chữa trên mái nhà và cửa ngỏ. Buổi trưa hè trời nắng chang chang, trong đoàn người đi từ thiện, đa số đã vào thăm lăng rồi nên không cần mua vé vào xem nữa, còn tôi, anh Tú, anh Vĩnh Thạnh, anh Xuân ở Quy Nhơn ra và Alex đến mua vé, mỗi người Việt giá 25.000 ĐVN. Còn ngoại quốc phải mua với giá 55.000 ĐVN. Tôi nói Alex là con cháu trong nhà về thăm chỉ cần mua vé như người Việt thôi, nhưng họ không chịu cứ đòi cho được giá 55.000 Đ. Thấy vậy Alex nói trời nóng nắng quá cô không muốn leo mấy chục tam cấp để vào xem một cái nhà của ông vua nữa, cô đã vào xem trong thành nội có nhiều nhà cửa cung điện đẹp hơn như thế nầy nhiều. Vậy là Alex ở lại ngồi chơi dưới bóng mát với đoàn Hướng Thiện. Chúng tôi thiết nghĩ bây giờ cái thời đại mở cửa, vé xe tàu đã không còn phân biệt ngoại kiều hay trong nước, vậy mà ở đây nơi xứ Tuần nầy người ta vẫn còn có tư tưởng phân biệt như vậy thì làm sao khuyến khích du khách đến thăm VN được? Các nước khác người ta biết cách chào mời chiêu đãi khách du lịch cho nên càng ngày càng đông khách, chứ kiểu du lịch VN chỉ một lần là chán nản, lần sau không muốn đi nữa. Làm thế nào để tẩy rửa cái đầu óc hẹp hòi cố chấp so đo phân biệt ấy thì mới có cảm tình tốt đẹp thân thiện trong lúc giao lưu với ngoại quốc được.

*Chùa Thanh Lương. 

Chào thầy trú trì và quý đạo hữu chùa Kim Đài, chúng tôi lên đường ra làng Văn Xá, cách thành phố Huế 15 km, đến chùa Thanh Lương lúc 3giờ 30’. Đây là một ngôi chùa làng, không có thầy trú trì, ở giữa đồng bằng chung quanh là ruộng lúa, có gần 100 Phật tử tập họp tại đây chờ chúng tôi. Ở đây toàn là người già yếu, đa số là đàn bà, áo quần tươm tất sạch sẽ, không có vẻ quá nghèo khổ như những nơi cách biệt thành phố quá xa.

Chùa rộng có đủ chỗ ngồi cho mọi người, chúng tôi cùng nhau lễ Phật, tụng một thời kinh ngắn, có một số nữ Phật tử có vẻ sang trọng, hình như có bà con ở ngoại quốc, hôm nay họ đến chùa dự lễ cúng Phật và nghe thuyết pháp. Gặp lúc đoàn Hướng Thiện ra phát quà cho nên chùa có vẻ tấp nập vui nhộn, các bà đang rộn ràng nấu nướng dưới nhà bếp, trên chùa cũng có hoa quả đàng hoàng. Sau buổi lễ, thầy Huy giới thiệu và mời chúng tôi nói chuyện. Chúng tôi ngồi vào một cái bàn có trải khăn vàng, có bình hoa tươi, có ly nước ngọt. Ở đây tổ chức có vẻ tươm tất, nhờ có một số cụ già, đàn ông và thanh niên sinh hoạt thường xuyên tại chùa vào những ngày rằm, mồng một và các ngày lễ vía. Hôm nay cũng có chú nguyện phóng sanh cho mấy thùng cá. Vì mục đích của nhóm Hướng Thiện là vừa cứu giúp vật chất mà cũng khuyên mọi người ăn chay, niệm Phật và phóng sanh. Tôi trình bày cuộc sống của những người ở Hoa Kỳ, quả thật đời sống tại Mỹ rất đầy đủ, cơm áo, kẹo bánh dư thừa. Nhà cửa, xe cộ cũng đầy đủ có vẻ sang trọng, trong nhà  ai cũng có xe hơi để đi làm việc, trẻ em trên 16 tuổi thì lái xe đến trường, nếu cha mẹ bận không chở đi được. Ra đường thấy toàn là ô tô, hiếm thấy có xe đạp, honda. Còn học sinh cấp Tiểu học, Trung học thì có xe bus đưa đón mỗi ngày, ở trường được ăn bữa trưa miễn phí. Quyền lợi của trẻ em và người già yếu được bảo đảm và giúp đỡ tối đa, như là cho nhà ở, thuốc men miễn phí. Nhưng những người thanh niên, người còn sức khỏe trong hạn tuổi lao động thì phải làm việc hết mình, chứ không phải làm lai rai cho qua thì giờ để lãnh lương. Ai cũng phải làm việc để trả tiền nhà, tiền xe, tiền bảo hiểm,

tiền thuế má, điện nước, mua sắm thức ăn và vật dụng, áo quần theo thời trang cho kịp người ta! Vậy thì tiền lương tháng là vừa đủ thôi. Người nào muốn có thêm tiền để gởi về VN, nuôi cha mẹ, tặng bà con, giúp đỡ bạn bè túng thiếu, thì phải kiếm thêm một việc làm thứ hai  nghĩa là phải làm việc 2 jobs mỗi job 8 giờ. Vậy là mỗi ngày phải ra sức làm việc 16 giờ, như thế còn thời gian đâu mà nghỉ ngơi, mà đi chùa tu tập. Đại đa số là những ông bà già mới đến chùa lễ Phật cầu nguyện mọi thứ…

Còn người trẻ thì phải nai lưng ra mà làm việc. Cho nên quý vị phải biết rằng số tiền  ngoại quốc gởi về VN, để cứu giúp bà con là rất khó nhọc mới làm ra được chứ không phải có đô la một cách dễ dàng đâu. Mỗi khi mình nhận những món quà, tiền bạc hay thức ăn, thì nên nhớ đến công ơn của người đã làm ra tài vật để tặng mình, và mình nên ăn để mà sống, sống để mà tu hành theo lời Phật dạy cho có phước đức để đền đáp công ơn, nếu không thì sẽ bị mắc nợ, sau này tiếp tục sống cuộc đời thiếu thốn như vậy nữa. Bây giờ biết tu hành, bố thí cúng dường lễ Phật, niệm Phật ắt sẽ có tương lai tốt đẹp hơn. Quý vị đã già rồi thì chỉ có pháp môn niệm Phật A Di Đà mỗi ngày, sao cho nhất tâm, thì ngày ra đi nhẹ nhàng, được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, vậy mới là người có trí, biết chọn con đường giải thoát khỏi biển khổ sanh tử luân hồi.

Nam Mô A Di Đà Phật! Sau buổi nói chuyện mọi người hoan hỉ, nhận quà, dùng cơm chiều rồi ra về. Trên đường vào Huế trời mưa nhẹ, và có hình cầu vòng đôi, hai đường cầu vòng song song nối liền từ biển lên núi rất rõ ràng và đẹp vô cùng, chúng tôi lần đầu tiên may mắn được thấy hình cầu vòng đôi và rộng lớn như vậy.

*Chùa  Long Quang.

Ngày 6 tháng 7. 05. (nhằm ngày mồng một tháng sáu âm lịch). Sáng thứ tư, mồng một tháng sáu, tôi dậy sớm tụng kinh, và thắp nhang lễ lạy bàn Phật và bàn thờ của Mẹ, giúp Ba tôi ngồi lên xe lăn, rồi đẩy ra trung tâm thể thao để ông đi dạo xem quang cảnh người ta đến đây để tập thể dục buổi sáng rất đông. Trung tâm thể thao nầy cao 3 tầng rộng lớn, là nơi thi đấu các môn bóng chuyền bóng rổ, bóng bàn, nơi tập thể dục dụng cụ và tập võ, bên ngoài có sân rộng rãi nhiều người đang tập thể dục dưỡng sinh, và những cặp đánh vũ cầu, có người đi bộ, có người chạy vòng quanh sân, ai ai cũng hưởng được không khí mát mẻ trong sạch của buổi bình minh trước khi phải đón nhận một ngày nắng gắt của mùa Hè xứ Huế. Ba tôi cũng ngồi nhìn xem chúng tôi đánh vũ cầu, sau đó tôi đẩy xe ba tôi đi vòng quanh phố xá cho ông xem những con đường, những ngôi nhà mới xây. Công việc phát triển đô thị trong ngành xây dựng thật là nhanh chóng. Đường phố đẹp nhà lầu cao sang, nhưng sao dân chúng miền thôn quê vẫn còn nghèo khổ, bịnh tật thiếu thuốc men chữa trị, đến bịnh viện cũng phải nạp tiền trước mới được cho vào nằm chữa trị, một số dân nghèo không đủ tiền đành chịu chết. Còn trẻ em, lang thang khắp những nẻo đường, những quán cà phê, tiệm nhậu để bán vé số kiếm ăn hàng ngày, tôi hỏi một số em tại sao không đi học, mà đi bán vé số cả ngày như vậy? Các em trả lời vì nhà nghèo, cha mẹ không đủ tiền cho con đến trường!  Tuổi trẻ VN được nuôi dưỡng như vậy thì tương lai làm sao tươi sáng được? Đây là nguyên do của biết bao nhiêu là tội phạm, bao cảnh bi đát làm băng hoại xã hội. Đọc báo chí mới thấy có nhiều cảnh thương tâm, chết chóc tang thương quá đỗi! Nỗi khổ đau không thể nào nói hết. Ai thật sự là vị cứu tinh, ai

đủ tài năng đạo đức, ai có tài kinh bang tế thế có thể đem lại sự bình an hạnh phúc chân thật cho toàn thể dân tộc Việt Nam đây?

Tám giờ sáng, xe đến chở chúng tôi ra thăm và làm việc cúng dường tại chùa Long Quang, cách thành phố Huế 22 km. Nơi đây có trường Bồ Đề, do Hòa Thượng Thích Như Đạt xây dựng trước năm 1975, tôi từng dạy học và sống ở đây. Chùa Long Quang nằm bên bờ sông Bồ Giang, có cầu An Lỗ bắc qua. Chùa được bao bọc bởi lũy tre xanh ngát, trong vườn có nhiều loại cây cổ thụ, nhiều cây ăn trái, ven bờ sông lại có ruộng trồng lúa, bắp đậu, nếp… Do các thầy, các chú và Phật tử tự làm lấy để có cơm gạo, thực phẩm tiêu dùng hàng ngày. Bây giờ chùa đã sửa sang lại khang trang, có trai đường, nhà giảng, nhà ăn rộng rãi. Trong chùa có 10 thầy, 20 chúng điệu, và những người đến làm công quả nữa. Đang là mùa An Cư, nên quý thầy đều ở lại chùa để tu tập, không đi ra ngoài.

Chúng tôi đến chùa lúc 9 giờ 30. Mọi người đi dạo xem quang cảnh của chùa rồi tập trung tại nhà khách cùng với những người tàn tật nghèo khổ ngồi lại, chờ Hòa Thượng trú trì. Ngài tươi cười thong thả bước đến chào hỏi, mời uống nước chè tươi. Rồi ngài cho một thời pháp, nói về tình nghĩa anh em ruột thịt, nên thương yêu đùm bọc lấy nhau, chớ không nên phận biệt đối xử, làm khổ cho nhau, phải thật sự thương yêu như con một Mẹ, vì là cùng “đồng bào”, sao nỡ làm khổ cho nhau được. Có thực hành hạnh cúng dường bố thí, thương yêu giúp đỡ người bịnh tật đau ốm thiếu nghèo, thì mới sám trừ tội lỗi của mình đã gây tạo từ nhiều đời kiếp được.

Ngài viết lên bảng bài Sám Hối để giảng :

“Tội từ tâm sanh đem tâm sám.

Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu.

Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không

Thế mới thật là chơn sám hối.”

Mọi người ngồi im lặng nghe Hòa thượng giảng, trong đó có bà dì em mẹ tôi, cô Dinh con bà dì, thím Lou vợ chú Phú em trai tôi. Sau đó là lúc phát quà cho những người tàn tật, tôi thấy nhiều người bị què cụt chân, tay co quắp, già yếu, bịnh tật bởi chiến tranh… Mỗi người được một gói quà gồm có gạo, mì ăn liền, một áo tràng màu lam và một quyển kinh nhật tụng…  Ai ai cũng hoan hỉ, nói lời cảm ơn và xin gởi lời tri ân đến những thí chủ ở ngoại quốc đã gởi món quà vật chất lẫn tinh thần thương yêu về cho họ..Xin chân thành cảm tạ muôn vàn, quý vị ân nhân đã chịu khó nhọc nhịn bớt ăn tiêu để chia ngọt xẻ bùi với những người nghèo khổ tại quê nhà, chúng tôi nguyện ăn chay thêm nhiều ngày, trì tụng kinh chú và niệm Phật để không phụ lòng mến thương của quý vị. Nam Mô A Di Đà Phật! Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ quý vị và toàn gia quyến được an lành hạnh phúc lâu bền, được sống mãi trong hồng ân chư Phật. 

11 giờ chúng tôi được tham dự quá đường, ngọ trai với ngài Trú trì, với Tăng Chúng trên 20 vị và trên 100 Phật Tử cùng đến lễ chùa và cúng qua đường trong buổi trưa Mồng một.

Hòa thượng giới thiệu và nhắc lại cho mọi người biết trước 75 tôi đã ở tại chùa Long Quang dạy học và làm Phật sự, ghi lại rất nhiều kỷ niệm vui buồn trong lòng Hòa thượng. Quá đường xong là 12 giờ 30. Hòa Thượng mời mọi người ngồi lại để nghe tôi kể chuyện tu hành bên Mỹ. Tôi thưa Hòa Thượng xin ngài đi nghỉ trưa, “để một mình con nói chuyện cũng được”, nhưng ngài vẫn ngồi lại để chứng minh cho đến 2 giờ chiều mới xong. 

Đây là cuộc nói chuyện của chúng tôi với quý thầy và quý đạo hữu tại chùa Long Quang.

- Kính bạch hòa thượng. Kính thưa quý đạo hữu.

Hôm nay tôi rất vui mừng được về lại đây nơi mái chùa Long Quang, mà tôi đã ở và làm việc trong thời gian chiến tranh tàn khốc sau Tết Mậu Thân. Chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm vui buồn ghi đậm nét trong tâm hồn không bao giờ quên. Được thầy trú trì thương yêu cưng chiều, được các em học sinh yêu mến, được vui đùa tắm mát trong giòng nước trong xanh của sông Bồ Giang, mỗi buổi chiều hè nóng bức. Những bữa cơm thanh đạm ngon lành với tương rau đặc biệt trong vườn chùa. Nhất là vào mùa hè khi vườn cam chín vàng, chúng tôi được thưởng thức những trái cam đường chín ngọt lịm thơm tho. Nhớ những buổi cắm trại, những ngày lễ tết, ngày khai giảng và mãn khóa học mỗi năm. Cũng có những kỷ niệm buồn lo sợ hãi vì cảnh chiến tranh loạn lạc, những đêm ngủ dưới hầm, nghe tiếng đạn bom nổ quanh vườn chùa và bên ngoài hỏa châu sáng rực cả bầu trời đêm.

Thầy Long Quang rất can đảm, không sợ hãi trước những biến cố nguy nan, thầy là người khéo tổ chức, trong chùa dù có bao nhiêu Tăng chúng thầy cũng đủ sức nuôi, cũng có đủ công việc cho mọi người làm ra cơm gạo để tự túc nuôi sống bản thân. Vậy nên chùa thầy có khi lên đến cả trăm người.

Từ khi qua Mỹ, tôi đến ở chùa Cổ Lâm, Seattle, Washington,  một tiểu bang thuộc miền tây bắc Hoa Kỳ. Nơi đây khí hậu lạnh hơn Cali ở miền nam, nên có ít người Việt định cư hơn, chùa chiền cũng rải rác không nhiều như Cali. Chùa Cổ Lâm cũng khá lớn, mỗi ngày Chủ Nhật có hàng trăm Phật tử đến dự lễ và nghe học giáo lý, rồi cùng nhau ăn cơm chay lúc 12giờ 30. Từ 1 giờ đến 5 giờ chiều có trên 150 em GĐPT Liễu Quán sinh hoạt, các em học tiếng Việt, Phật pháp, trò chơi, ca hát, múa. Đặc biệt có đoàn múa lân rất giỏi, các em thường trình diễn vào dịp Tết, Trung Thu, và các dịp chào mừng hay khánh thành các nơi mời đến biểu diễn. Thỉnh thoảng tôi cũng có nói chuyện và giảng dạy giáo lý cho các em, nhưng đa số không hiểu tiếng Việt, vì các em ở Mỹ, đến trường tiếp xúc với thầy cô bạn bè nói tiếng Anh cả ngày cho nên quên hết tiếng Việt. Vì vậy khi giảng tiếng Việt cần có người dịch sang tiếng Anh hay là chính giảng sư phải vừa nói tiếng Anh vừa dịch ra tiếng Việt thì các em mới hiểu rõ ý nghĩa mình muốn nói gì. Nếu không các em lơ là, nói chuyện  với nhau chẳng màng gì đến buổi giảng. Ban đầu tôi cứ tưởng các em không thích học Phật pháp.Sau này tìm hiểu ra mới biết lý do là các em nghe mà không hiểu gì cả nên buồn mà nói chuyện với nhau cho vui đó thôi. Chúng ta không nên trách móc la mắng các em làm gì, không phải lỗi của các em đâu.

Người đến chùa đa số là ông bà già, còn thanh niên thì bận rộn công ăn việc làm nên không có thì giờ đi chùa. Họ phải làm việc suốt cả tuần đến ngày Chủ Nhật được nghỉ ngơi thì lo đi chợ mua sắm thức ăn để dành cho cả tuần, còn lo quét dọn nhà cửa, cắt cỏ tưới hoa, nếu không thì cả tuần chẳng có ai rảnh rỗi mà lo việc nhà cả. Bởi vậy cha mẹ cũng có ít thì giờ để chuyện trò dạy dỗ hay tìm hiểu con cái, nên tình cảm thân mật trong gia đình không sâu đậm như ở VN. Con cái đến tuổi trưởng thành trên 18 tuổi là muốn ở riêng, đi chơi vơí bạn bè cho tự do, không thích bị ai kềm chế, bởi vậy hư hỏng rất nhiều, và tệ nạn xã hội xảy ra nhiều nguyên do  là ở đây. Khi cha mẹ, ông bà già yếu, bịnh tật thì con cái không muốn ở chung nhà, mà muốn gởi cha mẹ đến ở nhà dưỡng lão để có người săn sóc, hay ở nhà riêng một mình, chịu cảnh cô đơn buồn chán khổ sở về tuổi già. Con cái Mỹ ít chịu khó nhọc nuôi cha mẹ già. Bởi vậy đến khi đến tuổi già họ cũng phải chịu cảnh sống cô đơn buồn khổ như vậy, không có thân nhân tận tụy săn sóc. Có người rất buồn tủi và chỉ muốn tự tử cho xong một đời.

Gia đình nào cũng có mỗi người một chiếc xe để đi làm việc hay đi học, vậy nên ra đường chỉ thấy toàn là xe ô tô đua nhau chạy từng đoàn dài vô tận. Dù cho hệ thống đường sá của Mỹ là tối tân hiện đại nhất nhưng cũng không làm sao giải quyết được vấn đề kẹt xe trong những giờ cao điểm. Hai năm đầu mới qua Mỹ tôi chưa biết lái xe, đi đâu cũng có người đưa đi. Nhưng về sao thấy nhờ mãi cũng kỳ, vả lại nhiều người già lớn tuổi rồi mà vẫn lái xe đến chùa, hay đi làm, sao mình còn khỏe mạnh mà lại không tập lái xe. Bởi vậy tôi đã học luật lệ trong sách rồi đi thi lấy giấy phép tập lái, sau một thời gian nhờ bạn bè thường đến chùa tập cho một thời gian, khi thông thạo rồi tôi đi thi lấy được bằng lái xe, bây giờ tự mình có thể lái xe đi các nơi như trường học, bưu điện và các chợ… Nhưng tôi vẫn còn sợ chưa dám một mình lái xe trên xa lộ, vì tốc độ nhanh quá thường trên 70 miles một giờ tức là trên 110 hay 120 km/h. Ai cũng phải chạy với vận tốc nhanh như thế cả, mình muốn chạy chậm cũng không được, vì sẽ làm cản trở giao thông và bị phạt tiền. Đi xe hơi ở VN thoải mái, không phải cột giây seat belt chi cả, còn ở Mỹ ai quên không cột giây seat belt sẽ bị phạt 101 dollas. (trên 1.600.000 đVN).

Tại Mỹ nhiều người có nhà và xe sang đẹp đắt tiền, nhưng phần đông là mua chịu, hàng tháng phải trả nợ nhà và xe, có khi phải trả đến vài chục năm mới hết nợ, nếu không trả kịp trong vài tháng thì sẽ bị tịch thu nhà và xe. Bởi vậy ai cũng gắng làm việc để có nhà ở và xe đi làm. Nước Mỹ đất đai rất rộng nên đường đi lại rất xa, nếu không có xe thì rất tốn thì giờ khi đi bằng xe bus. Ai cũng muốn tự do cá nhân, nên sắm xe riêng để đi lại cho thuận tiên, nhưng lại tạo ra cảnh kẹt xe. 

Điều quý nhất mà quý Phật tử có ở VN là thời giờ. Dù nghèo khổ nhưng đời sống ở thôn quê vẫn còn thời gian nghỉ ngơi sau khi lao động ngoài đồng về. Ăn uống đạm bạc rồi ngủ nghỉ cho đến sáng, mỗi ngày đều gặp mặt vợ chồng, con cái, cha mẹ, bạn bè để thăm hỏi chuyện trò, không như ở Mỹ mọi người ở tuổi lao động đều phải làm việc 10 giờ, cho đến 16giờ (2jobs) một ngày. Giờ giấc làm việc khác với giờ đi học của con cái, mỗi nhà hàng, nhà máy lại có giờ làm việc khác nhau, cho nên việc ai nấy làm, xe ai nấy đi, về nhà mệt kiếm cơm, bánh mì, bơ sữa trong tủ lạnh mà ăn rồi đi ngủ lấy sức rồi thức dậy đi làm tiếp. Công việc làm theo máy móc không thể lơ là được, phải làm nhanh chóng cho kịp người ta, cho kịp tốc độ máy chạy. Anh làm không kịp, không xong bổn phận mình là bị mất việc. Rất nhiều người phải làm việc quá sức nên bị bức xúc đè nén,

sinh ra đau bịnh stress, ung thư. Chúng ta may mắn có thì giờ để đi chùa nghe kinh, nghe giảng, rồi có thì giờ để tu tập, có thì giờ gặp thầy gặp bà con bạn bè để tâm sự, vậy là có hạnh phúc lắm rồi. Chớ nên vọng cầu quá sức để mà đau buồn khổ sở. 

Có người hỏi tôi – Quý thầy, quý Phật tử ở Mỹ tu hành như thế nào? Dễ dàng hay khó khăn? Xin trả lời rằng: Việc tu hành thì dù ở Mỹ hay ở VN. đâu cũng có anh hùng, cũng có kẻ khùng người điên. Chẳng có nơi nào là hoàn hảo cả. Tùy theo duyên nghiệp và ý thức của mỗi người, Ai khôn ngoan có trí, nhận lấy được Pháp bảo của đức Phật để lại để thật sự tu tập thì có tiến bộ, mau đến bờ giải thoát. Kẻ nào tham danh lợi, chạy theo vật dục thế gian, bị cảnh xa hoa sung sướng, bạc tiền danh lợi mê hoặc thì vẫn là phàm phu tục tử, mãi mãi chịu trôi lăn trong biển khổ luân hồi sanh tử. Sự thật là như vậy, quý vị không nên nghĩ rằng ở Hoa Kỳ cái xứ giàu sang sung sướng là tu hành dễ dàng, Đa số đều bị vấp ngã theo làn sóng văn minh vật chất hấp dẫn lôi cuốn con người sa vào vũng lầy tội lỗi…

      “Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

Bất cứ ở đâu người có thiện căn và tâm trí sáng suốt trong sạch thấu hiểu luật Nhân Quả biết sợ Nghiệp Báo về sau, thì cũng vững chí tu hành theo lời Phật dạy, cũng mong có ngày giải thoát. Bây giờ ở vào thời Mạt Pháp, loài người ít phước mà nghiệp xấu lại quá nặng nề, trí tuệ (thánh trí) yếu kém, thân thể bạc nhược, hoàn cảnh xã hội phức tạp, môi trường không được trong sạch như xưa, vậy nên việc tu thiền, tu mật cho có kết quả ngay trong một đời để có thể làm chủ tâm mình trong lúc chết, không hoang mang kinh hãi, thì quá khó, hiếm người đạt được. Đức Phật Thích Ca, bổn sư của chúng ta đã biết trước tình trạng nầy cho nên đã phó chức lại cho đời sau Pháp Môn Tịnh Độ, dễ tu dễ chứng cho tất cả mọi hạng người già trẻ, giàu sang hay nghèo khổ, mạnh hay yếu đều tu hành có kết quả ngay trong kiếp sống nầy. Đọc lịch sử các bậc tu theo môn Tịnh Độ chúng ta thấy có rất nhiều tấm gương trong thời hiện nay đã tu thành công, nếu thành tâm tu hành thật sự, siêng năng niệm Nam Mô A Di Đà Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, thì sẽ :

“Biết trước giờ chết, thân không bịnh khổ, tâm không tham luyến, Ý không điên đảo, Như vào thiền định. Phật và thánh chúng, tay nâng kim đài cùng đến tiếp dẫn…”

Có phải mục đích tu hành của mọi người xuất gia cũng như tại gia là mong muốn được kết quả như trong kinh đã dạy … Không có gì quý hơn pháp môn Niệm Phật nầy.

“Phật pháp nan văn” Bây giờ quý vị đã được nghe đã hiểu, vậy thì hãy giữ lấy mà thực hành, đây là món ăn Tinh Thần nuôi dưỡng đời sống tâm linh cho chúng ta. Đây là pháp bảo, quý báu hơn châu báu bạc vàng của thế gian. Vậy chúng ta vẫn giàu có, đời sống nghèo mà tương lai phong phú nhiều hy vọng được về sống nơi cõi Tây Phương Cực Lạc làm đệ tử của đúc Phật A Di Đà thì còn mơ ước nào hơn nữa.

Để kết thúc tôi dạy cho quý Phật tử bài hát: “Đây là Tịnh Độ” (người nào thuộc hát lại được sẽ nhận một món quà của các Phật Tử từ Hoa Kỳ gởi về tặng,- một máy niệm Phật hay môt chai dầu xanh.”  Bài hát như vầy:

Đây là tịnh độ. Tịnh độ là đây.

  Phật là trăng sáng. Pháp là mây bay.

Anh em khắp chốn. Quê hương nơi nầy.

Thở vào hoa nở. Thở ra trúc lay.

Tâm không ràng buộc. Tiêu dao tháng ngày.”

Muốn không bị ràng buộc thì quý vị cần buông bỏ từ từ những tính tham lam, sân hận, ganh ghét đố kỵ… để cho thân tâm nhẹ nhàng, và cuộc đời an vui thanh thản.

Mọi người đều vui vẻ tập hát và nhiều người già cũng như trẻ đã hát lại rất hay tiếc rằng tôi không có đủ quà để làm phần thưởng cho mọi người. 

Hòa Thượng Như Đạt cũng hoan hỉ hát chung với mọi người, và ngài còn hát một bài thơ hay bài chòi (Bình Định) để tặng tất cả Phật tử hiện diện trong cuộc họp mặt hy hữu hôm nay, mong rằng sẽ còn gặp lại quý vị trong tương lai gần, nếu không thì cũng sẽ gặp quý Phật tử trên cõi Tịnh Độ của đức Phật A Di ĐÀ.

Cuối cùng chúng tôi hồi hướng:

“ Nguyện đem công đức nầy.

Hướng về khắp tất cả.

Đệ tử và chúng sanh.

Đều vãng sanh Cực Lạc.”

Trẻ Em Bán Vé Số.

Khắp mọi nẻo đường VN. từ Sài gòn ra Huế…Đâu đâu cũng thấy trẻ em đi lang thang khắp phố phường để bán vé số kiến ăn. Có ai nghĩ đến và thương xót cho thế hệ trẻ em nầy không? - Ở Hoa Kỳ cũng như VN. đều có những người giàu sang, tiền rừng bạc bể. Họ sẵn sàng bỏ ra bạc triệu để đi du lịch khắp nơi để thưởng thức cảnh đẹp, những món sơn hào hải vị,  mua sắm  những áo quần, nữ trang vàng ngọc đắt tiền, xây dựng lầu cao vườn rộng…Hưởng đủ thứ ăn chơi. Phung phí tiền bạc, thời gian và sức khỏe… Trong khi các em nhỏ vì cha mẹ nghèo khổ không đủ tiền đến trường. Có một số nhà

giàu có lương tâm biết thương yêu chăm lo cho thế hệ trẻ, muốn xây dựng tương lai tốt đẹp no ấm hạnh phúc cho đất nước và dân tộc. Quý vị sẵn sàng đóng góp vào các hội từ thiện, những cô nhi viện, những hội chăm nuôi và gíáo dục trẻ em bụi đời, v.v…Có như vậy quý vị mới hưởng được niềm hạnh phúc an vui tinh thần, trái lại khi về già, tuổi đời sắp cạn, sức khỏe tàn tạ, quý vị sẽ cảm thấy lương tâm cắn rứt và ân hận vô cùng, vì tự thấy rằng suốt cả cuộc đời mình chưa làm được việc thiện lành nào, chưa tạo được chút công đức nào cho cuộc sống tâm linh cả, chỉ lo phục vụ cái cái thân xác, nhưng bây giờ nó cũng rã rời, sẽ bỏ mình mà trở về vơí cát bụi…

Như cụ Nguyễn Trãi đã viết trong tập Gia Huấn Ca:

“Thương người như thể thương thân,

Người ta phải bước khó khăn cơ hàn…

Thấy người đói rách thì thương

Rách thì cho mặc đói thì cho ăn.

… Hiền lành để tiếng với đời

Lòng người yêu dấu là Trời độ ta.

Tai ương hoạn nạn đều qua

Bụi trần giũ sạch thực là từ đây.

Vàng tuy Trời chẳng trao tay

Bình an hai chữ xem tày mấy mươi.”

Gia Huấn Ca

EM BÉ BÁN VÉ SỐ

Đường phố rộng thênh thang

Nhà lầu cao đồ sộ

Những siêu thị cao sang

Xe cộ chen chúc ngập tràn.

Những em bé lang thang

Thân gầy còm rách rưới

Môi héo hắt nụ cười

Tay cầm xấp vé số

Đi cầu xin từng người.

Mời anh chị, ông bà

Mua vé số cho con

Đi suốt ngày mỏi mệt

Bụng chưa có hạt cơm.

Tuổi ngây thơ nhỏ dại

Phải kiếm sống hàng ngày.

Vì mẹ cha nghèo khó

Vì thân phận mồ côi

Em lăn lóc vào đời

Nước mắt khô cạn rồi

Em khô cằn như đá

Ngơ ngác nhìn người qua

Cảm thấy sao xa lạ.

Giữa phố xá rộn ràng,

Tiếng còi xe inh ỏi

Tiếng ca nhạc lừng vang

Em cảm thấy kinh hoàng

Ngày mai không lối thoát

Tương lai em héo tàn.!

Muốn cho đất nước huy hoàng

Thương yêu con trẻ cơ hàn hôm nay.

Trường học nhà trẻ dựng xây

Nâng cao đời sống đủ đầy khắp nơi.

Trẻ con được học được chơi

Ăn no mặc ấm vui cười tự nhiên.

Cầu cho em sống hồn nhiên

Quên hết âu lo, hết ưu phiền.

An phận sống nghèo nhìn thiên hạ

Công danh phú quý áng mây qua.

Seattle, 2005-08-24

    Kỷ niệm chuyến về thăm VN.

     SÀI GÒN TIỄN BIỆT 

Phước Thắng tôi làm xong việc thầy nhờ : Đọc, sửa Hồi Ký này - Thật ra là một cách để học. Nếu thầy không bị tai nạn té honda ngoài Đà Nẵng thì tôi không viết thêm nơi đây lời nào nữa . Chắc thầy còn nhớ, sau những ngày về thăm gia đình ở Huế, sáng ngày 24-6-2005, hai thầy trò thầy đi Nha Trang tại ga Huế vào thăm tôi và những người học trò cũ. Lúc ấy, thầy báo cho tôi biết qua điện thoại di động. Tôi báo cho thầy biết Lan đã đi Sài Gòn, chủ đích thầy ở lại nhà Lan như dự trù, vì thầy không muốn ở khách sạn, còn nhà Trầm thì chật chội không tiện ở lại, còn tôi thì đã về Vạn Giã lo việc kỵ giỗ ở nhà Từ đường. Nghe thế, thầy thay đổi lộ trình, ghé thăm các em của thầy ở Đà Nẵng trước…Và tai nạn đã xảy ra như thầy đã ghi lại... Mấy ngày sau, thầy báo cho biết sự cố, tôi cảm thấy ân hận vì cứ im lặng để hai thầy trò đi Nha Trang thì sự thể đã khác…Trầm, Lan cũng trách khéo, tôi chỉ biết im lặng…Mới hay, trong đời khó lường trước mọi rủi

may, nói khác, nghiệp phải trả dù có chui được vào giữa lòng trái núi cũng không thoát…Điều thầy lo ngại cho giao thông trên đất nước này đã xảy ra cho thầy…nhưng cái rủi chưa phải là sự khổ lụy nghiêm trọng cho thầy.

Học trò cũ của thầy ở Trung học Bồ Đề hay Trung học Vạn Ninh trong những năm đầu của thập niên 70 đều quí mến thầy rất mực. Hầu hết muốn gặp lại thầy để thăm hỏi, nhất là khi tuổi thầy đã ngã bóng, còn trò thì có anh, có chị đã lên chức ông chức bà và chưa hẳn tóc thầy đã nhuộm trắng như trò…Ngày thầy bị tai nạn, Trầm, Lan hăm hở muốn làm người đại diện để ra Đà Nẵng thăm thầy, nhưng do tôi đa đoan công việc nên không chìu lòng hai đứa học trò trọng nghĩa đó…Thôi thì, lần lữa gặp thầy ở Sài Gòn trong ngày thầy sắp qui hồi Mỹ quốc.

Bây giờ là đầu trung  tuần tháng 7, có lẽ là tháng mưa nhiều của Sài Gòn, có ngày mưa suốt, không khí mát mẻ, dễ chịu. Tiễn thầy lần này không có Tâm Nhiên…Gặp nhau ở Vạn Hạnh, thầy, tôi và Trình lên lầu thăm thầy Phước Sơn. Hàn huyên một ngày chưa chắc đã hết chuyện…Nhưng chuyện gút lại cũng thấm tình cố tri . Món quà thầy tặng tôi và thầy Phước Sơn có lẽ nội dung cũng giống nhau, với thư pháp như vầy :

Còn gặp nhau thì hãy  cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

Lợi danh Như bóng mây Chìm nổi

Chỉ có Tình thương để lại đời .

        (Thơ Hỷ Khương)

Sáng hôm ấy mưa nhẹ hạt, thành phố ẩm ướt, đường phố đan xen xe cộ, dập dìu tít tấp cái trần ai xuôi ngược để mưu sinh cái ăn, cái mặc và sự giàu sang phú quí…Khác hơn là hối hả cái định hướng làm giàu. Trình chở thầy, tôi chở Kim Trang đến thẳng vườn Tao Đàn thăm thú rồi đến Thảo Cầm Viên. Trời mưa ít khách, hai không gian sầm uất cây cao bóng cả xanh thẩm một màu như trải rộng rừng nhiệt đới đến giữa chốn phồn hoa. Và trong rừng nhiệt đới này, đó đây điểm xuyết bao di sản của đất nước xa xưa hay những cảnh trí đậm nét văn hóa dân gian, riêng Thảo Cầm Viên có đủ các loại thú được nuôi nấng chu đáo trông rất sinh động như thú sống giữa núi rừng. Cái máy hình kỹ thuật số của thầy đã “có đất dụng võ”. Chúng ta chụp rất nhiều tấm ảnh kỷ niệm, chung có, riêng có, nhất là Kim Trang đã trổ tài người hướng dẫn du lịch lịch lãm, dạng dĩ xả giao nên nhờ người thợ hình chụp chung những tấm hình đầy đủ thầy, tôi, Trình và Kim Trang. Đối với Kim Trang ngày thầy về, rồi ngày sắp ra phi trường được đi chơi với thầy là niềm hảnh diện. Vì trong số đông học trò cũ ở Vạn Ninh không ai có điều kiện thuận lợi như Kim Trang để đón và đưa thầy. Kim Trang đã nói với tôi : Sẽ khoe những tấm hình có thầy, có tôi để chọc quê Trầm, Lan, Nhàn, Sanh và các bạn bè khác và chê tụi nó

“bạc phước” không được gặp thầy Nguyên Kim sau hơn ba mươi năm dằng dặc. Tôi cười và bảo : Cái phước của Kim Trang là ở Sài Gòn, nếu ở ngoài quê thì cái cảnh “ heo kêu, cháu khóc, chồng đòi tòn ten” sẽ càng lâm vào cảnh “bạc phước” nhiều hơn bạn bè đấy nhé! Nhưng dù sao thực tế của cuộc sống, Kim Trang vẫn có “phước” hơn. Tôi nhìn thấy tấm lòng Kim Trang đối với thầy  thật trân trọng . Quán nước gần chỗ hàng voi  lắc lư cái vòi mà thầy bấm máy liên tục trở thành chỗ dừng nghỉ thoải mái sau cơn khát. Trái dừa mà Kim Trang tận tay mời thầy uống như thể hiện sự biết ơn mà những tưởng trong đời dễ hồ có được ?  Rất tiếc, hôm ấy người để tử, Alex không theo thầy đi chơi để nhìn thấy sự hiếu thảo này của Kim Trang, người đại diện cho lớp học trò cũ năm xưa…

Trưa hôm ấy, bữa cơm thầy đãi chúng tôi tại tiệm cơm chay trên đường Nguyễn Văn Đậu, Bình Thạnh  ngon làm sao! Ăn không hết, Kim Trang xin hộp lấy đem về. Hộp thức ăn giao cho thầy Trình, từ Nha Trang vào thăm con lại thích ăn chay nên sẵn sàng nhận đem về. Quả Kim Trang gần như mọi ngõ ngách ở thành phố lớn này đều biết hết…nên hướng dẫn tốt  cho buổi dạo chơi ngắn ngủi mà thấm thiết này ! Một kỷ niệm khó quên, phải thế không thầy ? 

Sau khi sang hình, về đến nhà người họa sĩ, nơi hai thầy trò tạm trú là đã trên hai giờ chiều. Những tấm hình chụp buổi sáng được chủ khách xem lại vui vẻ trong sự khen ngợi “mẹ hát con khen hay”. Riêng tôi, thầy giao cho một đĩa đầy đủ hình chụp buổi sáng…Kim Trang lại bảo tôi : Cô Alex học trò của thầy Kim có nét mặt Á đông trông cũng dễ thương lắm, thầy ơi! Nó nghiêm nghị, xem ra rất mực khó tính…Lúc đó, Alex trong bộ vạt hò nâu sòng đang ngồi chuyện vãn bằng tiếng Anh với vợ người họa sĩ, không cần biết bạn bè của thầy mình đang  vui vẻ chia tay nhau ra về.

Càng về chiều, càng mưa lớn, trong phòng thầy Phước Sơn thật ấm cúng. Bao tâm tình thuyết phục thầy nhận chức Trưởng Ban phiên dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam thế ngài Đỗng Minh vừa viên tịch gần như không kết quả. Mọi trở ngại thầy nêu ra để từ chối đều có lý nhất là thầy đang là giáo thọ của Học Viện Phật Giáo đang muốn cộng tác với thầy Hiệu phó, giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát trong việc cải tổ toàn diện nền nếp dạy và học của Viện, kể từ năm học 2005-2006 trở đi. Đã khá lâu mới dịp ở lại trao đổi việc này, việc nọ với thầy âu cũng là điều thú vị . Buổi ăn chiều, tôi cùng thầy làm món mì gói sốt dẽo, thơm lức mùi ngò, mùi cải, mùi nấm, mùi sú lơ, mùi cà chua thật hấp dẫn, lại có món tráng miệng bằng chè ly của Phật tử nào đó cúng cho thầy xem ra cũng sang trọng lắm chứ. Có gió, mưa hắt nhẹ vào hiên, không khí mát mẻ như len nhẹ vào tâm hồn mến thương rất mực giữa tôi và thầy đã đằng đẵng trên bốn mươi năm tan hợp, bể dâu và còn được bên nhau trong một buổi chiều đôn hậu như thế này là điều chỉ có thầy Phước Sơn  mới tạo ra được. Với tôi, buổi chiều đầy ấp nghĩa tình huynh đệ này trở thành kỷ niệm đẹp cho tuổi đời trầm luân còn lại của mình.

Đến phi cảng Tân Sơn Nhất lúc 8 giờ 30 tối, tôi nghĩ sẽ đợi thầy nhưng may quá gặp ngay thầy đang tiến về cổng để vào bên trong phòng chờ. Tuy còn lâu mới đến giờ bay nhưng tôi thấy có cái gì đó hơi hối hả, nên nhanh chóng giới thiệu Nguyện đứa con chở tôi ra phi trường và  trao cho thầy bộ Luật Ma Ha Tăng Kỳ và Tập Kỷ yếu Tưởng niệm Ni Sư Trí Hải của thầy Phước Sơn gửi tặng thầy. Vừa lúc ấy mẹ con Kim Trang cũng có mặt. Cảm thấy rất vui vì tôi và học trò Kim Trang còn kịp gặp mặt thầy trong

buổi tiễn đưa này. Không khí thật ấm áp đầy trân trọng…Đáng ra, chuyện vãn còn kéo dài nhưng Alex đã đứng chờ thầy tại cổng  ngăn cách, nên  đành nói lời giã từ, thầy chúc chúng tôi  khỏe mạnh về sớm kẻo trời mưa lớn…Khi thầy và Alex vào bên trong, Kim Trang lại sực nhớ rằng Trầm và Lan ở Nha Trang có nhờ mua vật kỷ niệm áo ấm, mủ…để tặng thầy nhưng loay hoay Trang quên mất. Trang than  thở sợ Trầm, Lan trách không quan tâm. Tôi lại cười bảo: như vậy là đã tặng thầy rồi, tặng thầy cái điều đã còn nhớ ra đó. Tôi lại bảo: Hình như lúc còn ở Huế, trong thùng sách thầy gửi ra cho thầy Nguyên Kim có quà tặng của học trò cũ ở Nha Trang… Mẹ con Kim Trang lại cười vui vẻ…Mưa nhỏ, ẩm ướt lắm…Mẹ con KT chào tạm biệt tôi. Đứa con gái KT lại bảo :  con sẽ lên Đa Lạt thăm ông… Trên chuyến xe đêm về Đa Lạt, tính nhẩm thời gian và đón mò rằng: Hai thầy trò thầy đến phi trường Seoul Hàn Quốc thì tôi cũng về đến Đa Lạt. Và phía trước là khoảng cách xa mịt mù…

Phước Thắng 

2/ VỀ  OLYMPIA

Olympia là thủ phủ của tiểu bang Washington. Đây là một thành phố có nhiều cơ quan làm việc của nhà nước. Cơ quan chính thức là một tòa nhà xây dựng theo mẫu tòa Bạch ốc nhưng nhỏ hơn, làm bằng đá cẩm thạch trắng. Chung quanh có vườn hoa , sân cỏ, bồn phun nước, và những rặng cây hoa Anh đào Nhật Bản trồng hai bên đường, đến mùa Xuân hoa đồng loạt nở rộ rất đẹp. Du khách thường đến thăm thú và dạo chơi trong công viên bao quanh tòa nhà trắng nầy. 

Phố xá, cửa hàng buôn bán không to lớn như ở Seattle. Dân chúng đa số là công chức . Người Việt Nam chỉ có vài ngàn người, ở đây có chùa Việt, chùa Liên Hoa. Phật tử thường về chùa tham dự các buổi lễ , nhất là vào dịp Tết cổ truyền. 

Ngay lúc vừa đến Hoa Kỳ, vào những ngày đầu tháng giêng năm 2001, tôi được mời về  chùa Liên Hoa, Olympia để tham dự Lễ Tết Tân Tỵ với Phật tử và đồng bào tại đây. Mùa Xuân đầu tiên trên đất Mỹ là một kỷ niệm khó quên. Hồi ấy, là 28 tháng chạp năm Canh Thìn (2001), tôi từ Cali lên Seattle, thầy Nguyên An đích thân lái xe đến phi trường Sea-Tac, đón tôi đưa về chùa Cổ Lâm, nơi thầy đang là vị Trụ trì…Tôi không rõ anh Quảng Huy, hội trưởng  chùa Liên Hoa bàn bạc thưa gửi như thế nào với thầy Trụ trì Nguyên An, chỉ biết sáng hôm sau, tôi được anh Hội trưởng tha thiết mời về chùa Liên Hoa, để hướng dẫn và tổ chức lễ đón Tết Tân Tỵ, dù biết nơi đây đã có thầy Ananda người Tích Lan đang tu học và hướng dẫn Phật tử. Chân ướt, chân ráo, mọi thứ đều lạ lẫm nhưng sau một đêm bỗng như thâm tình, tình người Phật tử ly hương sâu đậm hơn mỗi khi Tết đến…Tôi nhận lời, lên xe anh Quảng Huy về chùa Liên Hoa.

Bấy giờ là giữa mùa Đông thời tiết rất lạnh, cái lạnh ghê người, với tôi cái lạnh ấy càng thấm thía hơn bởi nỗi buồn xa lạ, nhớ quê của một người vừa mới rời đất nước. Nhưng còn đó tình người Phật tử nơi đây, như hiểu rõ khúc tình vời vợi ly hương đã sưởi ấm tôi bằng sự chăm sóc, lân mẫn, đôn hậu của tấm lòng từ mà qua năm tháng mái chùa đã hun đúc nên. Tôi cảm thấy không khí Tết tràn ngập không gian thanh tịnh này và tôi biết phải làm gì để cho không khí ấy đậm nét truyền thống như ở quê hương. Một ngày mùa Đông lại qua mau nhưng các tiết mục chuẩn bị đón Tết cũng được người Phật tử sắp xếp chu đáo, tôi chỉ là người tiếp sức làm cho chương trình lễ Tết ấy đạt đến chỗ viên mãn của niềm an vui…  Chín giờ rưỡi tối tháng Chạp năm Tân Tỵ lễ đón Giao thừa và Xuân Di Lặc bắt đầu. Trước hết là lễ Sám Hối cuối năm, ngoài Phật tử và người đồng hương còn có một số người Mỹ, khoảng ba trăm người tham dự, trong và ngoài chùa đều chật ních. 

Sau Lễ sám hối, các em Gia Đình Phật Tử  dâng hoa cúng dường Tam Bảo, múa Lân và ca múa nhạc kịch rồi đốt pháo. Tôi rất ngạc nhiên trước một anh Sơn, Huynh Trưởng GĐPT có giọng  hô Lôtô đặc sắc như một nghệ sĩ chuyên nghiệp ở quê nhà. Sau

đó, Lễ  cúng Giao Thừa và Lễ Vía Di Lặc trong bầu không khi linh thiêng đầy ngưỡng vọng.Và cũng tại nơi trang nghiêm này, mọi người cầu chúc một năm mới đầy tốt đẹp cho nhau. Nhân đó, tôi nói về ý nghĩa cầu an…Thế rồi,  Lộc đầu năm được gửi đến mọi người, đó là một quả cam, bom, hay quýt kèm theo một phong bì lì xì… Đặc biệt, thầy Ananda lưu trú tại chùa Liên Hoa đã bốn năm, phát quà rất nhiều cho các em nhỏ. Sau cùng, các bác trong Ban đại diện chùa mừng tuổi thầy Ananda và tôi…Buổi lễ kết thúc vào  lúc 2 giờ sáng ngày mồng một Tết. Sau gần năm giờ vui mừng đón Nguyên Đán, đối với người Phật tử, nhất là các bậc tuổi đã cao ra về, chắc lòng họ cũng chất nặng nỗi nhớ Tết quê nhà…Nỗi niềm này nào ai biết được ? Chỉ biết, vào các ngày sau đó, trong số người về chùa thưa thớt, có họ, trầm mặc hơn trước Phật đài…

Trong bài nói chuyện đầu năm mới về vấn đề Cầu An, tôi gợi ý xưa nay vào ngày đầu Xuân ai cũng chúc mừng và mong muốn có được một năm mới tốt đẹp nhiều may mắn hạnh phúc, làm ăn phát đạt, sức khỏe dồi dào… Nhưng có thật sự như ý muốn không, hay là phần nhiều bị thất bại trái ý, gặt hái nhiều khổ đau phiền não… Cho nên, cầu cho hết năm để đến đầu năm mới lại cầu xin và chúc tụng những lời hay ho tốt đẹp nữa. Nếu chúc gì mà được nấy thì ai lại không muốn cầu chúc và cầu xin Phật trời thánh thần ban phúc, lộc thọ… Nếu chỉ đến chùa hay nhà thờ cúng dường một ít tiền bạc, phẩm vật để cầu xin cho suốt năm khỏe mạnh, phát tài hưởng lộc…mọi sự đều hanh thông tốt đẹp, thì quá dễ dàng, chẳng còn ai chịu khó để tu hành, làm lành tránh dữ nữa, chỉ việc ăn chơi, làm điều bất thiện gây nhiều tội lỗi rồi đến cầu xin tha tội được phước, như thế là trái luật nhân quả, như vậy là tham lam quá. Theo tôi thì quý vị có chịu khó nhọc tu hành, kiềm chế thân tâm không theo đòi ăn chơi của thế gian, trong ba ngày Tết nhín ít thời gian đến chùa làm lễ sám hối, lễ Phật, như thế mới mong thêm phước, bớt tội, nhờ vậy, sự bình an và hạnh phúc cả một năm được vun xới tốt đẹp. Nếu không có công phu thì chẳng thể nào có kết quả được đâu. Do đó,  trong ba ngày Minh niên, vào buổi chiều,  mong quí vị đến chùa, cùng chúng tôi tụng và lạy trọn bộ Từ Bi Thủy Sám Pháp. Sự tương ứng, tương cầu như được thể hiện lên nét mặt vui tươi của người Phật tử chùa Liên Hoa trong đêm trừ tịch ấy. 

Từ duyên lành này, tôi đã nhiều lần từ Cổ Lâm về lại chùa Liên Hoa để hướng dẫn Phật tử tu học vào các ngày lễ, vía trong năm. Và năm nào Tết đến, tôi cũng về chùa Liên Hoa đón mừng Xuân mới, Xuân Di Lặc cùng với Phật tử nơi trú xứ này.

Bây giờ, vì nhu cầu nên tôi lại trở về chùa. Trước mắt, cùng quý Phật tử xây dựng đạo tràng Tịnh Độ để cùng nhau tu tập. Mong mọi người ý thức được rằng : ở thời mạt pháp, tu pháp môn Tịnh độ, phần lớn hợp với căn cơ và hoàn cảnh con người, cho nên khéo tu , kết quả đạt được là không nhỏ. Trước mắt, mọi tai ương, hoạn nạn có thể hạn chế được, còn về lâu về dài tâm an nhiên, không hốt hoảng trước cái chết, vì làm chủ được cái chết, nên biết rõ chỗ về là sự tái sinh vào đất nước của đức Phật A Di Đà. Tất nhiên, qua công phu niệm hồng danh A Di Đà, đạt được cái tâm bất loạn thì hình ảnh Hoa Sen sẽ hiện ra. Và sự “nhất niệm” là tư lương để vượt qua bể khổ tử sinh mà cõi Ta bà này chúng ta đã nếm trải nhìn thấy. Như lời Phật dạy, người có trí tuệ phải tìm cách tránh đi và bằng sự tu tập chuyên trì niệm Phật thì sự Vãng sanh sẽ đạt như lời kinh A Di Đà Đà khẳng định: “ Này Xá Lợi Phất ! Nếu có thiện nam, tín nữ nào nghe nói đức Phật A Di Dà mà chuyên tâm niệm danh hiệu Ngài, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày,

hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, với tâm duy nhất không loạn động, thì người này lúc sắp mất nhìn thấy đức Phật A Di Đà cùng với Thánh Chúng hiện ra trước mắt, và lúc mất tâm người đó không điên đảo, liền được vãng sanh về đất nước Cực lạc của đức Phật A Di Đà”. Mong sao quí Phật tử chùa Liên Hoa là những Hoa sen của đất nước Tịnh Độ và điều này sẽ hiện thực nếu chúng ta biết gieo trồng nhân lành bằng cách cùng nhau tu tập tinh tấn pháp môn niệm Phật này ngay từ hôm nay. Nam mô A Di Đà Phật!

SINH HOẠT Ở LIÊN HOA

Về lại chùa Liên Hoa sau một năm vắng mặt, để làm lễ Vu Lan, PL2549. Hôm ấy là sáng Chủ Nhật 21 tháng 8 năm 2005 nhằm ngày 17 tháng 7 năm Ất Dậu, Chúng tôi với ba Phật tử người Mỹ là James lái xe, Daniel sinh viên và Micheal học sinh thường đến chùa Cổ Lâm ở lại với tôi vào những ngày cuối tuần (Thứ Bảy & Chủ Nhật) đến chùa Liên Hoa. Đến nơi lúc 10:00AM và một giờ sau, tôi làm chủ lễ Vu Lan. Tham dự lễ có khoảng 100 Phật tử và người đồng hương, cũng có các em trong gia đình Phật Tử dâng hoa cúng dường và hát bài Trầm Hương Đốt. Cài Hoa Hồng… Sau đó, tôi nói chuyện với đề tài Báo Hiếu Phụ Mẫu. Tôi kể lại chuyện đi xem vở kịch Báo Phụ Mẫu Trọng Ân do đoàn kịch của Ban Từ Tế gồm có 60 diễn viên người Đài Loan, đi trình diễn khắp thế giới có hai mục đích :  Thứ nhất , khuyên dạy thế hệ trẻ về chữ hiếu , làm con phải biết báo đền công ơn cha mẹ sinh thành. Họ biểu diễn rất hay làm cho mọi khán giả đều xúc động rơi nước mắt. Thứ hai là bán vé ( mỗi vé vào cửa là 18 dollas ) để lấy tiền làm quỷ cho Hội Từ Tế tại Đài Loan do một Sư Cô lãnh đạo. Chỉ trong vòng 10 năm mà đã có ảnh hưởng khắp thế giới, nhất là việc cứu trợ cho các nước nghèo khổ, giúp đỡ các nước bị  thiên tai bão lụt , động đất…xây dựng nhiều Cô nhi viện nuôi trẻ mồ côi, nhà dưỡng lão, trường học , bịnh viện. Bởi hội Từ Tế làm việc với lòng nhiệt tình thành tâm muốn cứu giúp kẻ nghèo khổ, hoạn nạn, không vì tư lợi, không vì danh tiếng cá nhân, cho nên được rất nhiều người đủ mọi thành phần trí thức, bác sĩ, thương gia tình nguyện giúp đỡ.

Đối với người Phật tử việc báo hiếu cha mẹ có hai phần : Một là về vật chất phải chăm lo việc ăn ở đầy đủ, thứ hai là về tinh thần mình phải lo tu tập làm người tốt có đạo đức trong xã hội, chịu khó nhọc chăm nuôi, săn sóc cha mẹ lúc già yếu bịnh tật, luôn luôn làm cho cha mẹ vui lòng, không để cho các bậc cha mẹ về già phải sống cô đơn buồn tủi… Nếu cha mẹ chưa biết tu hành thì tìm phương tiện hướng dẫn các vị đến với đạo Phật, học hỏi giáo lý, hiểu rõ luật nghiệp báo, luân hồi, nhân quả, biết niệm Phật A Di Đà, thành tâm phát nguyện cầu vãng sanh về Tịnh Độ, đây là hình thức báo hiếu có ý nghĩa tốt đẹp nhất của người con Phật. Và chính mình cũng nên tu hành siêng  năng đến chùa để cho con cháu lấy đó làm gương, khỏi mất gốc, khỏi chạy theo văn minh vật chất Tự Do Cá Nhân của Tây phương, quên hết truyền thống Hiếu Nghĩa và Tôn Sư Trọng Đạo của Á Đông. Nếu không hướng dẫn các em từ nhỏ thì sau nầy khi lớn lên đa số phụ huynh gặp phải nhiều lo âu buồn phiền vì con cái không vâng lời, không biết tôn trọng và bìết ơn ông bà tổ tiên, đến tuổi trưởng thành là ra ở riêng sống đời tự do phóng túng không kể gì đến gia đình cha mẹ anh em, bà con nữa… Đây là nguyên nhân làm cho xã hội rối loạn, bất an, làm cho mọi người đều bị ảnh hưởng lo buồn đau khổ.

Muốn cho gia đình có hạnh phúc thì trước hết con cái phải biết hiếu thảo, biết nghĩ đến công ơn cha mẹ, ông bà, biết tôn trọng các thầy cô giáo, các bậc tu hành chân chánh…

Nếu không có những căn bản nầy thì không thể tìm đâu ra đời sống hạnh phúc được. Nam mô Đại Hiếu Mục Kièn Liên Bồ tát!

Sau Lễ Vu Lan, đạo hữu Quảng Huy, hội trưởng chùa Liên Hoa, lên Seattle trình bày hoàn cảnh của chùa đang cần một thầy về để giúp đỡ việc tu tập của các Phật tử…

Thầy Nguyên An viện chủ chùa Cổ Lâm hiểu được sự cần thiết nên đã đồng ý cho tôi về đây sinh hoạt vì tôi đã có liên hệ với chùa Liên Hoa từ bốn năm nay rồi.

Chiều thứ ba, ngày 6 tháng 9, anh Quảng Huy lái xe lên Cổ Lâm đưa tôi về chùa Liên Hoa. Cùng về ở lại chùa với tôi có một nhà sư người Mỹ, đệ tử Hòa Thượng Duy Lực, tu thiền đã mười hai năm, pháp tự là Lực Chứng ( tên Mỹ là Charles Lloyd ). Sư thích tìm nơi yên tĩnh để ngồi thiền. Mỗi ngày ngồi thiền ba lần sáng, chiều và tối, mỗi lần ngồi một giờ rồi đi thiền hành một giờ. Khi nào rãnh thì thiền hành ngoài vườn chùa. Sư im lặng ít nói, cũng như mấy đứa đệ tử Mỹ của tôi vậy, luôn luôn im lặng, ai hỏi điều gì cần thiết lắm mới trả lời, không thì thôi, giống như là tu tịnh khẩu. Chùa dành cho  sư một phòng riêng. Sư Lực Chứng ăn cơm gạo lức và rau trái như tôi nên việc nấu nướng dễ dàng. Sư có cha mẹ ở Origon nên thỉnh thoảng lái xe về thăm, nhất là khi cha mẹ đau yếu sư đều có mặt. Mong sao chúng tôi sẽ sống an ổn để tu tập và hướng dẫn Phật tử nơi thủ phủ Olympia nầy trong những tháng năm vô thường còn lại của đời mình.

Như một nếp hằn sâu trong đời sống tu sĩ, mỗi ngày chúng tôi thức dậy lúc 4:30 AM, sau đó tụng kinh ngồi thiền từ 5 AM đến 6 AM.7 giờ  điểm tâm. 12 giờ ăn trưa. 6 giờ ăn bữa chiều. 7 giờ tụng kinh. 8 đến 9. PM thiền hành. Và đi ngủ lúc 10:00PM.

Phật sự của chùa Liên Hoa là mỗi ngày Chủ Nhât, Phật tử về chùa tụng kinh, lễ Phât. Các em trong GĐPT. sinh hoạt từ 12:00 đến 2 :00PM. Người lớn tụng kinh A Di Đà và niệm Phật từ 2 đến 3:00PM. 3:15 đến 4:00PM  học Phật pháp. Mỗi tháng có một  ngày Huân Tu  Niệm Phật từ 9:00AM đến 9:00PM chỉ ăn một bữa trưa đơn giản. Chuyên tâm ngồi niệm Nam Mô A Di Đà Phật một giờ , sau đó lại  kinh hành cũng chuyên chú niệm Phật, tụng kinh A Di Đà và học hỏi giáo lý, nắm vững  pháp môn Tịnh Độ để phát khởi Tín Tâm. Tinh tấn niệm Phật cầu nguyện vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Coi  đây làm mục đích chính yếu của việc tu hành suốt cả cuộc đời của người con Phật.

Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật!

Mỗi buổi sáng sau khi ăn điểm tâm xong, tôi đạp xe một vòng quanh các con đường trong xóm độ 5 miles. Rồi về phòng đọc sách nghe băng giảng hay xem DVD nhiều nhất là của pháp sư Tịnh Không thuyết giảng về pháp môn Tịnh Độ. Cũng có nhiều CD và VCD của Hòa Thượng Tuyên Hóa hay của Thiền Sư Nhất Hạnh…. Nhờ những phương tiện nầy mà tôi có thể học hỏi để mở mang kiến thức và huân tập cho mình một tư lương tốt để cầu vãng sanh. Cho nên, có thể coi chùa Liên Hoa là y xứ hội đủ duyên lành để cho tôi  hạ thủ công phu. Hy vọng bao thiện trí thức quanh tôi hỗ trợ cho nhau, dìu dắt nhau vượt qua những triền phược mà đời sống thế gian như là ngọn lửa đang cháy

trên đầu, cần phải cứu, phải dập tắt ngay ngọn lửa tham, sân, si, ái dục ấy chứ không thể phủi lấp qua loa để rồi khi ngọn lửa bùng phát lại thì khó bề tránh khỏi mọi khổ ải, trầm luân và chắc chắn sẽ rơi tỏm vào lỗ đen địa ngục nào đó trong sáu đường, đó là sự tất yếu của luật tắc nhân quả…

Về Liên Hoa chưa được hai tuần thì có thầy Tâm Hiền từ chùa Từ Đàm Hải Ngoại, Dallas, Texas do sư cô Hạnh Thanh làm Trụ trì và Hoà thượng Tín Nghĩa làm cố vấn, lặn lội đến chùa thăm . Nơi đất khách quê người, được người bạn đồng tu đến thăm, tôi mừng lắm. Thầy nhỏ hơn tôi gần hai mươi tuổi, năm nay thầy 47. Thầy rất vui lòng trổ tài nấu ăn ngon để “khách” đãi “chủ” dù biết chủ thích đời sống khổ hạnh. Nhưng cái tình đạo là quí, nên tôi cùng thầy chung vui bữa ăn ngon do thầy nấu nướng. Thầy vui mà tôi cũng vui. Suốt một tuần, thầy công phu bái sái rất đều đặn. Thời công phu khuya, thầy tụng Lăng Nghiêm âm thanh nghe sao diệu vợi quá giống như dòng chảy của suối nguồn. Vì sức yếu, tôi không thể tụng theo kịp chỉ ngồi lắng nghe suối nguồn thiền vị đó. Sau thời kinh thầy lạy Vạn Phật. Công phu của sức trẻ, tôi không thể theo kịp. Hai gìờ cho một thời kinh buổi sáng, với thầy sao mà nhẹ nhàng đến thế ! Bởi vậy, thời thí thực buổi chiều về, chỉ là sự bay bổng âm thanh cảm hóa và lòng thương tưởng bố thí của thầy đến với  những cô hồn sống khắp đó đây trong cõi Ta bà này. Ngoài thời gian hành trì và thọ thực, thầy tập trung đọc kinh sách, nghe băng giảng của các Pháp sư danh tiếng như HT. Tuyên Hoá, HT. Tịnh Không…Và có lẽ, ngày đây thầy cũng chuyên chú niệm Phật A Di Đà cầu vãng sanh như tôi …Thầy ra về, lòng tôi như cảm thấy trống vắng…  

Sau thầy Tâm Hiền không lâu  có vợ chồng Phật tử thân quen ở Cổ lâm, anh Hiến và cô Kim Anh  cũng như bao đạo hữu khác từ Seattle hay từ Santa Ana, Cali như cô Qúy và hai cha con anh Sĩ lại về thăm. Tình nghĩa đạo vị ấy rất khó quên nhưng cũng rất khó trả...Những bữa cơm gạo lức bên cạnh mè đen, rau quả, đan xen ngày một, nào là bánh lá gai hay bánh xèo và các loại bánh chay bằng bột gạo …mà quí vị đã công phu  từ xa mang đến hay tận tay nấu nướng, chế biến tại Liên Hoa làm sao không thọ nhận !? Và xin thọ nhận với tấm lòng biết ơn và nguyện cầu này :

“Người bố thí nhân lành chắc đặng

Muốn sau vui nay sẵn lòng cho

Ăn rồi cầu nguyện tín đồ

Chúng sanh tất cả qua bờ bên kia”

(Luật tiểu do Hoà Thượng Thích Đỗng Minh dịch ra thể văn vần).

Niềm vui của tôi là quí vị đạo hữu đến không phải chỉ có thế mà tranh thủ để tu. Hình ảnh cô Lê Thị Quý, anh Sĩ và người con là cậu Minh Quang  tụng kinh, niệm Phật và thiền hành suốt một tuần tại ngôi chùa này, không là hình ảnh của điều thiện của sự tinh tấn hay sao ? Và hình ảnh ấy lại xuất hiện sau 40 năm xa cách như là cái quả được đơm kết từ  một nhân lành, làm sao không rưng rưng nhớ lại. Bốn mươi năm về trước, khi tôi dạy học tại trường Trung học Sông Cầu, tình đồng hương giữa tôi và bác Lào là thân sinh của cô Lê Thị Quý rất ư thân thiết. Bác lại là Chánh Đại Diện Quận GHPG Sông Cầu, cho nên, tôi với bác rất tâm đắc trong Phật sự. Chính cô Lê Thị Quý đã nấu nhưng bữa cơm chay cho tôi với bác Lào dùng để rồi ngày nay được lập lại từ tấm lòng đôn hậu ấy. Và cũng chính tại quê hương Sông Cầu, tôi vào tu ở chùa Long Quang ,vừa

đi dạy học. Thầy Nguyên An cũng xuất thân từ đây, cho nên tình đồng phạm hạnh hiện tại là sự tái hiện nhiệm mầu của một nhân lành đã kết dệt từ thuở ấy. Còn đối với anh Sĩ, năm 1964 là một thầy giáo của ngôi trường tôi đang dạy. Tôi quen thân với thầy chỉ một thời gian ngắn vì sau đó tôi rời THSC vào dạy tại Trường Trung học Bồ Đề Tuy Hòa theo yêu cầu của Giáo Hội Phú Yên. Làm sao quên được điều thiện đã hằn sâu trong ký ức và tự thân nó dẫn dắt để có sự hội ngộ hôm nay… Đến rồi đi, ngày Minh Quang lái xe đưa bố và cô Quý về lại Cali, trong tĩnh lặng, tôi nhìn thấy đạo tâm của ba vị  càng rõ hơn, càng diệu vợi hơn giữa khung cảnh thiền tư Liên Hoa đầy nghĩa tình này.

Thế rồi không lâu sau đó, Thảo Lam một người học trò cũ của Bồ Đề Vạn Ninh trong những năm đầu của thập niên 70 cùng với bạn bè cũng từ Cali đi xe lên Liên Hoa thăm viếng. Thầy trò gặp lại nhau sau trên 30 năm niềm vui và sự xúc động không còn lời để nói nhưng có lẽ niềm vui và sự trân trọng mà Thảo Lam mang đến đủ nói lên ý nghĩa của ngày hội ngộ…Thảo Lam có người em là thầy Quang đang tu hành thanh tịnh trong một chùa vùng Cali, cho nên, cái tâm hướng về Phật pháp của gia đình Thảo Lam rất lớn. Nói khác tâm Bồ Đề của mọi người trong gia đình phát khởi thật dũng mãnh, như gieo lấy nhân lành  trong kiếp sống luân lưu... Thảo Lam nay cũng đã ngoài năm mươi nhưng có lẽ do cái tâm vui vẻ, đôn hậu từ thuở nào mà hình hài không già theo tuổi tác… Mong sao lòng từ bi trong Thảo Lam được nuôi dưỡng tốt và chính thiện pháp này ngày một, ngày hai làm cho khẩu nghiệp “bạo nói” của Thảo giảm dần theo tuổi đời còn lại của Lam…Ngày gặp lại Thảo Lam và bạn bè cũng như bao Phật tử thân quen trên đất Mỹ có lẽ không  còn trở ngại như trước đây.

Liên Hoa giữa tịch vắng, hình ảnh cũ lại hiện ra, và chính hình ảnh của tất cả quí đạo hữu về Liên Hoa trong ý thức tu hành trở thành tứ thơ trong tôi. Một Cõi Về còn đọng lại mấy vần thơ như hương trầm tỏa nhẹ trong không gian  tịch mịch này, âu cũng niềm an lạc của pháp hữu vi còn nhìn thấy được. 

3/ TÔI  ĐI  HỌC

 Từ ngày qua Mỹ, đến ở chùa Cổ Lâm nay đã hơn ba năm rồi, chùa sinh hoạt hàng tuần vào mỗi ngày Chủ Nhật, buổi sáng từ 8 giờ đã có các bà, các cô trong ban trai soạn đến nấu nướng , chiên xào, chuẩn bị cho lễ tụng kinh cúng  ngọ và cúng linh từ 11 giờ đến 12h30. Còn lớp học   Phật pháp thì bắt đầu từ 9g30 đến 10g45. Nhưng sau một tuần lễ làm việc khổ nhọc, đến ngày Chủ Nhật được nghỉ ngơi nên đa số đến lớp trễ, cho nên khi nào lớp cũng bắt đầu lúc 9h45, mới đầy đủ học viên, trong lớp nầy có đủ hạng ngưòi.

Đặc biệt có những cặp vợ chồng siêng năng vui vẻ, chuyên cần đến lớp, thực ra họ đã học, đã đọc sách, nghe giảng rất nhiều rồi, nhưng bây giờ cũng muốn đến chùa, vào lớp để làm gương cho con cháu, cho lớp thanh niên, đa số phải đi làm việc kiếm tiền, lo lắng nhièu thứ, ít có thời gian đi chùa, đi nghe Phật pháp… 

 Thường xuyên trong lớp Phật pháp đạo tràng chùa Cổ Lâm có mặt ông bà Lam Nguyên nhà thơ, nhà văn nổi tiếng ở Seattle giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc tổ chức, điều hành lớp học và làm những tờ Đặc San trong năm. Ông bà Chúc Nhu siêng năng làm Phật sự, thuộc và nhớ và trình bày giáo lý giỏi. Ông bà Nghiêm,Tâm Tường, Ông bà Quảng Thành, Nguyên Kiều, Ông bà Khánh, Quảng Ngọc siêng năng theo quý thầy đi hộ niệm… Ông bà Hiến, Kim Anh, Đạt Chương, Nguyên Thọ, Ông bà  Trương người Huế.

Và các cô Diệu Đức (một cây văn nghệ),Tâm Quang, Hoa Tâm Liên, Diệu Quang, Hương, anh Truyền, Diệu Anh, Diệu Bạch, Diệu Liên, Diệu Quang v.v… và một số học viên khác thay phiên nhau đến lớp, cho nên sĩ số lớp học bất thường , khi nhiều khi ít, trung bình có khoảng 30 nguời, có khi lên 50 người. Có những Phật tử thân tín đến chùa đã lâu, làm nhiều, nói nhìều, hiểu biết quá nhiều nên chẳng cần tham gia lớp học, có lẽ họ đã học và nghe nhiều lắm rồi… !

 Thỉnh thoảng có những nhóm người Mỹ đến chùa muốn tìm hiểu Phật giáo, hay có những trung tâm thiền( meditation center ), những hội Phật giáo miền Tây Bắc Hoa Kỳ ( Buddhist Council of the Northwest), các chùa Thái Lan, Nhật Bản, Tích Lan và Tây Tạng, thường mời đi tham dự các buổi lễ của họ, do đó tôi có dịp đi lại quen biết nhiều người ngoại quốc, nhưng khổ nổi tiếng Anh mình còn kém quá chưa đủ khả năng để trình bày diễn giải nhiều về Phật giáo, bởi vậy tôi có ý muốn đi học… Nhân dịp quen với gaío sư Lê xuân Hy và giáo sư Thảo đang dạy tại ĐH. Seattle ( Seattle University ) thường dẫn sinh viên đến chùa nghiên cứu, học hỏi giáo lý đạo Phật, tôi trình bày ý kiến muốn đi học thêm, G.S. Hy vui vẻ giới thiệu cho tôi được vào học miễn phí . Vào mùa Thu nầy có lớp học về Những Truyền Thống Tinh Thần Đông Tây ( Spiritual Traditions : East and West ).  Giáo sư Thảo chở tôi đến lớp và gìới thiệu với giáo viên là cô Sharon Suh, người Đại Hàn, tốt nghiệp tiến sĩ Phật học tại ĐH. Harvad, cô là một Phật tử thuần thành nên hoan hỉ đón nhận tôi vào lớp, cô giới thiệu tôi trước lớp học có khoảng 30 sinh viên, các em vui vẻ vỗ tay, và cô yêu cầu tôi tự giới thiệu mình và làm quen với các bạn. 

 -Xin chào cô, chào mọi người ! tôi là một tu sĩ Phật giáo, ở Việt Nam qua Mỹ cách đây 3 năm, tiếng Anh tôi chưa giỏi nên cần các bạn giúp đỡ, các bạn biết không ? Năm nay tôi đã trên 60 tuổi, có lẽ tôi là sinh viên già nhất và cũng kém nhất trong lớp nầy, nhưng tôi rất sung sướng được đến lớp học như thế nầy, tôi có cảm tưởng như mình đang trẻ lại và được có nhiều bạn cùng lớp trẻ trung xinh đẹp như các bạn là rất hạnh phúc, có  quảng thời gian nào thơ mộng và đẹp đẻ hơn là thời cắp sách đến trường đâu, phải không các bạn ? Cả lớp vỗ tay hoan hô… Nhưng mà các bạn có sẵn sàng giúp đỡ cho người bạn cùng lớp lớn tuổi nầy không ?  - Có tiếng hỏi vang lên “ Chúng tôi có thể giúp gì cho bạn ?” . Tôi trả lời, ở nước Mỹ nầy rộng rãi bao la, đường đi học xa quá, không như ở Việt Nam, chúng tôi đến trường bằng xe đạp hay là đi bộ, còn ở đây các bạn đi toàn là ôtô, mà tôi lại chưa có xe và cũng chưa biết lái xe, vậy làm sao tôi đi đến trường đây ?

Tôi muốn có bạn nào ở gần khu vực chùa CổLâm đường GRAHAM vui lòng chở tôi đi học với. Cô Suh nói việc nầy để cô sẽ đưa một tờ giấy để các bạn nào thích thì ghi tên đưa đón Thầy Kim đi học… Tôi cảm ơn Cô giáo và cả lớp rồi bắt đầu nghe giảng. Trong khóa học mùa Thu này chúng tôi học các tôn giáo chính: như Phật giáo, Ấn giáo, Đạo Hồi, Đạo Sick, Cơ Đốc giáo.   Cô Suh phát cho tôi một tập sách tài liệu nghiên cứu và tờ chương trình ghi đầy đủ chi tiết khóa học, tuần nào, ngày nào làm gì, sẽ đi thăm những đền chùa nào đều ghi rõ ràng.

 Trong lớp học trang bị đủ máy móc để giáo viên và sinh viên trình bày, chiếu hình ảnh lên cái bảng trắng trên tường giới thiệu rõ ràng thích thú và dể hiểu dễ nhớ, lúc cô giaó giảng bài sinh viên ngồi im lặng tuyệt đối để nghe, không có một tiếng động, không có tiếng nói chuyện xì xào như trong các lớp trung học, đại học ở VN. học sinh hay nói chuyện trong lớp quá, qua đây tôi cứ tưởng vào lớp sẽ nghe sinh viên nói chuyện ghê lắm, nhưng thật ngạc nhiên họ học hành nghiêm chỉnh đàng hoàng lắm, đến khi cô giảng bài xong thì cho sinh viên hỏi và thảo luận tha hồ mà nói, có khi cô trả lời, có khi cô yêu cầu bạn nào biết về tôn giáo mình rõ ràng thì trình bày ra cho cả lớp nghe. Bởi vậy trong những tuần lễ học về Phật giáo tôi được nói nhiều nhất về căn bản của đạo Phật, mục đích và ích lợi của đạo Phật đối với con người, Phật giáo Việt Nam giúp đỡ cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ những gì… . Nhờ có đọc sách nên tôi có thể trình bày nhiều về Phật giáo, còn những tôn giáo khác thì ngồi im lặng nghe cô giảng và các bạn trình bày, học mỗi tôn giaó vài tuần lễ, khi học xong thì cả lớp được đến thăm và quan sát, hỏi chuyện với những nhân vật trong chùa hay đền thờ mọi vấn đề, để về làm bài và thuyết trình trong lớp. Mỗi nhóm có 4 hay 5 sinh viên chung nhau làm bài và thuyết trình để lấy điểm, khi thuyết trình xong thì cô giaó và sinh viên đặt câu hỏi. Chỉ có những buổi học về Phật giaó tôi mới nghe và hiểu, còn các giờ khác thì chỉ nghe và hiểu lờ mờ thôi, cô giáo và sinh viên toàn là người Mỹ, người Nhật, Triều Tiên, Ấn Độ, Phi châu…họ sinh ra ở Mỹ cho nên nói rất nhanh mình nghe không kịp, phải học thêm nhiều khóa nữa mời hiểu hết được. Có lần cô Suh chở tôi về chùa, tôi nói sao cô nói nhanh thế ? Cô trả lời vì quen rồi. Tôi nói rằng cô không biết phong tục người Á đông, như Việt Nam, Nhật Bản , Đại Hàn người đàn bà làm việc, đi lại, nói năng nhẹ nhàng tứ tốn thư thả, đâu có giảng nói và đi lại nhanh như cô vậy ! Cô lien bao ở xứ Hoa Kỳ này cái gì cũng phải nhanh nhẹn hết nếu không thì chẳng kịp thì giờ. Tôi trả lời đó là nguyên nhân của stress, khi con người phải làm việc nhiều quá , làm gấp gáp vội vàng, luôn luôn sợ không kịp giờ vậy là khổ lắm, xưa kia con người dù không có văn minh, dùng nhiều phương tiện máy móc như bây giờ , nhưng con người có đủ thì giờ để cho mình có chút tự do, thư thả, con người có thể hưởng nhàn, sống với thiên nhiên, nước Mỹ có nhiều phong cảnh, nhiều bông hoa xinh đẹp mà hàng ngày người Mỹ có thì giờ để nhìn ngắm đâu, họ đi lại, ăn uống đều vội vàng thì đâu có thưởng thức được mùi vị món ăn, thức uống ? Đâu có thì giờ thưởng thức cảnh vật chung quanh !  - Cô Suh hỏi tôi, vậy phải làm sao trong thế giới nầy ? 

Tôi trả lời theo đạo Phật thìphải biết vừa đủ, không tham lam quá, không đua đòi, không cần so sánh với người khác làm gì, vì chính đời sống của những người giàu có, người chức quyền cao, đời sống của họ đâu thực sự có hạnh phúc, mọi người đều có rất nhìều buồn phiền , lo lắng trong lòng, nhưng vì có ảo tưởng chạy theo danh lợi, nhưng đuổi bắt mãi cái bóng hạnh phúc ấy thì chẳng bao giờ có hạnh phúc thât sự… Cô chỉ cần làm việc vừa đủ vừa sức để có đời sống an vui, có thì giờ cho con cái, và cho mình thảnh thơi vậy mới không bị stress… Cô cuời và nói OK. sẽ tính sau.  

 Trong khóa học mùa Thu thỉnh thoảng các thầy .cô giáo và các bạn sinh viên thường đến chùa vào ngày Chủ Nhật để nói chuyện Đạo, có người vào tham dự lễ rồi ăn cơm trưa với nhau, nói chuyện vui vẻ rồi ra về. Họ nói là rất thích cơm chay Việt Nam, và muốn ăn chay nhiều hơn ăn thịt, cá, vì bây giờ nạn bò điên ( mad cow ) và gà điên ( mad hen ) làm ai cũng sợ ăn thịt con vật điên thì mình cũng điên luôn…Quả là một thế giới điên cuồng đang thi nhau chạy theo sau cái bóng hạnh phúc mà chẳng bao giờ bắt gặp được hạnh phúc, suốt đời chỉ gặt toàn là khổ đau, thất vọng và phiền muộn ! 

 Tôi theo học 3 tháng 10/11/và 12 năm 2003. ngày 15-12-03 là ngày cuối cùng, sau buổi học, cô Suh và các bạn đem một ít bánh kẹo ra cùng nhau ăn trong lớp chào hỏi chúc nhau một mùa Giáng Sinh và Năm mới 2004 được nhiều vui vẻ may mắn, hẹn gặp lại trong khóa mùa Đông, bắt đầu vào tháng giêng năm 2004. Xin cảm ơn cô giáo Suh và các bạn đã chở tôi đến trường rôì về chùa như các anh chị : Imuran, Jered, Zina, Jennifer, Beth Grêen, Cathy, Bethani…Thỉnh thoảng cần đi gấp cũng có anh Chương,  bác Lam Nguyên, anh Say, chị Đạt chở tôi đến trường. Và không quên giáo sư Hy, giáo sư Thảo và giáo sư Sharon Suh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi rất nhiều. Kỹ niệm nầy không bao giờ quên. Xin tri ân tất cả mọi người hảo tâm, mong cho cõi lòng rộng mở, biết thương yêu giúp đỡ tận tình, cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. 

 Nam Mô A Di Đà Phât !

            Seattle, Christmas day 25 – 12 – 2003.   nguyên kim

4/ THI  BẰNG  LÁI  XE ( Driver License)

 Ở đất nước Hoa Kỳ nầy, xe cộ tràn ngập đầy đường đầy nhà, đường đi lại cách xa không thể nào đi bộ được, cho nên ai cũng phải sắm xe và biết lái xe, mới có thể đi làm, đi học và đi chơi được. Trong nhà có bao nhiêu người lớn trên 16 tuổi là có bấy nhiêu xe hay là nhiều hơn nữa, có nhiều xe cũ dù có còn chạy được, nhưng nhiều người cũng muốn mua thêm xe mới, đâỳ đủ tiện nghi hơn, xinh đẹp và đúng thời trang hơn, bởi vậy nhà nào cũng không đủ chỗ đậu xe thường đậu hai bên lề đường ở trước nhà.

 Vào những ngày Chủ Nhật hay ngày lễ Phật tử đến chùa đều lái xe, sân chùa không có đủ chỗ cho đậu xe ( parking lot ) nên xe phải đậu dọc theo hai bên đường phố, hoặc đậu nhờ vào các bãi đậu  xe của  cơ quan , trường học hay các chợ, nhât là trong

đêm giao thừa, trên 3000 người đến chùa xem lễ Phật và xem văn nghệ, múa lân, rồi các ngày lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan cũng có hơn 2000 người đến chùa … Tôi thấy có những ông già, bà già trên 60. -70 tuổi mà còn lái xe đến chùa , đi chợ, đi chơi thật không ngờ được, ở cái thế giới văn minh nầy con người được mọi chuyện mà ở VN. chưa thấy.

Riêng tôi thì chỉ đi nhờ xe Phật tử, khi nào đi đâu cũng có người đưa đón, ban đâù thì vui vẻ,nhưng sau này cũng cảm thấy phiền… Chỉ cần thiết lắm mới nhờ chở đi mà thôi. 

 Nguyên nhân tôi phải học lái xe là từ khi mới về chùa Cổ Lâm, Seattle. Ngay trong cái Tết đầu tiên tôi đã về chùa Liên Hoa, Olympia để làm lễ và ở lại đó ăn Tết với Phật tử, vì chùa Liên Hoa không có thầy trú trì, tuy rằng có một thầy người Tích Lan, trú ngụ tại chùa đã 4 năm rồi, nhưng đến những ngày lễ đều có mời các thầy Việt Nam về làm lẽ và hướng dẫn cho Phật tử ở đây tu tập, vì thầy Tích Lan không nói tiếng Việt và không làm lễ theo nghi thức Phật giáo đại thừa Việt Nam, các thầy Tích Lan tu theo phái Nguyên thủy ( Therevada ). Chùa Liên Hoa yên tĩnh, ở xa phố phường, có ngôi vườn thoáng mát, nhiều cây tùng, cây thông lâu năm. Trong chùa có trên 30 đạo hữu nồng cốt, sinh hoạt vào ngày Chủ Nhật mỗi tuần. Khi có lễ lớn hay ngày Tết thì Phật Tử và đồng hương đến chùa độ vài trăm người. 

 Tôi đến chùa Cổ Lâm vào ngày 28 tháng chạp năm Tân Tị (2000), tưởng rằng sẽ ở lại ăn Tết với thầy Nguyên Anh; anh Quảng Huy, Nguyễn Hoàng , hội trưởng chùa Liên Hoa lên xin thầy Nguyên An cho thầy nào đó về Liên Hoa tham dự lễ Tết Tân Tị, sằn có tôi mới qua không bận việc gì nên thầy Nguyên An giới thiệu tôi, rồi anh Quảng Huy liền chở tôi về chùa Liên Hoa, tôi thật là bỡ ngỡ ngại ngùng, vừa mới qua đây chưa quen phong thổ khí hậu gì cả mà một mình đến chùa xa lạ chưa từng quen ai để làm lễ thật đáng ngại !  Thời tiết mùa Đông ở đây lạnh quá, tôi co ro trong nhiều lớp áo ấm, cứ ở mãi trong phòng không dám ra ngoài, rất sợ lạnh sẽ bị đau dạ dày như ở Việt Nam thì khổ ! Vậy mà nhờ Phật gia hộ mọi sự trôi qua tốt đẹp…

 Đêm ba mươi Tết, chúng tôi làm lễ sám hối, cúng giổ ông bà tổ tiên, các em trong Gia Đình Phật Tử ca hát, múa lân, đốt pháo, rồi cúng Giao Thừa. Ba ngày đầu năm mới tôi nói với các Phật Tử là muốn cầu an lành cho cả năm thì hãy đến chùa tụng kinh lễ Phật Sám Hối với tôi, nếu quý vị chỉ lo tiệc tùng, vui chơi thì làm sao tạo ra phước đức để cầu an lành cho cả năm được. Bởi vậy các Phật tử thuần thành đã đến chùa Tụng và lạy Từ Bi Thủy Sám pháp với tôi trong ba buổi chiều đầu năm Sau đó tôi về lại chùa Cổ Lâm.

 Từ đó mỗi năm đến Tết đến các ngày lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan, Vía Quán Thế Âm bồ tát, tôi đều về với chùa Liên Hoa. Về sau các Phật tử lại mời tôi về chùa mỗi cuối tuần để làm lễ và hướng dẫn tu tập, do đó anh Quảng Huy và các ngưòi quen thân thường lên xuống chở tôi đi lại từ Cổ Lâm và Liên Hoa …

 Bởi vậy các Phật tử đề nghị tôi hãy học lái xe để đi lại dễ dàng . Anh Quảng Huy đưa cho tôi một quyển sách về luật lệ đi đường và lái xe, sau một tuần học xong anh chở tôi đến văn phòng thi viết, tôi vào ngồi trước máy computer thi trắc nghiệm, sau 15 phút thi xong và có kết quả ngay là đủ điểm đậu, được phát cho tấm thẻ chứng nhận có quyền tập lái xe. Trong chùa Liên Hoa có xe của thầy Ananda người Tích Lan thường dạy cho tôi lái xe quanh vườn chùa, rồi đi ra ngoài đường… thỉnh thoảnh ông Hội, cô Hương, cô Tâm Vân, cô Diệu Đạo và anh Quảng Huy cũng có tập cho tôi, nhưng vì không muốn có xe và phải dính líu đến nhiều giấy tờ xe cộ, bảo hiểm… nên tôi chưa thi lấy bắng lái xe.

 Cho đến một năm sau, khi ở chùa CổLâm, có một Phật tử mới quy y người Mễ, là Xico, pháp danh Lý Vinh, thường đến chùa vào ngày Chủ Nhật và các buổi chiều hàng

ngày sau khi tụng kinh tối xong Lý Vinh thường tập cho tôi lái xe đi quanh thành phố, Lý Vinh tuy mới quy y một năm thôi mà rất siêng năng đến chùa những ngày Chủ Nhật anh vào lớp Phật pháp ngồi im lặng nghe, tuy không hiểu gì vẫn cứ ngồi yên, thỉnh thoảng tôi phải nói vài câu tiếng Anh để cho Lý Vinh nghe mà suy nghĩ. Tôi cũng cho anh nhiều sách Phật phap bằng tiếng Anh để học, và khi không hiểu anh thường hỏi đẻ tôi giải thích thêm. Còn những thời kinh buổi tối bắt đầu từ lúc 7hpm, khi nào rãnh anh ta cũng đến ngồi chung với các Phật tử, dù không tụng đọc gì được, nhưng anh vẫn ngồi nhắm mắt lắng nghe, và nói rằng anh thích thú không có buốn chán, giống như đang ngồi thiền vậy. Quy y xong là Lý Vinh ăn chay trường, bỏ rượu bỏ thuốc lá, trước đây anh là người hay uống rượu, cà phê và hút thuốc lá, vậy mà sau khi tìm hiểu đạo Phật, thấy được cái hay của Phật pháp, Lý Vinh đã có niềm vui mới, vui trong đạo vị, và quên đi, xã bỏ cái vui tầm thường của thế gian là nguyên nhân gây ra tật bịnh, khổ đau cho con người…Sau này có anh Hưng, anh Trương, anh Say, anh Hiển, cô Lý Khuê, cô Tâm Quang…là những người dám ngồi một bên để hướng dẫn cho tôi tập lái xe, xin cảm ơn quý bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi mà không ngại khó nhọc và nguy hiểm !  Trải qua một thời gian lâu dài tập lái, tôi yên tâm đi thi lấy bằng lái xe.

 Kết quả là tôi đã thi đậu bằng lái xe ngày 26, September, 2003. Không ai ngờ rằng tôi nhút nhát như vậy mà thi đậu ngay lần đầu như thế, cũng có người không tin.! Nhưng khi có bằng rồi tôi lại ít có dịp lái xe, vì từ nay tôi không còn về chùa Liên Hoa mỗi tuần nữa, vì chùa mới bảo lãnh Thầy Phước Niệm ở Việt Nam qua làm trú trì chùa Liên Hoa. Có cô Phượng mẹ của Micheal, thường lái xe đem Micheal đến chùa gởi cho tôi dạy học tiếng Việt, muốn mua tặng tôi một xe ôtô để thầy dùng, nhưng tôi không nhận, vì sợ phải gánh thêm nhiều việc, phải lo lắng cho cái xe nữa chỉ rước thêm phiền não và hết cả thì giờ ! Bởi vậy cô Phượng chịu đóng tiền bảo hiểm cho tôi xử dụng chung với xe của thầy Nguyên An, như thế cũng được, khi nào muốn đi đâu mà có người ngồi bên cạnh, thì tôi sẽ lái xe đi một cách yên ổn vui vẻ…Tôi chưa lái xe đi một mình đi đâu cả vì sợ bị lạc đường, vì đường sá ở Mỹ có các cầu vượt, các exist qua lại như lưới nhện, nếu đi lạc thì sẽ không biết đâu mà về chùa ! 

 Đất nước Hoa Kỳ, hệ thống đường sá tối tân nhất thế giới, rộng rãi, chia làm nhiều làn song song xe nào chạy theo làn của mình, mặc dù trên quốc lộ ( Free way ) có nơi vận tốc cho phép chạy 70 miles 1 giờ ( 1,60kmx70 = 142km/h). Có người còn chạy quá tốc độ 70 miles/h nữa. nhưng ít xảy ra tai nạn vì đường sá an toàn, bảng hiệu chỉ dẫn rõ ràng, các ngã tư ngã bảy, những cầu vượt đan chéo nhau như hoa thị, nhờ vậy mói bớt nạn kẹt xe, vậy mà đến giờ tan sở, bãi trường vần bị kẹt xe như thường, vì mỗi cơ xưởng có hàng ngàn nhân công, mỗi trường ĐH. Có hàng chục ngàn sinh viên, vậy nên vào giờ cao điểm cảnh xe chạy chậm như rùa vẫn xảy ra…

 Vã lại tốc độ cao cũng là một tai họa, khi có tai nạn hai xe đụng nhau thì dễ bị chết hay trọng thương, có khi mình đi cẩn thận, nhưng người khác không chú ý tông vào mình cũng khó thoát ! Vậy nên có một số người thấy tai nạn xe cộ nguy hiểm quá không muốn lái xe, mà đi đâu cũng dùng xe bus, rẽ tiền mà an toàn. 

Trong hoàn cảnh xã hội văn minh tiến bộ quá như thế không thể nào không dùng xe để đi lại, vì nó tiện lợi và tiết kiệm thì giờ, lại có thêm tự do đi lại nhiều nơi, khỏi phải chờ đợi những chuyến xe bus trong thời tiết gió lạnh, tuyết sương mà đứng đợi xe ngoài đường thật là khốn khổ ! Chỉ cầu mong sao cho mọi người lái xe cẩn thận, đi lại an toàn đừng để xảy ra tai nạn là tốt. Nên nhớ nằm lòng câu này, tôi nhìn thấy trên bảng treo trên thành những chiếc cầu ở Dallas Texat : “ Drinking is driving to jail !” ( uống rượu là lái

xe vào tù).  “Đi đâu mà vội mà vàng ?  Mà gây tai nạn trên đàng giao thông !”               Nam Mô A Di Đà Phật !

Seattle, 20. December. 2003

Nguyên kim

5/ HẠNH PHÚC và KHÁT VỌNG.

   Tỳ Kheo Buddhadasa

Bài Diễn Thuyết cho Thiền Sinh Ngoại Quốc tại Suan Mokkhabalarama

Ngày 7 Tháng Năm, 1986

Tỳ Kheo Santikaro dịch ra tiếng Anh

  Câu chuyện hôm nay liên quan đến vài vấn đề mà hầu hết các bạn hiểu lầm. Mặc dầu tất cả các bạn đến đây với sự quan tâm đến Phật giáo, các bạn có thể hiểu sai. Vì lý do nầy, xin vui lòng tập trung hết khả năng tinh thần và trí óc vào việc lắng nghe thật rõ ràng. Hãy đặc biệt chú tâm vào điều sẽ được nói hôm nay.

 Điều chúng tôi sẽ nói đến là hạnh phúc (sukha). Chữ nầy hoàn toàn khó hiểu cả ở Thái Lan, kwam sukh, và trong tiếng Pali, sukha, cũng như trong tiếng Anh,

happiness. Trong cả ba ngôn ngữ, chữ nầy có nhiều ý nghĩa và cách áp dụng khác nhau. Nó thường khó hiểu một cách chính xác người ta ngụ ý gì khi họ nói chữ “hạnh phúc”. Bởi vì đề tài này có thể có rất nhiều rắc rối, thật là cần thiết để có được một số hiểu biết về việc nầy, nên hôm nay chúng tôi sẽ nói về hạnh phúc.

Hạnh phúc cảm nhận trong đời sống hàng ngày của một người bình thường là một ý nghĩa của hạnh phúc. Mà còn có loại hạnh phúc khác nữa, niềm hạnh phúc phát sinh theo nhận thức về mục đích cuối cùng của cuộc sống. Ở đây có hai điều rất khác nhau, nhưng chúng ta đều gọi cả hai là “hạnh phúc”. Nói chung là chúng ta lầm lẫn hai ý nghĩa nầy, lẫn lộn chúng nó, và không bao giờ hoàn toàn hiểu chúng ta đang nói về cái gì.

BẠN MUỐN HẠNH PHÚC NÀO?

 Đây là một thí dụ về sự mơ hồ của chữ nầy có thể tạo ra những sự khó khăn như thế nào. Giống như các bạn đến đây để học và thực hành Phật pháp để tìm kiếm hạnh phúc. Sự hiểu biết của bạn về hạnh phúc, hạnh phúc mà bạn ước muốn, tuy nhiên có thể không giống như hạnh phúc chân thật cuối cùng của đạo Phật và sự thực tiễn của Phật pháp. Nếu hạnh phúc mà bạn mong muốn không phải là sự hạnh phúc phát sinh từ thực hành Phật pháp, thì chúng tôi sợ rằng các bạn sẽ thất vọng và rất đau khổ ngay tại đây. Như thế, cần thiết nên khai triển một số hiểu biết về vấn đề nầy.

Để tiết kiệm thì giờ và làm cho các bạn dễ hiểu, chúng ta hãy đặt ra một nguyên tắc đơn giản về quan niệm hạnh phúc. Hạnh phúc thông thường mà mọi người thích thú là khi sự khao khát cá biệt hay điều mong ước được thỏa mãn. Đây là một quan niệm tiêu biểu về hạnh phúc. Tuy nhiên, theo ý nghĩa của Phật pháp, hạnh phúc biểu lộ ra khi không có thèm khát và mong muốn gì cả, khi chúng ta hoàn toàn thoát khỏi mọi khát khao, tham dục và ước muốn. Xin vui lòng giúp đỡ phân loại việc này ngay tại đây bằng cách chú ý thận trọng theo dõi sự phân biệt: hạnh phúc do sự khao khát được thỏa mãn và hạnh phúc do bởi không khao khát gì cả. Các bạn có thấy sự khác nhau không? Các bạn có thể cảm thấy sự khác biệt giữa hạnh phúc của sự khao khát và hạnh phúc của không có khao khát chăng?

 Chúng ta hãy dùng cơ hội này để hiểu danh từ lokiya và lokuttara, vì chúng có liên quan đến đề tài chúng ta nghiên cứu hôm nay. Lokiya có nghĩa là “ tùy thuộc vào những lợi lộc và sự việc thế gian”. Lokiya là ở trong thế gian, bị vướng mắc vào thế gian, ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của thế gian. Thường được phiên dịch là “thế gian” và “phàm tục”.

Lokuttara nghĩa là “trên thế gian” ở ngoài quyền lực và ảnh hưởng của thế gian. Có thể dịch là “xuất chúng” hay “siêu phàm”. Bây giờ chúng ta có thể so sánh dễ dàng hơn hai thứ hạnh phúc: lokiya-sukha (worldly happiness) là hạnh phúc thế gian, nó bị mắc kẹt vào sức mạnh và sự điều khiển của những đìều kiện và sự hạn chế của cái mà chúng ta gọi là “thế gian”, và lokuttara-sukha (transcendent happiness) là hạnh phúc siêu phàm, nó nằm ngoài mọi sự ảnh hưởng của thế gian. Hãy nhận thức sự phân biệt nầy và hiểu thật rõ ý nghĩa của hai chữ nầy.

Chúng ta phải xem xét những thuật ngữ nầy thật kỹ lưỡng hơn. Lokiya nghĩa là bị dính chặt vào thế giới và bị lôi cuốn theo thế gian, vì thế bị sức mạnh và ảnh hưởng của thế gian thống trị. Trong điều kiện nầy, không có tự do tinh thần, thiếu sự độc lập tinh thần.

 Lokuttara nghĩa là không bị dính mắc và thoát khỏi thế giới. Nó là tự do tinh thần. Như thế có hai thứ hạnh phúc: Hạnh phúc không có tự do và hạnh phúc không bị lệ thuộc, hạnh phúc của sự nô lệ và hạnh phúc của sự tự do.

 Đây là điểm mà chúng tôi sợ bạn hiểu lầm. Nếu bạn đến đây để tìm kiếm hạnh phúc thế gian, nhưng bạn học Phật giáo hiến tặng bạn một thứ hạnh phúc khác, bạn sẽ bị thất vọng. Bạn sẽ không tìm thấy điều bạn tham muốn. Thực hành Phật pháp, gồm có thực hành thiền định minh triết, dẫn đến hạnh phúc siêu thế không phải là hạnh phúc thế gian (ngoại trừ một tác dụng phụ ). Chúng ta phải làm sáng tỏ điểm nầy ngay lúc bắt đầu. Nếu bạn hiểu sự khác biệt giữa hai thứ hạnh phúc nầy, bạn sẽ hiểu được mục đích của tu viện Suan Mokkh và sẽ không bị thất vọng ở đây.

 Bây giờ bạn hiểu sự khác nhau giữa hai thứ hạnh phúc: hạnh phúc đến từ sự nhận được những gì chúng ta khao khát và hạnh phúc của sự hoàn toàn không có khao khát. Chúng nó khác biệt thế nào? Hãy xem xét sự việc và bạn sẽ nhận thức được điều nầy cho chính mình. Hạnh phúc của “thỏa mãn khát khao” và hạnh phúc của “không khao khát”: chúng tôi không thế nào định nghĩa ngắn gọn và rõ ràng hơn thế nầy được.

KHÁT KHAO BẤT TẬN

 Bây giờ chúng ta nghiên cứu thêm về điều hạnh phúc dựa vào sự thỏa mãn của khao khát là tuyệt vọng và không bao giờ có thể thỏa mãn thật sự. Những điều khơi dậy sự khao khát luôn luôn thay đổi, làm cho sự thỏa mãn thoáng qua như mộng huyễn, vì thế niềm khát khao trở lại. Chính cái khát vọng cũng thay đổi vì thế cho nên không bao giờ có thể thỏa mãn được. Vào lúc bạn có được một vật nào đó, bạn lại thèm khát có thêm vật khác nữa. Tình trạng này diễn ra mãi mãi. Thế giới hôm nay gắn chặt vào thứ hạnh phúc này nó đầy dẫy những ham muốn. Bởi vậy, thế giới hiện đại bị mắc kẹt vào sự khó khăn bất tận.

 Hãy tưởng tượng rằng bạn có thể làm chủ cả trái đất, thế giới, và toàn thể vũ trụ. Bây giờ bạn là chủ nhân ông của mọi thứ, khát vọng của bạn có dừng không? Nó có thể dừng lại không? Xin bạn vui lòng xem xét việc nầy một cách cẩn thận bằng chính trí óc của bạn. Nếu bạn có tất cả mọi thứ mà bạn ước muốn, nghĩa là bạn làm chủ của cả thế giới, sự khao khát của bạn có dừng lại không? Hay là bạn còn muốn một vũ trụ thứ hai? Bạn còn muốn một vũ trụ thứ ba?

Tôi muốn làm một vài so sánh để minh họa cái hạnh phúc thế gian của những người bình thường tiến bộ từ lớp này liên tục đến lớp khác như thế nào. Một đứa bé mới sinh có hạnh phúc khi được ôm ấp trong cánh tay của mẹ và nút sữa từ vú của bà. Việc nầy làm thỏa mãn cho đến khi nó lớn lên một ít tuổi và to con hơn. Rồi thì cánh tay và vú của mẹ là chưa vừa. Nó học về những thức ăn và sở thích khác. Bây giờ hạnh phúc của nó tùy thuộc vào kem lạnh, kẹo và thức ăn tạp nhạp, chơi những trò chơi nhỏ và chạy quanh nhà.

Rồi nó lớn hơn và những trò chơi này không còn thỏa mãn đứa bé nữa. Nó muốn chơi đá banh hay chơi với những con búp bê. Cuối cùng khi lớn lên sự thích thú và hạnh phúc của lứa tuổi thiếu niên là xoay quanh về giới tính. Những điều thỏa mãn trước kia là không còn thích thú nữa. Khi nó trở thành người đàn ông hay đàn bà, đừng mong nó thỏa mãn với những loại hạnh phúc cũ nữa. Bây giờ, nó nghĩ tuởng về tính dục và những hẹn hò. 

Cuối cùng những người này cưới nhau, trở thành vợ hay chồng, và có những hy vọng và mơ ước trói buộc vào nhà cửa, tiền bạc và của cải. Không có cách nào có thể làm cho nó hài lòng với sự hạnh phúc trẻ con, trừ phi nó không thật sự lớn lên. Con người thay đổi theo từng giai đoạn, nên hạnh phúc cũng thay đổi theo khi khao khát hạnh phúc. Sự thay đổi liên tục bất tận. Khát vọng phát triển từ cấp nầy lên cấp khác cho đến chết. Sau đó nhiều người tin tưởng có sự tái sinh làm thiên thần, và vẫn còn có khát vọng của cõi trời về điều hạnh phúc của những thiên thần. Ngay cả ở thiên đàng với các vị trời hay ở trong thiên giới, nếu những điều như thế có thật, sự thèm khát không bao giờ chấm đứt. Theo Phật giáo những thí dụ về hạnh phúc thế gian nầy được xem như chỉ là những sự lừa dối và lầm lẫn.

KHÁT VỌNG DỪNG LẠI Ở ĐÂU?

Tôi muốn hỏi một câu ở đây. Trong thiên giới hay nơi nào có Chúa trời, hoặc là theo kinh điển của đạo Cơ Đốc hay bất cứ tôn giáo nào khác, khi chúng ta về với Chúa, sự khao khát và tham muốn có thể chấm dứt chăng? Nếu thiên giới là nơi chấm dứt khát vọng và tham lam thì cũng giống như Phật giáo dạy về Niết bàn (Nibbana), niềm hạnh phúc vượt ra khỏi thế gian này bởi vì sự thèm khát đã chấm dứt. Nhưng nếu bạn hiểu thiên giới một cách khác, là nơi chúng ta vẫn còn khao khát, thì Phật giáo không ưa thích. Lòng tham lam vô đáy được sở hữu những vật tốt hơn và nhiều hơn không phải là mục đích của Phật giáo, đạo Phật đi theo ngã rẽ dẫn ra khỏi thế giới nầy.

 Cái người ta gọi là “thế giới”, vũ trụ học Phật giáo phân chia nó ra làm nhiều tầng lớp, nhiều lãnh vực hay là sự luân chuyển . Có thế giới chung cho loài người, chúng ta rất quen thuộc, và những thứ hạnh phúc của con người. Cao hơn là những cảnh thiên giới khác nhau, những thiên thần và chúa trời có lẽ sống ở đó. Trước tiên là cõi dục giới (Kāmavacara) của những người tham muốn nhục dục. Đây có thể xem là một điều “tốt”, ít nhất là hơn khoái lạc nhục dục của thế giới loài người. Kế đó là cõi trời Phạm Thiên có hai loại: những giới có hình dáng hay còn vật chất và những giới không có hình dáng. Những giới nầy tốt hơn những cảnh giới hiện hữu, nhưng  chúng cũng chưa chấm dứt tham muốn. Trong khi không còn ham muốn cảm giác trong sắc giới (Rūpavacara), chúng sinh nơi đó vẫn còn sắc ái kết. Những chúng sinh trong vô sắc giới cũng còn tham ái. Họ tham muốn những thứ không phải vật chất hơn là vật chất. Sự khát ái tồn tại theo mức độ của mỗi cảnh giới. Những ước muốn của bản ngã không ngừng. Luôn luôn có nhiều điều bản ngã mong muốn. Những trạng thái hạnh phúc tinh tế mức độ cao nầy hoàn toàn thất bại để siêu việt hoá thế gian. Ngay cả cảnh giới Phạm Thiên cao nhất cũng bị vướng mắc vào trong thế giới, giam giữ dưới quyền lực và ảnh hưởng của sự thèm khát.

Chúng ta sẽ làm thế nào để chấm dứt sự khao khát? Chúng ta phải quay lại và tiêu diệt nó. Để làm được như vậy, chúng ta phải hiểu rằng chúng ta không cần thèm khát. Chúng ta phải đi con đường khác này không có sự khát vọng. Điều cốt yếu của con đường nầy là không có cảm nghĩ về bản ngã, về “Ta” và “của ta”. Điểm này rất sâu sắc. Chúng ta phải có bao nhiêu kiến thức, phải thấy rõ bao nhiêu để có thể chấm dứt ảo tưởng về bản ngã

 Hiểu rõ liên quan giữa sự chấm dứt khao khát và sự chấm dứt ảo tưởng về bản ngã, thật là quan trọng. Trong hoàn cảnh thế gian, luôn luôn có cái ngã hay “cái Ta” nó thèm khát và cố gắng làm thỏa mãn sự thèm khát. Ngay cả cái ngã này ở cõi trời cao nhất

nơi đó sự khao khát chỉ là những việc rất tế nhị, tuy nhiên, có cái ngã ái cố gắng được cái gì đó. Thèm khát hiện hữu khi cái ngã này tìm kiếm để giành lấy cho nó mà chưa bao giờ thực sự thành công. Bằng cách xem xét nhiều mức độ thu hoạch và hạnh phúc, chúng ta thấy rằng khao khát là vô vọng. Tại sao? Bởi vì “bản ngã” là không có hy vọng. Hai cái – khát vọng và bản ngã – không thể tách rời được.

ĐIỀU TỐT ĐẸP NHẤT

Khi đạt đến giai đoạn nầy, bạn phải làm quen với điều mà người ta gọi là “tốt” hay “tốt nhất”. Các bạn có ý niệm về “điều tốt nhất” và nghĩ rằng bạn xứng đáng có được “cái tốt nhất”. Niềm khao khát của bạn chỉ đi đến “điều tốt đẹp nhất”. Bất cứ điều gì bạn xác định là “tốt đẹp nhất” - hoặc là một ngày trên bãi biển hay là năm phút nghỉ ngơi, thoát khỏi cái đầu óc rối loạn – là ở đó lòng khao khát của bạn bám chặt lấy. Ngay cả trong khi tắm mình trong hào quang của Thượng Đế, lòng tham muốn điều tốt đẹp nhất vẫn không dừng lại. Chúng ta mong ước một điều “tốt nhất”, nhưng khi vừa đạt được nó, lòng thèm khát của chúng ta lại muốn cái tốt hơn “cái tốt nhất”. Điều nầy không chấm dứt được khi còn có cái ta muốn “điều tốt nhất”. “Cái tốt đẹp nhất” không có điểm tận cùng; chúng ta không thể dùng nó làm mục đích cuối cùng của mình. Chúng ta tiếp tục nói về “cái tốt nhất” hay là cái chí thiện, nhưng ý nghĩa của nó rất khác nhau: điều tốt nhất của những đứa trẻ, của những thiếu niên, của người lớn, của những người già; điều tốt đẹp nhất của thế gian, và của tôn giáo. Tuy nhiên mỗi một ảo tưởng về “điều tốt đẹp nhất” biến chúng ta thành “kẻ thèm khát nhất” -  thèm khát ngay đến trong những cách vi tế nhất, sâu sắc và tuyệt hảo. Chúng ta không bao giờ có thể dừng lại hay an nghỉ trong bất cứ “điều tốt đẹp nhất” nào cả, bởi vì chúng nó đều là hạnh phúc thế gian (lokiya-sukha).

“Điều tốt nhất” không bao giờ đứng một mình. Nó không bao giờ đi đến đâu mà không có bạn đồng hành của nó là “điều xấu nhất”. Qua sự tham lam được “điều tốt nhất” chúng ta bị đè nặng với cái “xấu nhất”.  Như thế, sự bám chặt của chúng ta nơi “điều tốt nhất” chỉ là lòng tham muốn bất diệt. Chỉ có một đường thoát ra. Nếu chúng ta cứ tìm kiếm hạnh phúc (sukha) hay thú vui ở thế gian, chúng ta sẽ không bao giờ tìm ra nó. Chúng ta phải quay về một hướng khác, hướng đến hạnh phúc xuất thế. Lòng khao khát phải chấm dứt, ngay cả khao khát “điều tốt nhất”. Điều ác là một thứ quấy rầy bận rộn, điều thiện cũng là một thứ làm phiền khác. Để giải thoát khỏi tất cả những đau khổ, tâm trí phải vượt ra ngoài thiện ác, vượt lên trên điều tốt nhất và xấu nhất - ấy là phải an trú trong chân không. Điều nầy trái ngược với hạnh phúc thế gian. Nó là hạnh phúc siêu phàm, giải thoát khỏi bản ngã thèm khát. Không có con đưòng nào khác ra khỏi đau khổ hơn là đi từ ác đến thiện rồi từ thiện đến trống không. Trong sự trống rỗng khát vọng chấm dứt và có hạnh phúc chân thật.

CÂY HIỂU BIẾT THIỆN ÁC

 Những người trong các bạn là Cơ Đốc Giáo hay người nào đã đọc Thánh kinh sẽ quen với câu chuyện Cây hiểu biết thiện ác xuất hiện đầu chương Sáng Thế. Chuyện nầy

kể lại Đức Chúa Trời đã cấm ông Adam và bà Eva không được ăn trái của cây hiểu biết thiện ác. Ngài đã cảnh cáo họ rằng nếu không vâng lời sẽ bị chết. Nếu bạn hiểu ý nghĩa của đoạn nầy, bạn sẽ hiểu được cốt lõi của Phật giáo. Khi không có sự hiểu biết về thiện ác, chúng ta không bị ràng buộc với chúng, do đó được tự do và hết đau khổ. Một khi chúng ta hiểu biết về thiện ác, chúng ta phải đau khổ vì những hậu quả. Trái của cây nầy chính là sự ràng buộc vào thiện và ác. Điều nầy tạo ra đau khổ và đau khổ là cái chết tâm hồn.

Con cái của Adam trải qua nhiều thời đại mãi đến chúng ta phải chịu mang gánh nặng của sự hiểu biết thiện và ác, gánh nặng của bản ngã trói buộc chúng ta với thiện ác và chịu cái chết tâm hồn. Chúng ta nhận diện những việc thiện và dính mắc với chúng. Chúng ta khẳng định những việc xấu và tách rời khỏi chúng. Chúng ta bị mắc kẹt trong những điều kiện thế gian bởi ám ảnh nhị nguyên về tốt xấu của chúng ta. Đây là cái Chết mà Chúa Trời đã phán bảo. Bạn có lưu ý đến lời cảnh cáo của Ngài không? 

Giờ đây, chúng ta là kẻ đã thừa hưởng vấn đề khó khăn nầy và sẽ phải làm gì? Tiếp tục chạy theo sự thỏa mãn lòng tham muốn cái “tốt đẹp nhất” chỉ là duy trì bánh xe luân hồi sanh tử. Cho nên Phật giáo không quan tâm vào cảnh giới sung sướng của trần gian - về điều tốt, điều tốt hơn và tốt nhất. Giải pháp của Phật giáo là vượt lên cái thiện và vượt qua cái ác - để là chân không.

 Xin vui lòng hiểu rằng cái “tốt nhất” không phải là cái cao thượng nhất. Nếu bạn nói Chúa Trời là điều thiện tối thượng, người Phật tử sẽ không chấp nhận lời nói của bạn. Nói rằng Chúa là điều cao thượng nhất trong vũ trụ, là tập hợp của những gì tốt nhất hay là những điều hoàn mỹ nhất là giới hạn Chúa, Chân lý tối thượng, ở trong những điều kiện đối đãi. Người Phật tử không thể chấp nhận điều nầy. Chính Chúa trong Thánh kinh đã nói rằng nếu chúng ta biết thiện và ác chúng ta phải chết.

 Tuy nhiên nếu bạn nói rằng Chúa - nếu chúng ta chọn dùng chữ nầy – là vượt ngoài thiện ác, thì người Phật tử có thể đồng ý. Trong đạo Phật, mục đích là để chuyển hóa cả tốt và xấu, và nhận thức rõ chân không - để không có “cái tôi,” “mình,” “cái của tôi,” và “chính tôi.” Nếu chúng ta không biết tốt và xấu, chúng ta không bị dính mắc vào đó và nhờ thế không có đau khổ. Hay là, nếu chúng ta biết tốt và xấu nhưng vẫn không bị dính mắc, thì cũng sẽ không có đau khổ. Như thế, điểm cao nhất của nhân loại là vượt ra khỏi điều tốt.

VƯỢT QUA ĐIỀU TỐT

Vượt khỏi điều tốt thì không có gì để thèm khát và không có ai thèm khát. Sự thèm khát chấm dứt. “Cái tôi” người thèm khát và tất cả những tham muốn của nó sẽ biến mất trong chân không – cái trống rỗng của bản ngã và linh hồn. Chân không là mục đích và tận cùng của sự thực hành Phật pháp. Đó là con đường chuyển hóa vòng tròn bất tận của sự thèm khát và sung sướng trần gian. Nó là điều tối thượng, mục đích cuối cùng của Phật giáo.

 Việc quan sát về vấn đề nầy là không thể dính mắc với điều tốt và xấu nếu không có sự hiểu biết về tốt xấu. Khi nào không có sự hiểu biết về tốt xấu thì không có gì để bám víu. Khi không có dính mắc, không có đau khổ và không có vấn đề khó khăn. Một khi đã ăn trái cây hiểu biết thiện ác rồi, dĩ nhiên có sự hiểu biết về thiện ác. Rồi điều gì sẽ xảy ra? Nếu chúng ta thiếu khôn ngoan để hiểu rằng không nên dính mắc vào điều thiện

ác, chúng ta sẽ bị vướng mắc vào điều thiện ác của chúng sanh bình thường. Như thế, có sự đau khổ nó là nền tảng khó khăn của cuộc đời. Những kết quả của sự ăn trái cấm ấy là: sự ràng buộc, đau khổ, và chết.

Một khi sự hiểu biết nầy đã khởi dậy, không có sự trở lại trạng thái ngây thơ trong đó điều thiện và ác không được biết đến. Sau khi đã ăn trái cấm, sự hiểu biết xuất hiện, chúng ta phải thấu hiểu đầy đủ và sâu sắc rằng không nên dính mắc vào điều thiện ác. Đó là bổn phận và trách nhiệm của chúng ta phải học điều nầy. Chớ nên dính mắc vào điều thiện ác bởi vì chúng nó là vô thường (anicca), không thỏa mãn (dukkha) và vô ngã (anatta). Thiện ác là vô thường, khổ, vô ngã. Có sự hiểu biết đúng đắn về thiện ác thì không có sự dính mắc. Rồi không có sự chết, giống như Adam và Eva trước khi ăn trái cấm. Bây giờ tất cả chúng ta đều ăn trái cấm rồi; chúng ta biết điều thiện ác. Sự ngây thơ không còn trở lại với chúng ta. Thay vào đó, chúng ta có bổn phận nhận thức rằng không nên dính mắc vào điều thiện ác. Không vướng vào thiện ác. Xin hãy thấu hiểu điều này một cách khôn ngoan.

 Đừng dính mắc vào thiện ác. Hiểu biết thông suốt hai điều nầy và bạn không bao giờ vướng mắc vào chúng nó. Đây là trọng tâm của Phật giáo và cốt tủy của Cơ Đốc giáo. Cả hai tôn giáo đều dạy một điều giống nhau, mặc dù người ta có thể diễn dịch ra  nhiều cách hoàn toàn khác nhau. Nếu bạn hiểu điều nầy, bạn sẽ có chìa khóa của hạnh phúc chân thật và giải thoát khỏi tham vọng.

Bạn có thể thấy rằng khi chúng ta bám víu và mắc vào “điều thiện,” chúng ta khao khát điều thiện. Nếu có điều nào tốt hơn chúng ta lại khao khát cái tốt hơn. Nếu có cái tốt nhất, chúng ta lại tham muốn cái nhất đó. Bất kể là “nhất” như thế nào, nó vẫn tạo ra tham vọng. Chắc chắn sự khao khát là vấn đề dẫn đến đau khổ. Cho dù thèm khát ở mức độ nào, nó vẫn sẽ tạo ra một vài thứ đau khổ. Sự thèm khát thô lỗ làm chúng ta đau đớn theo cách thô bạo, trong khi sự thèm muốn thanh cao nhất - rất tế nhị không thể thấy hay không hiểu – làm hại chúng ta theo cách quá tinh vi không thấy được. Nếu có thèm khát sẽ có đau khổ. Cuộc đời sẽ bị khó khăn và chướng ngại, không thể nào tạo ra sự bình an và hạnh phúc hoàn toàn được.

TRỐNG RỖNG

 Do đó Phật giáo giảng giải về chân không (sunnata) - sự trống rỗng về “Tôi” và “của tôi” nó vượt quá bất cứ đìều nào tốt đẹp nhất. Tất cả mọi vật đều trống rỗng và không có cái “Tôi” và “của tôi”; “Tôi” và “của tôi” là trống rỗng không có tính cơ bản riêng và không tồn tại lâu dài. Nếu chúng ta có kiến thức về sự vượt qua khỏi điều tốt nhất, trong chân không chẳng có tốt hay xấu, không có vấn đề. Trong chân không không có khát vọng. Ngay cả điều tham muốn tinh tế nhất cũng không có ở đây. Trong  đó đau khổ đã kết thúc và chỉ có sự bình an tinh thần chân thực. Đây là mục đích cuối cùng. Khi nào còn có một chút tham vọng nhỏ nhất, nó cũng ngăn chận mục đích cuối cùng. Ngay khi tất cả mọi thèm khát đã gột sạch hết, và mọi sự khó khăn, mọi đau khổ không còn, sự giải thoát thật sự hiển hiện. Giải thoát của đạo Phật là thoát khỏi khao khát do hiểu bìết rõ chân không (sunnata, voidness). Xin vui lòng nghiên cứu vấn đề nầy cho đến khi đời của bạn hoàn toàn thoát khỏi tham vọng.

KHÁT VỌNG TỰ NHIÊN VÀ KHÁT VỌNG KHÔNG CẦN THIẾT

Chúng ta hãy trở lại xem xét một khía cạnh khác của cái gọi là “khát vọng”. Chúng ta phải hiểu rõ là có hai thứ khao khát. Đầu tiên là sự khao khát sinh lý vật chất, nó là một tiến trình tự nhiên của đời sống. Thân thể cảm thấy khát khao theo bản năng những nhu cầu tự nhiên như là áo quần, thức ăn, chỗ ở, thuốc men và thể dục. Thứ khao khát này không phải là vấn đề khó khăn. Nó không tạo ra đau khổ và có thể thỏa mãn mà không gây ra đau khổ. Có một thứ thèm khát thứ hai của tâm hồn gọi là “Khao khát tâm linh”. Đây là sự khao khát của tư tưởng phát sinh từ sự dính mắc. Thèm khát sinh lý không có nghĩa gì vì nó không gây ra nhiều khó khăn. Ngay cả loài vật cũng nếm mùi thèm khát sinh lý, cho nên chúng nó ăn uống có giới hạn theo hoàn cảnh. Tuy nhiên, khao khát tâm linh ràng buộc theo sự vô minh (avijja, ignorance) và ràng buộc (upadana), tiêu diệt sự mát mẻ và thanh tịnh của tâm hồn đó là hạnh phúc và bình an thật sự. Sự hủy diệt như thế đem lại đau khổ.

 Tình trạng khó khăn của con người là trí óc của chúng ta phát triển vượt quá trí óc loài vật. Ý thức của loài vật không biết học cách thế nào để biến đổi khao khát sinh lý thành khao khát tâm linh. Chúng nó không bị ràng cột vào sự thèm khát cần thiết như chúng ta, bởi vậy chúng thoát khỏi sự đau khổ gây ra bởi tham dục (tanha) và dính mắc (upadana). Trí óc con người phát triển cao hơn do đó chịu đau khổ bởi sự thèm khát phát triển cao hơn. Qua sự tham luyến, trí óc con người biết sự thèm khát tinh thần.

 Chúng ta phải phân biệt hai loại khao khát nầy. Thèm khát sinh lý có thể xử lý dễ dàng. Một ngày làm việc có thể thỏa mãn nhu cầu thân xác nhiều ngày. Với sự tỉnh thức và trí tuệ, sự thèm khát sinh lý không thành vấn đề. Đừng dại dột làm nó trở thành đau khổ (dukkha). Khi nó khởi dậy, thấy nó là như vậy (tathata, thusness) – nó là “như thế”. Thân thể có hệ thống thần kinh. Khi nó thiếu điều gì cần thiết thì nổi dậy một hành động gọi là “thèm khát”. Chỉ vậy thôi – như vậy đó (tathata). Đừng để nó nung nấu thành ra thèm khát tâm linh bằng cách gắn liền nó với “thèm khát của tôi” hay “tôi thèm khát”. Ấy là rất nguy hiểm, nó tạo ra nhiều đau khổ (dukkha). Khi thân thể đói, hãy ăn một cách thức tỉnh và khôn ngoan. Như vậy thèm khát sinh lý sẽ không quấy rầy tâm trí.

 Khát vọng chỉ là vấn đề tinh thần. Trí óc con người mở mang nhiều phát triển sự thèm khát bình thường thành khát vọng tâm linh nó kết quả thành sự tham luyến. Đây là những hiện tượng tinh thần – tham dục (tanha, craving) và tham luyến (upadana, grasping and clinging) – không có gì tốt đẹp cả. Dầu cho chúng ta là những nhà triệu phú, trong nhà đầy dẫy những sản phẩm tiêu dùng, trong túi đầy tiền bạc, chúng ta vẫn còn khao khát tâm linh. Tiêu thụ càng nhiều tham muốn càng nhiều. Bất kể cố gắng bao nhiêu để thỏa mãn khao khát tâm linh, sẽ mở rộng bấy nhiêu, lớn lên và não loạn tâm trí chúng ta nhiều hơn nữa. Ngay đến những nhà tỉ phú cũng khao khát tâm linh, đôi khi bị khao khát một cách tuyệt vọng.

Như vậy chúng ta giải quyết vấn đề nầy như thế nào? Nguyên tắc Phật pháp thật là đơn giản. Chấm dứt sự khao khát điên cuồng đem lại kết quả bình an tâm hồn, hạnh phúc thanh thản, thoát khỏi phiền não.

 Thế rồi sự thèm khát sinh lý không còn làm phiền chúng ta. Thật dễ chăm sóc nó, tìm kiếm một ít thức ăn để làm thoả mãn cơn đói. Tuy nhiên khao khát tâm linh là vấn đề khác. Càng ăn nhiều chúng ta càng thèm khát. Đây là vấn đề chúng ta bị kẹt trong đó - bị quấy rầy, lo phiền, buồn bực, khuấy động bởi khao khát tâm linh. Khi không có gì quấy

nhiễu tâm trí, ấy là hạnh phúc chân thật. Điều nầy có thể buồn cười đối với bạn, nhưng hết phiền não là thật sự hạnh phúc. 

 Rõ ràng mỗi người trong các bạn đều bị quấy rầy bởi những hy vọng và mong ước. Các bạn đã đến đây với những niềm hy vọng và mơ ước. Những hy vọng, ước muốn và mong mỏi nầy là những thứ tham vọng tâm linh khác, bởi vậy hãy thận trọng đối với chúng. Đừng để chúng trở thành nguy hiểm! Hãy tìm cách chấm dứt ước mong và hy vọng. Sống tỉnh thức và khôn ngoan (sati-panna, mindfulness and wisdom) đừng sống bằng những mơ ước.

Chúng ta thường dạy trẻ con có nhiều mơ ước – “ước mơ đi”, “mơ mộng một giấc mơ không thể có”. Điều nầy không đúng. Tại sao chúng ta dạy các em sống trong sự khao khát tâm linh? Nó dày vò các em, cho đến lúc tạo ra sự đau đớn sinh lý, bịnh tật và cái chết. Tốt hơn là dạy các em sống không có thèm khát, đặc biệt là không khao khát tâm linh. Sống trong tỉnh thức khôn ngoan (sati-panna), làm bất cứ điều gì phải làm, nhưng không ước mong, hy vọng, không mơ mộng, không chờ mong. Những điều hy vọng chỉ là khao khát tâm linh. Dạy cho các em chớ dính mắc vào. Không thèm khát, sinh lý hay tinh thần – xin vui lòng cân nhắc về việc nầy - thật là hạnh phúc biết bao! Không có hạnh phúc nào lớn lao hơn. Bạn có thể hiểu không?

BA TRẠNG THÁI CÔ ĐƠN

 Cuối cùng, chúng ta nói về những ích lợi của sự chấm đứt thèm khát. Để làm được việc nấy, chúng tôi yêu cầu bạn học thêm một chữ Pali nữa. Xin hãy lắng nghe cẩn thận và nhớ chữ nầy, vì nó là chữ quan trọng nhất – viveka. Viveka có thể dịch là “cô đơn tuyệt đối, hoàn toàn cô đơn, cô đơn trọn vẹn”. Bởi vì người ta không hiểu giá trị nầy một cách đứng đắn, có thể các bạn cũng có thể chưa bao giờ nghe về nó.

 Để làm quen với điều nầy, hãy xem xét viveka có ba cấp. Cô đơn sinh lý (kaya-viveka) khi không có điều gì làm phiền đời sống sinh lý, nghĩa là người ta thoát khỏi sự khó chịu về sinh lý, sự ồn áo, ruồi muỗi và những thứ như thế. Cô đơn tinh thần (citta-viveka) khi không có những cảm xúc làm rối loạn trí óc; khi những thứ như tham dục, sân hận, sợ hãi, thất vọng, ganh tị, cảm tình và lòng thương yêu không gây phiền nhiễu cho tâm hồn (citta, heart or mind). Sự cô đơn tinh thần có thể xảy ra trong đám đông hay trong căn phòng ồn ào; nó không phụ thuộc vào sự cô đơn sinh lý. Loại thứ ba, cô đơn tâm linh (upadhi-viveka) là khi không có những cảm tưởng hay ý nghĩ của sự ràng buộc vào cái”Tôi” và “cái của tôi”, “linh hồn” hay “chính tôi” quấy rầy tâm trí. Khi cả ba mức độ nầy xảy ra, bạn thật sự cô đơn và tự do (giải thoát).

`Chỉ thoát khỏi những quấy rầy về sinh lý trong khi những cảm xúc còn làm phiền nhiễu thì chưa phải cô đơn thật sự. Nhiều “thiền sư” chạy trốn vào rừng hay trong các hang động để tìm sự cô đơn, nhưng nếu họ còn mang theo những ưu phiền cảm xúc, họ sẽ không thấy được điều họ đang tìm kiếm. Chân hạnh phúc sẽ tránh xa họ. Nếu những cảm xúc không quấy rối họ, nhưng tư tưởng về “Tôi” và “của tôi” quấy rầy và làm rối loạn họ, đó cũng không thể gọi là “viveka” cô đơn. Phải không có cảm tưởng về “Tôi” hay “của tôi” quấy rầy mới thật sự cô đơn sâu sắc. Rồi sẽ không có bất cứ khao khát nào nhiễu

loạn  và không có những hy vọng quấy rối. Đây là sự cô đơn chân thật. Trí óc hoàn toàn cô đơn. Đây chính là hạnh phúc là mục đích duy nhất của đạo Phật.

 Sự cô đơn nầy là giải thoát (vimutti, emancipation) ở mức độ cao nhất của Phật giáo. Mục đích cuối cùng của đạo Phật, sự giải thoát cao nhất không phải chỉ là trí óc được an vui hay yên tĩnh. Mục đích tối hậu là hoàn toàn giải thoát khỏi mọi ràng buộc, khỏi sự dính mắc đến cái “Tôi” hay “của tôi”. Chúng tôi muốn bạn hiểu về ba mức độ cô đơn (viveka), nhờ đó bạn có thể kinh nghiệm thực sự chúng là cái gì.

Giờ đây chúng ta đã thảo luận điều mà chúng tôi sợ các bạn hiểu lầm. Nếu các bạn không hiểu niềm hạnh phúc của Phật giáo, các bạn có thể mong chờ một vài thứ Phật giáo không thể cung cấp. Điều ấy chắc chắn sẽ làm bạn thất vọng, và bạn sẽ phí thời gian ở đây. Nếu bạn muốn thứ hạnh phúc đến từ sự đáp ứng cho điều khao khát, chúng tôi không có gì để nói nữa. Không có điều gì khác chúng tôi có thể nói với bạn. Tuy vậy, nếu bạn muốn niềm hạnh phúc phát sinh từ không có sự khao khát nào cả, chúng tôi có vài điều để nói, và chúng tôi đã nói hết rồi.

 Cuối cùng, chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ thành công trong việc thực tập và phát triển tỉnh thức với hơi thở (thiền minh sát). Khi đạt được, các bạn sẽ nhận được sự hạnh phúc chân thật sanh ra từ sự vắng mặt hoàn toàn của lòng khao khát.

 Cảm ơn các bạn đã đến tu viện Suan Mokkh và xử dụng tốt những điều chúng tôi hiến tặng hôm nay.

                    Seattle, January, 1st. 2004. T Tâm Không. 

     6/ ĐỜI  SỐNG  NGỤC  TÙ.

THE PRISON OF LIFE.

Buddhadasa Bhikkhu.

                       Thích Tâm Không dịch

Hôm nay chúng ta nói về vấn đề “nhà tù”. Điều này giúp chúng ta hiểu về cái được gọi là “đời sống” rõ hơn. Rồi chúng ta sẽ hiểu Phật Pháp tốt hơn, nó giúp chúng ta sống cuộc đời không có khổ não ( dukkha : dissatisfaction, pain, stress, suffering : bất

mãn, đau đớn thân & tâm, khổ sở.) Vì thế hôm nay chúng ta nói về cái gọi là “ ngục tù”. Xin vui lòng chú ý lắng nghe.

Bất cứ nơi nào có những điều kiện và dấu hiệu của sự giam cầm, ngay ở đó có sự đau khổ ( dukkha ). Quý vị nên quan sát những hình thức và những thứ đau khổ đều có tính chất giam cầm trong đó. Bị bắt giữ, giam hãm, kiềm chế và phải chịu những sự khó khăn, quấy nhiễu là những đặc tính của đau khổ. Nếu hiểu được điều nầy, rồi bạn sẽ thấu hiểu rõ ràng ý nghĩa của điều chúng tôi gọi là “upadana” ( clinging : dính mắc, attachment : ràng buộc, quyến luyến ). Ở đâu có sự ràng buộc, ở đó có nhà tù. Sự dính mắc buộc ràng nầy tự nó đem lại những điều kiện của sự giam cầm.

Ở đâu có sự dính mắc là ở đó có sự trói buộc. Sự trói buộc này có thể tích cực hay tiêu cực, nhưng cả hai đều ràng buộc như nhau. Đối với những việc nầy và sự chấp vào cái “tôi” và “của tôi”cũng sinh ra ràng buộc. Khi đã bị cột vào việc nào đó, chúng ta bị mắc kẹt vào nó giống như bị bỏ tù vậy.

Tất cả nguyên tắc cơ bản của Phật giáo có thể tóm tắt : Tham chấp là nguyên nhân của đau khổ, đau khổ là do tham chấp, Chúng ta phải hiểu rõ sự tham chấp. Để hiểu nó dễ dàng, chúng ta phải thấy rõ ràng nó giống như là nhà tù- một sự giam cầm trí óc hay tinh thần. Chúng ta đến đây để học Phật pháp, phát triển trí tuệ và an tịnh ( samadhi = thiền định ), phát triển (vipassana = thiền minh sát)  khả năng sáng suốt thông hiểu mọi sự vật để có thể diệt trừ sự tham chấp. Hoặc là chúng ta nói một cách ẩn dụ rằng học Phật pháp mở mang trí tuệ để phá bỏ ngục tù đang giam giữ chúng ta. 

Chúng ta đang nói về một nhà tù trí óc hay tinh thần, nhưng nó cũng có nghĩa như một nhà tù thật sự. Nó giống như những nhà tù vật chất giam cầm con người ở khắp nơi. Bây giờ chúng ta chỉ nói về cái nhà tù tinh thần. Nhà tù nầy hơi lạ và khác thường, chúng ta không thể thấy nó bằng mắt. Bất thường hơn nữa là con người tự nguyện bị giam trong nhà tù nầy. Thực sự người ta thích vào và bị giam trong nhà tù nầy. Đây là một điều quái lạ của nhà tù tinh thần.

 Tự do là thoát khỏi nhà tù.

    (Freedom is salvation from prison.)

Các bạn nên nhớ lại danh từ “cứu rỗi”( salvation) và “tự do”( liberation) thường dùng trong các tôn giáo. Mục đích cuối cùng của mọi tôn giáo là cứu rỗi hay giải thoát, hoặc là danh từ nào thích hợp nhất trong mỗi ngôn ngữ. Nhưng tất cả những danh từ nầy đều có nghĩa là - được cứu vớt.

Tất cả tôn giáo đều dạy cứu rỗi. Tuy nhiên, được cứu khỏi cái gì ? Chúng ta được cứu ra khỏi ngục tù tinh thần. Điều mà tất cả các bạn muốn và cần ngay trong lúc này là “tự do” hay “tự quyết”, điều nầy đơn giản là ra khỏi nhà tù. Hoặc nhà tù vật chất hay nhà tù tinh thần, ý nghĩa cũng như nhau. Trong mọi trường hợp chúng ta đều cần tự do.

Những người thiếu trí chỉ có thể thấy và sợ nhà tù vật chất. Nhưng những ai có trí tuệ quan sát sâu sắc sẽ thấy ngục tù tinh thần thật là đáng sợ và rất nguy hiểm. Quả thật

chúng ta thấy ít có người bị giam trong những nhà tù bình thường, trong khi mọi người trên thế giới đều bị giam giữ trong ngục tù tinh thần. Thí dụ, mọi người ngồi đây đều thoát khỏi nhà tù bình thường, nhưng tất cả đều bị giam trong nhà tù tinh thần. Nó khiến chúng ta thích Phật pháp, đến học Phật pháp và thực tập phát triển tâm linh, nó là sự áp bức và sức mạnh cầm giữ chúng ta trong nhà tù tinh thần nầy. Các bạn có cảm thấy hay không, điều đó chẳng quan trọng. Bất kể thế nào, nó buộc chúng ta phải chống lại và tìm cách thoát ra khỏi sự giam hãm tinh thần. Tuy nhiên, nó đang thúc bách các bạn dù bạn có biết hay không, phải tìm kiếm tự do tinh thần. Vì vậy các bạn đến đây hay những nơi như thế nầy để tìm kiếm nó.

Mặc dù cái ràng buộc chúng ta tự nó chỉ có một tên là Tham luyến ( upadana ), mà nhà tù nầy lại có nhiều hình thức khác nhau. Có hàng chục kiểu , loại nhà tù. Nếu chúng ta dùng thời gian để nghiên cứu mỗi loại nhà tù, nó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hiện tượng nầy hơn.

Rồi chúng ta cũng hiểu rõ về sự ràng buộc cũng như tham dục và sự ô nhiễm, theo lời Phật dạy đó là nguyên nhân của đau khổ ( dukkha ). Nếu hiểu thấu một cách rõ ràng nguyên nhân của sự giam cầm, chúng ta sẽ hiểu được nguyên nhân của sự đau khổ.

Tôi muốn khuyên các bạn dùng chữ upadana thay vì chữ “attachment” tham luyến dính mắc hay một tiếng Anh nào khác để dịch ra. Vì những tiếng Anh này thường bị hiểu lầm. Có thể bạn không hiểu đầy đủ vào lúc nầy, nhưng cố gắng dùng chữ upadana cho miệng , trí óc và ý tưởng của bạn quen với nó. Chúng ta phải hiểu rằng trọng tâm của Phật giáo là tận trừ, dứt bỏ hay cắt đứt upadana cho hết sạch đi. Như vậy mới không có nhà tù và không có đau khổ (dukkha.)

Các bạn phải dùng ý nghĩa của những tiếng Anh là quyến luyến, tham lam và bám chặt, gom lại để có nghĩa của chữ upadana ( tham chấp ). Tốt hơn là chúng ta nên dùng chữ upadana. Ý nghĩa nó rộng hơn làm cho chúng ta có thể quán sát vấn đề một cách sâu sắc và bao quát hơn. 

Điểm cốt yếu duy nhất của Phật giáo.

      (The Single Essence of Buddhism.)

Có thể nó chỉ là một từ đơn giản thôi, nhưng upadana là điều quan trọng nhất. Trọng tâm của đạo Phật là nhổ tận gốc rễ hay là chặt đứt upadana ( tham chấp ), rồi dukkha (đau khổ ) sẽ chấm dứt. Xin vui lòng hiểu rằng đây là điểm cốt yếu của đạo Phật, nó được thấy trong mọi môn phái. Phật giáo Nguyên thủy, Đại thừa, Phât giáo Tây Tạng, bất cứ Tông phái Phật giáo nào bạn thích, chỉ khác nhau về danh từ, hay về những nghi lễ, hình thức thực hành bên ngoài. Nhưng bên trong tất cả đều giống nhau là dứt trừ upadana ( tham chấp).

Không nên buồn rầu, chớ thất vọng hay lo lắng, đừng tự làm cho mình phải lo nghĩ rằng bạn đã không thể học tập tất cả mọi tông phái đạo Phật. Chớ lo lắng nếu bạn đã không thể học Phật pháp ở Tây Tạng, Tích Lan, Miến điện, Trung Hoa hay ở bất cứ nơi nào khác. Điều ấy chỉ phí thời giờ thôi. Chỉ có một điều cốt tủy đơn giản hay trọng tâm

của tất cả, ấy là tận trừ upadana  ( tham chấp ). Những nhãn hiệu Nguyên Thủy, Đại Thừa, Thiền, Tây Tạng hay Trung Hoa, chỉ phản chiếu cái mặt ngoài của những điều hình như là những tông phái khác nhau của đạo Phật mà thôi. Nếu có vài điều khác nhau đó chỉ là cái bên ngoài nông cạn, chỉ là những nghi thức , lễ lạc được gom góp lại. Trung tâm đích thực của vấn đề, trọng tâm của Phật giáo là giống nhau ở mọi nơi : - nhổ gốc rễ và chặt đứt upadana. Bởi thế chỉ cần học một điều nầy. Đừng phí thời gian mà buồn rầu và nghĩ rằng mình đã không được học tất cả những pháp môn khác nhau của đạo Phật. Hãy học một việc đơn giản là cắt đứt upadana, thế là đủ.

Nếu anh thực sự có nguyện vọng muốn học Phật giáo đại thừa, thì anh sẽ phải đi và học chữ Sanskrit ( Tiếng Phạn, Ấn Độ ). Anh có thể dùng hầu hết cuộc đời cố gắng học Sanskrit mà thật sự vẫn chưa hiểu gì cả. Nếu anh muốn hiểu biết về thiền, anh phải học tiếng Trung Hoa. Trải qua suốt cả cuộc đời để học tiếng Hoa và cuối cùnh anh vẫn không hiểu được thiền. Để hiểu Mật tông của Phật giáo Tây Tạng, anh phải học tiếng Tây Tạng. Chỉ học tiếng Tây Tạng thôi cũng mất hết cả đời, tuy nhiên anh vẫn chưa học được cái gì hết. Anh vẫn không đạt được trọng tâm đạo Phật. Đây chỉ là những bề mặt cần có như là những sự phát triển mới. Hiểu được trọng tâm của tất cả và chỉ học một điều thôi là - chặt đứt upadana. Rồi bạn sẽ hiểu được cốt tủy của Phật giáo, cho dù nó mang nhãn hiệu nào Đại thừa, Nguyên thủy, Thiền hay Mật tông. Dù nó từ Trung Hoa, Nhật Bản hay Triều Tiên, hay một nơi nào khác, tất cả chỉ có một điểm – chặt đứt upadana.

Ngay trong một Tông phái Nguyên thủy thôi cũng có nhiều hình thức khác nhau. Cũng có nhiều cách khác nhau để rèn luyện tâm trí. Có cách tu thiền của Miến Điện, họ quan sát   sự phồng lên và dẹp xuống của bụng. Có những cách dùng các câu thần chú “Samma Araham” và “Buddho Buddho”, cũng như những thứ khác nhau. Nhưng nếu nó là đúng đắn, thì trọng tâm của mỗi thứ luôn luôn chính xác là cùng một điểm : - Sự cần thiết là tận trừ upadana. Nếu không đạt được sự dứt trừ upadana thì nó chưa phải là pháp chân chính. Nó sẽ không có giá trị và không lợi ích gì. Tại sao không quan tâm đến vấn đề chặt đứt upadana, hay nói chúng ta nói cách thí dụ là phá hủy ngục tù ? Như thế tốt nhất là chúng ta nói thêm về cái nhà tù nầy.

Khám phá nó ở bên trong.

(Discover it inside.)

Nói một cách chính xác, thực sự chúng ta không thể học từ kinh sách, phương pháp hay những lời dạy khác nhau, nếu chúng ta muốn thật sự được thành công. Để gặt hái thành công bất cứ ích lợi nào, chúng ta phải học chính điều đó, gọi là cái nhà tù thật sự. Nghiên cứu ngay chính cái dukkha thực sự, chính là nhà tù. Bởi vậy, tốt hơn là chúng ta tìm cho thấy cái ngục thất nầy.

Đến đây chúng ta đứng trước hai sự chọn lựa : Các bạn sẽ học từ bên ngoài hay từ bên trong ? Sự phân biệt thật quan trọng. Đức Phật dạy rằng chúng ta phải học từ bên trong. Việc học bên ngoài là từ sách vở, lễ nghi, rèn luyện hay những thứ khác như vậy. Những việc mà chúng ta phải học, Đức Như Lai đã dạy trong lúc thân thể đang còn sống. Có nghĩa là một thân xác còn sống và một tâm trí còn sống, không phải là một vật đã

chết. Đó là nơi mà việc học thật sự xảy ra, vậy hãy học ở đó. Học từ bên trong, nghĩa là học trong chính bản thân bạn lúc còn sống, trước khi bạn chết. Những nghiên cứu bên ngoài, học từ sách vở và những nghi lễ và tập tục khác nhau, thật sự không có giá trị gì cả. Bởi vậy , chúng ta hãy học từ bên trong. Xin vui lòng nhớ những chữ này “Hãy học từ bên trong”.

Tập luyện samadhi và vipassana ( thiền định và trí tuệ ), ấy là phát triển ý thức về hơi thở, làm như vậy là việc học từ bên trong. Thực hành việc học nội tâm nầy cần phải có sự kiên nhẫn và chịu đựng, nhưng không nên quá sức. Thật sự đem so sánh với một vài việc người ta đang luyện tập như những môn thể dục, thể thao và môn nhào lộn đu bay, thì việc tập luyện thiền định và phát triển trí tuệ là ít khó khăn hơn. Tuy nhiên người ta có đủ sức chịu đựng và kiên tâm để có thể làm những việc đó. Trong khi chỉ cần có sự kiên nhẫn bình thường là chúng ta có thể luyện tập thiền định và trí tuệ, qua sự tỉnh thức về hơi thở. Một số người không thể làm được và hoàn toàn tránh xa. Chúng ta có đủ kiên tâm để tiến xa hơn, nếu tiếp tục thêm nữa, rồi chúng ta sẽ có thể thực hành và sẽ nhận được những ích lợi xứng đáng. Bởi vậy, xin vui lòng tự mình áp dụng việc tu tập với đầy đủ kiên nhẫn và chịu đựng.

Đời sống chính là nhà tù.

(Life itself is prison.)

Dùng phép ẩn dụ ( metaphors) để làm cho vấn đề chúng ta đang thảo luận dễ hiểu hơn. Chúng ta sẽ áp dụng hôm nay tại đây. Nhà tù đầu tiên mà bạn phải tìm thấy là chính đời sống nầy. Nếu bạn nhìn cuộc đời như là một nhà tù và thấy nhà tù chính là nó, như thế chúng ta phải nói rằng bạn hoàn toàn hiểu sự thật của bản chất tự nhiên. Tuy nhiên , hầu hết mọi người nhìn cuộc đời là thú vị và cơ hội để có sự vui vẻ. Họ muốn sống để hưởng sự vui thú ở đời. Rồi họ trở nên mê mờ và ràng buộc vào cuộc sống, điều nầy biến cuộc đời thành nhà tù.

Nếu chúng ta thấy đời là nhà tù, chúng ta phải thấy sự tham chấp ở đời. Nếu không thấy sự tham chấp thì chúng ta sẽ không thấy rằng cuộc đời là nơi giam cầm và chúng ta hài lòng nghĩ rằng đời sống là thiên đường. Bởi vì có rất nhiều thứ ở đời làm thỏa mãn chúng ta, nó đánh lừa và làm chúng ta mê muội. Tuy nhiên, đối với bất cứ điều gì mà chúng ta thấy hài lòng, dễ chịu, hấp dẫn và ham mê thì cũng sẽ có  upadana . Điều này trở thành nhà tù. Cho nên những điều mà chúng ta yêu thích càng nhiều thì bị giam

cầm càng nhiều bởi vì upadana. Ngay khi chúng ta ghét hay không thích điều gì thì nó trở nên  sự tham chấp tiêu cực, nó cũng là một nhà tù. Bị đánh lừa và mê hoặc bởi sự tích cực hay tiêu cực , cả hai đều là nhà tù. Những loại nhà tù ấy biến đời sống thành dukkha. 

Thêm vào đó, người ta sẽ có khả năng nhìn thấy rằng khi nào có upadana trong cuộc đời, thì cuộc đời trở thành nhà tù. Cũng như thế, khi không có tham chấp, thì cuộc đời không còn là nhà tù. Các bạn có thể thấy điều này ở đây, ngay bây giờ. Hoặc có hay không có  upadana  trong đời sống của bạn. “Đời tôi có phải là một nhà tù hay không ? Tôi có đang sống trong nhà tù của upadana hay không ?” Mỗi bạn phải nhìn thật kỹ vào trong tâm mình và thấy một cách rõ ràng tuyệt đối cuộc đời phải là một nhà tù đối với bạn hay không ? Các bạn có phải đang sống trong nhà tù hay không ? Nói cách khác, tại sao chúng ta đến đây để tu thiền, để phát triển trí tuệ ? 

Thực chất của mục đích thật  sự và chủ tâm của sự phát triển trí tuệ là để tiêu trừ những nhà tù của chúng ta. Hoặc là việc học và thực hành của các bạn có kết quả, hoặc là bạn có thể phá hủy được nhà tù hay không, đó là câu hỏi khác. Tuy nhiên, mục đích và chủ tâm thật sự của chúng ta là phá bỏ cái nhà tù của cuộc đời.

Hãy xem xét vấn đề nầy một cách cẩn thận. Nếu không nhận thức được  upadana, chúng ta bị bắt vào tù cho dù không chấp nhận đó là nhà tù. Chúng ta bị mắc bẫy vào nhà tù mà chẳng hiểu gì là nhà tù. Hơn nữa, chúng ta còn hài lòng và mê đắm nhà tù, như là chúng ta đã say mê và thỏa mãn với cuộc sống. Chúng ta bị giam cầm trong nhà tù cuộc sống. Chúng ta sẽ làm gì để không bị cầm tù ? Đây là một câu hỏi mà chúng ta phải trả lời một cách cẩn trọng và đứng đắn.

Chúng ta sống thế nào để đời sống không phải là một nhà tù ? Câu hỏi nầy hàm ý rằng bình thường và tự nhiên , cuộc đời không phải là một nhà tù, mà chỉ vì chúng ta làm cho nó thành nhà tù qua  upadana. Bởi vì chính sự ngu si, dại dột, sự thiếu hiểu biết đứng đắn, chúng ta có  upadana  trong đời sống. Cho nên cuộc đời trở thành tù ngục đối với chúng ta. Ở Thái Lan có một câu vừa thô thiển vừa nghiêm trọng “som nam na man”, có nghĩa là “ thật đáng đời anh”. Đời không phải là nhà tù hay là một thứ nào như thế, nhưng vì do sự ngu mê chúng ta tạo ra upadana, bởi vô minh nên mới có nhà tù. Chúng ta không thể nói gì khác hơn là “ som nam na man, thật đáng đời anh”.

Nếu anh thực hành thiền minh sát ( anapanasati-bhavana ) có kết quả tốt, anh sẽ hiểu rõ cuộc đời hơn. Anh sẽ hiểu rõ upadana  và anh sẽ không có bất cứ tham chấp nào trong “cuộc sống”. Rồi bất cứ nhà tù nào hiện ra, cũng tan rã và biến mất, những nhà tù mới không nảy sanh ra nữa. Lối sống nầy có giá trị nhất, nhưng ai có đuợc nó hay không lại là một vấn đề khác. Bạn hãy vui lòng cố gắng hiểu rõ vấn đề nầy. Điều nầy thúc đẩy bạn tự mình áp dụng với năng lực và kiên nhẫn để có thể phá tan ngục tù.

Có một cách để xem xét những sự kiện nầy là quán sát cuộc đời phải diễn tiến theo luật tự nhiên, hoặc chính chúng ta phải sống theo quy luật thiên nhiên. Chúng ta phải tìm kiếm thực phẩm, phải hoạt động, phải nghỉ ngơi và thư giản, phải làm việc để giữ gìn và bảo vệ cuộc sống của chúng ta : chúng ta phải làm những điều nầy và tất cả những việc khác mà bạn biết rõ. Không làm những việc đó là không thể được. Chúng ta bắt buộc phải làm. Đây cũng là một nhà tù. Vấn đề là chúng ta phải luôn luôn tuân theo luật tự nhiên là một thứ nhà tù. Làm sao chúng ta thoát khỏi nhà tù đặc biệt nầy được ?

Tại sao chúng ta bị bắt vào tù phải sống theo luật tự nhiên ? Nhà tù nầy đến từ upadana của chúng ta về chính mình, hay là đối với cuộc đời của chúng ta. Khi có sự tham chấp đối với mình, thì cái “Tôi”, cái bản ngã sinh ra. Cái “Tôi” nầy lo âu, sợ hãi,

những bổn phận tự nhiên nầy, chúng tạo ra sự bất hạnh. Những điều khó khăn nầy đến từ tham chấp. Nếu chúng ta không có tham chấp đối với cái Tôi, thì những bổn phận cần thiết nầy sẽ không  giống như một nhà tù. Chúng ta sẽ tìm kiếm những nhu cầu, có được đời sống, sử dụng và săn sóc thân thể, không bị khổ sở, nếu chúng ta không có tham chấp đối với đời sống. Điều nầy rất vi tế, nó là một điều bí mật đối với hầu hết mọi người. Đây là điều huyền bí của chân lý tự nhiên. Chúng ta phải sống thế nào để không có upadana liên hệ với sự kiện mà mọi vật trong đời sống nầy phải diễn biến theo luật tự nhiên. ?

Bản năng là nhà tù.

(The Instincts are prisons)

Xem xét đến nhà tù tiếp theo là chúng ta sống theo ảnh hưởng của những bản năng. Chúng ta ở trong quyền lực của bản năng. Tất cả mọi sinh vật, hoặc là con người, thú vật hay cây cỏ đều có bản năng. Những bản năng nầy thường xuyên áp lực chúng ta đi theo những lợi ích và nhu cầu của chúng . Đây là một sự thật đặc biệt đối với bản năng giới tính hay sinh sản. Nó điều khiển, làm phiền, tạo thành và làm phức tạp đời sống chúng ta rất nhiều. Cảm giác về ái dục và sinh sản thúc ép, áp lực và quấy rầy chúng ta quá nhiều, chúng bắt ép chúng ta trải qua tất cả mọi sự khó khăn. Nhưng chúng ta không thể dừng lại được ! Đôi khi chúng ta còn thích thú nữa. Trẻ em  lớn lên đến tuổi trưởng thành lúc bản năng giới tính đã đầy đủ, rồi chúng cũng bị bắt vào nhà tù của bản năng tính dục.

Cuối cùng, ngay cả bản năng của sự phô trương cũng điều khiển đời sống của chúng ta. Nhiều người không nghĩ đây là một bản năng, nhưng tất cả mọi loài vật đều có nó. Sự cần thiết phô trương, khoác lác, biểu lộ bản ngã là một bản năng. Ngay cả thú vật cũng có căn bịnh muốn khoe khoang rằng chúng là đẹp, khỏe mạnh hay lanh lợi. Dù đây là bản năng điên khùng nhất, lố lăng nhất, nó là một nhà tù. Chúng ta muốn khoe khoang và khoác lác. Nếu nó không phải là nơi giam cầm thì nó sẽ không cưỡng bức và đàn áp chúng ta tí nào cả. Tuy nhiên, bây giờ nó ép chúng ta mua áo quần tốt, châu báu đẹp, giày dép xinh xắn, và mua thật nhiều nữa ! Tại sao chúng ta phải mua nhiều áo tốt và nhiều đôi giày đẹp ? Tại sao chúng ta cần hết thảy chúng nó ? ( Xin lỗi, ở đây chúng tôi phải đặc biệt đề cập đến  phụ nữ ). Có bản năng muốn phô trương nầy, và nó là một loại nhà tù. Bởi vì người ta không thể chịu đựng nó được, họ bị buộc phải theo bản năng nầy, tiêu xài tất cả tiền bạc vào đủ thứ việc. Cái bản năng khoe khoang thật là buồn cười và lố lăng hơn hết. Nó thật sự là một nhà tù. Người ta không bao giờ có đủ tiền bạc là do cái nhà tù nầy. Xin vui lòng xem xét và phản tỉnh một cách thận trọng về những thí dụ của những bản năng mà chúng tôi đã nêu ra. Chúng nó cũng là những nhà tù.

Nếu chúng ta suy nghĩ về điều nầy, nếu chúng ta làm một bảng thống kê về tất cả những tiêu pha của chúng ta, chúng ta sẽ thấy rằng một số người tiêu xài nhiều tiền cho quần áo, châu báu, và giữ gìn cho chính họ luôn luôn xinh đẹp hơn là họ dùng cho thực

phẩm. Hơn nữa, họ nhất định phải trang hoàng và làm đẹp nhà cửa việc nầy làm gia tăng sự tiêu pha của họ. Cả hai thứ này họp lại phí tổn nhiều hơn họ dùng để mua thức ăn là thứ cần thiết cho đời sống. Chúng ta đã dùng nhiều tiền bạc vào những việc không cần thiết cho đời sống hơn là dùng vào những thứ cấn thiết cho đời sống như là thực phẩm. Đây là một con đường nữa dẫn đến sự giam cầm trong hệ thống nhà tù.

Những giác quan là nhà tù.

(The Senses are prisons.)

Tiếp theo đây, chúng ta đến một nhà tù vui thú nhất, nhà tù gần nhất với chúng ta. Đây là sáu căn (six senses)( aytaana ) : mắt , tai, mũi, lưỡi, thân và ý, sáu giác quan trung gian hay môi giới. Chúng nó cũng là những nhà tù. Hãy từ từ , cẩn thận nhận xét chúng nó. Hãy lắng nghe thận trọng để hiểu những mắt , tai, mũi, lưỡi, thân và ý của chúng ta - tất cả sáu giác quan - trở thành những nhà tù như thế nào.

Trong tiếng Pali chúng ta gọi chúng nó là “ayatana” lục căn. Nguồn gốc của chữ nầy trong văn chương có nghĩa là “ những dụng cụ hay phương tiện để giao thông với thế giới bên ngoài. Chúng ta gọi là lục căn “ayatana”. Nếu các bạn muốn, thì dùng chữ Pali nầy “ayatana”. Chúng tôi không chắc chắn gọi chúng là gì trong Anh ngữ, có thể là “giác quan trung gian” hay “những vật môi giới”. Tất cả sáu giác quan này là những nhà tù.

Chúng ta có tham chấp “upadana” đối với cuộc đời, đối với tự thân chúng ta, thì có sáu trung gian để cảm giác, kinh nghiệm, truyền thông, hay để cảm xúc, và tiếp nhận ngoại vật. Khi có tham chấp đối với sáu giác quan này, chúng ta phục vụ và trở nên nô lệ của chúng nó. Chúng ta phục vụ làm hài lòng cho đôi mắt. Chúng ta phục vụ làm hài lòng đôi tai. Chúng ta phục vụ làm cho mũi hài lòng. Chúng ta phục vụ làm cho lưỡi hài lòng. Chúng ta phục vụ làm cho da thịt và cơ thể dễ chịu. Chúng ta phục vụ cho tâm ý, giác quan trí óc, để cho làm nó yêm dịu và thoải mái. Đây có nghĩa là tất cả hành vi của chúng ta chỉ để giải trí cho sáu giác quan. Mọi việc chúng ta làm là vì sáu giác quan này. Chúng ta đầu hàng và trở thành nô lệ chúng nó. Rồi chúng nó nắm chặt và điều khiển chúng ta, không thể nào trốn thoát được. Chúng ta gọi đây là “bị giam vào tù của sáu giác quan”.

Giả thử hoặc người nào, hoặc có ai trong các bạn, chưa từng nô lệ cho sáu giác quan. Và các bạn tự nguyện phục vụ chúng, có phải không? Bạn chịu đựng những sự khó nhọc và cúi mình để phục vụ chúng, luôn luôn tìm những cách làm cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý hài lòng và vui vẻ trong tư cách của một người nô lệ. Vì thế chúng ta phải tự nhận là những kẻ nô lệ. Những người thiếu thông minh sẽ chắc chắn làm nô lệ cho sáu giác quan, sẽ tiếp tục bị giam vào nhà tù của giác quan. Nhờ sự tập luyện đúng và có kết quả của thiền minh sát, chúng ta có thể thoát khỏi cái nhà tù này. Nếu chúng ta tập thiền minh sát không đúng cách và không hoàn hảo, chúng ta sẽ bị giữ trong nhà tù của giác quan không biết đến bao lâu.

Mê tín là nhà tù

(Superstition is prison).

Đối với nhà tù sau đây, chúng tôi muốn kể đến chuyện bị lừa đảo bởi một việc gọi là “saiyàsatr”. Saiyà là ngủ. Sàtr là khoa học. Kết lại có nghĩa là “sleepy science” khoa học ru ngủ. Tất cả các hình thức mê tín và tín ngưỡng là saiyàsatr. Càng có nhiều ngu dốt, càng thiếu sự hiểu biết đứng đắn,  thì càng bị lún sâu vào bẫy của những nhà tù mê tín. Bây giờ giáo dục và khoa học đã tiến bộ, đưa đến sự hiểu biết những sự thật của tự nhiên và tất cả mọi việc. Vẫn còn quá nhiều cạm bẫy trong những nhà   tù mê tín. Đó là vấn đề cá nhân, một số người bị mắc kẹt rất nhiều, một số khác ít hơn. Con người bị mắc kẹt theo nhiều mức độ và cách thức khác nhau, nhưng chúng ta có thể nói rằng vẫn còn người bị mắc vào nhà tù của khoa ru ngủ, bị sập bẫy bởi mê tín.

Mặc dầu tổng quát mê tín đã có giảm bớt nhiều nhờ tiến bộ khoa học, nhưng vẫn còn một ít khoa ru ngủ trong các nơi thờ cúng (temples), và trong những nơi thuộc loại như thế. Cho dù sự mê tín có giảm đi một cách tổng quát, vẫn có một số tồn tại trong những nơi như thế. Bất cứ ở đâu có những bàn thờ (altars), có người lễ lạy và tôn thờ, được gọi là nơi huyền bí (sacred) và thiêng liêng (holy), đó  là nơi hiện hữu “học thuật của người mê ngủ” (science of the sleeper). Mê tín là khoa học ru ngủ dành cho người đang muốn ngủ, cho những người không hiểu biết đứng đắn, họ là những kẻ si mê. Chúng ta được dạy những điều này khi còn nhỏ, trước khi có trí khôn và khả năng để suy luận về việc nầy. Trẻ em tin tưởng vào những gì chúng được dạy bảo, và “người lớn” dạy chúng nhiều điều mê tín. Nếu bạn còn tin rằng số 13 là một con số xui xẻo, đó là khoa học ru ngủ. Bạn vẫn còn đang mê ngủ. Có nhiều thí dụ về mê tín khác nữa nhưng chúng ta không nên nêu tên ra ở đây. Một số người có thể bực mình khó chịu ! Những thứ nầy đều là nhà tù. Tại sao không xem xét cẩn thận để thấy chúng thật sự như vậy. Ngay cả con số 13 cũng trở thành một nhà tù, khi chúng ta dại dột !

Những nơi thiêng liêng là nhà tù.

(Sacred Institutions are prisons.)

Chúng ta có nên tiếp tục với những nơi mà được  mệnh danh là thiêng liêng và huyền bí, hay danh tiếng và được ca tụng tôn vinh, hay được đồn đãi là rất tuyệt vời và có uy tín mà bất cứ ai trở thành hội viên cũng có thanh thế không ? Có một số nơi như vậy và những chi nhánh chung quanh. Ngay khi có vài người ghi tên làm hội viên của đoàn thể hay tổ chức này, của chi nhánh hay cơ sở kia, họ bắt đầu có tư tường và ý nghĩ về nó. Họ cảm thấy rằng “Chúng ta tốt hơn những người khác” hoặc là “Chúng ta là đúng, còn những người khác là ngu dốt”. Họ bám chặt và dính mắc vào mà không có một chút suy xét hay suy nghĩ phê phán. Theo cách này, cơ sở này hay ngay cả nơi thờ phụng (church) ấy – chúng tôi không thể nói khác được - trở thành một nhà tù. Chúng tôi xin lỗi các bạn, đừng nghĩ rằng tu viện Suan Mokk là nơi thiêng liêng huyền diệu, nếu không thì Suan Mokk sẽ trở thành một nhà tù. Xin đừng biến Suan Mokk thành nhà tù của bạn. Bạn phải suy nghĩ tự do, xem xét cẩn thận và đánh giá chính xác. Hiểu biết và tin tưởng những gì thật sự có ích lợi. Chớ để bị cầm tù trong bất cứ cơ sở nổi tiếng hay có thanh thế nào cả.

Đạo sư là những nhà tù

(Teachers are prisons.)

Bây giờ chúng ta đến với nhà tù gọi là “ajahn” thầy giáo, giáo sư hay đạo sư. Ở Miến Điện có “Sayadaw This” nhà Sư nầy, ở Tích Lan có “Bhante That” vị Sư kia, ở Tây Tạng có “Lama So and So” đức Lạt Ma nọ, ở Trung Hoa có “Master Whoever” vị Pháp Sư nào đó. Mỗi nơi có vị thầy nổi tiếng của họ tên tuổi được loan truyền ra khắp nơi. Hoặc là một nước, một vùng, một tỉnh hay một địa phương, mỗi nơi đều có vị đạo sư lớn của họ. Rồi người ta bị dính mắc và lôi cuốn bởi những vị thầy của họ dường như chỉ có vị thầy nầy là đứng đắn; thầy của họ mới phải và tất cả những vị thầy khác đều hoàn toàn sai lầm. Họ từ chối lắng nghe những vị thầy của người khác. Họ không suy nghĩ hay xem xét lại những lời dạy của thầy họ. Họ bị giam vào “nhà tù sư phụ”- “Teacher Prison”. Họ biến ông thầy thành nhà tù, rồi bị giam vào trong đó. Nó là một sự ràng buộc phi lý thật buồn cười. Một vị thầy hoặc lớn hay nhỏ cũng chỉ là sự tham chấp như nhau. Họ tiếp tục xây dựng những nhà tù bên ngoài các vị thầy và các bậc đạo sư của họ. Xin chớ nên bị giam vào chính cái nhà tù nầy.

Những vật thiêng liêng là những nhà tù.

(Holy Things are prisons.)

Nhà tù tiếp theo là những kinh sách thiêng liêng, chúng ta có thể tìm thấy khắp nơi. Trong số những người ít trí tuệ, càng bám chặt vào những vật nầy lại càng “linh thiêng” (holy). Chúng có thể trở nên vật đại diện hay thay thế cho Thượng Đế ( God). Dường như chỉ mang vào mình những kinh điển linh thiêng là giống như nhận được sự gia hộ thật sự. Điều nầy khiến sinh ra nhiều thứ những vật linh thiêng như : những xá lợi thiêng liêng, nước thánh, và những loại thiêng liêng như thế. Hãy rất cẩn thận với danh từ “linh thiêng” (holy) nầy. Nó sẽ trở thành nhà tù trước khi bạn hiểu được nó. Vật gì càng thiêng liêng nó càng giam hãm nhiều bấy nhiêu. Hãy coi chừng cái gọi là “linh thiêng” hay “thánh thiện”.

Các bạn nên biết rằng không có gì linh thiêng hơn Luật Nhân Duyên “ Law of Idappaccayata`”, là sự thiêng liêng tối thượng, cao hơn tất cả mọi thứ. 

Bất kể một thứ linh thiêng nào bởi tập quán hay do người ta bịa đặt ra, đều là do tham chấp. Bất cứ nơi nào có sự linh thiêng do tham chấp (upadana), thì linh thiêng ấy là một nhà tù. Luật Nhân Duyên tự nó là thiêng liêng không cần một sự ràng buộc nào. Không cần có tham chấp. Nó sẵn sàng điều hành mọi thứ và chính tự nó là thật sự linh thiêng. Xin chớ để bị giam cầm vào nhà tù của những vật thiêng liêng. Đừng làm những vật thiêng liêng thành nhà tù của bạn.

Việc thiện là nhà tù.

    (Goodness is prison.)

Một nhà tù khác nữa rất quan trọng, nó là nguyên nhân của các vấn đề khó khăn. Nhà tù này được gọi là “việc thiện” (goodness). Mọi người thích điều “thiện” và dạy bảo nhau làm thiện. Rồi họ sùng bái điều thiện. Nhưng ngay khi có sự tham chấp xen lẫn vào điều mà họ gọi là thiện, thì điều thiện ấy trở thành nhà tù. Bạn phải có lòng thiện, có tính tốt, không có lòng tham chấp. Như thế điều thiện không thành nhà tù. Nếu có tham chấp (upadana) thì nó thành nhà tù. Như chúng tôi đã nói, người ta quá say mê điều thiện, họ say sưa và tan biến trong điều thiện, cho đến khi nó biến thành vấn đề khó khăn. Bởi vậy nên tuyệt đối cẩn thận đừng biến điều thiện thành nhà tù. Nhưng giờ đây chúng tôi không thể làm gì để giúp đỡ cả, mọi người đều bị giam trong nhà tù việc thiện, hiển nhiên bị sập bẫy một cách mù quáng trong nhà tù từ thiện.

Nếu bạn là người theo đạo Cơ Đốc (Christian), chúng tôi đề nghị các bạn hãy suy nghĩ cẩn thận và cân nhắc nhiều về lời dạy trong sách Sáng Thế ( Genesis) ở đó điều thiện ngăn cấm Adam và Eva ăn trái Cây Hiểu Biết về Thiện và Ác ( The Tree of the Knowledge of Good and Evil). Đừng đi đến và ăn nó, hay là sẽ dẫn đến việc hiểu biết để phân biệt giữa thiện và ác. Rồi nó sẽ ràng buộc với sự tham chấp đối với điều thiện và ác. Rồi thì thiện và ác trở thành những nhà tù. Lời dạy này rất sâu xa và tốt lành, thông minh và khôn ngoan nhất, nhưng hình như không có ai hiểu. Người ta không chứng tỏ sự quan tâm nhiều về việc nầy và như vậy không thể là những người Cơ Đốc đứng đắn. Nếu họ đích thực là những người Cơ Đốc thì không nên dính mắc với tham chấp đối với thiện

hay ác. Chúng ta không nên làm cho thiện hay ác trở thành những nhà tù. Đây có nghĩa là không bị bắt nhốt vào nhà tù của điều thiện.

Chúng ta đã nuốt trái cấm và trở nên biết điều thiện ác, rồi bị bắt giữ và mắc kẹt vào điều thiện và ác. Chúng ta gặp phải khó khăn liên tục từ đó, thế nên nó được gọi là “tội tổ tông” hay đôi khi gọi là “tội vĩnh hằng”. Nó trở thành nhà ngục căn nguyên, một nhà tù vĩnh viễn. Xin hãy coi chừng : hãy cẩn thận đừng để bị giam vào ngục căn nguyên , cái nhà tù vĩnh viễn nầy. Đừng bao giờ để tự mình bị nhốt vào nhà tù nầy.

Bị giam giữ vào trong việc thiện , hay điều lành, ngay lúc người ta bị bắt vào nó tiếp tục kéo đi xa hơn, suốt cả con đường đến chỗ tốt lành nhất, đến nơi tối thiện. Rồi điều tối thiện sẽ biến thành nhà tù tối cao. Nếu phát triển theo lối này, Thượng Đế sẽ trở thành cái nhà tù tối thượng. Mong các bạn hiểu và nhớ rằng sự tham chấp xây dựng nhà tù theo cách này.

Tri kiến là nhà tù.

    (Views are prisons.)

Nhà tù sau đây là tri kiến của chính chúng ta. Tiếng Pali ditthi thật khó phiên dịch. Ditthi là tất cả những kiến thức, tư tưởng, ý niệm, học thuyết, quan điểm, đức tin và sự hiểu biết. Ditthi nghĩa là tất cả những tư tưởng, quan điểm, học thuyết và đức tin của cá nhân chúng ta. Nó không phải chỉ là một số quan điểm và một ít đức tin, nó là tất cả mọi tri kiến . Mọi thứ chúng ta dùng để quan sát và kinh nghiệm gọi là “ditthi” tri kiến. Chúng ta bị giam vào nhà tù tri kiến của chúng ta. Chúng ta không nghe lời bất cứ ai ngoại trừ tri kiến của mình. Đây là nhà tù đáng sợ nhất, bởi vì chúng ta tiến hành theo tri kiến riêng của chúng ta một cách mạnh mẽ, vội vàng và nóng nảy. Chúng ta quây lưng lại và đánh mất những điều có lợi cho chúng ta, bởi vì đầu óc chúng ta khép kín trước mọi sự trừ những ý kiến, tin tưởng và tri kiến của mình. Bởi thế, những tri kiến trở nên cái nhà tù kinh khủng nó bắt giữ và khóa chúng ta vào trong sự hiểu biết chỉ một chiều. Hãy đề phòng nhà tù tri kiến của ta.

Trong sạch là nhà tù tối cao.

(Purity is the highest prison.)

Tiếp theo, chúng ta đến với một nhà tù thật sự lạ lùng và kì diệu; bạn có thể gọi nó là “nhà tù tối cao”. Nhà tù tối cao được người ta gọi là “không có tội” hay “trong sạch”. Thật khó mà hiểu chính xác ý nghĩa của nó qua danh từ này. Chúng ta nghe đủ loại chuyện trò về vô tội và trong sạch, nhưng hình như người ta không hiểu họ đang nói về cái gì. Sự trong sạch bám chặt và ràng buộc, được đánh giá như thế nầy thế nọ, được tôn thờ, dùng để phô trương và tranh giành, để khoác lác “ Tôi là” trong sạch như thế nào. Nhưng nếu có sự “tham chấp” (upadana), tất cả chỉ là trong sạch trong tham chấp, không thật sự là trong sạch. Có nhiều hình thức trong sạch được chấp nhận ngoài sự dính mắc, như là cần tắm rửa. Niệm bùa chú, xức dầu thánh, rưới nước hay tẩy tịnh với người biết nghi thức; hay bất cứ vô số nghi thức và lễ lạc nào được thực hành để làm cho “trong sạch.” Loại trong sạch nầy chỉ là tham chấp, và trong sạch có sự ràng buộc là nhà tù. Xin đừng đi lạc đến nơi mà được gọi là nhà tù “trong sạch”.

Thấy thật đáng thương. Sự bám chặt vào bản ngã quá nhiều, rồi ràng buộc với sự trong sạch cũng nhiều như vậy. Một số tín điều tôn giáo còn đi xa hơn dạy về sự trong sạch suốt đời như một số linh hồn bất diệt sống trong cõi vĩnh hằng. Toàn thể việc nầy do sự bám chặt và dính mắc vào sự trong sạch qua tham chấp cho đến khi người ta bị giam vào nhà tù vĩnh viễn. Nó chỉ đưa đến nhà tù vĩnh viễn nầy.

Trống rổng không phải là nhà tù.

(Voidness is not prison.)

Tôi có thể bảo với các bạn đây là cái cuối cùng, nhà tù cuối cùng. Thoát khỏi nhà tù trong sạch tối cao, ra khỏi nhà tù trong sạch nhất, vào nơi trống rỗng giải thoát khỏi linh hồn và bản ngã. Không có một chút Ta nào, sống thoát khỏi cái Ta, sự trống rỗng của cái Ta- của bất cứ cảm giác nào về cái Ta, không có tất cả tư tưởng, ý niệm về Ta- ấy mới là trong sạch thật sự. Bất cứ sự trong sạch nào thật sự vĩnh hằng không thể là một nhà tù trong bất cứ sự ngưỡng mộ nào, trừ phi người ta hiểu lầm và bám chặt vào nó như là bản ngã hay linh hồn, trường hợp nầy nó lại trở thành nhà tù. Hãy dứt khoát, hoàn toàn thoát khỏi bản ngã- đó là trong sạch thật sự. Đó không phải là nhà tù. Trống không là trong sạch, nó không phải nhà tù.

Sưu tầm tất cả những thứ nhà tù chúng ta đã đề cập đến, như vậy cái nhà tù đích thực là cái người ta gọi là “atta” ( theo tiếng Pali ) Ngã, “bản ngã” hay “linh hồn.” Tự ngã là nhà tù. Ở đây ngã là nhà tù. Mọi thứ nhà tù đều chứa đựng và bao gồm chữ “bản thân” và “ chính tôi”. Chấp chặt vào cái Tôi như là bản ngã, rồi lệ thuộc theo nó, trói buộc vào cái “ Ta” và “Của Ta”, đây là nhà tù thực sự, trung tâm và linh hồn của tất cả các nhà tù. Tất cả nhà tù đều tập trung trong chữ “ Ngã”  ( Atta ). Loại bỏ sự ngu xuẫn tạo ra cái Ngã, cùng với chính cái ngã đó, và tất cả những nhà tù sẽ không còn. Nếu bạn thực hành thiền minh sát ( anapanasati ) một cách đứng đắn cho đến lúc có kết quả thật sự, bạn sẽ tiêu diệt hoàn toàn mọi nhà tù. Đó chính là tiêu diệt Ngã (atta), rồi tất cả nhà tù chấm dứt

và bạn sẽ không còn xây dựng thêm nhà tù nào nữa. Mong tất cả các bạn thực nghiệm được sự thành công trong việc tiêu trừ những nhà tù, đó là cái Ta hay bản ngã.

Mục đích của thiền minh sát là gột bỏ mọi dấu vết của sự tham chấp xem như bản ngã. Dứt bỏ hoàn toàn sự ràng buộc đối với bản ngã là đích cuối cùng và dập tắt hoàn toàn đau khổ, nó mang lại ý nghĩa của tự do và giải thoát. Mục tiêu tối thượng của mọi tôn giáo là sự giải thoát, giá trị và ích lợi của nó ở ngoài ngôn từ. Vì vậy xin vui lòng thử tập thiền minh sát, khi thực hành đúng , nó đưa đến sự giải thoát khỏi cái Ngã ( atta ). Tôi đã cố gắng hết mình trong nhiều năm và tôi luôn luôn làm bất cứ điều gì tôi có thể giúp đỡ mọi người hiểu thiền minh sát, để tất cả chúng ta có thể thoát khỏi mọi hình thức nhà tù của nhân loại. Mong các bạn thực tập khéo léo cho đến lúc tất cả mọi nhà tù đều tan biến. ( May you practice skillfully until all the prisons disappear). 

Seattle, cuối Thu 2003.

Tâm Không

7/ MỘT CHUYẾN VỀ KENTUCKY.

CƠ  DUYÊN

Trong dịp giổ tổ Liễu Quán và khóa tu mùa Thu tại chùa Cổ Lâm, tôi được quen biết HT. Trí Chơn, một vị thầy được mệnh danh là “ Ông Thầy Xe Bus “, vì mấy chục năm trước đây khi còn khỏe mạnh, HT. thường xuyên đi xe bus từ bang này sang bang khác khắp xứ Hoa Kỳ để tổ chức các ngày lễ lớn trong năm và thưyết giảng cho Phật Tử, đến nay HT. đã xây dựng trên 30 ngôi chùa hay là niệm Phật đường trên những tiểu bang ở miền Đông nước Mỹ. Đa số các chùa đều thiếu thầy trú trì để hướng dẫn phật tử, nên HT. phải dùng xe bus mà đi lại quanh năm đến các chùa nầy để giúp đỡ … Bây giờ HT. đã trên 70 , già yếu rồi nên không thể ngồi xe bus đi lại lâu dài được nên thường đi máy bay, có lẽ lâu

ngày sẽ thành “ HT. Máy Bay”. Suốt một tuần lễ ở lại chùa Cổ LÂm, tôi được ở gần và nói chuyện nhiều với HT. và đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm hoằng pháp tại Mỹ quốc nầy. HT. đề nghị khi nào có dịp sẽ giới thiệu tôi đến các chùa để làm lễ và nói pháp giúp cho phật tử, bởi vậy Lễ Vía Phật A Di Đà năm nay tôi về chùa TỪ ÂN tại Louisville, Kenturky để dự lễ với phật tử tại đây.

HT. liên lạc với ban hộ tự và mua vé máy bay gởi lên cho tôi rất sớm trên 1 tháng. 

Ngày 13 tháng 12 năm 2003, ăn sáng xong, lúc 8giờ anh Chương một phật tử người Huế thường đến chùa sinh hoạt vào những ngày Chủ Nhật chở tôi lên phi trường Sea-Tac lúc 8h30. đứng xếp hàng trước quâỳ của hãng máy bay Delta để lấy vé xong tôi đi vào phòng chờ , anh Chương trở về. Lúc 10 am máy bay cất cánh, về phi trường Cincinnati thuộc bang Kentucky, đây là loại máy bay phản lực lớn chứa đến 280 hành khách, chiêu đãi viên toàn là những người dàn bà Mỹ trên 40 tuổi, nhưng trông vẫn tươi trẻ, làm việc , di chuyển nhanh nhẹn, đặc biệt săn sóc trẻ nhỏ và các bà già yếu, hãng bay Delta này không phục vụ những bữa cơm trưa hay chiều như các hãng máy bay khác, khi lên máy bay ngồi yên chỗ rồi, chiêu đãi viên đem đến cho mỗi hành khách một tờ thực đơn ( menu ) có ghi tên các món ăn và giá tiền để khách lựa chọn, sau đó họ theo ý muốn của khách đem thức ăn đến và lấy tiền, những người không mua thức ăn thì chỉ có một chai nước khoáng nhỏ hay 1 lon coca, sprite,hay nước trái cây… Tôi chọn một lon nước cà chua để ăn thế bữa trưa. Khi bay được nữa đường có thông báo đổi múi giờ, vì Kentucky ở miền Trung Hoa Kỳ cách Seattle 3 giờ..  Vào lúc 12 giờ trưa ở Seattle thì tại Kentucky đã 3 giờ chiều.  

CHUYẾN  BAY  DELTA

Mùa Đông sắp đến rồi, mấy hôm nay trời mưa, gió lạnh, bầu trời âm u nhiều mây xám.

Máy bay cất cánh lúc 10h30, khi lên độ cao vượt mấy tầng mây xám, thì mặt trời và nắng ấm hiện ra. Ánh nắng phản chiếu trên những núi mây , những biển mây màu trắng nổi sóng cuồn cuộn tạo ra thiên hình vạn trạng, hình dạng biến đổi khôn lường, màu sắc huy hoàng lộng lẫy, thật là tuyệt diệu, đẹp vô cùng không thể tả được, vì nó luôn luôn biến ảo như trong kính Vạn Hoa vậy, ngồi bên cửa sổ tôi nhìn ra ngoài mãi mà không chán… Không biết có chư thiên hay thánh thần gì cư ngụ trong những tòa lâu đài, những núi rừng hùng vĩ lộng lẫy ấy không ? Dưới kia trời mưa gió lạnh lùng, vậy mà khi vượt khỏi mấy tầng mây là cảnh vật thay đổi khác hẵn, mầu nhiệm khôn lường như là qua một thế giới khác vậy. Máy bay lướt đi nhẹ nhàng, không rung động gì cũng không bị mây cản trở… Trong máy bay một số người đọc sách , đọc báo, người ngoại quốc đi đâu cũng đọc sách, họ ham kiến thức cho nên những tiệm sách rất lớn có khách để mà tiêu thụ, nếu như người Việt Nam, ít có nhiều người ham đọc sách, bởi vậy tiệm sách của người Việt rất ít, có lẽ người Việt lo bân rôn kiếm tiền hơn là muốn học hỏi thêm, họ thỏa mãn với hiện tại rồi chăng ? Làm sao mà bắt kịp trào lưu văn minh khoa học của Tây phương được ? Một số thanh niên đang chăm chú nhìn vào màn hình computer tìm đọc tài liệu, tin tức, hay trò chơi…Hầu hết những người Mỹ đều thích làm một cái gì đó, thường là đọc sách, họ chăm chỉ tìm hiểu ? Không bao giờ để cho đầu óc nghỉ ngơi thư giản… Họ không thích sống trong cảnh thanh tịnh rỗng rang, trí óc họ luôn luôn làm việc… Họ không thật sự an nhàn thanh thản thân tâm. Một số khác nhìn xem truyền hình đang chiếu phim thỉnh thoảng có quảng cáo và thông báo tin tức. Trong máy bay này có 6 cái TV. Treo trên lối đi giữa máy bay, cách 8 dãy ghế có một TV màu. mỗi dãy có 6 ghế ngồi.( 6 x 8 x 6 = 288 hành khách. + 4 chiêu đãi viên và 4 phi hành đoàn.) Tổng cọng là 296 người đi trên máy

bay. Có phòng vệ sinh sạch sẽ, đầy đủ nước rửa, có phòng lạnh cất giữ thức ăn phục vụ khách hàng. Phần dưới bụng máy bay chứa hành lý…Thật là nặng nề, vậy mà nó phóng lên thật nhanh rồi lao đi vun vút giữa gió mưa sương tuyết…

LOUISVILL Thành Phố Đua Ngựa

Khi đến gần phi trường Cincinnati máy bay bắt đầu giảm độ cao, lao vaò giữa những đám mây xám dày đặc ngăn cản làm rung chuyển đuôi và 2 cánh vang ra tiếng sàn sạt như đang va chạm mạnh với mây. Xuống đến sân bay thì thấy trời đã tối, đèn điện sáng trưng, đã 6 giờ chiều rồi. Sân bay trắng xóa , bao phủ một lớp tuyết dày, chỉ bày ra những đường xe chạy và đường máy bay chạy mới thấy có đường tráng nhựa đen. Đáng lẻ chỉ đợi ở đây đến 7 giờ là có chuyến bay về Louisville chỉ cách 120 miles, bay độ 1 giờ thôi, nhưng có mưa tuyết nên trể đến 9h30 mới bay được, đến đây đổi qua máy bay địa phương, nên trong máy bay chỉ có 80 hành khách, mỗi dãy ghế chỉ có 4 người, những chiêu đãi viên ở đây toàn là những cô gái còn trẻ, có lẽ phải kinh nghiệm nhiều mới cho sang phục vụ máy bay xuyên bang hay xuyên lục địa… Khi máy bay khởi hành một lúc thì các cô chiêu đãi viên đem kẹo đi mời khách, chỉ là loại kẹo cay bình thường, có người không ăn, riêng tôi đói bụng nên lấy 2 viên kẹo để ăn, lần sau đi xa chắc phải nhớ đem theo bánh mì … Trên chuyến bay về thành phố Louisville nhìn xem TV. thấy chiếu một phim đua ngựa rất hay, ban đầu trình baỳ cách huấn luyện ngựa, cả người lẫn ngựa rất khổ công, sau mới đem đến trường đua để thi, người đến xem đánh cá nhau la hét tưng bừng, ai cũng muốn cho con người mình thắng , nên hồi hộp lo âu theo giỏi bầy ngựa đang phi vòng quanh sân vận động.. cuối cùng ai thắng thì vui mừng hớn hở, nhảy nhót như khỉ, vượn.. uống rượu và cười đùa vui vẻ, còn người thua thì tức giận đập bàn , đá ghế… thất vọng thiểu não vô cùng. Nghe nói có người say mê đánh cá ngựa mà tiêu tan ca gia tài sự nghiệp, chẳng khác gì những kẻ thua cờ bạc… Vậy mà người ta cứ ham mê, không chừa ! Bị nô lệ cho thói hư tật xấu suốt cả đời không làm sao thoát ra được !

Thật đáng thương ! Cuối phim đua ngựa có một đoạn kết rất hay, có một nhóm người nuôi dưỡng một con ngựa bạch rất đẹp, tốn nhiều công phu tập luyện, hy vọng con ngựa nầy sẽ thắng cuộc đua quốc tế quan trọng ( vào tuần lễ đầu tháng 5, những tay đua ngựa khắp thế giới tập trung về đây để tham dự cuộc đua ngựa lớn nhất hoàn cầu) có phần thưởng rất lớn và nhất là tay chơi đánh cá, nhưng kết quả cuộc đua con ngựa nầy thua cuộc, bọn người nấy tức giận vô cùng, họ xúm lại vật ngã con ngựa xuống đất, rồi một người cầm cây súng dài nhắm vào đầu ngựa định giết chết nó, bỗng có một người đàn ông tử tế đến ngăn lại và khuyên người chủ không nên bắn con vật vô tội, rồi ông điều đình mua lại con ngựa đó. Hai bên đồng ý, người mua con ngựa ngồi xuống bên cạnh vuốt ve đầu và hai bên má con ngựa, làm nó cảm động nước mắt chảy ra dầm dề, có lẽ con ngựa cảm nhận được ơn đức của người có tấm lòng nhân đạo đã cứu nó thoát chết dưới họng súng của người chủ tham tàn độc ác muốn giết chết , khi nó không làm lợi cho họ ! Tôi nhớ lại trong sách quốc văn giáo khoa, tôi đã học lúc lớp năm kể chuyện một người có lòng nhân từ biết thương yêu loài vật như vậy là ông Điền Phương, là một nhà giàu có, sống ở thôn quê ông thường mua những con trâu, con bò, lừa, ngựa già yếu không còn làm việc được nữa và chủ nhân muốn đem giết lấy thịt, ông thường khuyên họ rằng con vật có ích lợi làm lụng khó nhọc suốt đời để nuôi sống, làm giàu cho chúng ta, đáng ra chúng ta phải biết ơn chúng nó, nỡ nào phân thây xẻ thịt làm chúng nó phải chết một cách đau đớn như thế, do đó ông Điền Phương thường mua những con vật già yếu để cứu sống chúng và thả cho sống tự do, thong thả trên những đồng cỏ hay trong rừng cho

đến lúc chúng nó chết thì ông đem chôn cất tử tế. Bên cạnh những con người quá tham lam độc ác cũng có những người nhân từ, có lương tâm yêu thương loài vật như vậy thật đáng kính trọng, đáng làm gương cho chúng ta noi theo…Bởi vậy người con Phật nên ăn chay và phóng sanh, là phát triển tâm từ bi, thực hành bồ tát hạnh, hiểu thấu rằng tất cả chúng sanh là cha mẹ bà con nhiều đời cần phải thương yêu không nỡ sát hại chúng để ăn thịt, có như thế mới bớt tội lỗi và khỏi mang nghiệp sát sanh, giữ được giới thứ nhất trong 5 giới căn bản của người Phật tử.

CHÙA  TỪ  ÂN

10h30 pm máy bay hạ cánh phi trường Louisville, nhìn quanh phi trường tuy là ban đem mà thấy một màu trắng nhạt như là trăng sáng đêm rằm vậy, do tuyết bao phủ một lớp dày, chỉ bày ra đường bay có phi cơ đi lại và những xe đang ủi tuyết ra hai bên đường, đến cửa thì có 2 đạo hữu Lợi và Hải đã đến chờ tại phi trường từ lúc 6h30, chào hỏi nhau rồi đưa về chùa thì đã 11giờ. Tôi đói bụng nên ăn một gói mì ăn liền rồi đi ngũ, mệt quá mai mới nói chuyện được. 

Chùa Từ Ân tạo lập cách đây 7 năm, do một nhóm phật tử mua nhà sửa lại thành chùa để có nơi tu tập, ngôi chùa ở vị trí thuận tiện ngay ngã tư đường, có bến xe bus tiện lợi cho việc đi lại. Phật tử trong chùa đa số là người Huế, như ông Lê Lợi pháp danh Tâm Lộc làm hội trưởng, hội phó là ông Thế, Dự, anh Xuân, anh Dương  ban nghi lễ biết tán tụng hay như quý thầy vậy, anh Du ban báo chí, anh Hải đã về hưu ban vận chuyển thường đưa đón quý thầy tại phi trường hay bến xe v.v… và một số em huynh trưởng của GĐPT. Từ Ân như Nga , Đào, Quảng Tịnh…các em thường đến chùa nấu đồ chay để cúng Phật và chư hương linh trong các ngày lễ, các em cũng đang làm ĐặcSan Hoa Tình Thương, phát hành lấy tiền cứu giúp các Cô Nhi Viện và chùa nghèo ở Việt Nam, tôi đã giới thiệu cho các em địa chỉ Cô Nhi Viện Đức Sơn do Ni Sư Minh TÚ điều hành taị HUế.

Rất nhiệt tình lo việc chùa và ham thích tu học, những ngày tôi ở lại chùa mỗi tối đều đến tụng kinh Tịnh Độ, kinh hành niệm A Di Đà Phật và học hỏi Phật Pháp, ở đây tôi chỉ giới thiệu , nói chuyện, giảng giải làm sao cho Phật tử thật sự tin tưởng pháp môn Tịnh Độ để có thể áp dụng thiết thực trong đời sống hàng ngày, giải tỏa bớt những lo âu phiền não, thấy rõ đường đi lối về, bảo đảm một đời chuyên tâm niệm Phật, lâm chung an lành, vãng sanh Tịnh độ, thoátkhổ ta bà, có như vậy mới khỏi phụ công ơn và hoài bảo của đức bổ sư Thích Ca Mâu Ni Phật… Đặc biệt có anh Danh cháu của HT. Nguyên An trú trì chùa Cổ Lâm, ở thành phố Lexington cách xa 100 miles phải lái xe gần 2 tiếng đồng hồ mà tuần nào cũng về sinh hoạt với chùa Từ Ân hay chùa Chánh Pháp ở trên núi . Khi tôi về đây, anh Danh cũng đã đến tham dự Lễ vía Phật A Di Đà trong ngày Chủ Nhật , sau đó xin phép nghỉ việc 2 ngày thứ tư và thứ năm để về chùa ở lại với tôi và trưa thứ năm ngày 18 tháng 12 đưa tôi ra phi trường Louisville trở lại chùa Cổ Lâm, Seattle rồi anh mới về nhà để mai đi làm việc, trong ngày thứ tư anh Danh và đ/h Tâm Lộc đã đưa tôi đi xem thành phố Louisville, mua tặng một cái kính loup để đọc sách. Đến trưa, chúng tôi tìm đến nhà hàng cơm chay ZEN Garden, của chị Hương để ăn bữa trưa, trong tiệm đã có nhiều người Mỹ đang ăn uống ( hiện tại người Mỹ có phong trào ăn chay mặc dù họ không phải là Phật tử, mà vì sợ thịt bò điên (crazy cow) và gà điên (crazy hen) ăn thịt này vào con người cũng sẽ điên dại rồi chết ! chủ tiệm là một phật tử, đưa chúng tôi lên tầng trên để xem bàn thờ Phật, đây là một gian phòng rộng rãi, thờ Phật trang nghiêm, có các kệ đựng nhiều sách Phật, chị Hương tặng cho tôi vài quyển sách của HT. Tuyên Hóa

bằng tiếng Anh, và hẹn sẽ gởi thêm về chùa cho tôi, vì có nhiều sách chị sẵn sàng tặng mà nặng quá tôi không xách về được. Trong ngày Lễ này tôi có gặp lại bà phật tử Quảng Kim, năm trước trong khóa tu học mùa Đông 1 tuần tôi đã gặp tại chùa Từ Đàm Hải Ngoại của HT. Tín Nghĩa, Dallas, Texat. chiều ngày thứ ba, mưa gió mịt mù, băng giá lạnh buốt, vậy mà bà cũng lái xe từ Lexington, cùng chỗ với anh Danh, xa chùa Từ Ân gần 2 giờ lái xe, đem về tặng tôi cái áo măng tô rất đẹp, made in London. Thấy cái aó đẹp đắt tiền tôi không muốn mang, yêu cầu bà đem trả lại, nhưng bà nhất quyết không chịu, một mực bắt tôi phải nhận, xưa nay tôi chỉ muốn ăn mặc đơn giản, bởi vậy tôi đã để lại cái áo tại chùa Từ Ân , sau này có quý Thầy về cần sẽ nhận mà dùng cho ấm áp, mong phật tử Quảng Kim thông cảm đừng buồn… Louisville là một thành phố nhỏ, chỉ có vài ngàn người Việt, không có những nhà máy, những cơ xưởng để người dân có nhiều việc làm, chỉ có một nhà máy làm thịt heo lớn thâu nhận nhiều công nhân nhất, việc làm bằng tay chân đơn giản, không cần nhiều kiến thức khoa học hay xử dụng máy móc nên đa số người Việt vào làm việc ở đây, mỗi ngày giết 8000 con heo để lấy thịt cung cấp cho những tiểu bang lân cận, gần 2000 công nhân phải làm việc dưới tầng hầm trong những phòng lạnh, dùng dao cắt hay chặt thịt tùy theo loại để đóng gói ướp lạnh chở đi phân phối cho các cửa hàng xa gần khắp các tiểu bang của Hoa Kỳ…Đây chỉ là một nhà máy sản xuất thịt heo nhỏ, còn nhà máy lớn hơn nữa tại thành phố Colorado, mỗi ngày giết hàng chục ngàn con heo và bò để cung cấp thịt heo và thịt bò cho khắp thế giới. Những con vật nầy bị giết một cách nhanh chóng bằng cách bị điện giựt chết rồi mới đem qua phòng mổ xẻ…Nghiệp sát sanh ở đây thật là ghê gớm! Như vậy làm sao thế giới khỏi họa chiến tranh, và xã hội thanh bình được. Các vị trong ban đại diện và gia đình có một số người phải vào làm việc trong lò sát sinh nầy , thật đáng buồn ! Mà không thể nào làm khác đi được, nguyện cầu sao cho quý phật tử thoát khỏi nơi lò heo nầy và có được việc làm khác tốt đẹp hơn. Có Phật tử hỏi tôi vì sự sinh sống mà buộc phải làm việc nầy, như vậy phải làm sao ? Tôi nói đã mang lấy nghiệp vào thân, bây giờ tự thân phải thấy hoàn cảnh xấu nầy là không đáng ham thích dù có lương cao, và có thể phát nguyện mình vào làm ở đây như là Địa Tạng bồ tát xuống địa ngục để niệm Phật siêu độ chúng sanh vậy, chứ không nên lo nghĩ buồn khổ mà sinh bịnh chẳng lợi ích gì. Ngày đêm chân thành niệm Phật, mỗi câu Nam Mô A Di Đà Phật là diệt trừ được 80 vạn ức kiếp tội lỗi, vậy mình nên niệm thật nhiều để tự cứu mình và cứu hàng vạn con heo nếu may mắn có thể thoát nghiệp súc sanh làm người cho bớt khổ và tiếp tục tu hành…Nam Mô A Di Đà Phật !

VÍA  PHẬT  A DI ĐÀ

Sáng nay Chủ Nhật 14-12-03 Phật tử tập trung tại chùa để làm Lễ Vía Phật A Di Đà, buổi sáng sớm đã có người đem thức ăn nấu từ nhà đến cúng , các em trong gia đình Phật Tử cũng có sửa sọan nấu vài món trong nhà bếp của chùa. Đúng 12 giờ, buổi lẽ bắt đầu, có gần 100 người tham dự gồm có vài chục đoàn sinh GĐPT Từ Ân, các em dâng Hoa , hát bài trầm hương đốt, bài kính chào thầy… Sau đó là buổi giảng nói về pháp môn Tịnh Độ. Trước hết tôi nhắc lại lịch sử Đức Phật A Di Đà theo kinh Vô Lượng Thọ, vào thời Phật Thế Gian Tự Tại Vương, có tỳ kheo Pháp Tạng, phát 48 đại nguyện muốn cứu độ tất cả chúng sanh nào muốn sanh về cõi Cực Lạc của ngài đã trải qua 5 kiếp tu tập xây dựng thành, đây là nơi lý tưởng cho ai muốn tu hành thuận tiện một mực tiến bộ cho đến ngày thành chánh giác, không bao giờ bị thối chuyển, nhờ năng lực từ bi hạnh nguyện lớn lao của Pháp Tạng tỳ kheo hỗ trợ cho công phu tín thành niệm Phật A Di Đà của chính mình,

và chân thành phát nguyện mong muốn vãng sanh… Nguyên do có pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ nầy : - Vào thời Đức Phật còn tại thế,  vua Tần Bà Sa La và Hoàng Hậu Vi Đề Hi có thái tử A Xà Thế nghe theo lời xúi dục của Đề Bà Đạt Đa là anh em họ của Phật, có tu chứng muốn tranh chức vị Giáo  chủ của Đức Phật, nên bày mưu cho thái tử giam vua cha là Tần Bà vào ngục cho chết đói để giành ngôi vua, Hoàng Hậu lén đem bột và mật vào nuôi sống vua cũng bị A Xà Thế giam vào cung cấm, Bà rất buồn khổ khẩn cầu Đức Thế Tôn cứu hộ. Phật hiện vào cung cấm thăm hỏi Bà Vi Đề Hi. Hoàng Hậu than khóc xin Phật chỉ dạy cho cách nào để thoát khỏi ta bà đau khổ độc ác này, bà quá chán chê cảnh đời nầy rồi, mong Phật chỉ cho một cảnh giới nào sống an lành hạnh phúc không có phiền não, không bị ác duyên, tu hành thuận tiện . Đức Phật hiển bày cho Bà thấy nhiều cảnh Phật, cuối cùng bà chọn cảnh Cực Lạc thế giới của Phật A Di Đà, đó là nơi an ổn hạnh phúc nhất bảo đảm cho người tu hành không còn bị thối chuyển,  Phật dạy bà nếu muốn tái sanh lên cảnh Cực Lạc thì phải có Tín tâm, chân thành phát nguyện muốn vãng sanh, và chuyên tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì sẽ được A Di Đà Phật tiếp dẫn vãng sanh về cõi đó… Pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ rất thích hợp , dễ dàng thực hành trong đời sống hàng ngày, nếu chuyên cần niệm Phật lâu dài sẽ tạo thành một nghiệp lực dẫn ta về Cực Lạc thế giới gặp Phậ A Di Đà, đúng với luật nhân quả , gieo nhân niệm Phật, tưởng nhớ Phật thì sẽ gặp Phật vậy. Dù sao thì hàng ngày biết dùng cái miệng để niệm hồng danh đức Phật còn tốt hơn là cứ nói chuyện ba hoa vô ích làm cho tâm trí ô nhiễm bất an, náo động. nhiều khi còn gây xáo trộn,  bất hòa trong cơ quan, đoàn thể, bởi vậy Ấn Quang đại sư vị tổ thứ 13 của Liên Tông khuyên mọi người khi rãnh rỗi không nên nói chuyện thị phi , mà chỉ chuyên tâm niệm Phật A Di Đà !

Xin mọi người hàng ngày hãy nhớ niệm Phật và phát nguyện :

“ Quy mạng lễ A Di Đà Phật,Ở phươngTây thế giới an lành.

Con nay xin phát nguyện vãng sanh.

Cúi xin đức từ bi tiếp độ…”

Chùa Chánh Pháp 

Chiều Chủ Nhật, sau khi làm lễ và ăn uống xong, anh Danh chở tôi lên thăm chùa Chánh Pháp, ở trên một ngọn đồi cách xa thành phố Louisville gần một tiếng đồng hồ lái xe, chùa nầy đang xây cất chưa xong, nằm trên một ngọn đồi phủ đầy tuyết trắng xóa, tôi có gặp sư Thanh Quang dẫn đi xem cảnh trí chung quanh, sư cho biết dự định sẽ xây dựng nhiều công trình như chùa Một Cột, Tứ Động Tâm ( 4 di tích quan trọng của Phật : Vườn Lâm Tì Ni ( nơi Phật ra đời ), Bồ Đề Đạo Tràng ( nơi Phật Thành Đạo ) Vườn Nai ( LỘc Uyển : nơi Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho nhóm Kiều Trần Như. Bài pháp nầy là Tứ Diệu Đế ) và Câu Thi Na, nơi Phật Nhập Niết Bàn. Trong vườn chùa đã có những tượng Phật Thích Ca, Di Lặc, Quan Âm, và tượng 5 tì kheo đệ tử đầu tiên của đức Phật ( Kiều Trần Như, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp, Ma Nam Câu Lị và Ngạch Bệ ).

Đây là một ngọn đồi rộng khoảng 5 mẫu, do phật tử Thiện Tường mua lại của người Mỹ và đang góp sức với sư Thanh Quang và một nhóm Phật Tử để xây dựng sau nầy sẽ thành một đạo tràng có phong cảnh đẹp và nơi thanh tịnh để tu hành.

Gặp lại thầy Nguyễn văn Hai.

Điều may mắn trong chuyến đi về chùa Từ Ân, Louisville lần nầy là được gặp lại thầy Hai, do ông Sơn tức đ/h Thiện Tường giới thiệu và chở tôi đến thăm. Tôi được biết thầy

từ năm 1955, khi tôi được vào học lớp đệ thất trường Quốc Học, lúc này trường mới xây xong dãy nhà trệt để nhận 2 lớp đệ thất từ trường Nguyễn Tri Phương chuyển lên, tôi may mắn ở trong hai lớp nầy. Lúc đó thầy Nguyễn văn Hai làm hiệu trưởng. Thầy rất nghiêm khắc, học trò rất sợ thầy, ttrên tay thầy thường có cây roi mây, đứa nào hoang nghịch ngợm là bị thầy quất vào mông ngay. Bên cạnh lại có Mệ Quê đội khăn đống mặc áo dài đen ( đàn ông giòng giỏi hoàng tộc nên gọi là Mệ chứ không phải đàn bà ) làm tổng giám thị cũng dữ không kém, thấy học sinh nào, dù lớp lớn như đệ nhị, đệ nhất cũng bị Mệ phạt bắt quỳ hay là dánh vào mông không có tha ! Bởi vậy trường Quốc Học mới nổi tiếng là có kỷ luật , quang cảnh nghiêm trang, học sinh lễ phép, học hành chăm chỉ, kết quả thành công khi ra đời rất nhiều. Thời xưa kỷ luật nhà trường nghiêm khắc như vậy mới đào tạo ra những con người có kỷ luật biết kính trọng vâng lời thầy ( tôn sư trọng đạo ), và thưong yêu thờ kính cha mẹ, thương mến, giúp đỡ anh em, bè bạn, mới có nền tảng đạo đức căn bản để xây dựng gia đình xã hội tốt đẹp được, bây giờ trẻ con Mỹ đưôc pháp luật bảo vệ hưởng  quá nhiều dân chủ tự do trong  trường và trong gia đình, cha mẹ và thầy cô giáo sợ vi phạm luật có thể bị kiện ra tòa án và bị phạt tù cho nên cho nên không dám trừng phạt trẻ em khi chúng nó hư thân mất nết, cứng đâù, bướng bỉnh đòi hỏi quá đáng, một học sinh dù học giỏi thông minh bao nhiêu mà thiếu căn bản luân lý đạo đức làm người, chỉ dùng lý trí, pháp luật để xử sự với nhau, ít có tình cảm, cho nên gia đình và xã hội thiếu tình thương chân thật phát xuất từ trái tim, từ lương tâm, như thế không thể nào có bình an và hạnh phúc được….Vậy mà bây giờ các nước Á Đông như Việt Nam, Trung Hoa, Lào, Thái Lan , Campuchia, Đại Hàn , Nhật Bản… Nam nữ thanh niên và  trẻ em, người lớn đa số đều muốn bắt chước theo nếp sống tự do, buông thả của Tây phương, chê bai, xa rời truyền thống đạo đức Á Đông của các bậc thánh hiền như đức Thích Ca,  Khổng Tử…và các bậc thầy chân chính đã ra công giảng dạy và kết tập để lại trong kinh sách mà con cháu làm ngơ theo đòi trào lưu văn minh vật chất quên mất đời sống tinh thần mới là quan trọng !!!

Tôi đến nhà ông Sơn ở gần chùa Từ Ân lúc 4 giờ chiều. Ông Sơn gọi điện thoại lên nhà gặp thầy Hai xin phép và báo trưóc là chúng tôi sẽ đến thăm, thầy Hai vui vẻ nhận lời, vì hàng ngày thầy chẳng tiếp xúc với ai chỉ miệt mài làm việc với kinh sách bài vở, cần thiết lám thầy mới nhận lời, vì thầy rất bận nghiên cứu để viết sách về Phật giáo, là một tiến sĩ toán tại ĐH. Sorbone, Paris, Pháp. Sau thời gian làm hiệu trưởng Quốc Học, thầy làm Giám Đốc sở học chánh miền Trung và Cao Nguyên trung phần, rồi làm Phó Viện trưởng kiêm khoa trưởng ĐH. Khoa Học viện ĐH. Huế. Phó Giám Đốc Trung Tâm Liễu Quán Phật Giáo Huế… qua Mỹ năm 1975. làm giáo sư ĐH. Kentucky, bây giờ đã nghỉ hưu, chuyên nghiên cứu Trung Quán Luận và viết sách, thầy dùng toán học để luận giải Phật pháp rất hay giới trí thức đều ca tụng, như quyển sách Nhận Thức và Không Tánh, mới xuất bản 2 năm nay, thầy sẽ tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm nữa.

Xe chúng tôi vừa đến, đã thấy thầy Hai đứng chờ tại cửa đón chúng tôi, gương mặt thầy tươi cười rạng rỡ, thầy nắm lấy tay tôi dắt vào phòng khách, có sẵn một dĩa đậu phụng rang và nước trà, nhưng mà kể lại chuyện xưa những ngày thầy còn làm hiệu trưởng và tôi mới là chú bé lớp sáu ( đệ thất ) vui quá quên cả ăn uống, thầy kéo tôi ngồi lại gần bên thầy để cô ( vợ thầy bà con với Ni Sư Trí Hải, và thầy Tâm Ngoạn, thỉnh thoảng cũng có ghé thăm thầy cô) chụp ảnh kỷ niệm. Thầy bây giờ đã 80 tuổi mà còn mạnh khỏe, nói năng lưu loát và rất minh mẫn, thầy xử dụng computer tài tình để viết bài, làm sách..khi qua Mỹ năm 1975 thầy đã học computer , và dạy tại ĐH. Kentucky. Nói chuyện suốt 2 giờ không ngớt, chúng tôi có nhiều chuyện để tỏ bày tâm sự quá… nên đến gần 7 giờ tôi

phải ngừng câu chuyện xin phép thầy về chùa để làm lễ buổi tối kẻo phật tử chờ đợi sợ e tôi đi lạc đâu không biết đường về. Xin hẹn thầy lần sau sẽ đến sớm và nói chuyện với thầy nhiều hơn cho thõa mãn… Ngày mai anh Xuân ( là học trò của Cô, lúc còn học trường tiểu học Lê Lợi, Huế ) đưa tôi về nhà để mở email xem thì có 2 tấm hình thầy Hai gời về cho tôi, kích thước lớn quá nên tôi chỉ chuyển đến cho các bạn quen ở VN, một tấm hình của thấy và tôi đang nói chuyện, không biết anh Trần Như Mật ở Quy Nhơn và các bạn khác đã nhận được tấm hình nầy chưa ? 

Thời gian ở lại chùa Từ Ân ngắn quá mà trời lại mưa tuyết , anh Xuân đi làm vào ban ngày, cho nên tôi không có dịp để đến thăm lại thầy Hai trước khi về Seattle, nhưng tôi sẽ thường liên lạc nói chuyện qua email với thầy. Một người thầy xa cách trên 40 năm mà còn được gặp lại nơi chốn xa xôi nầy thật là hy hữu, bây giờ trái đất mới thật đúng là tròn và nhỏ bé, sự đi lại dễ dàng không khó khăn như xưa , nên mới có cơ duyên nầy. Thầy lấy một quyển sách mới Nhận Thức và Tánh Không có lời tựa của TT. Tuệ Sĩ, thầy ký tên đề tặng cho tôi và hẹn sẽ gởi tiếp cho quyển tiếp theo : Luận Giải 27 phẩm của Trung Quán Luận. Trước khi ra về tôi cũng ngại ngùng tặng thầy mấy tập thơ và bản dịch Tổ Sư BỒ Đề Đạt Ma, thầy bảo đây là món quà quý nhất đối với thầy, phải đề tặng và ký tên vào, không biết rồi đây nhà toán học có thích đọc thơ của đứa học trò bây giờ là một tu sĩ mà thầy rất yêu thương không !   Xin cảm ơn thầy đã cho con niềm vui hôm nay và mãi mãi…

Về lại Cổ Lâm

Sáng thứ năm 18-12-03, các đ/h Lợi, Xuân, Hải và Danh đến chùa thăm hỏi và chuẩn bị bữa cơm trưa lúc 11giờ để tiển tôi trở về Seattle, phần cơn nầy do vợ chồng anh Quang là con ông Dương một phật tử người Huế trước đây có sinh hoạt GĐPT. tại chùa Long Quang , An Lỗ, Huế. củ HT. Như Đạt trú trì, là nơi có trường Bồ Đề Vasubandhu tôi đã dạy năm 1968-69. Thâỳ Đức Thanh làm hiệu trưởng. Banngày dạy học , ban đem xuống ngũ dưới hầm để tránh đạn trọng pháo…pháo kích thường xuyên vào vườn chùa…Nên thầy trú trì đã cho các em học sinh nội trú và các chú, bác ở chùa tu tập làm công quả đào những cái hầm rất sâu và kiên cố để tránh bom đạn…  Ông Dương bây giờ vẫn thường liên lạc và giúp đỡ HT. Như Đạt xây dựng chùa Long Quang, Huế. HT. đã gởi tặng chùa Từ Ân một bộ chuông trống lớn có ghi chữ chùa Long Quang cúng dường chùa Từ Ân.

Anh Danh hâm nóng thức ăn và dọn lên, chúng tôi ăn xong, đến 12h15 anh Danh lái xe chở tôi lên phi trường Louisville, xếp hàng lấy vé xong anh Danh ngồi chơi nói chuyện với tôi đến 1h30 khi tôi qua phòng kiểm soát để lên máy bay anh mới về.

2h30 máy bay rời phi trường Louisville, trời vẫn cón mưa tuyết… đến 3h30pm thì hạ cánh phi trường Cincinnati. 5h pm đổi sang máy bay khác lớn hơn bắt đầu khởi hành về phi trường Sea-Tac lúc 7 h pm ( tức là 10h pm ở Louisville ). Tôi gọi điện thoại về chùa, nhưng không có ai ở chùa chỉ để lại messages. Phải gọi bác Lam Nguyên và cô con gái Diệu My lên đón, Lam Nguyên sợ về chùa chưa có ai nên chở tôi về nhà ăn cháo gạo lức

muối mè, là thức ăn là món lương dược của tôi đã dùng hàng ngày, và ông bà Lam Nguyên cũng như ông bà Quảng Thành Nguyên Kiều đã áp dụng để chữa bịnh ốm gầy, 

mất ngũ… nghe nói có kết quả tốt, ở Mỹ ăn toàn đồ ngọt và lạnh cho nên tiêu hao rất nhiều dương khí và những người sức khỏe yếu thường bị bịnh, đi đâu cũng phải đem theo thuốc men để uống mỗi ngày, đời sống mà lệ thuộc vào thuốc men cả đời vậy cũng khổ, tôi chủ trương thà chịu ăn đơn giản mà có chất bổ ít bịnh tật vẫn hay hơn, “ Bịnh tùng khẩu nhập mà !” Ăn cháo xong bác Lam Nguyên chở tôi về chùa, thì ra lúc tôi gọi điện, Thầy Nguyên An và các đạo hữu đang tụng kinh. Anh Truyền, một Phật tử thuần thành, đã tặng tôi một bộ máy computer mới chạy nhanh hơn máy trước và dạy tôi cách xử dụng computer để viết bài và layout… Lúc 7hpm anh Truyền có lái xe đến phi trường đón tôi chạy quanh mấy vòng mà không gặp nên phải trở về.

 Đến chùa Cổ Lâm rồi, tôi cảm thấy ấm cúng và bình yên quá, như là mới trải qua một đoạn đường dài vất vả,  trở về phòng an nghỉ một đêm hạnh phúc ngũ ngon lành quên hết mệt nhọc vì sự đi lại xa xôi…Nam MÔ A Di Đà Phật cầu cho mọi người dừng lại, bớt vọng động lăng xăng, để cảm nhận được niền hạnh phúc bình an thanh nhàn tự tại. Quả thât : Không đâu đẹp hơn quê mình, không đâu bình an thanh thản hơn nhà mình và căn phòng nhỏ bé của mình. “ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn !”

Cổ Lâm, Seattle, 22-12-2003.  T. Tâm Không.

Lễ Tạ Ơn. Thanksgiving.  25. 11. 2004

Chỉ còn một tháng nữa là đến Noel và sắp hết năm 2004. Thời gian qua nhanh quá. Bây giờ là giữa mùa thu, thời tiết rất lạnh, buổi sáng sương mai mù mịt, cả bầu trời u ám một màu xám tro. Những cây phong trơ trụi lá, chỉ còn những cành cây khẳng khiu trông như những cây đã chết khô đứng im lìm chịu đựng giữa trời mưa gió lạnh lùng và bảo tuyết. Bông hoa ẩn mình trong lòng đất đợi đến mùa xuân có ánh mặt trời ấm áp mới bắt đầu mọc lên, đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa…

Vào mùa Thu và mùa Đông ngày trở nên ngắn hơn buổi sáng đến 7- 8 giờ mới thấy ánh mặt trời le lói xuyên qua những đám mây màu bạc trắng, buổi chiều thì mới 4 giờ trời đã bắt đầu tối. Trái lại vào mùa hè thì mới 4 giờ sáng mặt trời đã mọc, cho đến 9 giờ tối mới lặn, làm cho ngày rất dài…

Hôm nay là ngày Lễ Thanksgiving, dân chúng Hoa Kỳ cảm tạ trời đất thiên nhiên vạn vật đã hiến tặng cho họ một đất nước phong phú tài nhiên và một đời sống giàu sang sung túc, ở đây ít ai sợ thiếu cơm ăn áo mặc, nhà nào cũng hoang phí thức ăn và áo quần, giày dép. Có người sắm ra rồi không có chỗ cất giữ muốn đem cho cũng chẳng ai nhận, thỉnh thoảng có người đóng thùng đem về cho bà con ở Việt Nam… Có nhà sắm xe ôtô mới còn dư xe cũ sẵn sàng tặng cho chùa hay bà con bạn bè, nếu xe còn chạy được mà máy móc yếu kém  người ta cũng không nhận, nhiều người lớn tuổi thà đi xe bus còn hơn là có một chiếc xe để lái đi đây đó, vì họ sợ giấy tờ, thuế má phiền phức. Nếu xe cũ muốn đem đến bãi xe phế thải để người ta tháo gỡ ra từng bộ phận đem đi chế tạo lại thành những xe loại mới, thì cũng phải trả tiền họ mới chịu nhận cho.

Năm trước trong dịp Lễ Thanksgiving người ta tổng kết đã giết 280,000,000 (hai trăm tám mươi triệu) con gà tây (turkey) để ăn mừng lễ nầy theo truyền thống. Ngày ấy, vào buổi tối ngày 25 tháng 11 cả gia đình tụ họp lại để ăn uống vui chơi ca hát. Những hội từ thiện thì phân phát cho những người gọi là nghèo có mức lương thấp, nhất là người dân di trú như người Mễ, người Phi, và dân Châu Á… mỗi người đến sẽ nhận được một con gà tây đã làm thịt sẵn nặng 10-12 kilo đem về nhà nấu nướng… Ngoài ra người ta cũng nấu món xúp gà tây và bánh trái cho những dân homless (dân bụi đời không nhà cửa) đến ăn miễn phí cả ngày lễ nầy. Không hiểu tại sao cái xứ Hoa Kỳ giàu có nầy mà cũng có những người đứng tại những ngã tư, những góc phố để ăn xin từng đồng bạc, mặc dù trời mưa lạnh hay nắng nóng cũng thấy có những dân homless (những người không có nhà cửa, không có tiền bạc, nghèo khổ…) ở ngoài đường. Tôi thường thắc mắc hỏi những người bạn Mỹ tại sao có cảnh lạ lùng như vậy? Họ trả lời là vì dân homless lười biếng không muốn làm việc, họ thích sống tự do bất cần đời, mà đứng xin vậy cũng có khá nhiều tiền để tối đến tiệm ăn nhậu hút xách, nhiều người còn hút thuốc phiện nữa… Hành trang của mỗi người là một cái balô hay một túi xách lớn trong để mọi thứ

áo quần thức ăn.. Mặc dù có chỗ cho họ ăn và ở hàng ngày, mỗi tháng còn có trợ cấp nghèo khó vài trăm dolla, nếu biết tiết kiệm cũng đủ sống, vậy mà vẫn muốn đứng đường xin thêm tiền để uống rượu hút thuốc… Thỉnh thoảng tôi thấy có người còn nuôi thêm hai con chó thật to, ông chủ thì đứng cầm tấm bảng viết mấy chữ nghèo khổ cần giúp đỡ! Sức hai con chó ăn còn tốn hơn cả nuôi một con người! Người nào già yếu thì có một cái xe đẩy bốn bánh, họ để tất cả gia tài trên xe rồi đẩy đi. Ban đêm có người ngủ bên vỉa hè phố, có người xúm nhau lại ngủ dưới gầm cầu, hay nằm trên ghế đá ở các công viên. Vào những ngày trời lạnh, có tuyết rơi thì có những nhà từ thiện để cho họ vào ngủ và phân phát thức ăn nóng hàng ngày.

Ôi! cái cảnh tự do đủ thứ lộn xộn và mâu thuẫn ở Mỹ là vậy đó. Có những tòa nhà chọc trời đến cả trăm tầng, nhưng cũng có người chẳng có nổi một mái nhà xiêu vẹo, ngày đi ăn xin, tối ngủ trong những thùng giấy hay trong những túi ngủ (sleeping bag) trên công viên hoặc bên hè phố.

Năm nay dân số gia tăng, có lẽ trên 300,000,000 (ba trăm triệu) con gà tây phải bị giết cho Lễ Thanksgiving nầy. Chúng sinh nầy ăn mừng hạnh phúc của mình trên sự chết chóc của những chúng sinh khác, thật là oan uổng. Quả báo sát sanh hại mạng vay trả biết khi nào chấm dứt, bởi vậy tạo ra chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh trên khắp thế giới. Ngay cả nước Mỹ giàu mạnh, một siêu cường kinh tế và vũ khí mà dân chúng cũng cảm thấy bất an  luôn luôn phải phòng ngừa, e sợ bị bọn khủng bố phá hoại…Nhìn xem sự canh gác và kiểm soát nghiêm ngặt của cảnh sát an ninh tại các cửa khẩu, nhà ga, phi trường, cơ quan làm việc…mới thấy rõ mối hiểm nguy đáng sợ luôn rình rập đâu đó làm cho mọi người cảm thấy bất an…

“Làm sao cầu nguyện cho thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc được đây?”

Trong khi con người chỉ muốn hưởng lạc, ăn chơi thỏa thích, ích kỷ hại nhân, hại vật, lường gạt xảo trá, bất kể luân lý đạo đức làm người, không nghĩ đến nổi đau khổ của chúng sinh chung quanh mình, nung nấu hận thù bạo động, không có chút nhường nhịn khoan dung… thì làm sao có đời sống thanh bình hạnh phúc được!

Con người chạy theo những tiện nghi khoa học tối tân, ham thích những trò chơi trên mạng Internet, trên màn hình T.V. trẻ em thi ham chơi game, đi đâu, ngồi đâu cũng bấm game để xem những trò chơi bạo động, những cảnh chém giết tàn bạo, những màn đấm đá nhau bể trán dập đầu, máu me đầm đìa mà không chút thương tiếc, khán giả chung quanh đó lại reo hò cổ vũ…Đa phần con người ta tiêu phí thời gian vào những xung động đầy tính bạo lực như thế trong lúc thiên nhiên giàn trải biết bao phong cảnh nên thơ, hữu tình, con người lại phí phạm bỏ qua không thưởng thức được tính thiện của trời đất trong lành kia hoặc có thưởng thức cũng chỉ để thoả mãn cái tính tiêu cực tự thân mà thôi!

Công Viên Seward và Hồ Washington

Cứ mỗi chiều thứ ba và thứ năm, lúc 4 giờ đi học về, nếu gặp ngày trời nắng ấm, không có mưa gió gì, tôi thường lái xe đến công viên Seward Park, bên hồ Washington

để thưởng thức cảnh đẹp của rừng núi mùa Thu tại Seattle. Khi lái xe chầm chậm vòng quanh ngọn đồi với tốc độ giới hạn là 15 miles/h.

Mùa này hàng cây phong (maple) chạy tít tắp hai bên đường lá đổi sang màu vàng rực rỡ, có cây ngã sang màu đỏ, màu hồng hay màu tím, trông như những cây hoa khổng lồ sắc hoa lộng lẫy tươi thắm. Xen vào giữa hàng phong là những cây tùng, cây thông quanh năm màu lá xanh ngắt, một màu xanh không mất đi giữa mùa Ñông giá tuyết, tạo thành một bức tranh thiên nhiên vĩ đại, màu sắc hài hòa, tươi thắm…Và đi giữa cái lạnh đầy hoa như thế có mấy ai không nhận ra một sức sống êm đềm gợi cảm này ? Thỉnh thoảng tôi dừng xe, ra ngoài đi bộ ngắm nhìn như muốn ôm hết phong cảnh tuyệt vời này vào lòng. Du khách có thể đi theo những con đường đất nhỏ dẫn qua ngọn đồi để vào rừng . Nơi đây có những cây thông già cao vút phía dưới chen chúc những loại cây thấp hơn quấn đầy dây leo, rừng lá thứ lớp tạo thành những tầng cao thấp nhấp nhô sinh động một sức sống nương tựa nhau, duyên khởi nhau mà tồn tại từ đời này sang đời khác có đến hàng ngàn năm làm nên một khu rừng nguyên sinh hiếm thấy giữa một xã hội phồn hoa. Nhưng một xã hội phồn hoa, con người lại biết tôn trọng rừng gần như tuyệt đối bởi dấu vết giày xéo, chặt phá, tàn hại không hề xảy ra. Luật pháp bảo vệ cho những khu công viên như thế được toàn dân thi hành một cách triệt để , vì thế mà những thảm thực vật mang tính nguyên thủy trở thành bài học thực tiễn cho những thế hệ khác nhau trong đó thế hệ còn đang cắp sách đến trường rất được coi trọng. Trên những lối đi vào rừng lá khô phủ một lớp dày tạo nên một thứ âm thanh xào xạt dưới mỗi bước chân đi. “Anh có nghe mùa thu lá thu rơi xào xạt, con nai vàng ngơ ngác, đạp lên lá vàng khô” (Thơ Thế Lữ). Ô hay ! phải chăng trước không gian núi rừng thơ mộng này tôi đã trở thành con nai vàng ngơ ngác đang đạp lên lá vàng khô? Vâng, trong chừng mực nhất định của khoảnh khắc thời gian mỗi bước chân tôi đi qua không khác với bước chân của con nai vàng kia vậy! Thôi chừng ấy hạnh phúc cũng đủ sống nốt với quảng đời lưu lạc còn lại của mình. Đơn độc trong bầu không khí tịch vắng của “rừng thiền”, một cảm xúc nhẹ nhàng thanh thoát trong tôi dâng trào lai láng, cảm nhận ra cái thâm u, huyền nhiệm của núi rừng sao mà hùng vĩ đến thế. Tôi như đang lắng nghe tiếng nói của cỏ cây, đang phơi phới trải rộng linh hồn lên sự sống và đang thoả hiệp cùng với đất trời gìn giữ một giang sơn cẩm tú quanh hồ Washington . Chính vẽ đẹp tuyệt vời của nó là thanh gươm bảo vệ nó trước thời gian và chế ngự được mọi dã tâm của những ai muốn tàn phá huỷ diệt rừng. 

Chưa hết, ven sườn đồi còn có những thảm cỏ xanh mượt, một màu xanh tổng hợp sắc nước hương trời của mùa Thu, khác với màu xanh của mùa hè ngập nắng thiếu nước làm cho sự quang hợp hụt hẩng màu của cỏ cây. Tôi bắt gặp nơi thảm cỏ những chú thỏ lông màu trắng, đen, vàng hay màu tro, đang gặm cỏ một cách thanh bình. Đây là những chú thỏ do các Phật tử mua để phóng sanh trong dịp lễ Vu Lan hay Phật Đản. Hình ảnh các chú thỏ đã khiến tôi gợi nhớ. Ngày ấy, vía Bồ tát Quán Thế Âm 19 tháng 6 cách đây mấy tháng, nhằm ngày Thứ Bảy, sau thời kinh sáng 5 đến 6 giờ ở chùa, như thường lệ, tôi cùng một số Phật tử lái xe đến khu đồi Seward Park ngó xuống hồ Washington để thiền hành.Chúng tôi đi trong im lặng, thở đều theo nhịp bước hay niệm Phật quanh khu đồi khoảng 5km thì cũng vừa chừng một giờ. Hôm ấy có các Phật tử Đức Hiền, Diệu Dư, Tâm Thủy, Nhật Chí Thành, Nguyên Hòa và Quảng Hiền (QH là lính hải quân Mỹ,) thường cuối tuần về chùa sinh hoạt, mặc dù ở tận bán đảo xa xôi hơn một giờ lái xe. Sau giờ thiền hành, chúng tôi ngồi trên những chiếc băng đối diện nhau qua chiếc bàn gỗ đặt

bên bờ hồ. Lần nào cũng vậy, Nhật Chí Thành thật chu đáo lấy ra các thứ mang theo: hai phích nước sôi, gói trà ngon, mấy hộp bánh, thế là đủ cho buổi điểm tâm rất thú vị trong thiền vị cạnh Washington Lake. Một sáng Thứ Bảy đầy ấp tình người, tình đạo như thế há không đáng nhớ để đời hay sao?

Sau đó chúng tôi lái xe đến chợ trời để mua chim và thỏ phóng sanh, đây là một mảnh đất rộng, mỗi sáng Thứ Bảy hàng tuần những người ở nông trại chăn nuôi súc vật lái một chiếc xe vận tải lớn chở các con vật họ nuôi đến đây để bán, nhiều nhất  là gà, vịt, thứ đến là các thứ chim và thỏ. Thấy hai lồng thỏ cả mẹ lẫn con trên mười lăm con lông màu xám, màu trắng, nâu, đen… rất dễ thương, chúng tôi góp tiền lại mua hết giá 110$ trung bình giá mỗi con thỏ lớn 8$ con nhỏ 5$. Người bán cho mượn lồng chở về chùa để phóng sanh. Tất cả chúng tôi muốn những chú thỏ xinh đẹp này sống trong vườn chùa. Thế là mười lăm chú thỏ được ra khỏi chiếc lồng chật hẹp. Đã “cỡi trói” nhưng  mấy chú thỏ vẫn không chạy thoát thân cứ nằm yên, ngây ngô nhìn quanh như để tận hưởng cái hạnh phúc đã được cứu sống cũng như để định tâm nhìn kỹ những ân nhân…? Chúng tôi phải ôm đặt chúng vào mấy đám cỏ dưới chân đồi, một kho lương thực dành cho chúng khi chúng hồi đầu. Lòng tham cái đẹp thầm nhũ rằng : Từ đây những chú thỏ xinh đẹp dễ thương này sẽ làm cho vườn chùa Cổ Lâm đẹp như vườn Lộc Uyển… Nhưng một thực tế khác hẳn : Sáng hôm sau tôi dậy sớm ra vườn ngắm nhìn cái đẹp ấy thì hởi ôi vườn sau đám thọ vàng đang khoe sắc hứa hẹn cho một mùa Vu Lan tròn đầy hiếu thảo đã tan tát dưới bộ gậm nhấm của những chú thỏ phóng sanh kia. Nhìn chúng với đôi mắt tròn xoe, láu lỉnh khiến trong tôi cái biên tế ân oán hình như nhòe nhoẹt mất đâu rồi…nhưng tôi cũng kịp nhủ rằng :“nhát như thỏ mà cũng lanh như thỏ” có gì phải phiền với cái bất tất đầy nghịch lý này! Vấn đề là phải lấy chữ nhẫn để đối trị chính ta cũng như cái khác…

 Phải mất mấy hôm đem hoa ở mảnh vườn trên đồi cao xuống dậm lại vườn dưới rồi vây bọc lưới sắt bảo vệ hoa khi chưa thu hồi những chú thỏ xinh đẹp kia. Việc thu hồi cũng không phải dễ, phải mất cả tuần lễ tôi với hai em Nguyên Hiền (Micheal) và Minh Thiện mới triệu vời hết mười lăm chú thỏ vào hai lồng cũ rồi nhanh chóng đưa đến đồi  Seward Park trao trả lại cho rừng và lần tái phóng sanh này bản tánh nhanh như thỏ của chúng không chê vào đâu được …

Mỗi lần có dịp ra bờ Wasghington Lake, tôi thường đến những nơi đã phóng sanh để thăm lại mấy chú thỏ. Bây giờ đi dạo quanh đồi Seward nầy bạn có thể nhìn thấy hàng chục chú thỏ đang gặm cỏ hai bên đường, nhưng không ai bắt chúng được đâu, vừa đến gần là chúng nó chạy trốn vào bụi rậm. Trên cây thì có những con sóc màu xám và những đàn quạ đen bay liệng la hét om sòm, chỉ có những chú chim hải âu màu trắng và lam thì im lặng bay liệng chập chờn trên mặt hồ để kiếm mồi, trong hồ còn có những đàn vịt hàng trăm con bơi lội khắp nơi. Mỗi khi có người nào đến vất thức ăn ra cho thì vô số những con chim khác bay lại xúm xít nhau ăn. Riêng những con hải âu thì mạnh dạn sà xuống sát tay người để mổ những hạt bắp, đậu hay những miếng bánh mì… Hình ảnh  này nói lên được lòng từ bi một khi được thể hiện thì lập tức sức sống yêu thuơng hòa thuận và thanh bình xảy ra giữa ta và tha nhân một cách sinh động. Cầu mong sao thế giới hòa bình, chúng sanh biết sống hòa hợp thương yêu như thế để cuộc đời bớt khổ đau hỗn loạn… Con người một khi biết trở về sống hòa mình với thiên nhiên, biết thưởng thức kho trời vô tận, không để cho lối sống thời thượng chi phối sâu nặng vào đời sống

hướng thiện thì bao hệ lụy triền phược sẽ giảm thiểu một cách đáng kể khiến thân tâm  cảm thấy an nhàn tự tại trước một thiên nhiên thuần hậu giàu tính từ bi như phong cảnh quanh hồ Washington nói riêng này vậy. Tạ ơn ! không còn là của riêng ta và năm tháng còn lại của đời, công đức ấy, tình người ly hương ấy, cỏ cây ấy… sẽ thấm đượm trong ta những hương vị ngọt ngào và trên lộ trình đi về Đất Nước Hoa Sen, tâm thức ấy sẽ là nhân lành quyết định cho ta một sự sống. 

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!

           Seattle, Thanksgiving Holiday.

   9/ Tu Viện BIRKEN .

(Birken Forest Monastery)

Sáng thứ sáu John Roberts đến chở tôi đi tham dự khóa tu 3 ngày tại Tu Viện Birken ở thành phố Kamloops, British Colombia (BC.), Canada. Tu Viện nằm trong cánh rừng trên một cao nguyên cao hơn 4000 feet, Cách thành phố Seattle, WA. độ 400 miles.

Trời vào Thu, hai bên đường những cây phong (maple) chen giữa rừng tùng, thông, lá đổi sang màu vàng lẫn với những cây có lá màu tím hay đỏ. những con suối bên sườn núi hai bên đường bây giờ bắt đầu có nước chảy sau mùa hè khô cạn, nhờ mấy trận mưa đầu mùa thu. Có những nông trại trồng bắp, trồng cỏ để nuôi bò và ngựa, trồng các loại dâu (blue

berry) rộng hàng trăm mẫu, những đàn ngựa vài trăm con, và những đàn bò nuôi để lấy thịt hay vắt sữa… Có những dãy nhà dài nuôi hàng chục ngàn con gà, heo để bán cho các xưởng sản xuất thịt gà, heo, bò …

Nhu cầu về thịt càng nhiều các nông trại nuôi súc vật càng phát triển, tuy ở miền quê mà họ xây những biệt thự cao sang đầy đủ tiện nghi, với những xe hơi, máy móc, dụng cụ tối tân để chăn nuôi, làm thịt  cất giữ và chuyên chở.

Có vài nông trại trồng lúa mì và cây ăn trái ngoài xe hơi còn có mấy chiếc máy bay nhỏ để geo giống và rải phân hóa học nữa, những giàn máy tưới nước khổng lồ rãi rác khắp cánh đồng lúa mì, bắp, trái cây rộng mênh mông.

Càng xa thành phố, xe càng chạy lên những đèo, dốc cao hơn, hai bên đường là những thảo nguyên có những đàn bò hay ngựa lang thang gặm cỏ, những cái hồ rộng chạy dọc theo đường cái, bên bờ hồ thỉnh thoảng có những trại nghỉ mát, nhiều người đến đây bơi thuyền, câu cá, nghỉ ngơi cuối tuần. Có vài ngọn núi hình dáng lạ lùng, không có cây cối gì, chỉ thấy những tảng đá màu đen hay trắng khổng lồ, láng bóng phản chiếu ánh sáng mặt trời, cũng có những khe núi nứt ra một đường sâu và dài như là bị động đất vậy. Những cây thông chịu đựng mọc cheo leo bám theo sườn núi thẳng đứng, vậy mà mưa bảo không bị ngả. Và trên trời những làn mây xám bay lang thang về nơi vô định…

Sau 6 giờ lái xe, chúng tôi bắt đầu thấy dấu chỉ đưòng vào Tu Viện Birken, chạy quanh co theo một đoạn đường đất 10 miles, giữa rừng thông mới đến nơi,

Ra khỏi xe, thở không khí mát lạnh của miền đông bắc BC. Canada. Tưởng chừng như đã lên gần miền bắc cực (north pole), bầu trời nhiều mây xám, những làn gió lạnh thổi xoay chiều… Tôi nhìn quanh, thầy bên cạnh bãi đâu xe là một tòa nhà 3 tầng, mái lợp tole màu xanh lá cây, vách bằng cây gỗ màu nâu, những cửa sổ lớn bằng kính trong suốt, rãi rác trong vườn có những tịnh thất nhỏ cá nhân, mái màu đỏ nổi bật giữa màu xanh cây lá.

Người đâù tiên chúng tôi gặp là anh Bruno, một thanh niên người Mỹ, tôi đã quen biết tại Seattle, sau một thời gian nghiên cứu Phật giáo, Bruno xin nghỉ việc và  đến tập sự tu tại đây, Bruno ngạc nhiên, vui vẻ chào đón và dẫn chúng tôi vào Thiền đường gặp thầy viện chủ Ajahn Sona là một người Canada, đệ tử của thiền sư Achan Chat, Thái Lan, có tu viện lớn trong rừng (forest monastery) tu thiền nổi tiếng, nhiều người Mỹ và ngoại quốc đã đến xuất gia tu tập ở đây. Một sư cô người Thái Lan, là Sister Mon, trước đây có đến thăm chùa Cổ Lâm, bây giờ cũng gặp lại đây, mọi người tiếp đón niềm nở, hướng dẫn chúng tôi mỗi người về phòng riêng của mình ở trong khóa tu này. Theo truyền thống Theravada, chỉ ăn một bữa trưa chính thức, còn buổi sáng và chiều chỉ uống nước trái cây, sữa và ăn ít bánh ngọt. Ngoài những buổi tụng kinh, ngồi thiền, pháp thoại, pháp đàm, và ăn uống tại thiền đường, mỗi thầy có một tịnh thất riêng về ngủ nghỉ và tiếp tục ngồi thiền hay học kinh tại đó. Những cư sĩ đến tu thì ở tầng hai của thiền đường trong những dãy phòng sát nhau, mỗi phòng có tiện nghi tạm đủ. Mọi người đều có ý thức tuân theo nội quy khóa tu của tu viện. Đặc biệt hai bên hành lang, trong phòng ăn, có những câu nhắc nhở mọi người giữ im lặng (Please Quiet), đi lại nhẹ nhàng (Walk gentle please). Trên bàn trong mỗi phòng đều có lời hướng dẫn, giới thiệu về tu viện, những tập sách phật pháp nhỏ, và thời khóa tu tập hàng ngày.

Daily Schedule:

5:00.am            Wake-up bell  (chuông báo thức)

5:30 – 6:30.am   Meditation     (ngồi thiền)

7:00-  8:00.am  Light Breakfast (informal meal) (ăn sáng nhẹ)

8:00- 11:  am.   Light duties or practice (silence) (làm việc im lặng)

11: - noon         Main meal (formal, in silence) (bữa ăn chính, im lặng)

12: - 1:00.pm    Meal clean up, personal interviews with the Abbot.

                         (dọn dẹp, rửa chén bát, cá nhân thưa hỏi với viện chủ)   

1: - 4:00.pm.    Group or personal meditation, or work practice

                         (ngồi thiền chung hay cá nhân, thực tập)

4:30 – 6.pm      Tea break (Dhamma discussion, Qs & As, readings)

                        Thiền trà (Pháp đàm, vấn đáp, đọc sach)

6: - 7:00.pm      Walking (silence)

                          Thiền hành   

7: -8:00.pm       Meditation and chanting

                         Tụng kinh và ngồi thiền.

8: -9:30.pm       Individual practice in silence (occasional Dhamma talk)

                         Cá nhân thực tập im lặng, hoặc Pháp thoại.

10.pm …          Sleeping.  Ngủ nghỉ.

    Mỗi thầy đều ở trong một cốc riêng, chỉ sinh hoạt chung vào giờ ngồi thiền, tụng kinh, pháp thoại, pháp đàm và ăn uống.

Đây là thời khóa tu hành hàng ngày của quý sư thường trú gồm những tu sĩ người Canada và người Mỹ. Thỉnh thoảng có những vị sư người Thái Lan, Trung Hoa, Nhật Bản hay Tích Lan… biết tiếng cũng đến ở lại tu, thầy Trú Trì người Canada vui vẻ nói rằng thầy sẵn sàng mời quý tu sĩ muốn có nơi yên tịnh tu hành thì cùng đến đây. Phật tử cư sĩ thì có thể đến trong những khóa tu 3 ngày, 1 tuần, 10 ngày mà thôi, cũng hiếm người có thể ở tu lâu dài nơi chốn cô liêu thanh tịnh nầy được, vì ở đây không khí hoàn toàn yên tịnh, từ trong chùa ra ngoài vườn, ít có nghe tiếng cười nói chuyện trò ồn ào vui nhộn như nơi phố thị. Đặc biệt 3 tháng mùa Đông, tuyết phủ khắp cả núi đồi, không có ai đi lại được, các sư có khóa tu Kiết Đông, an cư 3 tháng tu tập hoàn toàn tu tập trong cảnh yên tịnh.

Mỗi tuần tu viện đi chợ 1 lần, lái xe về phố mất 1 giờ mới đến nơi, để mua thực phẩm dự trử cho cả tuần, chỉ mua sắm đồ ăn chay. Tôi có hỏi nhà bếp có khi nào các thầy ăn mặn không? Họ trả lòi, thỉnh thoảng có vài phật tử ngưòi Lào, Campochia, Thái Lan đến chùa, theo truyền thống  họ không biết ăn chay nên thường đem thức ăn thịt cá đến cúng dường quý thầy. Điểm khác biệt giữa phật tử Nam tông và Bắc tông là đây, quý thầy Nam Tông không dạy cho phật tử nên ăn chay, tránh ăn cá thịt càng nhiều càng tốt để bớt nghiệp sát sanh, tốt cho sức khỏe và nuôi dưỡng lòng Từ Bi… Đa số những tu sĩ Mỹ, Canada và tây phương đều thích ăn chay, có lẽ về sau họ sẽ nói thẳng cho mọi người biết mục đích tốt đẹp của sự ăn chay… Giữ cho cảnh già lam được thanh tịnh nhất là trong nhà bếp không có mùi tanh hôi cá thịt, mà những người quen ăn chay lâu ngày cảm thấy khó ngửi… 

Ý nghĩa tốt đẹp biết bao bài Chú Nguyện trước khi ăn:

Meal Blessing

Mindfully reflecting

“I take this food not for fun, not for sporting, not for beautification,

Only for the maintenance of the body,

For living the holy life,

Relieving feelings of hunger,

Not inducing new feelings of discomfort from overeating.

The food is made of mere elements devoid of self

Just as the body is made of mere elements devoid of self.

Four things return to one who gives food :

Long life, strength, beauty and happiness.”

Lời Chú Nguyện Trước Bữa Ăn

Quán Tưởng:

“Tôi dùng thức ăn nầy không phải vì thích thú, 

vì luyện tập thân thể hay tô điểm sắc đẹp. 

Mà chỉ để nuôi sống thân thể.

Để sống cuộc đời thánh thiện,

Làm êm dịu cảm giác đói khát,

Không tạo ra những cảm giác khó chịu vì ăn nhiều quá.

Thức ăn chỉ được làm bằng những yếu tố không có bản ngã

Cũng như thân nầy được tạo thành chỉ bởi những yếu tố không có bản ngã.

Người cúng dường thúc ăn sẽ được bốn điều nầy: 

Sống lâu, sức khỏe, xinh đẹp và hạnh phúc.”

 Sau bữa ăn trưa thứ bảy, tôi gặp một thầy Dhammadaso người Tân Tây Lan (New Zeland) còn trẻ bị đau dạ dày, tôi thấy thầy còn trẻ dễ thương mà bị đau không ăn cơm được, nên đến gần để nói chuyện, tôi đưa tờ giấy viết bài chú nguyện trước bữa ăn ra và chỉ 2 câu nói rằng thức ăn chỉ là vật chất không có ngả, thức ăn đó tạo thành cái thân xác nầy cũng không có ngã (the food just as the body…. devoid of self)

vậy cái gì cảm thấy đau? Chỉ vì chúng ta mê lầm cứ tưởng rằng cái thân nầy là Ta là Của Ta, chấp chặt lấy nó… sợ mất nó, cho nên có đau khổ, phiền não. Mục  đích tu hành là tìm ra Bản thể, Phật tánh, hay Chân Tâm (Nature Mind, True Self), nhận rõ cái thân xác này chỉ là vật phụ thuộc, nó không phải là ta hay của ta, ta chính là ông chủ của thân nầy, nó như chiếc xe mà ta là người lái xe, như cái áo mà ta là người mặc áo, ta điều khiển chiếc xe, ta có thẻ thay chiếc áo, chứ không phải bị chiếc xe , hay chiếc áo điều khiển sai khiến ta làm theo ý nó muốn, thâỳ ngồi thiền làm sao để tách cái thân ra khỏi cái chân tâm của mình, làm chủ được cái thân có như vậy mới hết khổ đau, phiền não… có phải vậy không? Thầy Dhammadaso mĩm cười và cảm ơn, thầy hỏi địa chỉ chùa Cổ Lâm và hẹn sẽ đến thăm và nói chuyện tu tập… làm sao cho đạt được mục đích làm chủ mình trong lúc chết, không sợ hải, không đau đớn…

Pháp Đàm (Dhamma discussion)

Chiều thứ 7 có buổi pháp đàm từ 4:00pm đến 6:00pm.

Có 2 phật tử người Canada tên Katheline và Soma, hỏi tôi rằng - Thầy Kim tu theo pháp môn nào? 

Tôi trả lời rằng: trước hết xin phép quý thầy cho tôi được trình bày cách tu hành theo truyền thống Đại Thừa (mahayana), tại Trung Hoa cũng như Việt Nam đa số phật tử ngày nay tu theo pháp môn Tịnh Độ. Dù rằng trước kia rất nhiều vị thiền sư Việt Nam và Trung Hoa tu thiền chứng quả, nhưng về sau hoàn cảnh môi trường và khả năng con người phước trí đều yếu kém ít có những bậc thượng căn thượng trí xuất hiện nên không đủ sức tu hành thiền định cho có thể nghiệm tâm linh, không chứng quả để có thể trong một đời giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, nghĩa là tự lực không thể giải thoát nổi, thường bị ô nhiễm bởi vật dục thế gian, bị mê hoặc bởi tài sắc, danh lợi… vậy nên không thể nào tự mình bơi qua bờ bên kia của biển sanh tử khổ đau phiền não …! 

Ngay như Ngẫu Ích đại sư, tổ thứ 9 của Tịnh Độ Tông, đã từng nhập thất tu thiền, và chuyên nghiên cứu và hành trì giới luật rất tinh tấn, vậy mà cũng than rằng tại Trung Hoa từ đời Tống về sau không có tỳ kheo nào có thể giữ trọn oai nghi giới đức, mà chỉ  có hình thức bề ngoài thôi còn thực chất thì chỉ có thể hành trì ngũ giới và thập thiện thôi! Do đó chính ngài tự nhận mình là Sa Di Bồ Tát giới xuất gia, không dám xưng là tỳ kheo! Còn 2 đệ tử của ngài là Hoằng Nhất đại sư và  Thành Thật pháp sư cũng tự xưng là Xuất gia Ưu bà tắc, chứ không nhận là tỳ kheo, huống gì là vọng cầu những danh hiệu địa vị cao khác. Thời cận đại Ấn Quang đại sư lấy hiệu là Thường Tàm, là vị tổ thứ 13 của Tịnh Độ Tông, kiến thức cao siêu, trì giới tinh nghiêm, giữ mình kiệm ước, đệ tử tại gia có đến ba trăm ngàn, đặc biệt ngài không nhận đệ tử xuất gia, vì xét thấy thời mạt pháp người xứng đáng với bổn phận xuất gia rất hiếm, nên không muốn gây nhiều hệ lụy, và ngài không bao giờ khuyến hóa, bởi thẹn thấy nhiều kẻ vì lợi danh mà làm mất sự thanh khiết của nhà tu…(trích Liên Tông Thập Tam Tổ).

“Rằng hay mà thực chẳng hay,

Càng cao vọng lắm càng cay đắng nhiều! 

Gặp hồi chánh pháp tiêu điều. 

Ma vương ác quỷ lông kiêu hoành hành!

 Làm cho thế giới tan tành, 

Gây bao khổ nạn tranh giành lợi danh.  

Thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh,

Ai người hiển Thánh, tài Thần cứu cho.

Dân đen đói, Ngài cứ no…

Bao nhiêu quyền lợi để cho một Phường.

Nhân danh Bác Ái Tình Thương

Buôn thần bán thánh tìm đường góp gom.

Lên mặt rao giảng om sòm

Bề ngoài bóng láng, tối om tâm hồn.

Còn trời còn nước còn non

Còn Nhân còn Quả người còn trả vay.

Một mai thân xác đọa đày

Thần thức chịu khổ biết ngày nào ra!

Trầm luân mãi chốn ta bà

Làm sao sáng Đạo Thích Ca nhiệm mầu!”

 Vậy chúng ta phải làm sao đây?

Thật ra đức bổn sư Thích Ca, bậc đại giác Thế Tôn, đã thấy cảnh huống nầy   và để lại cho chúng sanh pháp môn dễ tu dễ chứng thích hợp với mọi căn cơ và thời đại này, đó là

pháp môn Tịnh Độ, được lưu truyền lại trong ba bộ kinh chính là: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ, rãi rác trong các bộ kinh khác như Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Lăng Nghiêm… đều có nhắc đến cõi Tây Phương Cực Lạc Thế Giới của đức Phật A Di Đà, trình bày công hạnh và đại nguyện độ sanh của đức Phật A Di ĐÀ còn làm Bồ Tát và cũng dạy rõ phương pháp tu hành để được vãng sanh về Tịnh Độ. Bất cứ ai thành thật nhìn lại suy xét khả năng, đạo đức, trí tuệ, sức khỏe của chính mình, để xem thử căn cơ mình xứng hợp với pháp môn nào như tu thiền, tu mật hay niệm danh hiệu Phật… làm sao để cho đến khi đời nầy kết thúc có được kết quả tự tại trong giờ phút lâm chung, không âu lo, sợ hãi mà sáng suốt bình tĩnh ra đi, làm sao để:

“Biết trước giờ chết, Thân không bịnh khổ, Tâm không tham luyến…”

Đọc lịch sử của các bậc tu hành chứng đắc, nhận thấy rằng các vị ấy một khi gặp được minh sư chỉ cho phương pháp đúng đắn liền vào ẩn tu trong núi rừng, hang động, xả li hết mọi sự, quên cả thân mạng, đặt hết tâm trí súc lực vào công phu tu hành, suốt hai ba chục năm trời khó nhọc mới hoàn thành đạo quả, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, tử sinh tự tại… Những ai có bản lãnh như vậy mới xứng đáng bậc thánh nhân báo đền ân Phật.

Nếu tự thấy mình không có bản lãnh, thiếu phước nghiệp nặng, thì nên chọn pháp môn Tịnh Độ, phát tâm tin tưởng lời dạy của bổn sư Thích Ca Mâu Ni, đã có lời giới thiệu và chỉ dẫn cách tu hành hàng ngày chí tâm niệm danh hiệu của Phật A Di Đà, cho được nhất tâm, phát nguyện câù vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc, được gần Phật A Di Đà và chư thánh chúng, có hoàn cảnh tốt đẹp thuận lợi cho việc tu tập giải thoát, không còn bị thối chuyển, vừa tự lực vừa tha lực hỗ trợ nên dễ dàng vượt qua biển khổ, như người được ngồi thuyền mà qua sông vậy…  

“Sống trong thế giới điên cuồng,

Lòng người điên đảo đóng tuồng giỏi giang.

Hoàn cảnh xã hội bất an,

Tai ương hoạn nạn lan tràn khắp nơi…

Người là Chó Sói với người,

Cướp ngày móc túi ngập trời gian tham.

Nói hay nhưng chẳng chịu làm,

Sống trong nhà lửa mà ham hố gì?

Khác gì những kẻ mê si,

Ăn xôi chịu đấm kể gì mai sau.

Tương lai rồi sẽ về đâu!!!”

Thưa quý vị! Đứng trước thảm trạng nầy chúng ta phải làm sao, mọi thứ cầu nguyện, tài năng, quyền lực, giàu sang, văn minh khoa học và cả sự gian manh, đảo điên lường gạt, mê hoặc người và tự mê hoặc mình, không làm sao cứu vãn được đời sống con người thoát khỏi nổi lo âu sợ hãi, thoát khỏi sự bất an ngày đêm đe dọa… Vậy đức Phật và chư vị Thánh tăng dạy chúng ta phải áp dụng pháp môn niệm Phật, một lòng tin tưởng Đại Nguyện của đức Phật A Di Đà sẵn sàng cứu độ chúng sinh trong lúc sống cũng như lúc qua đời, miễn sao chúng ta thành thật thấy rõ nổi đau khổ hiểm nguy của sự sống chết, và muốn giải thoát khỏi biển đau khổ triền miên nầy, từ đó dùng câu niệm hồng danh “Nam MÔ A Di Đà Phật!” như là một câu thần chú linh nghiệm thay thế cho những tư tưởng bất thiện dấy lên trong tâm trí, bất cứ đi đứng, nằm ngồi, lúc nào và ở đâu cũng nhớ niệm

Phật, mỗi hơi thở ra hít vào đều nhớ câu niệm Phật, niệm có tiếng hay niệm thầm cũng được, làm sao cho tâm mình luôn luôn nhớ Phật A Di Đà như là con thơ lạc Mẹ, chỉ một lòng gọi Mẹ đến cứu. Niệm lâu ngày như thế chúng ta tạo ra một nghiệp lực, là sức mạnh của tâm niệm Phật, đến lúc được Nhất Tâm Niệm Phật thì mọi sự quên hết, thân tâm quy về một mối, vậy là Nghiệp Vãng Sanh đã thành, đâu còn sợ hãi Tử Thần nữa, chúng ta an lành vui vẻ ra đi về cõi Lạc Bang, về với đức Từ Phụ A Di Đà và thiện hữu tri thức, trong đó có bà con quyến thuộc và bạn bè đồng tu của mình, tại đây mọi người nhờ thần lực gia hộ của Phật và Thánh chúng, mọi ác nghiệp phiền não rũ sạch, thân tâm thanh tịnh, chỉ một mực an ổn tu hành cho đến ngày thành chánh quả, đầy đủ đạo lực, trở lại ta bà cứu độ chúng sanh, thực hành hạnh nguyện của chư Phật, Bồ tát, bấy giờ dù nguyện sinh ra ở đâu cũng không còn sợ vật dục, danh lợi trần gian làm ô nhiễm, không còn bị thối tâm lui sụt nữa…Có phải đó là mục đích của đời người, một cuộc đời đầy đủ ý nghĩa tự độ và độ tha. Chỉ mong sao chúng ta nhìn ra sự thật của cuộc đời, của chính mình để nhận chân được việc quan trọng nhất phải làm ngay giải quyết câu hỏi “Chết rồi đi về đâu?”.

Xin quý vị cùng tôi niệm Nam Mô A Di Đà Phật! 10 lần.

Sau đó có vài người đến hỏi tôi thêm về cách thực hành niệm Phật ở nhà như thế nào.Những phật tử tại gia tu theo truyền thống Nam tông không có bàn thờ Phật tại nhà. Tôi hưóng dẫn họ thiết lập một bàn Phật đơn giản, trong một căn phòng sạch sẽ yên tĩnh, có Hình, Tượng Phật A Di Đà chính giữa, hai bên có hoa quả và hương đèn nếu có thể. Mỗi ngày vào lúc sáng sớm và trước khi đi ngủ, đến trước bàn Phật đảnh lễ 3 lạy, đọc lời khấn nguyện cầu được vãng sanh, rồi ngồi xuống niệm danh hiệu Nam MÔ A Di Đà Phật, từ 1 xâu chuỗi 108 hột đến 10, .. hay 20 chuỗi tùy sức và thời gian mình có, rồi sau đó sẽ niệm nhiều hơn, trong lúc niệm Phật thì mọi sự quên hết, chỉ chú ý đến việc hiện tại là mình đang niệm Phật, những ý nghĩ khác dấy lên trong tâm thì để nó qua đi không cần chú ý đến, lâu dần sẽ quen với tiếng niệm Phật của mình và mọi chuyện đều lãng xa hết. Càng niệm nhiều càng tốt, làm sao cho mỗi ngày thời giờ mình nhớ Phật, niệm Phật nhiều hơn nhớ đến tiền bạc, việc làm, nhớ đến chuyện hơn thua, giận hờn , thương ghét, vui buồn… cho đến lúc trong giấc mơ ban đêm cũng nhớ niệm Phật là thành công. Chắc chắn lúc chết mình nhớ Phật và niệm Phật sẽ được tiếp dẫn về cõi An Lạc.

Không còn bị tái sanh vào thai bào nữa. Nhờ niệm Phật mà chúng ta nhớ lời Phật dạy đời là Vô Thường, Thân, Tâm, hoàn cảnh đều giả hợp không thật, không còn tham lam chất chứa, không chấp chặt vào Ta và Của Ta, biết dùng đức tính Từ Bi, Hỉ Xả, Nhẫn Nhục Nhu Hòa để cư xử với mọi người, sống như thế không phải là hạnh phúc sao! Có nhà sư người Tân Tây Lan ưa thích nói chuyện với tôi và mong sẽ đến chùa gặp lại, cũng có vài bà cư sĩ hẹn đến xin ở lại chùa một thời gian để tu tập theo truyền thống Tịnh Độ, mà xưa nay họ chưa từng nghe nói bao giờ. 

Trưa Chủ Nhật sau giờ Ngọ trai, thầy Sona tu viện trưởng, dẫn tôi đến thiền đuờng chỉ cho tôi thấy ngôi tượng đức Thích Ca ngồi trên tòa sen, bằng đá cẩm thạch màu trắng cao 1m60, giống như mẫu tượng Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, VN. thầy nói rất thích tượng Phật nầy hình dáng uy nghi rất là đẹp, rồi giới thiệu rằng tượng nầy do một phật tử người Việt Nam ở Washington DC. đến đây tham dự khóa tu, cách đây 3 năm. Khi về Việt Nam nữ phật tử nầy đã thỉnh tượng nầy gởi qua Canada cúng dường cho tu viện Birken. Thật là hy hữu! Lại còn cái bàn thờ mà tượng Phật đang ngồi ở trên cũng thiết kế rất đặc biệt do một kiến trúc sư người Việt Nam là anh Phạm kim Ngôn, con trai bác Phạm kim Khánh (người đã dịch nhiều kinh sách từ tiếnh Anh sang tiếng Việt) ở Seattle thường lên

tu ở đây và vẽ kiểu cho thợ mộc làm thành cái bàn thờ nầy, có rất nhiều ý nghĩa, gồm những thanh gỗ ghép lại với nhau không dùng đinh đóng, tầng trên hình vuông gồm bốn thanh gỗ tượng trưng Tứ Diệu Đế, tầng thứ hai có 6 thanh là Lục Độ, tầng ba có tám thanh là BÁt Chánh Đạo, tầng cuối gồm mười hai thanh gỗ ghép lại với nhau la Thập Nhị Nhân Duyên. Quả là đức Thế Tôn đang ngồi trên Giáo Pháp của ngài đã giảng dạy. Anh Kim Ngôn quả thật là một kiến trúc sư Phật tử tài ba và có đạo tâm vô cùng. Vậy là trong một tu viện của người Canada và người Mỹ tu hành mà có sự đóng góp rất nhiều ý nghĩa của người Việt Nam, như vậy chúng ta cũng đã đền đáp lại một phần ơn nghĩa của đất nước Canada và Hoa Kỳ đã giúp đỡ nhiều cho những người Việt Nam tha hương sống nhờ trên đất khách…. Và cò lẽ vì vậy thầy viện trưởng rất ân cần và nhiệt tình chuyện trò vui vẻ vớí tôi. 

Tầng dưới của tu viện có một thư viện để phật tử và quý thầy đến nghiên cứu trong giờ nghỉ tự học, gồm toàn là sách tiếng Anh, tôi hỏi thầy Sona, ở đây có phật tử người Việt đến không? Thầy nói là trong những khóa tu cũng có một số người Việt Nam đền tham dự, tôi hẹn là sẽ gởi lên tặng cho thư viện một số Kinh sách tiếng Việt, thầy vui vẻ chấp nhận, có như thế thì những phật tử tu theo truyền thống Nam tông mới có dịp hiểu biết thêm về Đại thừa, và khi bắt gặp pháp môn thích hợp như Tịnh Độ có thể giúp họ an tâm tin tưởng tu hành thuận tiện cho đời sống tại gia, chứ không thể nào vừa đi làm, vừa tu thiền mà chứng đắc được quả giải thoát nổi! Rất nhiều người đồng ý như vậy, họ đâu phải là những thiền sư xuất thế rũ bò tất cả sự đời “Vạn duyên buông hết!” chỉ có một mực tu hành mới mong đắc quả làm chủ được sinh mệnh, đa số người tây phương đọc sách thiền của Suzuki và những nhà nghiên cứu về thiền thấy pháp môn nầy hay quá, các thiền sư tu hành chứng đắc, sống tự tại giải thoát ngoài vòng cương tỏa của vật chất, lại có phép tắc thần thông, vây nên họ thích, nhưng ưa thích là một đằng, mà hoàn cảnh, tài sức của mình có thực hành được hay không là một đằng khác, sức lừa làm sao mang nặng mà chạy theo kịp ngựa được!  Đó là vấn để quan trọng cần ý thức với tâm trí chân thành và sáng suốt mới được.  Tôi nói với các nhà sư Mỹ và ông John, ở Mỹ các ông phải xây dựng một tu viện như vậy để giúp cho dân chúng và nhất là cho thế hệ trẻ có nơì nương tựa tinh thần, tìm ra lối sống đích thực có ý nghĩa, nếu không xã hội Mỹ sẽ rối loạn và dau khổ vô cùng mà không có người hướng dẫn để tìm ra lối thoát. Họ đều trả lời:-“Hy vọng một ngày nào đó ở Mỹ cũng có một tu viện như vậy”

Người tây phương sống theo khoa học, trước khi tin tưởng điều gì họ nghiên cứu kỹ càng, thông hiểu rồi mới thực hành một cách thành thật cho nên khi gặp được chân lý hiểu được những ích lợi tghiết thực của lời Phật dạy họ thực hành rốt ráo, chứ không làm qua loa cho xong chuyện, không nghĩ đến chuyện lợi dụng lòng tin của quần chúng để hưởng thụ cá nhân, mà họ chỉ nhắm đến mục đích giải thoát, đây là điểm để chúng ta những bậc gọi là đàn anh, đi trước, học trước, sống trong giáo lý đạo phật đã mấy ngàn năm phải thức tỉnh, nhìn lại chính đời sống tu sĩ của mình xem có xứng đáng là bực thầy, là đàn anh của những phật tử tây phương mới học hỏi được phật pháp trong thời gian ngắn ngủi không. 

“Gia tài châu báu ngọc ngà của đức Thế Tôn quý báu vô cùng, xin chấp nhận,

 đừng đem  đổi lấy những cát sạn trần gian!”

. Nam MÔ A Di Đà Phật!                            

  Seattle, September, 19, 2004. nk.

10/ MỤC  ĐÍCH  TU  PHẬT 

Nguyên Kim

“Trăm năm trước thì ta chưa có

Trăm năm sau có cũng như không.

Cuộc đời có có không không…”

Nhất tâm niệm Phật thoát vòng trần ai.

·    Không phải trăm năm trước cũng không phải trăm năm sau mà từ vô thỉ, vô chung, một vấn đề siêu hình được đặt ra  : Ta là ai? (Who am I ?) Ta từ đâu đến? Kinh điển từng khuyên, với vấn đề này thì không nên trả lời…Nhưng với vòng sanh tử luân hồi thì Vô minh là mắc xích đầu tiên. Nói khác hơn Thập Nhị Nhân Duyên là giáo lý nền tảng của Đạo Phật, nên có thể nói rằng : “Ta là kẻ Vô minh”, ‘Ta từ Vô minh mà đến’. Bởi thế, sau khi chết, thân Trung ấm vô minh luôn chiêu cảm nghiệp thiện hay ác và cái điều giảm thiểu khổ đau là tái sanh vào cõi trời hay cõi người. Vào cõi trời thì thân Trung ấm Hóa sanh (A-tu-la, Địa ngục, Ngạ quỉ tái sinh bằng hình thức này)  còn vào cõi người thì thân Trung ấm Thai sanh mà thai sanh thì theo kinh phải hội đủ ba yêu tố là tinh cha huyết mẹ và thức thân Trung hữu hình thành sau khi chết được dẫn dắt bởi nghiệp thiện hay nghiệp ác – Súc sanh cũng tái sinh từ hình thức Thai, Nõan hay Thấp sinh  chiêu cảm bởi nghiệp ác –  Khi hội đủ ba yêu tố ấy thì “Ta là vô minh, sanh ra từ ấy”... Hạnh phúc thay làm được thân người, bởi y xứ này là nấc thang để bước tiếp lên địa vị Thánh Hiền nếu đời sống trần lao biết tu niệm tạo ra nhân lành để từ đó thăng hoa  Tịnh độ hay được dự Tam Hội Long Hoa của Như Lai Di-lặc ở đời tương lai.

Khởi đầu từ vô minh nên trôi lăn trong kiếp kiếp khổ đau sanh tử và lấy đó làm vui, cái vui của tinh cha huyết mẹ phối giống, và biết bao dục lạc của thế gian nói không quá cũng được bắt đầu từ những khóai cảm đó. Từ đó mà ngôn ngữ, màu da, giai cấp, chủng tộc… tạo nên một xã hội tạp chủng, tạp xúc, tạp thọ, tạp khổ đau… Để thấy rõ vấn đề thì xin nêu ra đây Lý Duyên Khởi. Kinh Đại Duyên Phương Tiện trong Trường A-hàm 10 ghi như vầy : Nhân nơi si (vô minh) mà có hành, nhân hành có thức, nhân thức có danh sắc, nhân danh sắc có lục nhập, nhân lục nhập có xúc, nhân xúc có thọ, nhân thọ có ái, nhân ái có thủ, nhân thủ có hữu, nhân hữu có sinh, nhân sinh có đại họan : Lão, tử, ưu bi, khổ, não nhóm họp, đó chính là ấm duyên đại khổ này. Trong 12 chi, mỗi chi ở trước đều là nhân sinh khởi của chi sau, nếu chi ở trước diệt thì chi ở sau cũng diệt…”. Để giải thích rõ hơn, Luận Câu Xá nêu ra 4 cách giải thích :

1) Sát na duyên khởi : Tức khỏang một sát-na, trong tâm có đủ 12 chi, ví dụ như trong khỏang nháy mắt do tâm tham mà sát sinh thì ngay khi ấy trong tâm đầy đủ ngu si, vô minh.

2) Liên phược duyên khởi : Tức 12 chi này liên kết không gián đọan, hình thành quan hệ trước nhân sau quả.

3) Phần vị duyên khởi : Ví dụ như sự giải thích về hai lớp nhân quả trong ba đời thì 12 chi phần là quá trình biểu thị cho sự lưu chưyển sanh tử và trạng thái của hữu tình.

4) Viễn tục duyên khởi : Chỉ cho sự liên tục duyên khởi của 12 chi có thể cách xa đến nhiều đời. (Tham khảo từ TĐ Phật Quang)

Như vậy, sự tồn tại của thế gian này là sự trùng trùng duyên khởi của lý duyên khởi. Bởi thế, Kinh Tạp A-hàm 12 cho rằng Pháp duyên khởi là chân lý vĩnh hằng bất biến, Phật nhờ quan sát chân lí này mà được khai ngộ, đồng thời khai thị pháp này cho chúng sanh tu tập. 

Sự khai thị này mà quả vị Duyên Giác là kết qủa của tu tập Thập Nhị Nhân Duyên, nghĩa là tu quán sát hai chiều thuận nghịch của các pháp trong lý duyên khởi của nó, và từ sự tu tập ấy mà có thể xác quyết rằng :  

 “ Muốn biết nghiệp đời trước thì xem những gì hưởng thọ hiện tại. Muốn biết đời sau thế nào, hãy xem đời này tạo những gì…”   Y báo theo chánh báo mà xuất hiện…

Bởi không tu tập Lý này mà đôi mắt trần của chúng ta không trông thấy sự kết hợp và hình thành phôi đầu tiên, nằm trong cái bọc giữa máu huyết và chính máu huyết của bà mẹ, chính tánh tình, tập quán, chính nghiệp lực của mẹ tương tác lên con và ngược lại mà phôi kia lớn thành thai đầy đủ một con người để cuối cùng hơn chín tháng khóc chóe chào đời, “một khối vô minh” trở thành tác nhân hiện hữu của một lớp nhân duyên mới vận hành suốt một đời người cho đến đại họan Lão, Tử xảy ra…và chính vô minh lại hình thành một lớp duyên khởi khác, cứ thế mà tử sanh, sanh tử luân hồi miễn viễn suốt trong sáu cõi. 

“ Bao nhiêu năm vất vả một đời, Vinh nhục khen chê, Được mất khóc cười…”

Từ lúc ra đời , lớn khôn, học hành, làm việc trải qua biết bao cảnh vui buồn, sướng khổ, khỏe mạnh ốm đau, lo âu sợ hãi… Thân xác sẽ tàn tạ theo năm tháng, tuổi trẻ qua mau, bịnh tật , già yếu đến gần… Và cuối cùng tất cả mọi người, mọi sinh vật dù yếu hay mạnh, to lớn hay nhỏ bé đều phải Chết… Phải nhắm mắt xuôi tay từ giã tất cả  chồng, vợ, con cháu, của cải, gia tài sự nghiệp mà ra đi với hai bàn tay không…

Chính vì chi Vô Minh oan nghiệt ấy mà trùng vây cuộc sống bị trói buộc, mờ mịt trôi lăn…: Hiện tại sống mù mờ, không ai làm chủ được đời mình, sống chết khi nào không biết, cuộc đời cứ theo ngày tháng mà trôi dần vào nơi vô định, có phải không?

“ Que sera sera, What will be, will be will be.

The future’s not our to see.  Que sera, sera… What will be, will be will be…

Sống là Khổ, như trong Tứ Diệu Đế, Đức Phật đã dạy : “Đời là Khổ”…

 - “ Thoạt sinh ta thì đà khóc chóe

Trần ai có vui sao chẳng cười khì ?”

- Khổ từ bé đến già lúc xuống lỗ

Còn đeo theo cái khổ gỡ không ra…

-   Có phải là túc thế oan gia

-  Mang thân khổ tưởng là sung sướng mãi.

-  Mấy ai biết suy đi nghĩ lại

Cứ đua tranh khôn dại giữa ta bà.

Tưởng trăm năm xuân thọ còn xa

Đường sanh tử trẻ già đâu có chắc…”

Kết cuộc mọi người đều phải ra đi về cõi hư không vô tận. Một mình một bóng ra đi vào nơi xa lạ tăm tối hãi hùng

“ Tiền lộ mang mang vị tri hà xứ!” Đường trước mênh mang biết đâu bờ bến???”

“ Giờ chung cuộc về đâu ta có biết!”

Nghĩa là sau khi trải qua một đời người tuổi thọ có thể 50-60-80 hay nhiều lắm là 100 tuổi. Có mấy ai biết mình sẽ đi về đâu? Trừ phi những bậc tu hành có chứng nghiệm tâm linh, có thiên nhãn, có huệ nhãn mới ra đi tự tại, làm chủ được mình trong giờ phút lâm chung, mới thấy được đường đi lối về của mình, ngoài ra những hạnh phàm phu dù cho có nhiều bằng cấp cao, chức vị lớn, dù tài trí thông minh đến đâu, cũng chỉ là kẻ mù đi trong đêm tối tăm mù mịt mà thôi. Ngay cả những việc xảy ra trước mắt họ cũng đâu hiểu rõ nguyên nhân, hậu quả, ngày mai sẽ ra sao, sức khỏe thế nào, tai họa nào bịnh tật nào sẽ xảy đến, và nhất là thần chết sẽ đến đón khi nào ? Làm sao ai biết trước được điều gì.

Ngay như việc trước mắt, chỉ ngăn cách một bức tường, một tờ giấy mà phía bên kia có cái gì.. chúng ta cũng không biết. Sự thấy biết, nghe hiểu của chúng ta thường sai lầm, không đúng sự thật, chỉ ức đoán theo thiên kiến của riêng mình, cho nên gây ra bao nhiêu là đổ vỡ, hận thù…Chỉ vì không hiểu thấu sự  thật, không tự biết mình cho nên cứ lời qua tiếng lại…

“ Lời qua mà tiếng lại

Giải quyết mà chi đâu?

Sao không dừng lại

Kẻo hố mà thêm sâu…

Lời qua mà tiếng lại

Đưa ta tới đâu?

Sao không niệm Phật

Mỉm cười nhìn nhau…”

Như thế có xứng đáng là kẻ thông minh tài trí không, vậy có gì mà tự phụ kiêu căng , tự cao tự đại cho rằng TA là tài giỏi, cái gì ta cũng biết cũng hay… Nào ai biết tự nhận rõ cái vô minh tăm tối của đời mình:

“ Đệ tử chúng con từ vô thủy

Gây bao tôi ác bởi lầm mê.

Đắm trong sanh tử đã bao lần,

Nay đến trước đài vô thượng giác,

Biển trần khổ từ lâu luân lạc

Hôm nay trông thấy đạo huy hoàng

Xin hướng về núp bóng từ quang

Lạy Phật tổ soi đường dẫn bước…”

  Những ai chịu nhìn nhận thực tế, hiểu thấu chân lý cuộc đời là vô thường , mọi sự vật đều thay đổi trong từng giây phút, chẳng có gì là chắc chắn, chẳng có gì là Ta và  của Ta, ngay  cái thân xác mà ta tôn trọng quý báu, suốt đời bảo vệ, cung dưỡng nó, cũng chỉ là vật tạm bợ mong manh, thử hỏi cái thân thể bằng thịt xương máu mủ này là do đâu mà có? “ You are what you eat!” – là do thức ăn hàng ngày, nào cơm gạo, rau trái, thịt cá, rượu trà, bánh trái… Mà thức ăn từ đâu ra? Tất cả đều cấu tạo bởi “Tứ Đại” đất nước gió lửa. Mượn  đất nước , gió lửa gom lại thành thân, dùng một thời gian, thân này già yếu tan rã, rồi phải trả về cho cát bụi…

 “ Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.”

Thời gian lặng lẽ trôi qua thật nhanh, mới trưởng thành đầu xanh tuổi trẻ mạnh mẽ hăng hái bước chân vào đời, những mong dựng xây sự nghiệp, ngoảnh mặt nhìn lại thì thấy đầu xanh đã đổi ra màu bạc trắng, mấy mươi năm mà tưởng như mới ngày hôm qua…

 “Ôi nhân sinh là thế ấy

 Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao,

Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào

Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín…”

“ Cuộc đời có có không không.”

 Suốt cả cuộc đời con người chỉ chạy theo nắm bắt ảo ảnh, bóng dáng của hạnh phúc, mà hạnh phúc ở đời là gì ? Nào danh lợi, ái tình, tiền bạc, cơm áo…Nhưng  “ Càng cao danh vọng càng dày gian nan.” với lòng tham vô đáy, chẳng bao giờ con người thấy bằng lòng với hiện tại, và luôn luôn mong ước, vươn tới tương lai…nhưng tương lai đến cũng như hiện tại đã qua, cho nên họ luôn luôn bất mãn… luôn lo âu, lo lắng tìm cầu, càng có bao nhiêu càng khổ bấy nhiêu, chẳng bao giờ tìm thấy sự bình an tâm hồn, chẳng bao giờ sống những ngày vô tư thanh thản nhẹ nhàng…HỌ LUÔN LUÔN SỐNG TRONG LO ÂU SỢ HÃI…Ngày đêm lo bảo vệ mạng sống, địa vị, tài sản, danh dự, bảo vệ gia đình vợ chồng, con cháu… Bị ràng buộc với công việc, trách nhiệm…đâu có được ngày giờ sống tự do, thoải mái, như những người biết tri túc, biết sống cuộc đời giản dị, ít nhu cầu.

“ Dù nghèo mà vui, hỏi ai không hé môi cười…”

Có mấy ai được sống đời tự do hạnh phúc như thằng Bờm, gia tài cỉ có cái quạt mo thôi, mà chú Bờm nhà ta, ngày ngày vui với gió mát trăng thanh, với ruộng đồng lúa xanh bát ngát, lắng nghe chim hát, suối reo, ngắm nhìn bướm ong bay lượn, tha hồ thơ thẩn dạo chơi như một người vô sự…

“ Thằng Bờm có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu

Xin Ông xin đổi một xâu cá mè

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè.

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.

Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi

Phú ông xin đổi vắt xôi Bờm cười.

Phú ông là người phú quý, địa vị giàu sang, đời sống xem như sung sướng, đầy đủ mọi thứ, của cải, tiền bạc, nhà cửa , ruộng vườn, vợ con , tôi tớ phục vụ mọi nhu cầu. Tuy nhiên về phương diện tinh thần, ông vẫn cảm thấy không thật sự hạnh phúc, thường lo lắng nhiều chuyện nên không an tâm, không được tự do thoải mái, không được sự an nhiên thanh nhàn như đời sống thằng Bờm, là một chú mục đồng, chỉ có cái quạt mo phe phẩy trên tay, tháng ngày rong chơi nơi đồng ruộng, với lũ trâu bò thân thiết thật thà… Chẳng cần phải tranh đấu với ai, chẳng màng công danh sự nghiệp, sống cuộc đời vô tư chất phác, chẳng có gì để lo sợ, để bị hư hao mất mát.

“ Ai bảo chăn trâu là khổ. Chăn trâu sướng lắm chứ.

Ngồi mình trâu với ngọn cờ lau. Miệng ca hát nghêu ngao…”

  Mặc dù những người nghèo phải khó nhọc làm lụng kiếm ăn, khi no khi đói, nhà cửa, áo quần rách nát, họ có khổ về vật chất, nhưng đời sống tinh thần, họ ít lo sợ hơn, họ biết an phận nghèo nàn, sống đơn sơ đạm bạc… Họ không có cơ hội để gây tạo nhiều tội lỗi và ác nghiệp. Như vậy khi chết họ cũng nhẹ nhàng thanh thản ra đi, ít bị ràng buộc luyến tiếc tài sản, sự nghiệp… Xem như trả xong nghiệp, một đời chịu khổ xong rồi ra đi…

 “ Sống thì như khói chết như sương

Chẳng có gì để nhớ thương lưu luyến.”

Khác với hạng người giàu sang quyền quý, họ kiêu hảnh cảm thấy mình hơn mọi người, đời sống mình sung sướng bảo đảm hơn, địa vị cao hơn, quyền hành nhiều hơn… Dùng tài trí khôn ngoan của mình để chiếm đoạt tài sản, hạnh phúc của kẻ yếu thế hơn. Làm việc hết mình, quên ăn bỏ ngủ, để kiếm tiền, tích trử của cải… “ Phung phí sức khỏe để tích tiền của, rồi lại bỏ tiền ra để tìm mua lại sức khỏe. Quá lo lắng cho tương lai mà quên mất hiện tại, đến nổi không sống với hiện tại lẫn tương lai.Con người sống như thể sẽ không bao giờ chết… Nhưng rồi sẽ chết như chưa bao giờ sống.”   (Đức Đalai Lama.)

Tục ngữ có câu: “ Người giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột !”

·         Đây là cái khổ của người giàu sang, vì họ quá coi trọng mình, quá tham sống sợ chết, tham chấp cái hạnh phúc mong manh giả dối của trần gian, như kẻ mê muội tìm bắt bóng trăng dưới nước, kết cuộc chẳng được cái gì, chỉ chuốc khổ vào thân. Chỉ vì không được

gặp, được học Phật pháp để hiểu rõ chân lý Vô Thường, Vô Ngã, nên không áp dụng được đức từ bi hỉ xả vào cuộc sống hàng ngày. Không biết làm việc Thiện mở rộng lòng thương giúp người cứu vật… Tự đóng khung mình trong cái vỏ ngã chấp, không hưởng được không khí tự do giữa bầu trời cao rộng…

May mắn thay những ai được gặp thầy lành bạn tốt hướng dẫn đến với kho tàng quý báu của đức Thế Tôn còn lưu truyền lại, để học tập và ứng dụng vào cuộc sống, càng ngày càng đến gần bờ tự do giải thoát khỏi biển khổ luân hồi sanh tử.

Đức Phật nói đời là Khổ, nhưng Ngài chỉ cho chúng ta biết nguyên nhân của khổ và dạy phương pháp diệt khổ. Nếu ai biết vâng theo lời Phật để thực hành rốt ráo sẽ giải thóat khỏi vòng luân hồi sanh tử, đạt đến cảnh giới an lạc hạnh phúc chân thật:

“ Thường Lạc Ngã Tịnh.” và cũng được Giác Ngộ thành Phật ...

Muốn được như vậy phải…Quy Y Tam Bảo, thọ trì giới cấm và thực hành theo lời Phât dạy.

Thế nào là quy y  Tam bảo?

-     Quy là quay về, trở về.   Y là nương tựa.

-     Tam bảo là Ba thứ quý báu nhất thế gian, đó là Phật, Pháp, Tăng.

+ Thế gian Tam Bảo :

Đức Phật là ngôi báu thứ nhất:

- Hiện tại Phật đã nhập diệt, chúng ta chỉ còn thấy hình ảnh của Phật qua những tượng bằng đất, đá, đồng hay ngọc, cũng có những tranh vẻ Phật, tùy theo trình độ và quốc độ của người họa sĩ hay người điêu khắc tượng mà có hình ảnh khác nhau, tất cả đều là tượng trưng cho đạo đức trí tuệ của đấng giác ngộ. Đây là phương tiện để nhắc nhở chúng sanh tưởng nhớ đến cuộc đời phi thường của đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Pháp là ngôi báu thứ hai :

Đó là Ba tạng kinh điển ghi chép lại lời Phật giảng dạy trong 49 năm còn tại thế. Tu tập theo Pháp Phật thì sự chứng ngộ, giải thóat được khổ đau của vòng sanh tử 

Tăng là ngôi báu thứ ba, là những người xuất gia tu hành tinh tấn gìn giữ giới luật Phật thanh tịnh, là Trưởng tử Như Lai hòang dương Chánh Pháp tuyên thị lời Phật dạy mang lại sự giải thóat giác ngộ cho chúng sanh.

+ Tự  Tánh Tam Bảo:

- Phật tánh hay tánh giác ngộ sáng suốt mỗi chúng sanh đều có, nhưng bị tam độc tham sân si, ngũ dục lục trần, vọng tâm chấp ngã… tạo thành tấm màn vô minh che lấp giác tánh, khiến cho chúng sanh mãi mãi trầm luân trong biển khổ sanh tử, không biết lối ra khỏi vòng luân hồi, Chính đức Phật đã tuyên bố “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.”

- Pháp tánh là phương pháp, đường lối giải thoát khỏi mê hoặc của tham sân si mạn nghi, tà kiến, ác kiến…Sống đúng với chánh pháp. Thức tỉnh khỏi giấc trường mộng.

- Tăng còn gọi là Tăng già có nghĩa là thanh tịnh hòa hợp sống cộng trụ. Đây là bản tánh của chúng ta. Tăng chúng đúng nghĩa là phải sống đời sống hòa hợp, cộng trụ, gìn giữ giới luật thanh tịnh. Khác hơn là sống đúng tinh thần Phạm Hạnh.

 Vậy quy y Tam bảo là quay về nương tựa ba ngôi quý báu Phật, Pháp, Tăng. Không còn chạy theo đời sống đầy tham lam , thù hận, si mê, tham thân chấp ngã gây tạo nhiều tội lỗi, nhiều đau khổ cho thế gian. Chúng ta rất may mắn, xưa kia đã gieo trồng phước đức nên ngày nay mới được gặp Tam bảo, được thấy hình ảnh Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, được gặp thầy lành bạn tốt, hướng dẫn cho chúng ta học tập kinh điển, hiểu rõ lời Phật dạy, đem áp dụng vào đời sống hàng ngày để có được đời sống hạnh phúc, an lành, thấm nhuần pháp hỉ, gieo hạt giống giải thoát cho tương lai sẽ được thành bậc giác ngộ như chư Phật vậy.

- Giới thiệu Pháp Môn Tịnh Độ.

Cách đây gần 3000 năm, đức Thế Tôn đã du hóa khắp xứ Ấn Độ, tùy theo căn cơ hoàn cảnh của mỗi chúng sanh mà giảng dạy pháp môn giải thoát hết khổ được vui, do đó mới có đến 84.000 pháp môn. Pháp môn nào cũng là pháp bảo là thuốc hay trị bịnh chúng sanh, nhưng thầy thuốc hay phải biết bịnh nào cho đúng thuốc ấy thì bịnh nhân mới hết khổ, nếu vị thầy, hay bác sĩ mà không biết tùy bịnh cho thuốc thì chỉ làm cho bịnh nặng thêm, có khi làm chết người bịnh nữa…

Muốn biết bịnh biết thuốc, chúng ta phải xét đến hoàn cảnh hiện tại, biết căn cơ của mỗi người mà dạy cho họ tu tập theo phương pháp nào. Kinh điển còn ghi lại thời gian cách Phật 500 năm là thời Chánh Pháp, thời Tu tập giới luật thành tựu, vào thời này, những ai gặp Phật và các bậc Thánh tăng đời sống thanh tịnh, đơn giản, tâm hồn chất phác cọng với ảnh hưởng từ lực, trí huệ của Tăng già, nên hành trì giới luật trọn vẹn, không vi phạm tội nhỏ nào, vậy nên chứng đắc dễ dàng.

Thời Tượng pháp, 500 năm tiếp theo, là thời Thiền định thành tựu. Vào thời này có nhiều vị Tổ đã tu thiền chứng đắc, đươc giải thoát, làm chủ được đời mình cho đến lúc chết, ra đi tự tại, có vị nhập định lâu dài, chết mà không mất. Như Lục Tổ Huệ Năng cách nay đã 1000 năm mà thân xác vẫn còn ngồi yên trong khám thờ, sau này ở Trung Hoa cũng như Việt Nam cũng có nhiều vị Tổ tu thiền đắc quả còn để lại nhục thân, như ở chùa Đậu ở ngòai Bắc hiện nay thờ nhục hai vị Thiền sư Từ Đạo Chân (Vũ Khắc Minh) và Từ Đạo Tâm (Vũ Khắc Trường), chứng minh cho mọi người thấy rằng Phật pháp nhiệm mầu, hòan tòan không thể suy nghĩ theo lề lối lý luận, khoa học của thế gian được.

Thời Mạt pháp,  kể từ sau khi Phật diệt độ 1000 năm, là thời gian hiện nay, chúng ta đang ở vào thời mạt pháp. Cách thời Phật quá xa, giáo pháp bị diễn giải sai lệch theo tư kiến, có khi sai lầm, ngược lại với con đường giải thoát của Phật giáo, gây tai hại cho chúng sanh, mãi mãi mê lầm trong vòng sanh tử không có lối thoát. Đức Bổn sư biết trước hoàn cảnh khó khăn nầy nên có lời di chúc rằng vào thời mạt pháp, chúng sanh nên tu theo pháp môn Tịnh Độ, là phương pháp dễ dàng thuận lợi cho mọi giới, có thể áp dụng cho người khôn, kẻ dại, kẻ trí, người ngu, vua quan, thường dân , xuất gia, tại gia, giàu nghèo sang hèn, có tội, không tội đều có thể thực hành pháp môn Tịnh độ để được giải thoát,

như vậy, nhờ có tha lực của Phật A Di ĐÀ gia hộ mà được vãng sanh. Đây là pháp môn tối thắng, tối diệu, mà Bổn sư chúng ta cũng như Phật A-di-đà vì lòng đại bi, thương xót chúng sanh thời mạt pháp mà bày ra phương tiện nầy để cứu độ chúng sanh.

Pháp môn tịnh độ được Phật dạy trong các bộ kinh chính, thường gặp là: Kinh A-di-đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, nhiều bộ kinh đại thừa khác cũng giới thiệu cảnh Tây phương Cực lạc của đức Phật A-di-đà hiện đang làm giáo chủ.

- Thực hành pháp môn Tịnh độ.

Trước hết phải tin tưởng lời của đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni vì lòng từ bi mà nói kinh này dạy cho chúng ta, nhất là vào thời mạt pháp, có một pháp môn dễ dàng thuận tiện nhất, có hiệu quả nhiều nhất, nếu không tin vào đạo đức và trí tuệ của Phật thì thử hỏi còn tin vào ai nữa? Có vị giáo chủ nào trên thế gian này đã hy sinh tất cả hạnh phúc của một vị thái tử, ngai vàng của vua cha sẵn sàng kế vị, hy sinh tình cảm gia đình, vợ con, cha già, cả giang sơn tổ quốc, dấn thân vào con đường tu hành khổ hạnh nơi rừng sâu núi thẳm, để tìm cho ra chân lý cứu khổ muôn loài giải thoát khỏi biển khổ luân hồi sanh tử.

Rồi tin vào đại nguyện lực của đức Phật A-di-đà, lúc còn tu Bồ-tát hạnh, đã phát 48 đại nguyện tiếp dẫn chúng sanh về miền Cực lạc là nơi an lành hạnh phúc, tu hành thuận lợi, không còn bị thối chuyển, không còn sa vào tam đồ ác đạo, không còn khổ sanh tử nữa… Khi đã có lòng Tin rồi thì phát Nguyện cầu được vãng sanh về tây phương tịnh độ của đức Phật A-di-đà. Cuối cùng về phần mình tu tập hàng ngày là chuyên tâm Niệm hồng danh “Nam-mô A-di-đà Phật”. Nhờ danh hiệu Phật mà loại bỏ những tạp niệm thế gian, trong tâm luôn luôn tưởng nhớ Phật, đây là Nhân niệm Phật đến khi thuần thục sẽ kết quả Vãng sanh Cực Lạc lên ngôi bất thối và sẽ thành Phật.

Tóm lại ai đủ phước duyên gặp được và tin tưởng pháp môn Tịnh độ, thì hãy chân thành niệm Phật cho được nhất tâm, tất nhiên sẽ được hào quang của Phật A-di-đà phổ chiếu tiếp dẫn vãng sanh, ra đi tự tại, như lời bài Sám nguyện Vãng sanh sau đây :

“ Một lòng quy kính. Phật A-di-đà,Thế giới Cực Lạc.       

Nguyện lấy hào quang.Trong sạch soi cho.   

Lấy thệ từ bi.  Mà nhiếp thọ cho.

Con nay phát nguyện. Niệm hiệu Như Lai.

Vì đạo Bồ Đề. Cầu sanh Tịnh Độ.

Phật xưa có thệ . Nếu có chúng sanh.

Muốn sinh nước Ta. Hết lòng Tín Nguyện.

Cho đến mười niệm. Nếu chẳng đặng sanh.

Chẳng thành Chánh Giác. Do vì nhân duyên.

Niệm hiệu Phật nầy. Đặng vào trong bể.

Đại thệ Như Lai. Nhờ sức từ bi.

Các tội tiêu diệt. Căn lành tăng trưởng.

Khi mạng gần chung.  Biết trước giờ chết.

Thân không tật bịnh. Tâm không tham luyến.

Ý không điên đảo. Như vào thiền định.

Phật và Thánh chúng. Tay nâng kim đài.

Cùng đến tiếp dẫn.  Trong khoảng một niệm.

Sanh về Cực Lạc. Sen nở thấy Phật.

Liền nghe Phật thừa. Chóng mở Phật huệ.

Khắp độ chúng sanh. Trọn thành Phật đạo.”

Phát nguyện:

-Chúng sanh không số lượng. Thệ nguyện đều độ khắp.

Phiền não không cùng tận. Thệ nguyện đều dứt sạch.

Pháp môn không kể xiết. Thệ nguyện đều tu học.

Phật đạo không gì hơn. Thệ nguyện thành.

- Nguyện sanh tây phương tịnh độ trung. Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu.

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh. Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ…

- Nguyện dỉ thử công đức. Trang nghiêm Phật Tịnh độ.

Thượng báo tứ trọng ân. Hạ tế tam đồ khổ.

Nhược hữu kiến văn giả. Giai phát bồ đề tâm.

Tận thử nhứt báo thân. Đồng sanh Cực Lạc quốc.

Nam mô A-di-đà Phật, 

Kính chúc tất cả quý vị thân tâm an lạc, phát nguyện tu hành.

Hẹn sẽ gặp lại nhau nơi cõi Tây phương Tịnh độ. 

Kính chào quý liên hữu.

Chùa Cổ Lâm, 

Seattle, 07, July. 2009. 

Nguyên Kim.

NAMO ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT.

Seattle, Mùa VU LAN  2557 - 2013 

11/ TÂM BÌNH THẾ GIỚI BÌNH

(GOLDEN AGE OF INNER PEACE, 

By Dr. Michael Nobel & Luang Por Dhammajayo)

Thích Nguyên Kim dịch

LỜI TỰA 

Mỗi năm trôi qua vấn đề tìm kiếm hòa bình cho thế giới càng thêm xa vời. 

Mức độ mâu thuẫn đối nghịch ngày càng gia tăng, nhân loại đang cố gắng tìm phương pháp làm dịu bớt những căng thẳng xung đột…

Tuy nhiên trước khi đạt được thế giới hòa bình, chúng ta cần phải có hòa bình nội tâm. Nếu tự  thân mỗi người có bình an tâm hồn thì hoà bình thế giới tự nhiên có.

Ngài Luang Por Dhammajayo và tiến sĩ Michael Nobel chia sẻ những tư tưỏng thông minh có ảnh hưởng sâu xa mà chúng ta có thể hiểu biết và thực hiện được.

Sự lớn mạnh và ảnh hưởng kỳ diệu của Hội Phật Giáo trên diễn đàn quốc tế đã minh chứng cho kết quả của nó, truyền đạt cảm hứng cho mọi người hàng ngày tìm kiếm câu trả lời từ trí tuệ của chính mình. 

Xin vui lòng cùng chúng tôi tìm kiếm giải pháp hòa bình cho thế giới…

 1.     Hòa Bình Bắt Đầu từ Đâu ? (Where Does Peace  Begin ?)

Hàng ngày chúng ta thường bắt gặp những cuộc xung đột khác nhau xảy ra, khi đi tản bộ trong công viên, chúng ta nghe tiếng còi ồn ào của những tài xế nóng tính, có thế ? Thấy hai người đang cải nhau, hay là những con chó hung dữ cắn sủa nhau…

Giả sử cũng có những người cùng đi trong công viên này. Mặc dù họ cũng gặp những cảnh như vậy, nhưng họ không có cùng phản ứng như nhau. Vài người cảm thấy khó chịu vì tiếng chó sủa và quyết định rời khỏi công viên, người khác thì cảm thấy buồn cho những kẻ đang tranh cải nhau. Chúng ta có thể hình dung ra cũng có người đi qua những nơi có xung đột nầy mà không bị ảnh hưởng gì. Người ấy giữ được tâm trí bình tĩnh và thanh tịnh không để ý đến hoàn cảnh chung quanh, giống như một ốc đảo mát mẻ giữa sa mạc nóng cháy.

Nếu chúng ta tưởng tượng có một người như thế trong hiện tại, và chúng ta có thể suy nghĩ làm sao để trở thành con người ấy.

Một nhóm nhà nghiên cứu sắp đặt một cuộc thí nghiệm để khám phá nguồn gốc của sự an ổn nội tâm. Họ đem hai cậu bé Johnny và Billy sáu tuổi, có cá tính và hoàn cảnh gia đình như nhau. Để cho hai cậu bé vào hai căn phòng khác nhau trong hai giờ và quan sát hành vi của chúng.

Phòng của Johnny có nhiều đồ chơi hiện đại như tàu lửa, người máy, và những trò chơi trên video, trong khi phòng của Billy chỉ có những cỏ khô và phân ngựa.

Sau hai giờ các cậu bé được cho ra ngoài. Johnny quăng tất cả đồ chơi khắp phòng và người ta hỏi vì sao em khóc, bé trả lời vì nhớ mẹ. Khi hỏi tại sao không chơi với các món đồ chơi , em trả lời không thích chúng nó,

Xe lửa thì ồn ào, người máy và trò chơi video thì buồn chán, và em chỉ muốn gặp mẹ mà thôi. Trong phòng kia, Billy đang say sưa ca hát một mình. Khi hỏi sao em không gọi mẹ, em trả lời mẹ sẽ mang em đi liền, và hỏi sao em có thể ở trong căn phòng với cỏ khô và phân ngựa như vậy. Billy trả lời –“Ôi, đó là chuồng ngựa sao? Thì sẽ có một chú ngựa con để tôi đùa chơi.”

 - Những nhà nghiên cứu kết luận rằng hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng rất ít đối với cá tánh của mỗi người. Nguồn gốc của sự bình an và bình tĩnh đến từ bên trong tâm trí, nó là sự kiện chính yếu tạo ra tính khí tốt hay xấu của mỗi người.

- Thấu hiểu như vậy, chúng ta phải làm sao để có được tâm hồn thanh tịnh và hài lòng ? Khi đã hiểu làm sao đạt được điều này, chúng ta sẽ tìm thấy hạnh phúc thật sự.  Ở đâu có hạnh phúc chân thật, ở đó không còn xung đột và có hòa bình.

  2.- Hòa Bình và Chiến Tranh Bắt Nguồn từ trong Tâm

        (Peace  and War, Begins in The Mind).

Chỉ một chuyến đi vào siêu thị cũng thể hiện hình ảnh xung đột trong tâm con người như thế nào. Những thức ăn hấp dẫn mời gọi người mua. Trí óc bảo chúng ta đừng mua, những món  hấp dẫn ấy không tốt cho sức khỏe chúng ta. Mặc dầu biết vậy, chúng ta cũng không thể chống lại lời thúc giục - hãy mua đi..., hãy ăn món này đi... Trong  chúng ta có hai tư tưởng tốt và xấu. Ví dụ như khi biết chọn những thức ăn bổ dưỡng là tốt. Nếu chiều theo lòng tham mà không để ý đến việc cơ thể chúng ta không cần những thức ăn đó, vậy là sai lầm, sự chọn lựa tùy theo chúng ta. Nếu chúng ta có khả năng chọn lựa những suy nghĩ tốt đẹp thay vì những ý nghĩ xấu xa, vậy là chúng ta biết hướng về phẩm chất tốt lành và đời sống càng ngày càng thêm hạnh phúc

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta có nhiều điều phải quyết định. Tư tưởng chúng ta có thể tích cực hay tiêu cực, thể hiện qua lời nói hay hành động. Rất may mắn khi tư tưởng chúng ta tốt đẹp. Bất hạnh thay những ý nghĩ, hành vi xấu sẽ dẫn đến sự khốn khổ vô cùng. Vậy hãy để cho trí óc điều khiển hành động, luôn luôn suy nghĩ và làm việc đúng đắn, như thế chúng ta có bình an và hạnh phúc.

Hòa bình phát xuất từ trong tâm. Khi tâm hồn chúng ta bình an và có những tư tưởng tốt lành, hành động của chúng ta sẽ tốt đẹp, và hòa hợp hơn. Nếu mọi người đều thực hành điều này, thế giới tự nhiên phải có hòa bình...

3.- Thật Sự Nhân Loại Muốn Gì ? (What do humans really want ?)

Đối với hầu hết mọi người, danh sách những vật họ muốn hầu như kéo dài bất tận, còn danh sách những thứ cần thiết thật sự rất ngắn. Chúng ta không có thời gian để giới hạn những gì mình muốn bởi vì không bao giờ mãn nguyện. Cho nên cứ tiếp tục tìm kiếm mãi mãi... Trong đời sống chúng ta phải biết những gì cần thiết thật sự. Nhà cửa là rất cần, nên chúng ta mua nhà, nhưng khi có nhà rồi thấy còn thiếu, lại muốn có thêm những thứ phục

vụ cho đời sống tiện nghi, muốn làm đẹp ngôi nhà, muốn gây ấn tượng với bạn bè.  Mong muốn có thêm những vật dụng  không cần lắm, điều này tự nó cũng không phải là xấu, bởi vì sống trong thời đại văn mình này mà yêu cầu mọi người sống trong căn nhà thiếu tiện nghi thì không thực tế tí nào. Điều quan trọng là chúng ta cần biết những gì cần thiết những gì là ham muốn, và biết làm thế nào để giới hạn lòng ham muốn quá mức, nhờ vậy chúng ta không chạy theo dục vọng.

 Hãy quan sát một nhà sưu tầm nghệ thuật, trong nhà không còn chỗ nữa nên ông mua một cái nhà mới để cất giữ những vật sưu tầm. Ông phải bắc hệ thống báo động để phòng ngừa kẻ trộm, mua bảo hiểm bão lụt và cháy nhà. Ông phải thường xuyên thăm viếng để kiểm soát tình trạng ngôi nhà. Những điều này đã gây áp lực tinh thần ( stress ) khủng hoảng, rồi hạnh phúc , niềm vui cũng tàn theo sự sưu tầm... Từ thủa xa xưa đã có những câu hỏi :  - Thật sự con người muốn gì ? Câu trả lời là : “ Hạnh Phúc “ . – “ Hạnh phúc thật sự là gì ?” -Hạnh phúc có phải là một ngôi nhà to đẹp và nhiều tiền ? Có phải là du lịch vòng quanh thế giới ? Là không có nợ nần gì…? -“ Thật sự người ta muốn những gì ?”

-   Đã từ lâu chưa có câu trả lời xác đáng. Một số người tìm kiếm niềm vui bằng cách đi săn bắn, hay câu cá, người khác thì hưởng thụ trong các hộp đêm, có người lại đắm chìm trong men rượu và tự tàn phá đời mình mà không biết. Họ lầm tưởng rằng đang có hạnh phúc, những cái hạnh phúc này chỉ đem lại những khốn khổ, làm sức khỏe tiêu tan… - Tất cả chúng ta đều muốn có hạnh phúc và cố gắng tìm kiếm, nhưng chúng ta đã tìm không đúng chỗ.    - Mỗi khi đi du lịch, chúng ta thường gặp những trở ngại, có khi chuyến bay đã đầy rồi không mua được vé, có khi hành lý quá nhiều và thiếu tiền, nhiều khi chuyến bay trễ vì thời tiết xấu... - Chúng ta có thể so sánh đời mình với người du khách kia. Muốn đến nơi nhanh chóng hay chậm chạp tùy theo nhiều sự chướng ngại trên đường, có thể vì kinh tế, sức khỏe hay tinh thần, chướng ngại đó bên ngoài hay từ bên trong. Bất kể hình thức ngăn ngại nào cũng như nhau, chúng cản trở tiến trình chúng ta đi đến đích. Nếu chúng ta biết cách vượt qua tất cả chướng ngại, con đường dẫn đến hạnh phúc sẽ nhanh chóng và êm ái hơn.

 4.- Con Đường dễ dàng Nhất dẫn đến Hạnh Phúc  (The Easiest Path to Happiness)

- Chúng ta thật may mắn, con đường dễ dàng và nhanh chóng nhất dẫn đến chân hạnh phúc là rất gần, không xa chúng ta lắm. Nhưng trước khi bắt đầu khám phá con đường

đến hạnh phúc thật sự, chúng ta cần phải hiểu rõ ý niệm về chân hạnh phúc.

Mọi người đều thích sung sướng và tránh đau khổ. Chúng ta tìm kiếm hạnh phúc theo nhiều cách khác nhau. Có người nói rằng mình hạnh phúc khi không còn đau khổ. Tuy nhiên nhiều khi tránh đau khổ mà kết quả lại tạo thêm nhiều đau khổ hơn cho chính mình và người khác, ví dụ như tự tử hay đi săn bắn... - Bởi vậy, hạnh phúc chân thật không phải là sự vui thú tạm thời trong chốc lát, mà trái lại nó sẽ không tạo ra những vấn đề rắc rối cho chính mình và người khác và không đem lại sự đau khổ. - Đau khổ là gì ? – Chúng ta có thể xác định dễ dàng những điều gây ra đau khổ là Sinh , già, bịnh, chết, lo buồn, của cái bị mất mác và gặp chuyện không vừa lòng. Đây là những điều đau khổ căn bản của nhân loại, và còn nhiều thứ khổ khác nữa...

Khi thấu hiểu thế nào là hạnh phúc chân thật, chúng ta sẵn sàng tiến vào con đường dễ dàng nhất để đi đến mục đích – Chúng ta phải gạt bỏ ra khỏi tâm trí áp lực của sự đau khổ. Điều này nói thì dễ nhưng thực hành rất khó, đầu óc con người cần phải được huấn luyện và thực tập nhiều, bởi vì- Rất khó mà gột rửa khỏi trí óc những tư tưởng kiên định, những âu lo và áp lực … Tập luyện sao cho tâm trí yên tĩnh để có sự bình an, chúng ta có thể dùng cái năng lực nội tại, khi tiềm lực có khả năng đầy đủ thì chân hạnh phúc xuất hiện nó sẽ không bao giờ đem lại khổ đau nữa. Chúng ta có thật sự đạt được tiềm năng và hạnh phúc bằng cách giữ cho tâm trí trong sạch và yên tịnh không ?

 – Câu trả lời là hãy quan sát hình ảnh một ngôi nhà.

Hãy xem xét ngôi nhà, bạn sẽ thấy gồm có mái nhà, những cột nhà và vách tường. Bạn có thể nghĩ rằng những cái cột, những tường vách chỉ đứng yên một chỗ và không làm gì cả. Thực sự công việc của chúng rất quan trọng, là nâng đỡ sức nặng của mái nhà, nếu chúng không đứng yên thì mái nhà sẽ sụp đổ. Cho nên chúng phải có sức mạnh để nâng đỡ mái nhà và đem lại sự vững vàng cho ngôi nhà. Tâm trí chúng ta cũng vậy, nếu không yên tĩnh mà lại thường xuyên lo lắng suy nghĩ vẩn vơ, thì chúng ta sẽ không đủ khả năng chống đỡ sức ép của cuộc đời. Chúng ta cảm thấy vô số vấn đề khó khăn áp đảo và không thể nào giải quyết rồi lại tạo thêm những rắc rối khác  nữa.Trái lại, nếu tâm trí chúng ta bình tĩnh, sẽ có nội lực để chống lại những sức ép của những khó khăn bởi thế giới bên ngoài tạo ra, dù thế nào chúng ta cũng giữ được sự bình an hạnh phúc. Phương pháp dễ dàng và nhanh chóng nhất để tâm trí chúng ta được yên tĩnh là nhờ thực tập thiền định. Nhiều người chuyên môn thực hành thiền định đã xác nhận rằng đây là phương pháp tốt nhất để thư giãn và bồi dưỡng tinh thần. Nhờ tu tập thiền lâu dài sẽ đem lại chân hạnh phúc và bình an tâm hồn, không cần phải tìm sự vui thú bên ngoài, không phụ thuộc vào vật chất, rượu trà , ma túy tạo ra nhiều rắc rối khổ đau, tranh đấu chỉ vì sự

vui sướng mỏng manh. Nhờ thực hành thiền định, tâm trí chúng ta được bình yên và có hạnh phúc chân thật, chúng ta có nội lực để giải quyết và chấm dứt những vấn để khổ đau và bạo lực một cách dễ dàng.

Không kể đến tuổi tác giả trẻ, giàu nghèo hay địa vị xã hội, tất cả chúng ta đều cần có thầy dạy truyền thụ kiến thức và kỹ năng nếu muốn trở thành người hiểu biết có kiến thức giỏi trong nhiều lãnh vực. Muốn thành công trong bất cứ công việc gì, điều quan trọng là phải có vị thầy giỏi. Mặc dầu pháp môn thiền định có lịch sử lâu đời, nhưng muốn tìm ra một bậc mình sư có đạo đức và nghiêm trì giới luật , có ý muốn truyền trao sự hiểu biết của mình cho kẻ khác, điều này không phải là dễ. Cho nên khi có một vị chân sư cao quý ra đời, đó là một món quà quý báu cho thế gian, những lời dạy của bậc trí tuệ đem lại giá trị an bình vô lượng cho toàn nhân loại.  Seattle, 15-06-2012. NK. 

Phỏng dịch từ tiếng Anh .

VƯỢT QUA  KHÓ KHĂN

Nguyên Kim phỏng dịch từ

How to Overcome your Dificulties 

By Ven. Dr.K.Sri. Dhammananda. 

Nếu các bạn đang lo âu và buồn phiền, xin hãy đọc tập sách nhỏ này, nó giúp bạn  hiểu biết rõ ràng hơn về sự khó khăn của minh. 

Sợ hãi và lo âu (Fear and Worry)

Sợ hãi và lo âu sinh ra bởi sự tưởng tượng của đầu óc bị tác động bởi ngoại  cảnh. Cuộc đời là một bức tranh di động, mọi vật đều thường xuyên thay đổi, không có vật gì trên thế gian này đứng yên vĩnh viễn. Những người trẻ trung khỏe mạnh sợ phải chết sớm. Những kẻ già yếu sợ sống lâu. Hạng người trung niên mong muốn được an vui quanh năm.

Những điều hân hoan thích thú qua nhanh. Những việc không vui thường tạo ra sự âu lo lâu dài. Những cảm giác làm cho đời sống thăng trầm theo cái bản ngã hư huyễn, giống như con rối múa theo sợi dây.

Đức Phật đã dạy:

" Tham muốn sinh ra lo âu

Tham muốn sinh ra sợ hãi,

Ai dứt sạch tham muốn 

Không còn lo âu sợ hãi "

Mọi hình thức tham luyến đều chấm dứt trong sự buồn phiền, không có dòng nước mắt hay lời từ biệt nào có thể chấm dứt được sự tàn tạ của cuộc đời. Tất cả mọi sự giả hợp đều biến chuyển vô thường. Cả những người già và trẻ đều đau khổ trong cuộc sống nầy, không ngoại trừ một ai. Nhiều trẻ thiếu niên bị đau khổ, bởi thiếu kinh nghiệm hiểu biết trong việc quan hệ với người khác phái... Các em cố gắng phô trương sự quyến rủ, tạo ấn tượng với bạn bè, rồi tâng bốc nhau là đối tượng tốt; cả hai giới đều che dấu sự thật  mà tự xem mình như những kẻ trưởng thành. Chúng sợ bị chê là còn ngây thơ, sợ bị từ chối cũng như lo sợ cái ngã của mình bị xem thường. Khi tình yêu không được đáp lại thường làm tan nát tim can của các em, vì cảm thấy rằng mình quá điên dại.. Đến nổi một vài em đã tự tử! Những tổn thương như vậy có thể tránh được, nếu trẻ thiếu niên được học Phật giáo khi bước vào đời, các em sẽ trưởng thành trong lối sống lành mạnh,

  " Sự sợ hãi chỉ xảy ra trong những kẻ dại khờ, không thể có với người khôn ngoan". Lời Phật dạy.

Sợ hãi là một trạng thái của tâm, nó có thể điều khiển và hướng dẫn, một tư tưởng tiêu cực sinh ra sợ hãi, trong khi tưởng tích cực cho phép thực hiện những hy vọng và lý tưởng, hoàn toàn do chúng ta lựa chọn. Mỗi người đều có khả năng điều khiển tâm trí mình. Thiên nhiên phú cho con người hoàn toàn làm chủ một vật đó là tư tưởng. Mọi vật do người tạo ra đều bắt đầu từ tư tưởng, đây là chìa khóa giúp chúng ta hiểu được nguyên tắc có thể chế ngự sợ hãi.

* Một sinh viên hỏi một nhà giải phẫu nổi tiếng : - làm sao để khỏi sợ hãi? Ông ta trả lời :" Hãy cố gắng làm một việc cho người nào đó."

Người sinh viên rất ngạc nhiên về câu trả lời nầy và yêu cầu giải thích rõ hơn. Vị giáo sư nói: " Bạn không thể có hai ý tưởng khác nhau trong tâm cùng một lúc."

Khi một ý nghĩ nầy khởi lên thì ý nghĩ trước đó biến mất. Thí dụ như lúc tâm bạn hoàn toàn vị tha, mong muốn giúp đỡ người khác, thì bạn không còn sợ hãi nữa.

" Sự lo âu làm con người chóng già hơn là tuổi tác."

Lo sợ bình thường là khuynh hướng tự nhiên duy trì bản ngã; nhưng sợ hãi và lo âu kéo dài một cách vô lý chính là kẻ thù tàn nhẫn của cơ thể con người, chúng phá hại những chức năng bình thường của thân xác. 

* Kiểm Soát Tâm. ( Control Your Mind).

Tâm ý con người ảnh hưởng đến thân thể một cách sâu săc. Trong tâm có thể có cả thuốc bổ lẫn thuốc độc. Khi tâm độc ác nó có thể giết người, nhưng khi điềm tĩnh và siêng năng nó có thể giúp ích người khác. Khi tâm tập trung vào những ý tưởng tốt đẹp và được hỗ trợ bởi sự hiểu biết và cố gắng đúng đắn, nó có thể tạo ra kết quả to lớn. Một tâm ý trong sạch lành mạnh đem lại sức khỏe và đơi sống thanh thản. 

 Đức Phật dạy: " Không có kẻ thù nào hãm hại con người hơn là những tư tưởng tham dục, sân hận, đố kỵ ...của chính mình."

   Một người không biết điều chỉnh tâm trí cho phù hợp với hoàn cảnh là giống như đã chết. Hãy quay tâm nhìn vào bên trong và tìm thấy niềm an vui trong chính mình.

Chỉ khi nào tâm được kiển soát và hướng dẫn đúng nó trở nên có ích cho bản thân và xả hội. Một cái tâm vô kỷ luật bất trị là một gánh nặng cho chủ nhân và những kẻ khác. Tất cả những sự tàn phá xảy ra trên thế giới là do những kẻ không biết cách làm chủ tâm.

Điềm tĩnh không phải là yếu kém. Một người luôn luôn điềm tĩnh chứng tỏ mình là một người văn minh. Trong hoàn cảnh thuận lợi thì giữ được bình tĩnh không khó, nhưng khi gặp chuyện không như ý thì khó mà giữ bình tĩnh. Nhờ tu tập sự điềm tĩnh và kiềm chế con người tạo nên cá tính mạnh mẽ và giá trị nhân cách  ...

Tiếng gọi thiên nhiên  (The voice of nature)

* Con người hiện đại không lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên vì họ bận rộn với việc chạy theo lợi lộc vật chất và tìm thú vui. Họ quá bạn tâm đến những khoái lạc trần gian mà quên lãng nhu cầu tinh thần. Nếp sống phản tự nhiên của con người hiện đại có hậu quả tức khắc về mục đích xa vời và quan niệm sai lầm của đời sống nhân loại, đó là nguyên nhân của những thất bại, lo âu, sợ hãi và bất an của thời đại hiện tại.

- Khi con người xấu xa độc ác, sống trái với luật thiên nhiên và vũ trụ, những hành động, lời nói và tư tưởng của họ làm ô nhiễm toàn thể môi trường. Lạm dụng thiên nhiên phá hoại môi trường sẽ không đem lại ích lợi cho đời sống, trái lại tạo ra thiên tai thảm họa, bịnh tật và mâu thuẩn cho muôn loài.

Nếu con người sống thuận theo quy luật tự nhiên, một đời sống chính đáng làm cho thế giới trong sạch nhờ giá trị đạo đức và ánh sáng của tình thương đem đến cho hết thảy chúng sinh, họ cũng dâng hiến hạnh phúc cho nhân loại. Một người thật sự yêu mến hòa bình không bao giờ xâm phạm đến tự do của kẻ khác. Cũng không nên quấy rầy và lường gạt bất cứ người nào. 

- Mặc dù bạn là người rất bận rộn, nhưng mỗi ngày cũng nên để ra ít phút để tĩnh tâm, hay đọc những quyển sách có giá trị, thói quen nầy giúp bạn vơi bớt lo âu và cũng mở mang tâm trí. Tôn giáo là nguồn phúc lợi của bạn, cho nên bạn có bổn phận suy nghĩ về đạo của mình, dùng ít thời gian đến với các buổi họp mặt, sống trong không khí đạo vị, cho dù chỉ một thời gian ngắn thôi sống với những bạn đạo có khuynh hướng về tâm linh cũng đem lại kết quả tốt đẹp.

Sống lành mạnh và tội lỗi

Trong thời hiện đại các loại bịnh tinh thần và bạo động càng ngày càng tăng. Khắp thế giới những người mắc bịnh tâm thần ngày càng nhiều, đặc biệt là trong các nước giàu có. Nhiều trường hợp phạm tội xảy ra trong xã hội là do bịnh tâm thần. Trong một nghiên cứu chính xác của Freud đã thừa nhận rằng những kẻ phạm tội đều là những người mắc bịnh tâm thần, họ cần được chữa trị hơn là trừng phạt. Đây là một quan điểm bao dung rộng rãi mà một xã hội văn minh tiến bộ cần sửa đổi là thay thế trừng phạt bằng cách giáo dục.

Hiểu biết người láng giềng 

Khi chúng ta không thấy người khác sống như thế nào, chúng ta không thể học hỏi được những lối sinh hoạt khác nhau. Đi du lịch là các học tốt nhất, chúng ta tiếp xúc với những người xa lạ tạo ra nhiều tình cảm. Người không có lòng khoan dung là vì thiếu hiểu biết những nhu cầu và suy nghĩ của kẻ khác. 

 Sự bất hạnh 

Đức Phật dạy rằng tất cả những sự bất hạnh đau khổ của con người là do lòng tham dục mong muốn nhiều khoái lạc hơn, có quyền lực hơn kẻ khác và điều quan trọng nhất là muốn sống đời đời, ngay cả sau khi chết. Bởi tham muốn như vậy làm cho con ngừời ích kỷ, chỉ biết nghĩ về cá nhân, mọi thứ đều dành cho riêng mình, không bao giờ biết đến những gì xảy ra cho kẻ khác. Khi những ước muốn  không được thỏa mãn, họ sống bất an và không bằng lòng. Muốn thoát khỏi tình trạng này chỉ có cách phải dứt bỏ nguyên nhân là lòng tham dục. Điều nầy rất khó khăn, nhưng người nào thực hành được mới thấy giá trị cao quý của nó...

Thời gian sẽ hàn gắn mọi vết thương 

Mọi sự rắc rối khó khăn đều sẽ qua đi, những việc đau khổ làm cho bạn rơi nước mắt chẳng bao lâu cũng sẽ trôi vào quên lãng, bạn có thể nhớ lại và tự hỏi tại sao mình khóc nhiều thế ! Khi chúng ta lớn lên và đi vào đời, chúng ta thường ngạc nhiên tại sao nằm thao thức suốt đêm, bị ám ảnh bởi những điều làm phiền não chúng ta vào ban ngày, tại sao chúng ta giữ mãi sự bực bội đối với công việc hay người nào đó trong tâm mình ! Lúc ấy chúng ta có thể bị kích thích và nổi cơn giận dữ, sau đó lại ân hận sao mình lại nổi giận về một việc như vậy, và tự hiểu rằng mình đã phí phạm thì giờ và năng lực một cách vô ích... Chúng ta còn tiếp tục đau khổ khi chưa chấm dứt những việc sai lầm như thế và hãy bắt đầu nghĩ đến những điều lành mạnh bổ ích hơn.

Mọi sự rắc rối khó khăn đều sẽ qua đi, những việc đau khổ làm cho bạn rơi nước mắt chẳng bao lâu cũng sẽ trôi vào quên lãng, bạn có thể nhớ lại và tự hỏi tại sao mình khóc nhiều thế ! Khi chúng ta lớn lên và đi vào đời, chúng ta thường ngạc nhiên tại sao nằm thao thức suốt đêm, bị ám ảnh bởi những điều làm phiền não chúng ta vào ban ngày, tại sao chúng ta giữ mãi sự bực bội đối với công việc hay người nào đó trong tâm mình ! Lúc ấy chúng ta có thể bị kích thích và nổi cơn giận dữ, sau đó lại ân hận sao mình lại nổi giận về một việc như vậy, và tự hiểu rằng mình đã phí phạm thì giờ và năng lực một cách vô ích... Chúng ta còn tiếp tục đau khổ khi chưa chấm dứt những việc sai lầm như thế và hãy bắt đầu nghĩ đến những điều lành mạnh bổ ích hơn.

Bất cứ khó khăn nào làm cho chúng ta bực mình bao nhiêu đi nữa, thời gian cũng sẽ hàn gắn làm lành vết thương, chắc chắn chúng ta có thể biết cách bảo vệ mình khỏi bị tổn thương như lúc trước. Tại sao chúng ta để cho kẻ khác và những khó khăn làm tiêu hao năng lực của mình và làm cho mình mất hạnh phúc?- Câu trả lời là họ không thể làm điều ấy, mà chình chúng ta tự làm cho mình không có hạnh phúc.

Có thể bạn gặp phải khó khăn nơi mình làm việc, nhưng bạn không nên mang không khí ô nhiễm nặng nề ấy về nhà, bạn phải biết chấm dứt vấn đề khó chịu ấy đi, có thể dùng giải pháp chấm dứt những tham muốn cá nhân ích kỷ, loại trừ những điều lầm lẫn và thiếu hiểu biết.

Bất cứ lúc nào không tìm được cách giải quyết vấn đề khó khăn, chúng ta thường tìm cách trút cơn giận dữ và thất bại của mình lên kẻ khác. Chúng ta không chịu chấp nhận sai lầm của mình. Đổ lỗi cho người khác thật dễ dàng,

một số người thích thú làm việc nầy, đây là một thái độ xấu xa hoàn toàn không chấp nhận được. Chúng ta không nên đổ sự bực bội cho kẻ khác. Phải hết sức cẩn thận và bình tĩnh để giải quyết những vấn đề khó khăn của mình, phải chuẩn bị đối mặt với những chướng ngại ở đời.

Can đảm đối diện với sự chỉ trích 

" Mật ngọt chết ruồi, thuốc đắng đả tật !" Những lời khen tặng ngọt ngào thái quá là nguyên nhân gây ra bịnh tật, trong khi những lời phê bình giống như những viên thuốc đắng chửa lành con bịnh. Chúng ta phải có cam đảm chấp nhận những lời chỉ trích không sợ hãi.

 " Tật xấu ta thấy nơi người khác

   Là phản ảnh của chính bản tánh ta."

Đời sống, hoàn cảnh và thế giới là những phản ánh chứa tư tưởng và niềm tin của mỗi người. Con người là tấm gương phản chiếu chính bản chất của chính mình, bao gồm cả những sự vui buồn, rủi ro và bịnh tật...

Môi trường lành mạnh

Chúng ta nên chuyển hướng những lời trêu chọc, bàn luận về mình thành sự hài hước mà thôi, để tránh gây thù oán với mọi người. Trong khi thi đấu thể thao nếu bạn mất bình tĩnh, sẽ bị phạt và không thể chiến thắng, điều nầy còn làm cho khán giả mất cả niềm vui.

Ở đời này bạn không thể bắt người khác thay đổi theo cách suy nghĩ của bạn, nếu mọi người đều đồng ý với bạn thì thế giới này chẳng còn ý kiến nào nữa cả.

Có nhiều phương pháp để sửa chữa lỗi lầm của kẻ khác. Nếu bạn phê bình, chê trách họ giữa đám đông, tức là làm nhục họ, chứ không phải giúp họ sửa sai, chắc chắn tạo ra thêm kẻ thù mà thôi. Nếu bạn tỏ ra quan tâm đến người có lỗi, dùng lời lẻ tử tế thân mật, sau này họ sẽ biết ơn bạn. Chớ nên dùng những lời gay gắt khó nghe khi bạn trình bày quan điểm của mình trong những cuộc thảo luận, những lời nói nhẹ nhàng lịch sự và lễ

phép không làm tổn thương một ai, họ sẽ chấp nhận giao tiếp một cách dễ dàng có kết quả tốt.

Khi những lỗi lầm của bạn được nêu ra, không nên cố gắng bảo vệ, đây là cơ hội để học hỏi để sửa mình trở nên hoàn hảo hơn. Không nên tức giận và che dấu những khiếm khuyết của mình, khi mất bình tĩnh người ta sẽ thốt ra những lời đáng lẻ ra không nên nói. Dù cho bây giờ bạn đang rất giận dữ cũng không được nói ra những bí mật riêng tư của họ, bạn chỉ làm giảm giá trị của chính mình, sau nầy những người khác sẽ không tin tưởng bạn là người chân thành, họ nghĩ rằng bạn sẽ lập lại việc nầy như đã làm tổn thương người trước đây.

 Không còn một ai tin tưởng bạn cả !!!

Sự sung sướng và chủ nghĩa vật chất 

Nhiều người tin tưởng rằng tiền bạc có thể giải quyết mọi vấn đề, tuy nhiên họ không hiểu tiền chỉ trợ giúp một phần chứ không thể giải quyết tất cả mọi việc.

Hầu hết mọi người không suy nghĩ chính xác, cho nên suốt cả đời họ giống như những con chó trong cuộc đua chạy đuổi theo con thỏ làm mồi..., khi cuộc đua chấm dứt tất cả hứng thú không còn. Cũng giống như những cảm giác vui thú trong thế giới thần tiên của chủ nghĩa vật chất, ngay khi đạt được mục đích tham muốn rồi, thì sự sung sướng chấm dứt và một sự tham muốn khác lại dấy lên. Cuộc săn đuổi mục tiêu hạnh phúc dường như không bao giờ thỏa mãn...

Khi chúng ta bị mất mát điều gì, hãy nhớ đến lời khuyên nầy :

 " Đừng nói rằng đây là của tôi, kia là của bạn,

    Chỉ nên nói rằng vật nầy đến với bạn, vật kia đến với tôi,

    Nhờ vậy khi ánh sáng của những sự vinh quang phai mờ

    Chúng ta không đau buồn luyến tiếc..."

Của cải không phải là thứ để cho bạn tham lam tích trử, nó là phúc lợi của bạn , cũng như của tôi và của những người khác. Cố gắng làm cho thế giới chung quanh ta trở nên một nơi sinh sống tốt đẹp hơn. Hãy sử dụng tài sản của bạn một cách khôn ngoan để giúp đỡ những kẻ nghèo khó, người già yếu bịnh tật. Thực hành đầy đủ bổn phận của mình đối với đồng bào, tổ quốc và tôn giáo của mình. 

Ngày nhắm mắt ra đi vĩnh viễn  bạn sẽ cảm thấy niềm bình an hạnh phúc khi hồi tưởng lại những việc thiện đã làm với tinh thần vô ngã...

Tìm kiếm sự giàu sang của cải nhờ cờ bạc may rủi giống như chờ đám mây bay qua che cho chúng ta khỏi nắng. Trái lại làm việc siêng năng tạo ra của cải sẽ được an toàn như một tòa lâu đài che chở cho chúng ta khỏi mưa nắng.

 " Khi bạn qua đời, của cải ở lại trần gian. Những người thân và bạn bè đưa ra nghĩa địa, chỉ có nghiệp tốt và xấu bạn đã làm đi theo qua thế giới bên kia."

Thỏa mãn giấc mơ giàu sang là một sự mê hoặc tốt, nhưng luôn luôn có sự lo âu sợ hãi khi ma thuật không còn. Một đời sống giàu sang thường có sự phiền lo về tinh thần, không biết sử dụng của cải sung túc thì đời sống thiếu bạn bè và sự tin tưởng, nó chỉ có trong hoàn cảnh bình thường. Khi đời sống bắt đầu nảy sinh ra cảm giác bất an, thì trí khôn ngoan phải thiết lập lại lối sinh hoạt tương xứng để giảm bớt sự sợ hãi lo âu.

Đối với hạnh phúc cá nhân, chúng ta cần có tài sản chính đáng. " Hạnh phúc thay những kẻ sống không hãm hại kẻ khác !" Lời Phật dạy. Hạnh phúc của chúng ta không thể kéo dài và có ý nghĩa khi nó để lại sự buồn phiền đau khổ.

Của cải dồi dào khơi dậy sự ganh tị, nếu biết dùng thì được sự kính mến.

" Sự giàu sang làm cho ngôi nhà thêm sáng sủa, chỉ có đạo đức mới làm bạn sáng suốt. Y phục có thể trang điểm thân hình bạn, chỉ có hạnh kiểm tốt mới làm đẹp cho bạn. "

Thật là sung sướng khi biết rằng: " Hạnh phúc là những giọt nước hoa bạn thoa cho người khác cũng như cho bạn vậy." Thế giới có thể không được như ý bạn muốn, nhưng bạn có thể tìm thấy hạnh phúc ở trong tâm mình, khi bạn chịu khó nhọc làm việc thiện, có thể vượt lên trên kẻ khác về phương diện hiểu biết và hạnh phúc cá nhân.

 " Muốn tìm thấy hạnh phúc thì không nên nghĩ đến lòng biết ơn hay không biết ơn, tặng cho để có niềm vui tinh thần. Không biết ơn là điều tự nhiên- giống như cỏ dại. Lòng biết ơn như đóa hoa hồng, cần phải nuôi dưỡng, săn sóc tưới tẩm, yêu thương và bảo vệ."   ( Dale Carnegie )  

Hành động khôn ngoan 

Chúng ta phải biết sử dụng đúng thời đúng lúc hợp lý tuổi trẻ, tiền của, tài năng kiến thức để đem lại ích lợi cho mình và mọi người. Nếu chỉ biết lạm dụng đặc ân thì sẽ thất bại.- " Người ta phải đủ sức mạnh để nhận ra sự yếu kém của mình, đủ can đảm để đối đầu với sự sợ hãi, khi thất bại cũng giữ được sự ngay thẳng, đàng hoàng và tinh thần vững mạnh, khi thành công cũng vẫn khiêm tốn và lịch sự."

Một số người may mắn được giàu sang hay được thừa  hưởng gia tài, nhưng họ không đủ thông minh để giữ gìn, bảo vệ nó, hay dùng để làm việc từ thiện.

Bất cứ sở hữu tiền của nào không kiếm được qua sự lao động khó nhọc đều bị phung phí một cách vô bổ.

 Tu sửa bản thân 

Phong tục tập quán và truyền thống là những thông tin quan trọng để loài người học hỏi và chia xẻ kinh nghiệm với cộng đồng. Tình trạng khó xử là chúng ta đang đối mặt với một thế giới luôn luôn biến chuyển năng động, dù cho chúng ta sống với hiện tại hay bỏ qua quá khứ, luôn luôn có sự cách biệt giữa thế hệ già và trẻ bởi vì quan điểm khác nhau về giá trị và những đổi thay của hoàn cảnh.

Những người lớn tuổi sợ rằng thế hệ trẻ có thể mất gốc không có ai kế thừa truyền thống tổ tiên, lớp người trẻ tuổi lại sợ rằng nếp sống thời xa xưa có thể ngăn cản lối sống văn minh hiện đại. Bởi vậy muốn thay đổi phải cân nhắc cẩn thận.

- Kiến thức phổ thông sáng tạo ra những thần tượng nhất thời và những anh hùng dân gian vẽ ra hình ảnh của những lối sống khác nhau.Quần chúng làm trung gian củng cố cho những đầu óc non trẻ này chấp nhận mọi chuyện truyền thông do đám đông phổ biến, có thể là những tin tức về xã hội hay chính trị như phong trào Hippie hay Yuppie, đó là sức sống của tuổi trẻ, nhờ sự khôn ngoan, trí tuệ thông minh của thế hệ người lớn tuổi mới có thể phân biệt sự tốt  xấu. Những giá trị tốt đẹp của thời xưa đã được thử nghiệm và chứng minh không thể nào thay đổi được, như là tính tiết kiệm, trung thực, bao dung và làm việc siêng năng để có đời sống đàng hoàng...vẫn tồn tại mãi mãi trong bất cứ xã hội nào.

Trong bối cảnh người dân Á Châu, phong tục và truyền thống gắn liền với những lễ cưới hỏi, và tang lễ là rất quan trọng. Câu hỏi là chúng ta có nên tiêu xài quá niều tiền của và thời gian trong lúc tiến hành nghi lễ truyền thống nầy giữa thế giới hiện đại nầy, nó có thật sự cần thiết không?- Không có lời khuyên nào hay hơn những gì Đức Phật đã dạy trong Kinh Kalama :

 " Khi các ngươi hiểu biết rằng những quan niệm nầy là không có lợi, bị những bậc có trí khiển trách và tuyên bố là có tội, nếu chấp nhận thực hành sẽ dẫn đến tai hại và đau khổ, như vậy thì các ngươi nên từ bỏ đi...

Nếu các ngươi biết rằng những điều nầy là lành mạnh, không có lỗi, được bậc trí tuệ khen ngợi, và đem áp dụng sẽ đem lại phúc lợi và hạnh phúc, thì nên chấp nhận và thực hành..."

Con người là một sinh vật trong vũ trụ, chừng nào loài người quan tâm đến việc làm cho xã hội chúng ta có nhân đạo hơn và cải tạo lại thế giới cho tốt đẹp hơn, thời gian luôn luôn lấp bằng hố ngăn cách giữa hai thế hệ già và trẻ. Sự lo âu và sợ hãi về chiều hướng thay đổi đánh mất sự cảm thông. Những người già chỉ nhớ rằng khi còn trẻ cha mẹ họ đã phản đối lối sống mà họ cho là hiện đại. Lòng khoan dung chấp nhận những khác biệt của vấn đề quan trọng này là một đức tính tốt, chỉ có một thái độ cởi mở mới là hạnh phúc.

Quan tâm đến nhiệm vụ của mình (Your Own Business)

* Đây là lời khuyên của Đức Phật:

 " Không nên tìm lỗi của người khác, không nên xem người ta đã làm gì hay chưa làm, hãy tự xét mình đã làm hay chưa làm xong công việc của mình.

“ Kẻ nào hay để ý đến sai lầm của người khác, thì dễ bực tức và tăng thêm phiền não, không thể nào dứt trừ được.

“ Những sai lầm của kẻ khác thì dễ thấy, nhưng lỗi của mình thì khó biết, giống như người thợ săn gian xảo khéo che đậy mình.

“ Không một ai khỏi bị chê cười hay bình phẩm.

“ Người thường giữ im lặng bị chê, người nói nhiều hay nói ít cũng bị chê, quả thật trên thế gian này không ai khỏi bị cười chê.

“ Từ xưa, cho đến hôm nay và mai sau không một ai hoàn toàn được khen hay bị chê trách."

Không phải người nào hay chỉ trích đều là kẻ thù của bạn, hãy nhận lấy những điều phê bình, nhận xét của họ để tìm ra những khuyết điểm của mình mà bạn không nhìn thấy.

Bạn không nên bỏ dở công việc tốt đẹp chỉ vì những lời phê bình, nếu bạn biết thừa nhận những yếu kém của mình, thì quả thật bạn có đủ sức mạnh và thông minh để đạt đến thành công.

" Những bậc cao thượng luôn đi trên con đường chính đáng, mặc cho những gì xảy ra chung quanh, họ không còn tham muốn những trò vui ở thế gian nữa.

“ Người khôn ngoan cao quý tâm luôn bình tĩnh và thanh tịnh trước cảnh vui mừng hay buồn khổ..."

Không thiên vị

Bạn không nên vội vàng quyết định một vấn đề quan trọng nào, khi bị khiêu khích hay ở trong tâm trạng bất an, bất cứ sự quyết định hay kết luận nào trong lúc này cũng sẽ làm cho bạn hối tiếc về sau. Trước hết phải để cho tâm trí bạn bình tĩnh và suy nghĩ cẩn thận. Như vậy sự đánh giá của bạn mới công bình.

Hãy trau dồi tính khoan dung, giúp bạn thông cảm với những khó khăn của kẻ khác, tránh sự phê bình không cần thiết. Nên hiểu rằng dù cho một người hay giỏi nhất cũng không tránh khỏi sai lầm. Sự yếu kém mà bạn nhận thấy nơi người láng giềng cũng có thể tìm thấy trong chính bản thân bạn. Có lời khuyên rằng : 

 " Không nên ném đá vào người khác khi mình đang đứng trong ngôi nhà kính."

Kiên nhẫn và khoan dung   (Patience and Tolerance)

Nhẫn nhịn tất cả mọi việc, sân giận đưa  ta đến sự mù quáng, trong khi làm cho kẻ khác bực tức và buồn phiền, nó cũng tác hại đến chính mình. Giận dữ làm suy yếu sức khỏe và rối loạn tâm trí. Một lời nói hung dữ giống như một mũi tên bắn ra từ cái cung, không bao giờ lấy lại được, dù cho bạn có nói ngàn lời xin lỗi.

- Có loại sinh vật không thể thấy vào ban ngày, cũng có loài không thấy vào ban đêm, người nào hay giận dữ thì không nhận xét được bất cứ việc gì cả dù ban ngày hay ban đêm.

Khi giận dữ bạn đánh nhau với ai? với cái gì ?- Thật ra bạn đang tự đánh mình, chính bạn là kẻ thù tồi tệ nhất của mình. Tâm trí là người bạn tốt, nhưng nó cũng dễ trở thành kẻ thù. Có một số bịnh như đau tim, thấp khớp, rối loạn và bịnh ngoài da đưa đến sự bực bội mãn tính, giận hờn và ganh tị, những cảm giác tiêu cực này có hại cho tim. Chúng làm

phát triển các bịnh tật tiềm tàng bằng cách làm suy giảm sự đề kháng tự nhiên của cơ thể đối với vi trùng.

Lấy thiện thắng ác  (Returning good for evil) 

Nếu muốn loại trừ những kẻ thù, trước hết bạn phải giết chết kẻ thù lớn nhất trong tâm- là sự giận dữ. Nếu bạn lo lắng vì bị quấy rầy bởi những kẻ thù tức là bạn đã vô tình mắc vào bẩy sập theo ý muốn của họ.

- Không nên nghĩ rằng, bạn chỉ học hỏi được từ những người khen tặng, giúp đỡ và sống gần gũi rất thân mình. Bạn cũng có thể học nhiều điều từ những kẻ thù, không nên nghĩ rằng họ hoàn toàn sai lầm, mà bên trong họ cũng có những phẩm chất tốt đẹp.

- Bạn không thể nào thoát khỏi kẻ thù bằng cách lấy oán báo oán, đường lối nầy chỉ tạo thêm thù hận mà thôi. Phương pháp hay nhất để chiến thắng kẻ thù là bày tỏ tình thương yêu thân tình đối với họ. Bạn nghĩ rằng điều này khó thực hiện và không có ý nghĩa gì, nhưng nó đã được trắc nghiệm và chứng minh bởi nhiều nhà trí thức là có hiệu quả tốt đẹp hơn mình tưởng.

- Mỗi khi  biết rằng có người nào đó rất tức giận bạn, trước tiên nên tìm ra nguyên nhân, nếu đó là do lỗi của mình, bạn nên chấp nhận và sẵn sàng xin lỗi ngay. Nếu đó là do sự hiểu lầm của cả hai bên, bạn nên nói chuyện một cách thân tình để làm sáng tỏ vấn đề.

- Nếu bạn bè có lòng ganh tị, bạn nên cố gắng bày tỏ thiện chí thương yêu, những rung động tình cảm sẽ có ảnh hưởng đến họ, chúng ta không thể biết được nó tác động như thế nào, nhưng nhiều người đã có kinh nghiệm chứng tỏ rằng đây là cách dễ dàng, khôn ngoan, có hiệu quả nhất để thâu phục bạn bè, Phật giáo cũng đã đề cao và khuyến khích phương pháp nầy. Muốn thực hành điều nầy bạn phải có lòng tự tin và kiên nhẫn, nhờ vậy có thể làm cho kẻ thù hiểu biết sai lầm của họ. Ngoài ra bạn còn phải tìm nhiều cách để giúp đỡ và trong tâm không còn ôm giữ mối hận thù. ...  

Tình yêu thương 

Khi nào còn có người mà bạn có thể dùng lời tử tế để an ủi, sự có mặt của bạn có thể làm cho họ vui tươi, người mà bạn có thể giúp đỡ cho họ một ít của cải, dù việc thiện lành này nhỏ nhoi bao nhiêu, bạn cũng là người cao quý trong cộng đồng nhân loại. Đừng bao giờ ngã lòng và buồn chán.

- Có những lúc người bạn thương yêu hình như không quan tâm đến bạn, cho nên bạn cảm thấy thất vọng và buồn chán, chẳng có gì quan trọng khi bạn  thấy mình còn nhiều tình yêu thương cho bằng hữu.

 - Hạnh phúc của chúng ta không thể tùy thuộc vào kẻ khác. " Người nào hy vọng có một đời sống an toàn thỏa mãn nhờ vào kẻ khác, như vậy còn tệ hơn kẻ hành khất quỳ gối khóc lóc van xin miếng ăn hàng ngày."

Thiên đường hay địa ngục ở ngay đây  

" Nếu bạn muốn sống trong một thế giới bình an hạnh phúc, thì hãy để cho kẻ khác cũng được sống như vậy, và chúng ta có thể làm cho đời sống ở thế gian có giá trị tốt đẹp hơn 

" Nếu bạn không chấp nhận sống theo nguyên tắc cao quý nầy thì không thể nào tìm thấy hạnh phúc và bình an ở thế gian này. Ban không thể hy vọng có hạnh phúc bình an từ trên trời bằng cách cầu nguyện mà được.

“ Nếu sống thuận theo những nguyên tắc đạo đức duy trì phẩm giá của con người, là bạn có thẻ tạo ra thiên đường ngay tại thế gian này. Bạn cũng có thể tạo ra hỏa ngục trên trái đất này nếu phá hủy giá trị của đời sống nhân loại. 

“ Bởi vì không biết sống thuận theo quy luật vũ trụ chống lại thiên lý, chúng ta thường phạm phải sai lầm. Nếu mỗi người cố gắng sống không hãm hại và biết tôn trọng sự sống, thì có thể vui hưởng hạnh phúc thật sự của thiên đường, còn sung sướng hơn hạnh phúc của những người hy vọng có được sau khi chết.

“ Chẳng cần tạo ra thiên đường bất cứ ở đâu để ban thưởng cho những người đức hạnh, hay tạo ra địa ngục để trừng phạt kẻ độc ác. Chính đạo đức và tội ác đã có những kết quả hiển nhiên trên thế giới này không kể đến niềm tin tôn giáo”.

Tình thương yêu tất cả chúng sinh là phương thức để xây dựng thiên đường tại thế. Chúng ta có những lý tưởng sáng suốt và hấp dẫn về một xã hội con người tốt đẹp bằng cách thực hành lòng bao dung tha thứ thương yêu và luôn quan tâm đến sự tiến bộ và hạnh phúc của kẻ khác. Trong cuộc chạy đua của nhân loại, nhờ có những bậc vĩ nhân nổi tiếng, hướng dẫn chúng ta đạt được tiến bộ như ngày nay. Giúp kẻ khác sống có đạo đức là giúp cho chính mình, tự mình sống đạo đức là giúp cho mọi người.

Vẻ đẹp thật sự  (The Real Beauty) 

...Một thân hình xấu không phải là yếu tố bất lợi đối với một người có nhân cách duyên dáng, nếu một người không đẹp mà biết trau dồi đức tính từ bi, tình thương sẽ biểu lộ nhiều đặc điểm- trong sáng, hiền từ và lịch sự. Sự hấp dẫn ấy sẽ dễ dàng bù đắp cho những khuyết điểm về hình dáng.

Nhận xét qua hình dáng đẹp đẻ bề ngoài của một ngừơi đẹp trai mà có vẻ tự cao kiêu ngạo thì chẳng đáng quý trọng và thật đáng ghét. Nét duyên dáng của nội tâm mới thật là xinh đẹp, nó có một cá tính đặc biệt và hấp dẫn.

 Từ giã thế gian thật khó  

Hầu hết mọi người, cái chết là một biến cố khó chịu không chấp nhận được, còn bao nhiêu điều khao khát chưa được thỏa mãn, công việc làm ăn sinh sống vẫn còn nhiều đau khổ chưa hết. Con người cảm thấy thoải mái với những ảo ảnh hạnh phúc hơn là nghĩ đến sự thật của cái chết...

- Sự quyến luyến gắn chặt với đời sống trần gian tạo ra sự sợ hãi cái chết, nhưng sự thật là thế, đời sống chỉ toàn là đau khổ. Chết là điều tự nhiên không thể tránh được, cái chết tự nó không đáng sợ như ý nghĩ đã tưởng tượng, tâm trí có khả năng tạo ra những bóng ma ảo ảnh của sự chết chóc. Nguyên nhân là vì tâm trí không được huấn luyện để thấy đời sống là vô thường và đau khổ, chúng ta bám vào những ảo ảnh giống như một người chết đuối bám bào một cọng rơm.

- Ngay cả những người nhiệt tâm cầu nguyện đấng siêu nhiên xin tha thứ và để dành cho một chỗ nơi thiên đường cũng vẫn còn lo âu khi cuộc đời sắp chấm dứt.

Sợ chết là biểu lộ của bản năng muốn sinh tồn, nhưng cũng có cách chiến thắng sợ hãi, những công tác vị tha phục vụ cho người ta an tâm có hy vọng và tin tưởng vào đời sau. Lòng bác ái sẽ thanh lọc mọi sự tham luyến cá nhân ích kỷ.

- Tâm trí trong sạch thanh tịnh xả li những ràng buộc thế gian chắc chắn sẽ có đời sống hạnh phúc ở đời nầy. Thường xuyên quán tưởng về cái chết hiểu rõ cuộc đời là vô thường, có đủ trí tuệ để sống bình an sáng suốt, không còn sợ chết nữa... Tăng cường trí tuệ để đối diện với những thực tế ở đời, tránh những ước mơ không thiết thực không thể nào thực hiện được, phát triễn lòng tự tin, chúng ta sẽ sống đời thanh thản, vượt qua mọi sự khó khăn...

Chớ lo âu (Do not worry) 

- Bí mật của một đời sống hạnh phúc và thành công là- việc gì cần thiết thì làm ngay bây giờ, không lo lắng về quá khứ hay tương lai. Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, cũng không thể dự đoán trước tương lai, chỉ có giờ phút hiện tại chúng ta có thể ý thức và hành động.

- Nhiều người chỉ biết lo lắng về tương lai, mà bỏ quên hiện tại, họ phải tự thay đổi để sống phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, bao nhiêu mơ mộng, bao lâu đài xây dựng giữa hư không...chỉ là ảo tưởng. Phải nên nhớ rằng chúng ta đang sống trên thế giới luôn luôn đổi thay biến chuyển...

  " Không có ngôi sao nào có thể tin tưởng,

    Không có ánh sáng chỉ đường,

    Chúng ta hiểu rằng tự mình phải:

    Lương Thiện, Công Bình và Chánh Trực."

Seattle, 5-September-2011. 

NK. phỏng dịch.

Bồ Đề Long Quang. ( ghi chú thêm)

Tóm lại, trong việc nầy tôi thấy còn có một điều may mắn khác nữa, thường thường các trường hợp lính Mỹ đi hành quân bắt những người bị tình nghi là cọng sản đem về đồn hỏi cung, điều tra, xong là đưa qua cho chính quyền VN. Xét xử tiếp, để tha cho về nhà, nếu có tội thì bị bỏ tù hay là xử tử!. Nếu những người bị bắt lần nầy bị đem qua cho người VN điều tra xét xử, bắt khai rõ hồ sơ lý lịch  thì sẽ bày ra nhiều tội trạng, mà nạn nhân và thầy trú trì phải chịu trách nhiệm, là vì trong chùa thầy cho rất nhiều thanh niên trốn quân dịch ở lại, đó là một tội nặng! Vậy mà may mắn người Mỹ biết tự nhận lỗi và sẵn sàng xin lỗi và trả mình về ngay, chứ không giao cho VN điều tra. Dĩ nhiên trong số người bị bắt hôm nay cũng một số quen biết và có thân nhân theo cọng sản, làm sao mà thoát khỏi sự quan hệ và liên lạc được!. Đó là một điều ngay thẳng công bằng đáng ca ngợi, chắc gì người Việt Nam với nhau mà có can đảm nhận loãi mình! Nếu không có tội có khi cũng tạo ra tội giả để vu khống vá áp bức người anh em, đồng bào ruột thịt của mình, chứ không bao giờ ngay thẳng như tinh thần của người Mỹ, biết tôn trọng Tự Do và Sự Thật. Bởi vậy họ mới tiến bộ, giàu có hùng mạnh, còn chúng

ta tự kiêu tự đại là văn minh trí tuệ mà dân tộc vẫn nghèo đói lạc hậu!!!  Nguyên nhân là do lòng tự tư ích kỷ và tính tự kiêu tự đại, che lấp trí tuệ minh mẫn làm cho con người không nhìn thấy Sự Thật và không muốn sửa đổi loãi lầm để tiến bộ…

“Thấy người mà nghĩ lại ta,

Người đà thế ấy còn ta thế nào?

Tình ruột thịt, nghĩa đồng bào

Mình sang người khó nở nào không thương?

Nhìn xem thế sự nhiễu nhưong

Trăm tai nghìn họa đã thường diễn ra.

Trăm năm trong cõi ta bà

Bóng câu cửa sổ thoáng qua mấy hồi.

Kiếp phù du, áng mây trôi

Mênh mang trời đất biết dời về đâu?

Nương theo Phật pháp nhiệm mầu

Tham lam chừa bỏ, ngoõ hầu thoát ly

Dứt trừ sân hận cuồng si

Thiện căn tăng trưởng còn chi sai lầm

Từ bi nuôi dưỡng thân tâm

Trí huệ phát trieån nẩy mầm Liên Hoa.

Seattle, ngày lễ đức Phật thành đạo

(8 tháng chạp Giáp Thân. 2005)

NHỚ  HUẾ

Xuân về thương nhớ Huế thân thương.

Nhìn nước hồ trong nhớ giòng Hương.

Mây trắng bay về nơi vô định

Chiều vắng thông reo đỉnh Ngự Bình.

Trường Tiền mấy nhịp vờn trong nắng

Áo trắng tung bay buổi học tan.

Bến đò Vĩ Dạ còn đưa khách

Về thăm Gia Hội đến Đông Ba.

Qua chợ Đông Ba đủ món hàng

Áo quần vải vóc đẹp và sang

Bông hoa bánh trái bày la liệt

Khách đến rồi đi cảnh rộn ràng.

Đây cầu Gia Hôi tiếp nối Chi Lăng

Rẽ qua Bạch Đằng đến chùa Diệu Đế

Một thuở vàng son nay vắng vẻ

Chẳng ai  còn nhớ bốn lầu hai chuông..

Đường hoa phượng đỏ dẫn đến trường

Pelerin, Quốc Học, Đồng Khánh(Trưng Vương)

Bồ câu, bướm trắng, đàn chim nhỏ

Tan học tung bay khắp nẻo đường.

Mái ngói tường vôi mấy dãy lầu

Những hình bóng cũ biét tìm đâu!

Lối nhỏ lá bàng che rợp nắng

Sân trước vườn sau cỏ úa màu.

Bến đò Thừa Phủ không còn nữa

Sớm chiều qua lại cầu Sông Hương.

Thuyền Rồng xuôi ngược đưa du khách

Lên thăm Thiên Mụ, điện Thiên Y.(điện Hòn Chén)

Vang vọng đâu đây tiếng chuông chiều,

Nhịp mõ lời kinh chốn cô liêu

Theo khói trầm hương lời khấn nguyện

Tâm thành hướng đến cõi cao siêu.

Lên dốc Nam Giao ghé lại Từ Đàm,

Linh Quang, Bảo Quốc, Vạn Phước, Kim Tiên

Đức Sơn, Long Thọ Hồng Ân, Diệu Viên …

Cội gốc Bồ Đề Trúc Lâm, Từ Hiếu…

Đồi thông cỗ mô, lăng miếu trang nghiêm

Gia Long, Minh Mạng, Khải Định, Tây Thiên,

Tự Đức hồ thiêng tung tăng cá lội

Thiệu Trị, Đồng Khánh trầm mặc núi đồi.

Trở về Đại Nội, thăm đế đô xưa,

Gác tía lầu son, ngai vàng vắng vẻ,

Đường ngang lối dọc xe ngựa đâu còn,

Cửu đỉnh trầm hùng dãi dầu sương gió.

Đây hồ Tịnh Tâm sen tàn nắng hạ

Trên lầu Thủy Tạ vắng khách đề thơ.

Văn Lâu bây giờ chợ hoa ngày Tết.

Du khách lũ lượt thăm viếng khắp nơi.

Về làng Phú Ốc có chùa Long Quang

Bên bờ Bồ Giang, tre xanh bao bọc

Trường Trung, Tiểu học nay đã hoang tàn

Ruộng lúa vườn rau gieo trồng nuôi chúng.

Cây cao rợp bóng, đá tảng chen hoa,

Phật điện nguy nga tòa cao Phật ngự.

Giảng đường đồ sộ tứ chúng đồng tu

Hôm sớm công phu tiếng chuông thức tỉnh.

Quê hương thanh tịnh hiền hòa,

Tha phương ngàn dặm cách xa muôn trùng.

Nhớ thương ấp ủ trong lòng

Hẹn ngày tái ngộ ước mong vẹn toàn.

Seattle, 5, January, 2005

13/ ĐỨC  PHẬT  Ở  ĐÂU ?

WHERE IS THE BUDDHA?

Ven. Dr K Sri Dhammananda.

Nguyên Kim dịch.

Người ta thường hỏi câu nầy: “ Đức Phật đã đi đâu?” – “Bây giờ Ngài đang sống nơi nào?”. Đây là một câu hỏi rất khó trả lời cho những người đời sống tâm linh chưa phát triển. Bởi vì họ suy nghĩ về cuộc đời theo kiểu thế gian. Thật khó cho người ta hiểu được quan niệm của Đức Phật.

Một số nhà truyền giáo đến với đạo Phật nói rằng:  “Đức Phật không phải là Thượng Đế, Ngài là một con người. Ngài đã qua đời rồi. Người ta có thể hưởng được gì khi thờ phụng một người đã chết?”

Nhưng chúng ta nên hiểu rằng Đức Phật được tôn xưng là bậc thầy của Trời và người. Khi các vị Trời gặp những điều khó khăn, họ đến gặp Phật để xin lời chỉ giáo. Nhưng rồi lại nói rằng Chúa Trời của họ đang còn sống, vậy mọi người nên cầu nguyện với Chúa.

Theo khoa học, tâm trí chúng ta đã trải qua hàng triệu năm phát triển và hiểu biết. Khi trí óc chưa được phát triển đầy đủ, con người nhận thức rằng có những quyền năng nào đó điều hành vũ trụ. Bởi vì họ không thể hiểu biết chính xác sự vận hành của thiên nhiên, họ nghĩ là phải có một nhân vật sáng tạo và điều khiển những diễn biến nầy. Để giúp cho những người khác hiểu được quan niệm nầy, họ đã biến đổi năng lực nầy thành một hình dạng vật chất tượng trưng cho năng lực nầy như là những bức tượng và tranh vẽ.

Những “Vị Thánh Thần” hay những quyền năng nầy rất quan trọng khiến con người làm điều lành tránh điều dữ, nếu ai làm lành sẽ được ban phước.

Chúng ta luôn luôn sợ hãi, lo âu, bất an và nghi ngờ, bởi vậy cần nương tựa và được bảo vệ bởi một vị nào đó… Rốt cuộc quyền năng nầy đã trở thành một đấng Thượng Đế độc tôn. Bây giờ một số người lệ thuôc vào Thượng Đế mọi chuyện. Vậy nên họ cố gắng trình bày tư tưởng có một linh hồn bất diệt rời khỏi trần gian và sống đời đời ở thiên đàng. Điều này thỏa mãn khát vọng được sinh tồn mãi mãi.

Đức Phật bảo rằng bất cứ vật nào có sinh ra đều phải biến đổi, hư hoại và hủy diệt. (Sanh-Trụ-Hoại-Diệt). Khi phân tích cuộc đời của đức Phật, chúng ta thấy Ngài không bao giờ tự giới thiệu mình là con, hay là sứ giả của Thượng đế, chỉ nói mình là một bậc đạo sư đã giác ngộ. Ngài cũng không tự nhận là một hiện thân của một vị Phật khác. Cũng không do một đức Phật khác tạo ra. Ngài chỉ là một con người đã trải qua một thời gian lầu dài nhiều đời nhiều kiếp tu tập hoàn toàn chứng đắc những phẩm chất, đạo đức

và trí tuệ ba la mật. Khi hoàn thành mọi nhân cách tối thượng, Ngài được giác ngộ, hiểu biết hoàn toàn những sự điều hành của vũ trụ và khám phá ra điều không có thượng đế sáng tạo ra thế giới…

Có người hỏi làm sao Ngài có thể giác ngộ mà không có sự hỗ trợ của vị Trời nào cả. Phật giáo khẳng định rằng mỗi cá nhân có khả năng phát triển trí tuệ để hiểu biết mọi sự vật. Chữ Manussa nghĩa là loài người, trong đó có chữ Mana là trí tuệ, vậy manussa là con người có thể tập luyện cho tâm trí được hoàn hảo. Trừ loài người ra không có một loài nào trong vũ trụ có thể khai mở trí tuệ đến được giác ngộ hoàn toàn. Những vị thiên thần cũng không thể thành Phật, đời sống của họ rất sung sướng, bình an vui thú, nhưng năng lực suy tư thì yếu kém. Chỉ loài người là có thể thành Phật là bậc Đại Giác Ngộ.

Khi có người nào nói Đức Phật không phải là Chúa Trời, chúng ta không nên cố gắng chứng minh rằng Ngài là một vị trời. Nếu làm vậy thì quan niệm nầy làm giảm giá trị của sự Giác Ngộ. Một số người cho rằng chúa của họ đã trao thông điệp cho nhân loại. Nếu thông điệp nầy là trao cho tất cả mọi người trên thế gian, tại sao chúa không công bố công khai trong dân chúng, thay vì chỉ tiết lộ cho độc nhất một người! Đức Phật không khuyến khích bất cứ ai tin tưởng hay phê phán điều gì được chỉ đạo bởi một thần lực nào.

Một hôm, một vị tu sĩ Tin Lành và những đệ tử của ông đến thăm tôi để thảo luận về Phật pháp, ông ấy hỏi: “ Ngài có thể cho chúng tôi biết thật sự người Phật tử tin tưởng điều gì?” Rất chân thành tôi trả lời : “Phật tử không tin tưởng vào bất cứ cái gì cả!”. Ông chỉ vào quyển sách của tôi “What Buddhists Believe” [ Phật tử tin tưởng điều gì?] và hỏi “Tại sao Ngài viết quyển sách nầy?”  Tôi trả lời :”Chính vì lý do nầy mà tôi đã viết để cho ông đọc và xem thử có điều gì cho ông tin tưởng không.”

Ông hỏi lại: “Như thế, Ngài cho biết người Phật tử tin gì?”

Tôi nói Đức Phật đã trả lời cho câu hỏi đó, Ngài khuyên chúng ta nên làm gì. Thay vì tin tưởng, người ta phải thực hành 3 điều: Học hỏi, Thông hiểu và Thực Hành ( Văn –Tư – Tu ). Trước tiên chúng ta phải hiểu biết, chớ nên tin tưởng một cách mù quáng.Trong Bát Chánh Đạo, điều đầu tiên là Chánh Kiến.

Đức Thế Tôn bắt đầu truyền bá giáo lý bằng cách dạy bảo các đệ tử mở mang chánh tri kiến hơn là tin tưởng mù quáng. Sau khi học hỏi chúng ta có kiến thức kỳ diệu về Đức Phật và giáo pháp của Ngài.

Các bạn phải thực hành những điều đã học. Nếu không thông hiểu bạn sẽ tạo ra những ý tưởng do sự tưởng tượng của mình.

Lời khuyên của Ngài là hãy thực hành những gì bạn đã học và hiểu biết rõ ràng. Sau khi thực hành, bạn chứng nghiệm kết quả, rồi nhận thức được sự thật. Đây là ba phương pháp Đức Thế Tôn đã dạy: -Học hỏi, hiểu biết và thực hành. Đây chính là cách sinh sống hạnh phúc ở thế giới này.

Bây giờ bạn có thể hiểu phương pháp Đức Phật giảng dạy là không bảo chúng ta tin tưởng bất cứ điều gì, nhưng mà học, thực hành và chứng nghiệm kết quả.

Ví dụ như Đức Phật dạy rằng các bạn phải tử tế và lương thiện. Sau khi hiểu rõ lời dạy bảo, bạn cố gắng thực hành. Khi mọi người biết bạn rất tử tế và hiền lương, họ kính trọng bạn. Không có ai muốn quấy rầy hay kết tội bạn.

Đó là kết quả tốt đẹp mà bạn kinh nghiệm được. Đức Phật cũng khuyên các bạn phải cố gắng nhận thức theo trình độ của mình, xem xét những kết quả do chính mình thực tập. Bạn hiểu biết lý do tại sao việc nầy sai, việc kia đúng và bạn không phải tuân theo mệnh lệnh đến từ thiên giới. Bạn có trí óc biết suy nghĩ và tri giác để hiểu biết. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của chúng ta đủ để nhận thức sự việc đúng hay sai. Thí dụ Đức Phật khuyên chúng ta không nên sát hại chúng sinh. Ngài không nói đây là luật lệ của tôn giáo bởi vì một người có ý thức đều biết rằng sự giết hại sinh mạng là độc ác. Chúng ta có thể nhận biết điều nầy là xấu, vì rằng nếu có ngươì nào đến giết chúng ta, chắc hẳn chúng ta không thích. Ngài lại hỏi bạn có cảm tưởng thế nào khi người ta lấy cắp những vật quý báu của mình? Cũng như thế khi mình lấy cắp vật sở hữu của người khác thì họ cũng không thích. Chúng ta không cần phải chấp nhận những mệnh lệnh từ bất cứ vị Trời nào, từ Đức Phật hay Chúa Jesus để hiểu biết quan niệm đơn giản nầy. Những bậc đạo sư xuất hiện trên thế gian để nhắc nhở lại những gì chúng ta đã quên lãng. Kinh nghiệm và sự hiểu biết của chính bạn cũng đủ để nhận thức được sự phải trái.

Đức Phật khuyên chúng ta nên suy nghĩ và hiểu biết. Con người có khả năng lý luận khác vơí những chúng sinh khác có trí óc nhưng không biết suy nghĩ. Chúng chỉ biết gìới hạn trong việc tìm kiếm thức ăn, chỗ ở, tự bảo vệ và cảm giác. Trí óc loài người có thể phát triển sâu rộng hơn không có giới hạn. Bởi vậy nên những nhà khoa học đã thám hiểm và khám phá ra nhiều việc trước kia chưa bao giờ nghe thấy. Chỉ có con người mới có khả năng mở mang trí tuệ để được giác ngộ và thành Phật.

Đức Thế Tôn bảo chúng ta hãy làm việc theo kinh nghiệm của chính mình, rôì sẽ đạt được kết quả.

Tín đồ của các tôn giáo khác chào hỏi nhau bằng cách nói “Thượng đế ban phước cho bạn!” Nhưng Phật tử rất ít khi chào nhau với câu “Phật gia hộ bạn!”, mà họ nói câu: “Tôi quy y đức Phật!” (Mô Phật!).

Chủ đề của chúng ta là “Đức Phật ở đâu?”

Chúng ta có thể nói đức Phật ở trên trời, ở Niết bàn hay đang ở một nơi nào đó… Ngài đi về đâu? Nên nhớ rằng mọi câu hỏi đều từ quan điểm thế gian.

Sau khi giác ngộ, đức Phật tuyên bố : “Đây là lần sinh ra cuối cùng, ta sẽ không còn tái sinh nữa. Ta đã hoàn toàn chấm dứt vòng sanh tử đau khổ vô tận ở thế giới nầy. Những khoái lạc vui thú của con người chỉ là những cảm giác nhất thời mong manh, kết thúc trong thất vọng phiền não. Suốt cả cuộc đời chúng ta đã nhận chịu vô số những đau khổ, âu lo, những khó khăn chướng ngại, tai họa và thất vọng lớn lao về vật chất lẫn tinh thần. Trong thế giới nầy, không một ai có thể nói rằng họ hài lòng với cuộc sống. Mọi người đều phàn nàn về những khó khăn về vật chất và tinh thần. Hiểu thấu tình trạng nầy nên

đức Phật chấm dứt sự tái sinh. Đây gọi là giải thoát nghĩa là không còn bị đau khổ về vật chất lẫn tinh thần. Còn có thân xác vật chất hay một thứ thể xác nào khác, chúng ta không thể vượt khỏi sự đau khổ. Bởi vậy nếu không muốn đau khổ, điều tốt nhất là chấm dứt sự sinh ra đời. ( Có sinh ra tất nhiên phải có Chết!) Chúng ta mong ước được hiện sinh, tham vọng nầy rất mạnh mẽ trong tâm, chúng ta muốn sinh ra mặc dầu phải chịu những đau khổ, những khó khăn, bịnh tật và nhiều chướng nạn khác nữa…, là do lòng tham và ngu muội. Hãy quan sát những gì đang xảy ra trên thế giới nầy, toàn thể thế gian là một trường tranh đấu, khắp nơi có bạo động, đổ máu, chiến tranh, chết chóc và tàn phá.

Loài vật không tạo ra những việc đau khổ không cần thiết. Khi đói chúng đi tìm mồi, ăn no rồi là đi ngủ. Nhưng con người thì không bao giờ thỏa mãn, lòng tham lam chiếm hữu quá nhiều, do đây mà phát sinh ra ganh tị, thù oán, giận hờn, hung dữ và độc ác. Thú vật không có lòng hung ác nhiều như vậy.

Nhân loại có tôn giáo. Tôn giáo không phải chỉ có thờ phượng và cầu nguyện, nhưng cần trừ bỏ những tư tưởng xấu để có thể phục vụ chúng sinh.

Những nghi thức tôn sùng đạo giáo là quan trọng nhưng không thể phát triển tâm trí để có hiểu biết và trí tuệ hoàn hảo.

Trước khi đức Phật nhập diệt, rất nhiều đệ tử cung kính đem hoa đến cúng dường. Ngài bảo họ hãy trở về, nếu thực sự tôn kính ngài thay vì cúng dường hoa, các ngươi nên thực hành ít nhất một điều ngài đã khuyên bảo. Đây mới là thực sự kính trọng Phật.

Bây giờ bạn hiểu đức Phật muốn điều gì. Sinh hoạt tôn giáo không phải chỉ có cầu nguyện mà phải tuân theo lời dạy bảo của ngài. Tì kheo Bakkula hàng ngày đến ngồi trước Phật để chiêm ngưỡng ngài. Một hôm đức Phật hỏi :

-“Ông làm gì ở đây?”

-Bạch Thế Tôn: “Khi được chiêm ngưỡng Ngài, con có rất nhiều hạnh phúc.”

Đức Phật bảo: “ Bakkula! Ngươi được ích gì khi nhìn ngắm cái thân dơ bẩn, vô thường nầy? Ngươi chỉ nuôi dưỡng cái tình cảm mà thôi, chẳng thể nào có được tri thức và hiểu biết. Nhà ngươi không thể thấy Phật chân thật qua thân thể nầy. Chỉ có kẻ nào thấu hiểu Phật pháp mới thấy được Phật.

Khi nghiên cứu lịch sử Ấn Độ, trong khoảng 500 năm không bao giờ có hình tượng Phật, bởi vì Ngài không khuyến khích ai tạo dựng hình ảnh chính mình. Chính là do những người Hy Lạp tạo ra hình tượng của Phật và những tôn giáo khác. Cho nên bây giờ có nhiều hình ảnh và tượng Phật lan tràn khắp thế giới.

Những người theo tôn giáo khác chê trách chúng ta là những kẻ tôn thờ thần tượng. Thật sự họ không biết Phật tử đang làm gì. Sau thời Phật vài trăm năm, có vị tì kheo nổi tiếng là pháp sư Upagutha, có hàng ngàn người đến nghe mỗi khi ông thuyết pháp. Ma vương không hài lòng vì càng ngày càng nhiều người trở thành tín đồ tin theo Phật giáo.

Ma vương không phải là chúng sinh nhưng là những sự chướng ngại lớn lao về tinh thần ngăn cản người nào hướng về đời sống tôn giáo. Ma vương là hiện thân của Ác thần. Nó tạo ra những thứ vui rất hấp dẫn trước cửa chùa như ca hát, khiêu vũ và những trò chơi… Dần dần, những tín đồ đi theo Ma vương, và không có ai đến nghe thuyết pháp nữa. Upagutha quyết định dạy cho Ma vương môt bài học hay, ông cũng đến xem, khi cuộc trình diễn kết thúc, Upagutha nói: “ ông thật sự tán thưởng cuộc biểu diễn và muốn quàng một vòng hoa lên cổ của Ma vương.” Ma rất hảnh diện, khi vòng hoa được tròng vào cổ, nó cảm thấy vòng hoa quấn chặt như một con trăn. Nó cố gắng mở ra nhưng không thể được. Nó tìm đến Shakra vua các vị Trời nhờ cởi vòng hoa ra. Shakra cố gắng hết sức cũng không thể lấy vòng hoa ra được. Rồi Ma vương lại đến Phạm vưong là chúa tể sáng tạo vũ trụ, để nhờ cởi vòng hoa, mặc dầu cố gắng cũng chẳng mở vòng hoa ra được. Bởi vậy Phạm vương bảo Ma vương chỉ có người đã đặt vòng hoa vào mới cởi nó ra được  thôi. Ma vương trở về khẩn cầu đại đức Upagutha mở vòng hoa tha chết cho nó. Upagutha nói: “Việc đó chẳng khó gì, nhưng phải có hai điều kiện. Thứ nhất, phải hứa từ nay về sau không được quấy rối những công tác Phật sự.”Thứ hai : “Người đã nhìn thấy đức Phật mấy trăm năm trước, nay ngươi dùng thần thông hiện ra hình của đức Phật cho ta xem.” Ma vương đồng ý, nhưng nói rằng: “Yêu cầu ngài đừng lễ bái khi tôi hiện hình đức Phật, vì tôi không phải là một người thánh thiện.”

Đại đức Upagutha nói: “ Ta sẽ không lễ bái ngươì đâu.”

Tuy nhiên khi ma hiện ra hình Phật trông như thật, nên đại đức tỏ lòng tôn kính. Ma vương nói: “Ngài đã hứa là không đảnh lễ tôi mà!”

Upagutha trả lời: “Ta không lễ ma vương mà lễ Đức Phật!”

Đây là một thí dụ rất hay để nói cho mọi người biết ý nghĩa của sự kính lễ hình tượng đức Phật. Khi bạn dùng một tượng Phật để lễ kính hay làm đề mục tu thiền. Đây không phải tôn thờ thần tượng nhưng qua hình ảnh nầy chúng ta thỉnh Phật vào tâm mình. Sự kiện sau đây giúp chúng ta hiểu hình tượng Phật tác dụng đến tâm trí con người như thế nào. Vào thời Đệ Nhị Thế chiến tại Miến Điện, có vị tổng tư lịnh quân đội tìm thấy một tượng Phật nhỏ xinh xắn khiến tâm ông cảm xúc mạnh. Ông gởi tượng nầy về cho ông Sir Winston Churchill là thủ tướng của nước Anh với câu ghi chú “Xin vui lòng để bức tượng nầy trên bàn viết của ngài. Khi nào có sự lo lắng hay bực mình hãy nhìn vào gương mặt của tượng. Tâm trí ngài sẽ được êm dịu thanh thản!”

Ông Nehru thủ tướng Ấn Độ bị chính quyền Anh  bắt giam, lúc ở trong tù ông đem theo một tượng Phật nhỏ để trên bàn ngắm nhìn Phật và suy nghĩ : “Mặc dù gặp bao nhiêu khó khăn chướng ngại trên thế gian này, Đức Phật vẫn giữ nụ cười an nhiên tự tại. Tại sao ta không theo gương bậc vĩ nhân nầy?”

Một nhà học giả Pháp Anatole France đến thăm Viện Bảo Tàng Luân Đôn, lần đầu tiên trong đời trông thấy một tượng Phật, ông nói : “Nếu Chúa Trời giáng sanh hạ giới cũng

không ngoài hình dáng nầy.”

Tuy nhiên hình ảnh cũng không quan trọng lắm, có nhiều người tu tập theo lời Phật dạy mà không cần đến hình tượng. Chúng ta không thờ phụng, không cầu nguyện, không cầu xin một thứ gì từ hình ảnh, chúng ta chỉ kính trọng hình ảnh của một bậc đạo sư vĩ đại.

Có đạo hữu thờ một tượng Phật suốt 45 năm trong nhà của ông. Một hôm có  nhà truyền giáo đến nói là ông đang thờ một ác thần. Ông chẳng biết trả lời ra sao. Thật đáng ngạc nhiên khi một người tôn thờ một hình tượng trong 45 năm mà không biết nói gì khi có kẻ chê trách. Đây là điểm yếu kém của một số Phật tử. Họ theo truyền thống thờ phụng, cầu nguyện, cúng dường, tụng kinh, nhưng không cố gắng hiểu biết giáo lý của Thế Tôn.

Bây giờ bạn có thể hiểu là có hình ảnh Đức Phật hay không, bạn cũng thực hành được Phật pháp. Bởi vì Phật Đà không phải là thân xác thịt nầy.

Theo Phật giáo đại thừa, Phật có ba thân: Ứng thân, Báo thân và Pháp thân.

Ngài dùng ứng thân và báo thân trong việc ăn uống, ngủ nghỉ, đi đứng, nói chuyện, giảng dạy và thuyết pháp. Khi Phật nhập Niết bàn, hai thân nầy không còn. Nhưng pháp thân thì tồn tại vĩnh viễn.

Trong đại thừa Phật giáo có đức Phật A Di Đà ở cõi Tịnh Độ. Những ai thành kính trì niệm danh hiệu của Ngài được vãng sanh về Tịnh Độ và sẽ chúng đắc quả Phật. Theo pháp môn nầy người ta tin tưởng và hy vọng đức Phật còn tồn tại cho đến ngày tất cả chúng sinh đếu được giải thoát.

Đức Phật đã nhắc nhở rằng: “Dù đức Phật có xuất hiện hay không, giáo pháp vẫn tồn tại mãi mãi trên thế gian nầy.” Phật ra đời vì biết rằng con người đã quên mất chánh pháp, họ không hiểu nên tạo ra quan niệm sai lầm tùy theo sự tưỏng tượng làm cho chánh pháp bị lu mờ.

Việc nầy đang diễn ra ngày hôm nay, 2500 năm sau khi đức Phật khám phá ra chân lý. Trong nhiều quốc gia, người ta lại suy diễn sai lầm giáo lý với danh nghĩa của Phật. Họ không thật sự tuân theo lời dạy của Phật, họ hòa nhập Phật giáo với truyền thống văn hóa của xứ họ mà gọi là Phật pháp. Thật sự là đệ tử Phật, chúng ta phải học và thực hành những gì đức Phật giảng dạy để được giải thoát.

Khi thực hành Phật giáo chúng ta không cần biết đức Phật ở đâu hay đi đâu.

Thí dụ khi dùng điện chúng ta không cần phải biết ai là người phát minh ra điện, ông ấy người nước nào và tên ông là gì. Đối vơí năng lực nguyên tử, máy điện toán (computer) chúng ta cần xử dụng sản phẩm đó mà không cần thiết phải hiểu ai là người phát minh và tên họ là gì…

Cũng giống như trên, không cần hỏi Phật ở đâu hay đi đâu. Nếu giáo lý Ngài giảng dạy là đúng chân lý, có  giá trị và hiệu quả tốt… Tại sao cần phải biết Ngài ở đâu. Đức Phật không bao giờ nói Ngài có thể đưa chúng ta lên thiên đường hay xuống địa ngục. Phật chỉ

dạy cho chúng ta nên làm gì và không nên làm gì để được giải thoát. Đây là điều Ngài làm được. Bổn phận của bạn là thực hành những lờì Phật dạy.

Có kẻ bảo rằng chúa Trời có khả năng rửa sạch tội lỗi của con người. Đức Phật không bao giờ nói người nầy tạo tội mà kẻ khác có thể rửa sạch được.

Không có Phật hay chúa nào có thể làm được việc tha tội cho kẻ khác.

Khi một người sắp chết nói rằng anh ta tin chúa, vậy chúa có thể rửa sạch tội lổi của anh đã làm không?

Giả thử bạn đang nóng giận, bạn biết việc ấy là sai, nhưng không biết làm thế nào cho khỏi giận. Vì thế bạn cầu nguyện chúa lấy sự giận dữ ra khỏi tâm bạn được không? Nếu bạn đến lễ Phật và xin Ngài lấy sự nóng giận đi, Ngài cũng không thể làm điều đó được. Nhưng đức Phật có thể dạy bạn làm thế nào để chấm dứt cơn giận dữ. Tùy theo năng lực và sự hiểu biết của bạn ngoài ra không một ai có thể làm giúp được. Chính bạn phải nhận biết rằng:

“Sự giận dữ là nguy hiểm, tạo ra nhiều khó khăn và làm hại đến kẻ khác. Ta phải dứt trừ nóng giận bằng cách dùng năng lực trí tuệ, từ bi và nhẫn nhục để cương quyết loại bỏ sự giận dữ ra khỏi tâm trí.”

Đức Phật có lời khuyên cho những ai đã làm điều ác hay tạo nghiệp xấu, là  họ không thể tránh khỏi hậu quả xấu bằng cách cầu xin Phật hay Chúa. Tuy nhiên khi người ấy biết rằng mình đã làm những việc xấu xa, và nguyện chấm dứt không còn tái phạm nữa, trong tâm phải có quyết định mạnh mẽ làm nhiều việc thiện tạo nghiệp tốt đẹp. Khi đã tạo được nhiều việc phước thiện, thì kết quả của nghiệp xấu trước kia có thể được thay thế bởi thiện nghiệp. [ Và thực hành Nhẫn nhục, Từ bi và Trí tuệ. ]

Thí dụ như tên cướp giết người Angulimala, đã giết chết 999 người. Anh ta nguyện giết một ngàn người để được lên thiên đàng. Bởi vậy khi nhìn thấy đúc Phật đi đến, anh rất vui mừng chạy theo để giết Phật cho đủ số 1000 người.

Biết rằng rất khó chuyển hóa người nầy bằng lời khuyên răn, đức Phật dùng một ít thần thông để khuất phục anh chàng nầy. Ngài bước đi chậm rãi thong thả, nhưng Angulimala chạy hết sức cũng không thể đến gần được. Anh ta kêu lên: 

-“Xin Phật hãy dừng lại!”

-“Ta đã dừng rồi chỉ có nhà ngươi chạy thôi!”

-“Tôi thấy Ngài đang đi , sao nói đã dừng được?”

-“Ta đã dừng nghĩa là dừng sự giết hại kẻ khác. Ngươi đang chạy nghĩa là đang còn phạm những điều tội lỗi. Nếu ngươi dừng lại thì mới có thể đến gần ta.”

-“Tôi không hiểu Ngài muốn nói gì.”

-“Ta đã dừng chém giết, ngươi thì đang làm điều ấy, đó là ý nghĩa của việc ngươi đang chạy. Ngươi đang chạy trong vòng luân hồi sanh tử.”

Angulimala nhận biết mình đã sai lầm và quyết định đi theo làm đệ tử của Phật. Anh trở thành một tì kheo thực hành thiền định rất tinh tấn, sau đó thành bậc Alahán và đắc quả niết bàn an lạc. Khi đã phát triển đại thiện nghiệp thì ác nghiệp không có cơ hội để có tác dụng nữa. Đức Phật dạy phương pháp để dứt trừ nghiệp chướng bằng cách thực hành nhiều phước thiện, chứ không phải do lời cầu xin mà được.

Nếu tôi nói Phật đang sống ở một nơi  trong vũ trụ dưới một hình dạng nào đó, tức là trái với giáo lý của đức Phật. Hoặc là nói Phật không sống nơi nào, cũng không có hình dáng nào cả, rất nhiều người không hài lòng bởi vì lòng tham sống của họ không được thỏa mãn.

Vậy nên nói đó là cảnh giới của chư Phật:  “Không có cũng không không, chấm dứt mọi đau khổ vật chất và tinh thần đắc quả niết bàn an lạc giải thoát.”

Có người thật sự cần thiết hình ảnh của đức Phật để làm cho tâm trí họ êm dịu thanh thản. Làm nhẹ bớt căng thẳng, sợ hãi và lo âu. Chúng ta nói Phật còn sống hay không đều sai. Giáo lý của Phật có khả năng cho chúng ta một đời sống bình an, hạnh phúc, tự do…vậy là quá đủ. Giống như một bác sĩ tìm ra phương thuốc có thể trị lành bịnh, chúng ta đâu có cần phải biết ông ấy còn sống hay đã qua đời? Việc quan trọng là uống thuốc để chửa lành bịnh.

Giáo lý đức Phật giúp chúng ta  khỏi khổ. Đức Phật cho chúng ta có quyền tự do suy nghĩ bằng cách dùng tri giác và lý luận để thấu hiểu bản chất chân thật của sự vật hiện hữu.

Khắp nơi trong vũ trụ, mọi sự vật đều vô thường thay đổi và hủy diệt, bởi vì tất cả đều giả hợp, tạo thành bởi nhiều yếu tố vật chất, năng lực, tinh thần và nghiệp lực. Cho nên không có vật gì có thể tồn tại mãi mãi. Hiểu được như vậy rồi, Phật giáo giúp chúng ta làm sao để đối diện và vượt qua  những điều khó khăn, đau khổ của thân tâm, những thất vọng và bất mãn. Chúng ta phải hành động khôn ngoan để chấm dứt những vấn đề khó khăn, bằng cách hiểu rõ bản chất và nguyên nhân, chứ không phải nhờ sự thờ phượng và cầu xin mà giải quyết được.

Nếu bảo rằng Đức Phật đã nhập Niết Bàn, thì người ta sẽ nghĩ niết bàn là một nơi nào đó. Niết bàn không có nơi chốn, nó là một trạng thái tinh thần  mà chúng ta có thể chứng nghiệm sự giải thoát cuối cùng. Không thể nói Đức Phật đến đâu hay đang ở đâu, nhưng thật sự Ngài đã chứng quả niết bàn an lạc, mục đích cuối cùng của đời sống.

Như vậy câu trả lời hay nhất cho câu hỏi “Đức Phật ở đâu?” là:

-“Đức Phật ở trong Tâm, khi bạn nhận thức được Chân Lý Tối Hậu.”

Olympia,  Oct. 16. 2006. 

14/   MAY RỦI  BẤT NGỜ

     Câu chuyện trộm viếng chùa Liên  Hoa, Olympia. WA.

1./ Chùa Liên Hoa

Chùa Liên Hoa ở Olympia là thủ phủ của tiểu bang Washington.

Chúng tôi có cơ duyên làm việc với chùa từ năm 2001, ngày vừa bước chân lên đất Mỹ là đến nơi đây cùng Phật tử và đồng hương đón mừng Xuân Tân Tỵ. 2001.

Từ đó, năm nào tôi cũng có về chùa Liên Hoa tham dự các buổi lễ lớn. Sau khi ở tại chùa Cổ Lâm, Seattle 5 năm, đến năm 2006 tôi về chùa Liên Hoa ở luôn cho đến hôm nay.

Sinh hoạt chùa Liên Hoa rất ít ỏi, mỗi tuần chỉ có một số Phật tử và các em trong GDPT. đến chùa tụng kinh, nghe pháp, học tiếng Việt… từ 12:00 đến 4:00PM là mọi người ra về hết, để lại ngôi chùa nhỏ bé trong cảnh yên tịnh vắng vẻ suốt một tuần không có tiếng ồn ào, đặc biệt chiều thứ năm từ 6:30 đến 9:00PM có nhóm Phật tử người Mỹ độ chừng 30 người đến chùa Tu Thiền, họ tu tập siêng năng và chịu khó hơn cả ngưòi Viêt nữa, dù mưa hay nắng họ đều đến chùa sinh hoạt đều đặn. Nhờ đây mà tôi có dịp quen biết với nhiều người bạn Mỹ để học thêm tiếng Anh và họ cũng giúp lại nhiều việc, như giúp tôi chuyển dịch những bài thơ , văn sang tiếng Anh, liên lạc và chở đi thăm, nói chuyện Phật pháp trong các trại tù ở Aberden, Mc New Island…

“ Về Liên Hoa sống ẩn cư

Vườn chùa thanh tịnh âm u  rừng tùng.

“Tiểu Bang Xanh” ngát một vùng

Olympia thủ phủ tưng bừng nở hoa.

Anh em bốn biển một nhà

Về đây hội tụ chan hòa niềm vui.

Tâm hồn thanh thản thảnh thơi

Lắng nghe chim hát mỉm cười với hoa.

Dạo chơi đồi núi bao la

Biển khơi núi tuyết, vườn hoa bạt ngàn.

Công viên , hồ rộng, chim đàn

Đua nhau bay lượn rộn ràng bên chân.

Du khách, người, thú quen thân

Môi trường trong sạch chẳng phần nhiễm ô.

Về đây an phận ẩn cư….”

2./ Ba vị sư, ba quốc tịch.

Trong chùa Liên Hoa có ba thầy mang ba quốc tịch cùng ở với nhau, Thầy Ananda người Tích Lan về ở đây đã gần 10 năm, Phật tử thường gọi là Bhante, nhưng thầy không nói được tiếng Việt nên sinh hoạt khó khăn, không giảng dạy Phật pháp cho Phật tử được. Thầy lại hay đi xa, mỗi lần về đều có quà cho mọi người… Ai cũng vui vẻ thân thiện với Bhante. Mỗi khi đến ngày lễ, thầy Ananda rất nhiệt tình làm việc trang trí, treo cờ, bắt điện, đi mua sắm lễ vật, sửa sang tu bổ mái chùa, phòng ốc… Thầy đã in rất nhiều sách bằng tiếng Anh để ấn tống phổ biến Phật pháp cho mọi người….

Nhà sư thứ hai người Mỹ tên là Charles Lloyd, đệ tử của thiền sư Duy Lực nên có pháp danh là Lick Ching ( Lực Chứng ). Thầy Lực Chứng gặp tôi tại chùa Cổ Lâm, muốn tìm một nơi yên tịnh để tu thiền, nên tôi giới thiệu thầy về chùa Liên Hoa, ở đây đã hơn một năm. Mỗi ngày thầy ngồi thiền 4 thời, mỗi thời 1:30’. Thầy im lặng ít nói chuyện , có ai hỏi thì mới trả lời mà thôi. Mỗi chiều Chủ Nhật cũng lên chánh điện làm lễ, trước khi tụng kinh tiếng Việt, tôi mời thầy tụng bài kinh Bát Nhã Ba La Mật trước bằng tiếng Anh. Cũng như thầy Ananda thì tụng bằng tiếng Pali một bài kinh ngắn rồi tiếp theo chúng tôi tụng kinh bằng tiếng Việt.

Thầy Lực Chứng cũng có dạy Phật pháp cho các em trong GDPT. bằng tiếng Anh.

Thứ ba là Nguyên Kim, ở Việt Nam qua Mỹ đã 6 năm. Chúng tôi ở chung với nhau ai có bổn phận nấy, không có gì chướng ngại.

“Bhante người xứ Tích Lan

Pháp danh thường gọi thầy Ananda.

Thường trú tại chùa Liên Hoa

Gần mười năm chẵn chan hòa niềm vui.

Thường xuyên du lịch ngược xuôi

Mang về quà cáp tặng người thân quen.

Chào mừng ăn nói huyên thuyên

Tính người hào phóng chẳng phiền lòng ai.

Về Arizona lo chuyện tương lai

Dựng xây cơ sở giúp người địa phương

Trung tâm xã hội tình thương

Tu tập thiền định chỉ đường an tâm.”

- “ Thiền sư người Mỹ Charles Lloyd

Pháp danh Lực Chứng ít cười ít phô

Ra vào đi đứng lặng im

Mỗi ngày bốn buổi tọa thiền thường xuyên.”

“ Nguyên Kim tuổi tác già nua

Ngày tháng thong dong mến cảnh chùa

Niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ

Quên hết ngoài kia chuyện hơn thua.

Hơn thua được mất ở đời

Tha phương muôn dặm quê người lang thang.

Cõi về còn đó hoang mang

Bao nhiêu tâm sự buộc ràng quê hương.

Vẫn còn vương vấn yêu thương…”

3./ Thân hữu.

Cách đây 4 năm, vào dịp lễ Quán Thế Âm bồ tát ngày 19-tháng 9 AL., tại chùa Liên Hoa, có một gia đình gồm bà ngoại và mẹ dẫn hai cô con gái, xin làm lễ quy y, đó là hai chị em: Hoàng Kiều Bảo Khanh pháp danh Quảng Hòa và Hoàng Kiều Thụy Khanh pháp danh Quảng Vân. Thầy Nhật Trí làm một lễ quy y rất đầy đủ nghiêm trang, có nhiều Phật tử cùng hộ niệm, sau thời giảng giải ý nghĩa quy y cho các em, thầy Nhật Trí giao cho tôi đặt pháp danh, và nói rằng sau nầy thầy Nguyên Kim sẽ về trú xứ chùa Liên Hoa, nên để thầy làm sư phụ. quả là như lời dự đoán, bây giờ tôi đã về an trú nơi đây.

Từ ngày về chùa Liên Hoa, gặp lại Bảo Khanh và chồng tên La Bảo thường đến chùa thăm viếng, học hỏi Phật pháp. Giúp đỡ cho tôi rất nhiều. Bây giờ Bảo Khanh đã là một bác sĩ có phòng khám riêng tại West side. Olympia. La Bảo làm việc cho State (nhà nước). La Bảo thích vẽ và làm vườn đã giúp tôi tạo nên một Rock Garden một vườn có trang trí những hòn đá lớn do người bạn Mỹ chủ công ty Rainy and Sunny Landscaping chở đến tặng. Còn những cây hoa và cây Bonsai do những Phật tử đem đến, trong vườn chúng tôi tạo một Labirine một con đường đi vòng quanh để thiền hành, hay niệm Phật, lát bằng những tấm đá đúc bằng ximăng Step-stone.

Vợ chồng Bảo Khanh mỗi buổi chiều thứ hai hàng tuần sau giờ làm việc thì đến chùa, Khanh lo sửa soạn bữa cơm chiều, Bảo đi thỉnh Đại hồng chung (chuông lớn, mỗi buổi chiều vào lúc 6:30PM đều có một Phật tử đến công phu thỉnh chuông U Minh.).

Sau nửa giờ, Khanh làm xong bữa cơm tối, Bảo cũng kết thúc thời thỉnh chuông. Chúng tôi cùng dùng cơm chay và nói chuyện đạo, những ngày khác trong tuần, chúng tôi nhà sư Mỹ, sư Tích Lan đều tự nấu ăn, ngoại trừ chiều thứ hai do Bảo Khanh, trưa thứ Tư do anh Nhân đi chợ mua sắm thức ăn đem đến chùa hay là nấu tại nhà đem đến, trưa thứ Sáu hàng tuần thì do anh Sáu Vẽ order đặt thức ăn từ nhà hàng Little Sài Gòn đem đến. Anh Sáu Vẽ trước đây 2 năm là một nhà thể thao chơi bóng bàn và tennis hạng nhất tại Olympia, ngày nào anh cũng luyện tập thể thao, chạy bộ Maraton 26 km. Là một lực sĩ rất khỏe mạnh, ai cũng biết tiếng. Lại có tài làm thơ và họa nên bạn bè gọi anh là Sáu Vẽ. Anh thích  đánh cờ tướng nữa cho nên bạn bè rất nhiều. Anh có ba nguời con trai đều chơi Tennis giỏi.

Vậy mà, vào một buổi chiều Chủ Nhật, sau khi chơi tennis xong, về nhà, tắm rửa, ăn cơm và đi ngủ… Sáng hôm sau bị tai biến mạch máu nảo (Strok), nằm mê man bất tỉnh liền chở đến bịnh viện cấp cứu. Cứu chửa một tháng mới tỉnh, anh bị tê liệt tay chân bên trái. Từ đó nghỉ việc, hàng ngày đi tập luyện tại trung tâm thể dục, uống thuốc…

Nửa năm sau anh có thể chống gậy đi lại, có thể lái xe ôtô tự động chỉ bằng một tay và một chân để đi bác sĩ, đến trung tâm thể dục và đến chùa đánh bóng bàn, mặc dù anh chỉ

đứng yên một chỗ, không di chuyển được vậy mà anh vẫn chơi hay…và tôi có bạn để tập luyện thể thao.

“ Một thời nổi tiếng anh tài

Thể thao, quần vợt, bóng bàn một cây.

Ai ngờ chỉ một phút giây

Ra người tàn phế, chết ngây mấy tuần.

Thuốc men chạy chữa ân cần

Bây giờ tê liệt nửa phần tay chân.

Đến chùa tập luyện bóng bàn

Ăn chay học Phật thân tâm nhẹ nhàng…”

Ngoài những người bạn Việt Nam gần gũi, cũng có những bạn Mỹ đến chùa ăn cơm chay và học tiếng Việt để chuẩn bị đi du lịch Việt Nam, như cô Bonnie giáo viên thể dục, bà Connie Corson là bác sĩ thần kinh, ông Dan Ryan giáo sư về hưu làm việc cho hội Từ Thiện, thường chở chúng tôi và những nhà sư Thái Lan đi thăm các trại tù ở Olympia. Anh Shaun Mouton nhà ở bên cạnh chùa, làm việc thiện nguyện cho cơ quan từ thiện giúp đỡ người tàn tật, mỗi tối thứ Bảy đến chùa thỉnh chuông U Minh. Và ăn cơm chay với chúng tôi. Anh Allan Rose chủ công ty Rainy and Sunny Landscaping, có vườn rộng, nhiều cây cảnh, đá lớn nhỏ, đất tốt để trồng cây  và nhiều loại xe đào đất, ủi đất, xe truck lớn …  chuyên môn về trồng cây, làm vườn, làm hồ có thác nước, hòn non bộ…Anh cũng có một chiếc tàu riêng để đi chơi vào mùa hè. Tôi và một nhóm Phật tử đã được anh lái đi chơi quanh bờ biển vào một buổi chiều nắng đẹp.

Allan thường đến chùa tu thiền và học Phật. Khi thấy tôi làm vườn,  anh đã chở đá và đất trồng cây đến cho, trong đó có một tảng đá thật lớn to bằng cái bàn cao, hình dáng như một thiền sư đang ngồi tu thiền định, chung quanh có những hòn đá nhỏ hơn để rãi rác trong vườn tạo thành một Rock Garden.

Eileen, Một bà già Thiên chúa giáo, 90 tuổi, còn mạnh khỏe đi lại được, mỗi ngày Chủ Nhật đều có người chở đi nhà thờ, hàng ngày bà thường nấu ăn vào buổi chiều cho con gái là Janie một ca sĩ và David một cựu quân nhân về hưu thích sưu tầm những đồng tiền cổ, thường mua bán trao đổi những đồng tiền xưa trên khắp thế giới qua Internet và Ebay.

Người ta ở khắp nơí gởi những đồng tiền về cho anh qua bưu điện nên trong nhà có rất nhiều loại tem của các nước khắp trên thế giới. Bà cụ Eileen thường cất giữ những con tem nầy để cho tôi. Những lúc rãnh rỗi bà  làm những xâu chuỗi bằng nhựa đủ màu xanh, trắng, đỏ, vàng, đen, tím, hồng…để tặng cho những em bé đi nhà thờ, và mỗi lần tôi đi thăm các nhà tù bà cũng đem theo để tặng cho tù nhân, nhưng tôi lại dạy họ dùng những xâu chuỗi nầy đeo vào tay và luôn nhớ nhiệm Namo A Di Đà Phật, chứ không phải niệm Chúa… Khi nào trời nắng ấm, bà cụ cũng qua thăm chùa và thích ngồi xem tôi đánh bóng bàn. Bà nói trước kia bà cũng đánh tennis giỏi lắm, bây giờ thì hết thời rồi.

Phía trước chùa có gia đình cô Tania là một Phật tử thỉnh thoảng về Tu Viện Lộc Uyển  (Deer Park Monastery), Sandiego, Cali. để tham dự những khóa tu thiền của thầy Nhất

Hạnh. Tania có một khu vườn rộng, trồng rau trái để dùng không bón phân hóa học, cô nuôi bốn con Lama, có bộ lông dài và dày như con cừu, một con toàn màu trắng và ba con màu nâu, chúng nó thích ăn cỏ và trái táo, cô và chồng là anh Julian dùng phân những con lama và lá cây ủ làm phân bón, bởi vậy rau trái trong vườn rất tốt, thỉnh thoảng Tania đem qua tặng chùa rau, trái cây, và loại bánh Ginger Snaps bánh quy có gừng…

Bên cạnh nhà Tania là bác sĩ Katline, cũng có một cái vườn rộng và một cái nhà lớn nhiều phòng. Trong vườn có những cây Táo Apple, đến mùa hè trái chín đầy cây, chẳng ai ăn rụng xuống khắp vườn. Katline bảo tôi và các nhà sư Thái Lan khi nào cần cứ đến hái về dùng bao nhiêu cũng được, ở đây chẳng ai ăn, rụng đầy vườn phải thuê người quét dọn và đem đến bãi rác đổ phải tốn tiền nữa. Tôi hỏi tại sao nguời ta trồng cây mà không hái vào ăn? Bà bác sĩ cũng như những nhà khác đều nói đến chợ mua về ăn có vệ sinh hơn. Nhưng theo tôi nghĩ thì trái cây trong vườn nhà tốt hơn là vì mình không bón phân hóa học nó là Organic, trái lại những nông trại trồng rau trái người ta bón phân hóa học cho tốt và nhiều trái hơn để bán lấy tiền, cũng như những nông trại chăn nuôi súc vật như heo, gà, vịt, bò… Họ cho chúng nó ăn nhiều thức ăn có trộn hóa chất để mau lớn, để nhiều, chúng bị nhốt trong những ô vuông chật chội, chen chúc dẫm đạp lên nhau đua dành thúc ăn, có nhiều con phải chết, phải đau ốm què quặt rất tội nghiệp, lớn lên là bị đem ra giết hàng loạt kêu la thảm thiết… Có những DVD chiếu lại cảnh chăn nuôi và giết thịt, mỗi ngày trăm ngàn con vật bị giết để lấy thịt cung cấp cho khắp nước Mỵ, và đóng hộp bán ra ngoại quốc nữa. Quả thật, như lời Phật dạy đây chính là nguyên nhân của chiến tranh và những thiên tai, thảm họa trên thế giới vậy.

“Thiên bá niên lai uyển lý canh

Oán thâm như hải hận nan bình.

Dục tri thế thượng đao binh kiếp

Thử thính đồ môn bán dạ thinh.”

“ Còn ăn xương thịt chúng sanh

Oán hờn sâu nặng riêng mình đa mang.

Nhìn vào cảnh tượng bàn ăn

Là hình ảnh của  chiến tranh ngập trời.

Trước sau ngon miệng chút thôi

Oan gia nghiệp báo không rời trầm luân….”

4./  Kẻ trộm viếng chùa.

Vào lúc 4:30 PM chiều thứ Ba, ngày 28 tháng 3 năm 2007, La Bảo đên chở tôi về nhà để An Vị tượng Quán Thế Âm bồ tát vừa mới thỉnh ở Việt Nam sang.

Khi chúng tôi lái xe qua trước cổng chùa, bổng thấy có một thanh niên da trắng, từ trước sân chạy nhanh qua bên gốc cây thông lớn và cao nhất, đẹp nhất mà tôi rất thích đứng nhìn thân cây to hơn 4-5 người ôm mới xuể. Nó có một sức mạnh huyền bí làm cho người ta cảm thấy bình an và thanh thản…

Thấy như vậy chúng tôi dừng xe lại, Bảo ra khỏi xe, đến chào anh ta và hỏi: -“Anh đang làm gì ở đây?”

Anh chàng thanh niên trắng trẻo nầy , ăn mặc sạch sẽ, có vẻ thư sinh, chấp tay cúi đầu chào như một Phật tử và nói: “ Tôi là một sinh viên ở Portland lên, muốn đến đây để tìm học Phật pháp.”

Tôi nói với Bảo chỉ  anh ta đến phòng của thầy Lực Chứng người Mỹ có thể nói chuyện và chỉ dạy Phật pháp cho. Lúc nầy có một người khác ở phía đường bên kia đi đến, người nầy lớn tuổi da hơi đen, áo quần như dân lao động Mễ. Theo lời chỉ dẫn của Bảo hai người nầy đến đứng ngay trước cửa phòng thầy Lực Chứng và đưa tay lên như đang gỏ cửa, chúng tôi yên tâm lên xe đến nhà Bảo Khanh.

Tháng trước gia đình Bảo Khanh về Việt Nam, thăm bà con và du lịch các nơi… Có thỉnh một ngôi tượng Quán Thế Âm bồ tát lớn, tượng chở về bằng đường tàu thủy, sau hai tuần lễ mới đến nơi, tượng bằng đá Non Nước, Đà Nẵng, rất nặng, vậy mà Bảo một mình có thể đặt lên  một bục đá cũng không ai ngờ Bảo làm được công việc một người không thể khuân nổi này. Sau khi hoàn thành yên vị, nhờ đức tin và sự gia hộ của Bồ tát…   Ngôi tượng Quan Thế Âm bằng đá trắng cao khoảng 1 mét, đặt bên gốc cây, cạnh hồ nước nhân tạo do chính Bảo xây dựng, có suối chảy, có cá vàng, cá đỏ tung tăng bơi lội, hai bên bờ hồ có  bông hoa cây cảnh xinh đẹp…Quả thật Bảo là một tay ham mê cây cảnh, làm vườn và sưu tầm đồ cổ… Vườn chùa Liên Hoa cũng nhờ bàn tay và công sức của Bảo rất nhiều…

Trong nhà Bảo Khanh sưu tầm nhiều tượng Phật, tượng Bồ tát , La hán, bằng ngọc, bằng đá, bằng đồng đủ kiểu lớn nhỏ, trang trí khắp nơi. Bàn thờ là một tủ kính cao, bề mặt hơi nhỏ, trên thờ Phật Thích Ca và tượng Bồ tát Quán Thế Âm, không đủ chỗ để sắp đặt hương đèn hoa quả… Bảo Khanh nguyện sẽ tìm mua một tủ khác có mặt lớn hơn.

Tôi giải thích thờ hình tượng Phật, Bồ tát có mục đích là để nhắc nhở mình nhớ đến lời Phật dạy, hình ảnh Phật tượng trưng cho tinh thần Từ Bi Trí Tuệ, Quán Thế Âm Bồ tát là hình ảnh của Nhẫn nhục thương yêu, và hoan hỉ phục vụ tha nhân… Nhớ những đức tính nầy và thực hành hàng ngày thì đời sống gia đình mới được an lành hạnh phúc. Còn nếu thờ Phật , Bồ tát mà cứ riêng tư ích kỷ, kiêu căng tự ái, không có lòng bao dung tha thứ, không thành thật tin yêu nhường nhịn nhau, thì sẽ làm khổ cho nhau mà thôi… Tại xứ Hoa Kỳ nầy có đến 70/100 cặp vợ chồng sau đám cưới một vài năm là li dị, gia đình tan vỡ, gây đau khổ cho cha mẹ, con cái, đây là nguyên nhân làm cho xã hội rối loạn, bất an và nhiều tai họa xảy ra hàng ngày. Bởi vì, họ quá tự ái, quá ham tự do cá nhân, nên không chịu nhường nhịn nhẫn nhục, không biết thương yêu và xây dựng cho con cháu và xã hội.

Trong buổi tụng kinh an vị Phật có Ba Mẹ của Bảo đến tham dự, ông bà đều là Phật tử, hiểu biết và tu tập theo Phật giáo đã lâu, chúng tôi ngồi ăn bữa tối và nói chuyện đạo…

“ Khanh hầu danh tiếng sá chi

Tam Bảo tôn quý còn gì quý hơn.

Thuận Hòa Quảng đại tu nhơn

Thụy Khanh một đóa Tường Vân huy hoàng.

Kính Bà, thương Mẹ, yêu chàng

Tu tâm dưỡng tánh gia đình yên vui.”

Chúng tôi trở về chùa lúc 6:30 PM,

Vừa bước chân vào bên trong, thấy cửa phòng hé mở, tôi lấy làm lạ, tại sao khi ra đi mình đã khóa cửa rồi bây giờ ai đã mở ra vậy? Nhìn vào bên trong phòng thấy cánh cửa tủ mở tung và học bàn bị kéo ra, những đồ vật  trong tủ và học bàn bị xáo trộn lung tung. Kiểm soát lại thì thấy mất cái ví đựng giấy tờ quan trọng, mấy bì thư đựng tiền cũng mất luôn, đi vào chánh điện thấy thùng phước sương bị cạy ổ khóa mở tung ra, tiền bạc trong đó bị mất hết, chỉ còn lại những đồng xu. Vậy là đã có người mở cửa vào chùa lấy trộm tiền bạc và giấy tờ tùy thân của mình. Tôi xuống phòng gọi thầy Lực Chứng lên, chỉ cho thầy thấy cánh cửa phòng tôi bị cạy ra, những vật bị mất, rồi lên chánh điện chỉ thùng phước sương ổ khóa bị phá hỏng, tiền bị mất… Tôi hỏi lúc ban chiều tôi đi đến nhà Phật tử, có người đến gỏ cửa phòng thầy để hỏi chuyện không?

-Thầy Lực Chứng nói không nghe gì hết.

Vậy là đã rõ, mình đã bị hai đứa hồi ban chiều gặp trước sân chùa lừa gạt rồi. Cứ tưởng rằng chúng đến gỏ cửa và tiếp chuyện với thầy Lực Chứng, không ngờ khi mình đi khỏi chúng không gỏ cửa mà lẻn vào chùa lấy trộm tiền bạc giấy tờ. Quả thật không thể tin tưởng vào cái bề ngoài chấp tay cúi đầu chào một cách cung kính như là một Phật tử thật sự, vậy mà trong tâm thì lại xấu xa, có âm mưu lường gạt để trộm cắp của chùa…

“Vẻ ngoài chắc thật gì đâu

Nói năng ngon ngọt mưu sâu trong lòng.

Biết đâu vạn pháp giai không

Tham lam xảo quyệt, mắc vòng trầm luân.

Xoay vần nhân quả, quả nhân

Hại người, người hại, bản thân đọa đày…”

Thầy Lực Chứng gọi cảnh sát đến lúc 7:30. Chúng tôi trình bày mọi chuyện và chỉ cho cảnh sát Mỹ thấy hiện trường bị phá hư và mất mát như thế nào. Viên cảnh sát trưởng quận Thurston ghi nhận, làm biên bản, cho tôi giấy xác nhận Case number, để xin lại giấy tờ quan trọng như Green Card (thẻ xanh), Driver License (bằng lái xe),…rất cần thiết để thứ Hai, ngày 2 tháng Tư, 2007, tôi phải lên Seattle để có cuộc phỏng vấn nhập quốc tịch Mỹ.

Sáng hôm sau, Bảo Khanh, chở tôi đi xin lại bằng lái xe. Thật không ngờ, đến văn phòng trình bày với nhân viên phụ trách, họ cho chụp hình và sau 10 phút là có ngay bằng lái xe tạm thời có thể xử dụng đi lại, tuần sau có bằng lái xe mới gởi về chùa.

Ngày thứ Tư 29-03-2007, có đài phát thanh Radio và 3 đài truyền hình TV5, TV7, và Q13 Fox liên tục đến phỏng vấn và quay phim hiện trường viết bài đưa lên chương trình truyền hình trong hai ngày khiến cho khắp tiểu bang Washington đều biết tin nầy. Những

Phật tử và bạn bè biết tin và thấy hình ảnh tôi trên TV, gọi điện thoại về chùa thăm hỏi, đặc biệt Phật tử Việt Nam mình bày tỏ sự lo âu, an uỉ, hỏi han. Họ muốn rõ việc trộm cắp ở chùa. Có người còn phóng đại tin tức rằng thầy Nguyên Kim cho người Mỹ vào ở chùa nên chùa bị trộm cắp! Vậy là không cảm thông mà còn muốn đổ lỗi cho nạn nhân nữa! Trái lại có những người bạn Mỹ dù ở xa họ cũng lái xe đến chùa hỏi thăm an ủi, có người gởi thư và tiền để  bù đắp sự thiệt hại, mấy người bạn Mỹ ở gần chùa thì đem quà bánh thức ăn đến cho và chia buồn…Người Tây phương sống thực tế như vậy đó, họ không xả giao cho qua chuyện…Có hội Từ Thiện còn đóng góp tiền bạc để tặng chùa nữa mặc dù mình chẳng có yêu cầu ai làm việc nầy.

Chiều Chủ Nhật, 1-04-2007, sau khi làm lễ tại chùa Liên Hoa xong, tôi lái xe lên ở lại chùa Cổ Lâm. Sáng ngày 2-04-07. Thầy Nguyên An lái xe chở tôi đến văn phòng thi nhập quốc tịch. Đến giờ hẹn, họ dẫn vào một phòng riêng, có đầy đủ máy móc hiện đại, bao nhiêu hồ sơ lý lịch của mình đều lưu trữ những máy computer. Phòng làm việc có máy in, photocopy, điện thoại… Tôi đem theo những giấy tờ photocopy và case number của cảnh sát, trình bày cho nhân viên phỏng vấn là một người Mỹ, họ chấp nhận. Sau 30 phút hỏi về lý lịch cá nhân, gia đình, công việc, anh ta lấy trong máy ra một tờ giấy có in sẵn 10 câu hỏi, tôi trả lời đúng hết 10 câu. Anh chúc mừng tôi đậu, rồi phát một tấm giấy hẹn tuần sau đến dự lễ phát bằng chứng nhận công dân Mỹ….Nhờ vậy tôi khỏi phải xin lại Thẻ Xanh là giấy tờ quan trọng nhất, cần thiết để ra vào nước Mỹ. Bây giờ có bằng công dân Mỹ có thể xin Pass port để đi lại du lịch các nước dễ dàng.

Tóm lại sau vụ trộm nầy chúng tôi chẳng bị mất mát gì, mà lại được nhiều hơn….

Quả thật:

“Rủi may, may rủi khôn lường

Tri ân bằng hữu bốn phương thâm tình.

Thiện tâm mình biết lấy mình

Nguyện cầu thế giới thanh bình an vui.”

Olympia,  5-05-2007. 

15/ Thầy Thích Nguyên Kim làm lễ quy y cho các tù nhân trại cải huấn

                 [06.08.2007 17:52] 

 (Minh Châu dịch từ Báo Mỹ)

Xem hình


Stafford Creek, Washington - Trong những bộ thường phục, họ đứng thành hai hàng trước một bàn thờ được trang hoàng với một tấm vải lụa đỏ, một bình hương, một lọ hoa màu hồng và một cái chuông. Một bức hình Phật được vẽ bằng bút chì màu, được tôn trí trước mặt những người đang phát nguyện nương tựa Ngài và thực hành lời dạy của Ngài hầu đạt đến sự giác ngộ. 

Để trở thành Phật tử, những người này phải phát nguyện giữ gìn năm giới cấm. Những lới nguyện này không nên xem nhẹ bởi bất kỳ một ai, nhưng đây không phải là những con người bình thường, họ là tù nhân tại Trung Tâm Cải Huấn Stafford Creek ở phía Tây Nam của Aberdeen. Họ là những người đang sống đời tù tôi vì đã làm tổn hại kẻ khác. 

Edward Moore, 30 tuổi, đã bắt đầu tu Phật từ 7 năm về trước, 6 năm đầu trong thời gian 18 năm tù. Anh nói rằng khi bị bắt vào tù lúc tuổi thiếu niên, anh đã rất ích kỷ và kiêu ngạo. Giống như các tù nhân khác, lúc nào anh cũng sẵn sàng gây chuyện. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, trong nội tâm anh rất khổ sở. Anh nói ‘Đạo Phật đã cho tôi một cách nhìn mới. Đã khiến tôi khiêm tốn hơn...Tôi thấy được con người thật của tôi và tôi cảm thấy hài lòng. Tôi được chấp nhận.’ 

Thật vậy, Thầy Nguyên Kim đến từ một ngôi chùa Việt Nam tại Olympia, đã nói rõ rằng đối với Phật giáo thì đau khổ phát sinh từ tham dục. Thầy đã khuyến khích các tù nhân hãy sống với lòng thương yêu, tình thân ái và sự tri ân. Thầy nói ‘Một người biết mở lòng ra để hiểu rõ hơn, đấy chính là đạo Phật. Hãy thay đổi cuộc đời của bạn...trở nên một người tốt, có thể một con người cao thượng, thì mọi người sẽ tôn trọng bạn.’ 

Thầy Nguyên Kim đứng giữa hai vị sư trong những bộ y màu đất son, sư Chakkrit Phonphai và sư Ratsamee Chutintharo, và trong trang phục màu đen là Scott Whitney, vài

tháng trước đây vẫn còn là vị giáo sĩ của trại giam. Chư tăng xướng lên thời kinh tụng bằng ngôn ngữ riêng, thỉnh thoảng có dịch ra tiếng Anh. 

Chỉ tụng niệm suông có lẽ không phải là điều có thể làm thay đổi một con người, nhất là các tu sĩ cũng có nói rằng đạo Phật là đạo để thực hành hơn là một tín ngưỡng. 

George Nellans, một tù nhân khác, cho biết anh cảm thấy mình đã thay đổi qua việc hành trì. Ngay cả trong một môi trường đầy căng thẳng của trại giam, chút ít thiền tập cũng đem lại lợi ích. Anh nói ‘Tôi không thấy bị căng thẳng’. 

Ngày lễ ‘Buddha Day’ nhằm kỷ niệm ngày Phật đản sanh, được tổ chức vào thứ năm tuần vừa qua đã qui tụ nhiều sắc dân, cũng là một sự kiện khác thường đối với một trại giam. Các tù nhân được mặc y phục thường với những màu sắc khác nhau và được chuyện trò với nhau. 

‘Trong đạo Phật mọi người đến với nhau, và trong trại giam, người ta thường bị phân chia theo chủng tộc,’ ông Arthur Longworth, 42 tuổi, cho biết như trên, ông đã là Phật tử từ 15 năm nay. Ông đã vào tù từ lúc 18 tuổi. Ông nói rằng lúc đó đạo Phật đã đi từ giai đoạn bị hiểu sai lầm do lòng hiếu kỳ cho đến khi được nhìn nhận là một tôn giáo. 

Đây không những là một cơ hội cho các tù nhân mừng lễ, cuộc lễ kéo dài 7 giờ đồng hồ này cũng là một cơ hội cho họ được gặp mặt gia đình. Kriss Longworth là vợ của Arthur từ 13 năm nay, cho biết không phải dễ dàng gặp được chồng bà một cách hi hữu như thế này. 

Bà Anna Padilla là mẹ của tù nhân Seraphim Padilla cho biết bà thật khổ sở khi có một đứa con bị ngồi tù. Bà nói ‘Không có ngày nào tôi không nghĩ đến điều này, và tôi không khóc’. 

Thường khi đến thăm con, bà phải ngồi đối diện với con bà, ngăn cách nhau bởi một lớp kính an toàn, và phải dùng điện thoại để nói chuyện. Thứ năm vừa qua, không những bà được ngồi cạnh và sờ vào con, mà còn được ăn chung với con bà. 

Bà Anna Padilla nói rằng bà cảm thấy hãnh diện khi con bà theo đạo Phật - cả bà và gia đình đều theo đạo Ki Tô giáo - để trở nên một con người biết định hướng, đã giúp anh có những dự định và theo dự các lớp học trong trại giam. Bà nói ‘Giờ đây tôi rất sung sướng.’

16/ KHÓA TU HỌC MỸ CHÂU    

                (26/12/06 đến 1/01/07)

-VỀ HOUSTON, TEXAS

Ðầu tháng 11 năm 2006, nhận được thư mời của Trung Tâm Giáo Dục Từ Thiện Sariputra, do Phật Tử Quảng Anh đại diện gởi đến. Yêu cầu tham gia giúp đỡ cho Khóa Tu Học Phật Pháp Mỹ Châu Kỳ 1. Tổ chức tại Camp Young Judaea. Retreat and Conference Center, Austin.từ ngày 26/12/06 đến 1/1/2007.

Cách đây ba năm, nhân dịp về Dallas, tham dự Khóa Tu Mùa Ðông tại chùa Từ Ðàm Hải Ngoại, tôi quen biết Quảng Anh. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng liên lạc qua lai bằng email để thăm hỏi và nói chuyện đạo nhắc nhở tu hành Pháp Môn Niệm Phật. Bây giờ Quảng Anh cũng muốn tôi về giảng pháp môn Tịnh Ðộ cho Khóa Tu nầy. Tôi sắp xếp chuyện trong chùa Liên Hoa và trả lời đồng ý, tôi sẽ mua vé máy bay rồi thông báo ngày giờ để Quảng Anh đi đón.

Chiều Chủ Nhật, ngày 24/12/06. Sau buổi lễ tại chùa Liên Hoa, tôi lên chùa Cổ lâm ở lại để sáng mai, nhờ cô Thành Tâm lái xe đưa đến phi trường Sea-Tac lúc 5 giờ sáng đi chuyến máy bay hãng Continental khởi hành lúc 7 giờ.

Sau gần 5 tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay, chúng tôi đến phi trường Bush Houston, Texas, lúc 1:30 PM. (đồng hồ Texas đi nhanh hơn Seattle 2 giờ).

Một phật tử đón tôi về chùa Việt Nam lúc 2:30. Chùa cách xa phi trường 1 giờ lái xe. Gặp lại thầy Nguyên Ðạt, người Bình Ðịnh, chúng tôi đã quen biết thầy lúc còn ở chùa Long Khánh, Quy Nhơn. Cô Kim Sa cũng có mặt tại chùa và dọn bữa trưa cho tôi, ăn thật ngon vì nhịn đói từ sáng sớm đến chiều. Tiếp đến cậu Trần Quý Phiệt rồi bà Chính Phong và cô Nguyên Nhung đến thăm chuyện trò vui vẻ thân mật. Chúng tôi lên chùa lễ Phật và đi dạo quanh vuờn xem phong cảnh và chụp hình. Tôi gọi bằng cậu vì là bà con, chúng tôi ở chung một nhà vơí nhau từ thời còn đi học trường Quốc Học. Sau này cậu dạy Anh Văn ở trường Ðại Học Sư Phạm. Cậu đi du học Hoa Kỳ trước năm 1975. Xa nhau trên mấy chục năm bây giờ gặp lại, chúng tôi chuyện vãn về quá khứ, hiện tại và mai sau…

Chùa Việt Nam, Houston, Texas. Do TT. Nguyên Hạnh trú trì, mới xây dựng chưa đầy 10 năm, mà cảnh chùa rất khang trang, ngăn nắp sạch sẽ. Là một nhà toán học nên thầy có đầu óc tổ chức giỏi, biết sắp đặt  khoa học, cảnh trí đâu vào đó, nói chung mọi thứ rất logic.

Trước chùa có 4 trụ biểu bằng đá hình vuông cao hơn 6 mét, trên chóp có tượng sư tử 4 đầu như kiểu trụ đá của vua A Dục, Ấn Ðộ, đưa sang từ VN. Tiếp theo là tượng Quán Thế Âm bồ tát cao 22 mét bằng đá trắng tinh, trước tượng đài là hồ Tịnh Tâm rộng có cầu bắc ngang qua. Kế đó là một sân rộng, trên sân có những hàng cây cảnh. Ðây là nơi có thể tập trung trên 10,000 người tham dự các ngày lễ lớn như Lễ Hội Quán Âm thường tổ chức hàng năm vào 2 ngày cuối tháng 3 (19/02 Âm Lịch). 

Hai bên sân còn có mô hình Tứ Ðông Tâm là: -Vườn Lâm Tì Ni, nơi Thái tử Tất Ðạt Ða ra đời. Bồ Ðề Ðạo Tràng, nơi Ðức Phật Thành Ðạo. Vườn Lộc Uyễn, nơi Ðức Phật

chuyển bánh xe pháp lần đầu tiên cho 5 anh em ông Kiều trần Như. Và Rừng Câu thi Na, nơi Ðức Phật nhập Niết Bàn.Từ đây, bước lên những bậc cấp để vào chánh điện, rộng lớn thanh tịnh trang nghiêm, vào khoảng 300 Phật tử đang ngồi dự lễ. Chính giữa thờ tượng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, hai bên tả hữu là tượng bồ tát Văn Thù Sư Lợi và Ðại Hạnh Phổ Hiền. Trước tượng Bổn Sư ctơn trí tượng bồ tát Quan Thế Âm. Mỗi ngày Chủ  Nhật có hang trăm Phật tử đến tu học.

Phía sau hậu viên là một hồ nhỏ có tượng bố tát Quan thế Âm ngồi bên hòn non bộ. Hai bên có hai dãy nhà dài, bên phải là Tịnh đường, nơi ăn ở chư tăng, đặt văn phòng và một thư viện có trên 5,000 quyển sách.

Dãy nhà bên trái là Trai đường, một phòng ăn rộng gồm có nhà bếp và những bàn ghế dài cho cư sĩ dùng trong những ngày lễ hội và Chủ Nhật.

Cuối cùng là Trung Tâm Sinh hoạt Giáo dục, gồm có Ðoàn Quán Gia Ðình Phật Tử, khỏang 200 em sinh hoạt vào ngày Chủ Nhật. Gần đó là trường dạy Việt Ngữ, gồm  400 học sinh chia làm nhiều lớp, học vào ngày thứ Bảy và Chủ Nhật.

Ðặc biệt mỗi ngày thứ Tư và sáng Chủ Nhật có giờ phát thanh Pháp Âm, mỗi lần 45 phút trên đài Houston Saigon Radio 900. Do Thượng Tọa Nguyên Hạnh giảng, và thầy Nguyên Ðạt điều hành giới thiệu.

Ðể đáp ứng nhu cầu của Phật tử đến chùa tu học, dự lễ ngày càng đông, chùa Việt Nam đang bắt đầu xây dựng một Hội Trường lớn có thể dung nạp 1,000 người đến nghe giảng dạy, ngồi thiền và sinh hoạt…

Bên cạnh chùa Việt Nam còn có Ni Viện Hương Nghiêm, cũng do TT. Nguyên Hạnh, điều hành. Chúng tôi đã được tháp tùng TT. Nguyên Hạnh và quý thầy đến Ăn Tết Tây vào ngày 30 tháng 12 năm 2006 tại đây. Tại Hương Nghiêm đang có 20 Ni chúng đang An Cư Khóa Kiết Ðông 2 tuần lễ. Tất cả vào trước chánh điện tham dự buổi Trà Ðàm, Thầy Nguyên Ðạt làm MC. Không khác gì Việt Thảo, thầy linh động giới thiệu chương trình, mời quý thầy và sư cô ca hát, ngâm thơ và phát biểu cảm tưởng nhân ngày Tết Dương Lịch đón chào năm mới 2007. Tôi thật không ngờ, được ăn một cái Tết Tây vui vẻ đầm ấm như vậy mà lâu nay tôi chưa tham dự bao giờ. Nhất là được nghe quý thầy, quý sư cô ngâm thơ và hát quá hay, không thua gì những ca sĩ… Tất cả đều góp giọng hòa âm vào buổi Trà Ðàm. Ðến lượt tôi, xin hát bài Ðây Là Tịnh Ðộ. Quả thật nơi nầy, giờ đây không khác gì môt Tiểu Tịnh Ðộ. Có Phật quang như ánh sáng trăng.

Có vạn Pháp đang trôi qua như áng mây bay, có thầy có bạn sum vầy thân thương trong khung cảnh đầm ấm tình người, tình đạo nầy. Đại chúng như tận hưởng được nguồn Pháp lạc, cho dù mai kia mỗi người một ngã không còn hạnh phúc được ngồi bên nhau như hôm nay…

Sau buổi Trà đàm, chúng tôi ra sân để đốt Pháo Hoa, quý thầy đã chuẩn bị mua sẵn nhiều loại pháo lớn nhỏ, có pháo Thăng Thiên, pháo nổ và Pháo Hoa đủ màu sắc rực rỡ bắn lên không gian bung tỏa ra như những vòng hào quang soi sang đêm cuối năm tăm tối. Chung quanh chùa các cơ quan, các nhà tư nhân cũng thi nhau đốt pháo sáng rực cả bầu trời, tiếng nổ giòn giã nối tiếp nhau cho đến gần sáng ngày 01/01/2007.

Sau khi dự lễ đốt pháo tại chùa Hương Nghiêm, chúng tôi trở về chùa Việt Nam, thầy tri sự Nguyên Ðạt lại tổ chức đốt pháo hoa Mừng Xuân trước hồ Tịnh Tâm, Những đợt pháo hoa bay lên rực rỡ muôn màu soi sáng tượng bồ tát Quan Thế Âm đang đứng nhìn chúng tôi hân hoan vui đùa như thời còn thơ ấu. Quả thật “Có chất phác thơ ngây như trẻ con mới vào được Thiên đàng!” . Tất cả thầy trò, tăng tục cùng chung một niềm vui, vô tư cười nói, ngắm nhìn những cột pháo hoa bắn lên sáng tỏa giữa trời đêm như hỏa châu thắp sang đêm đen. Tứ bề tiếng pháo nổ vang rền, các em lượm những viên pháo chưa nổ ném nhau cười giòn giã… Ðến quá nửa đêm, hết pháo lại lạnh quá, chúng tôi trở về phòng nhưng không ngủ được lại lắng nghe pháo nổ khắp thành phố Houston liên hồi. Chẳng hiểu sao, thành phố nầy dân chúng đốt pháo nhiều như thế. Những năm ở Seattle và Olympia, tôi đâu có nghe pháo nổ nhiều suốt đêm, và pháo hoa cũng chỉ đốt độ một giờ là chấm dứt. Chỉ có ngày Lễ Ðộc Lập 4 tháng 7 họ mới đốt nhiều pháo hoa và pháo nổ mà thôi.

Ðêm xem pháo hoa và nghe pháo nổ tưng bừng nầy, làm chúng tôi nhớ lại những ngày Tết trước năm 1975, mỗi khi đón Giao Thừa chào mừng năm mới, ở Việt Nam người dân cũng được thưởng thức quang cảnh như vầy… Bây giờ thì người Việt Nam đón Têt Mừng Xuân trong im lặng! Chẳng còn nhà nào được nghe pháo nổ và ngửi mùi khói pháo nữa…

Xin cảm ơn TT. Nguyên Hạnh, Thầy Nguyên Ðạt, quý thầy, quý sư cô đã cho tôi vui hưởng một đêm Giao Thừa chào mừng năm mới 2007 thú vị như vậy.

Nguyên nhân tôi quen biết bà Chính Phong. là do Phật tử Minh Thuần ở Seattle giới thiệu. Trước khi về Houston tôi đã được nghe CD do cô Nguyên Nhung bình thơ và giới thiệu nhà thơ Người Sông Nhuệ (Mẹ của Chính Phong), một nhà thơ lão thành lớn tuổi nhất trong nhóm Ngũ Long Công Chúa gồm có 5 thi sĩ tuổi quá bát tuần, nay chỉ còn lại bà Liên Trì, 85 tuổi, một Phật tử thuần thành, hàng ngày ăn chay niệm Phật, cầu nguyện vãng sanh, hiện tại đang sống tại Houston, Texas. Tôi cũng vừa nhận được một CD “Thi Tuyển Bóng Thời Gian” của thi sĩ Liên Trì, do các giọng ngâm thơ của các nghệ sĩ nổi tiếng là Hồng Vân, Bích Ngọc, Ðoàn Yên Linh và Phan Xuân Thi có đàn và tiếng sáo đệm rất hay, cảm ơn Minh Thuần đã gởi tặng CD này. Do vậy, tôi sẽ tìm thăm nhà thơ Liên Trì.

Chiều hôm ấy, tôi đang ngồi ăn cơm, thì bà Chính Phong và cô Nguyên Nhung đến thăm, đem theo một giỏ trái Kim Quất chín vàng tươi rói và một hộp Chã Cuốn, dọn ra mời tôi ăn.

Thấy những quả kim quất vàng óng ngon lành, tôi muốn ăn nhưng sợ chua. Xưa nay tôi chỉ thấy những cây quất người ta bán trong những ngày Tết, trái rất sây, dùng để trưng bày trong nhà, hay dùng làm Rim (Mứt) Kim Quất, chứ ít ai ăn quả chưa rim. Tôi hỏi Kim Quất này chua hay ngọt, bà Chính trả lời : “Kim Quất nầy ngọt lắm, thầy dung thử mà xem.” Tôi lấy một trái chín vàng đưa vào miệng cắn thử thì quả thật giống quất này thơm ngọt đặc biệt. Trái quất chỉ bằng viên bi, nhai cả trái cảm giác thơm cay, ngọt lịm thật thích thú. Tôi mời mọi người cùng ăn, ai cũng khen ngon ngọt. Như vậy quất xứ này

ngọt không chua như quất còn gọi la trái Tắc ở xứ ta chưng trong ba ngày Tết cổ truyền.. Chúng tôi để dành lại một dĩa cho thầy trú trì Nguyên Hạnh đang giảng cho khóa tu mùa Ðông của chùa Ni Hương Nghiêm, chưa về. Chiều lại khi thầy dùng kim quất nầy cũng cảm thấy thú vị và khen ngon.

“Trái ngon đem đến tặng thầy.

Kim Quất mới hái trên cây sáng này.

Quả vàng chín mọng ngọt thay

Giống Kim Quất quý, các thầy khen ngon.

Nguyên Nhung cùng với Chính Phong

Chuyện trò vui vẻ, thong dong ra về…”

Mới gặp nhau lần đầu mà tưởng nhu đã quen thân nhau lâu lắm nay mới gặp lại, chúng tôi chuyện trò vui vẻ đến tối bà Chính và cô Nguyên Nhung mới ra về, hẹn sáng hôm sau sẽ đến chở tôi lại thăm nhà.

Như đã liên lạc, trưa 26/12/06. Hai anh Nhàn và Thiện (Billy) đến chở tôi về Austin, cách xa Houston 3 giờ xe để tham dự Khóa Tu Học Mỹ Châu Lần Thứ Nhất.. Trên đường đi các anh còn ghé mua sắm thêm bông hoa và đồ dùng cho Ban Tổ Chức, nên  chiều tối chúng tôi mới đến nơi.

Ðây là một cơ sở của người Do Thái, rộng hơn 400 mẫu, “Camp Young Judaea.” Có rừng cây, suối nước, hồ bơi, sân banh.. có nhà ăn, hội trường rộng rãi chứa trên 500 người, với hàng chục nhà nghỉ có tiện nghi như một khách sạn trung bình. Nơi đây người ta thường thuê để cắm trại, nghỉ ngơi, hội nghị hay tu học. Có đủ điện nước, có lớp học, phòng thể thao, họ sẵn sàng cung cấp mọi thứ nhu cầu theo khách hàng. Mỗi ngày 3 bữa cơm cũng do họ nấu và dọn ăn đúng giờ. Họ nấu cơm theo kiểu Châu Âu, nên các cụ già ăn uống không thích hợp khẩu vị  người Việt. Nhưng mình muốn tự nấu từ bên ngoài đem vào ăn cũng không được, vì nội quy của Trung Tâm cho thuê là họ phải cung cấp thức ăn, nước uống, bảo đảm vệ sinh, nếu có ai bị đau ốm hay trúng độc họ hòan tòan chịu hết trách nhiệm.

Ban Tổ chức Khóa Tu Học Mỹ Châu lần thứ nhất nầy là Hội Giáo Dục Từ Thiện Sariputra, (Sariputra Educational, Charity Foundation). Trưởng ban là anh Nguyễn Đình Tuấn Kiệt, pháp danh Quảng Anh. Cố vấn là thầy Hạnh Nguyện. Hội đã bỏ ra 40,000 dollas, để thuê trung tâm nầy trong 1 tuần để mở khóa Tu Học cho Phật tử khắp nước Mỹ, nhưng vì mới tổ chức lần đầu tiên, chưa quảng bá sâu rộng lại thiếu thời gian chuẩn bị, nên ít người biết đến, cho nên, chỉ có 150 học viên tham dự gồm cả người lớn và trẻ em. Tuy rằng số lượng chưa đạt yêu cầu, nhưng nội dung rất phong phú, gồm có nhiều vị giảng sư kinh nghiệm, nhiệt tình, nên rất thành công. Tất cả Phật tử đều hoan hỉ, tu tập suốt một tuần ai cũng cảm thấy thích thú an vui, tri thức Phật Pháp được nâng lên.

Ðặc biệt có HT. Chơn Ðiền, một giảng sư lâu đời đầy kinh nghiệm, vừa là một nhà thơ, bạn của HT.Mãn Giác, năm nay đã 80 tuổi mà vẫn còn mạnh khỏe. Sáng nào ngài cũng đi bộ theo các con đường chung quanh trại, mặc dù trời lạnh. Khi thuyết giảng ngài không cần dùng Micro mà giọng nói vẫn lớn nghe vang khắp cả hội trường lớn. Ngài thuộc rất

nhiều thơ, đọc lên dẫn chứng, Phật tử nghe ai cũng thích thú. Ngòai ra, còn có các vị như TT. Thông Triết đệ tử HT Thanh Từ, giảng về phương pháp tu Thiền và cách áp dụng thiền vào cuộc sống. Thầy Nguyên Hiền đệ tử HT. Tâm Thanh, trú trì Tự Viện Vĩnh Minh, Lâm Ðồng, VN. Thầy này có giọng ngâm thơ quá hay, rất truyền cảm. Thầy Chúc Thiện, trú trì chùa Liên Hoa, San Antonio, Texas, du học Ðài Loan, dạy khí công cho Phật tử tập thể dục mỗi buổi sáng. 

Thầy Thông Lý đến từ chùa Việt Nam, Lost Angless, Cali, đánh bóng bàn vô địch. Ba thầy đều trẻ tuổi, tài cao, thông suốt nội ngoại điển, nghi lễ tán tụng rất hay.

Rồi đến thầy Trí Siêu, một tu sĩ và văn sĩ, đã xuất bản nhiều sách về Phật Giáo, lâu nay thỉnh thoảng có đọc sách và nghe tên, bây giờ mới gặp mặt. Thầy Trí Siêu ở Pháp, thường qua Mỹ thuyết giảng, dáng người nhỏ con, ốm yếu , ăn nói nhỏ nhẹ, thường nhập thất tu hành tinh tấn và nhiều công phu nghiên cứu để viết sách, nhiều người biết tiếng. Tuổi đời còn trẻ mới trên 40, khác với TT. Trí Siêu ở Việt Nam, giáo sư Ðại Học Vạn Hạnh, trước 1975, nay đã hơn 60 tuổi, một thiên tài của Phật giáo đã cho ra đời một khối lượng sách khổng lồ. Bây giờ là giáo sư giảng dạy và  điều hành Học Viện Phật Giáo tại Sàigòn.

Trong Khóa Tu Học, thầy Trí Siêu và tôi phụ trách dạy và sinh hoạt với lớp trẻ em, mỗi ngày hai buổi học giáo lý, còn có giờ chơi và sinh hoạt ngoài trời cho các em. Trung Tâm có sân đá banh, sân bóng rổ, bóng chuyền, sân tennis, vũ cầu và hai bàn  bóng bàn. Tôi sinh hoạt nhiều với các em về môn bóng bàn nầy. Trong những giờ giáo lý, chúng tôi kể lại chuyện lịch sử đức Phật cho các em nghe rồi lấy ra những bài học về Tình thương yêu loài vật như Thái tử Tất-đat-đa đã cứu sống con chim bị Ðề Bà Ðạt Ða bắn bị thương. Về đức tính khiêm tốn thì nêu lên cách hành xử biết ơn các vị thầy đã dạy cho Thái tử học hành về Văn chương và Võ nghệ. Về tư duy thì nêu lên những tư duy sau khi Thái tử ra ngòai thành thăm thú lại  chứng kiến cảnh người già yếu, người đau bịnh rên xiết, người chết … Thái tử nhìn thấy sự thật của khổ và muốn giải thóat những khổ đau của cuộc đời nên quyết chí xuất gia tìm đạo… Tu hành  khổ hạnh, cuối cùng đã thành Phật là bậc Giác ngộ, bậc thầy đại trí tuệ, đại từ bi. Những lời giảng dạy của đức Phật còn có  ảnh hưởng  mạnh mẽ cho đến bây giờ.

Cuộc đời của đức Phật là một bài học quý báu sinh động làm gương sáng cho mọi loài, ai vâng lời thực hành theo thì chắc chắn có hạnh phúc và giải thoát…

Buổi nói chuyện cuối cùng là của thầy Hạnh Nguyện, đệ tử của TT. Như Ðiển, chùa Viên Giác, Ðức quốc. Thầy qua Ấn Ðộ lập chùa nhập thất, đốt ngón tay cúng dường, thực hành tam bộ nhất bái từ vườn Lâm Tì Ni đến Bồ Ðề Ðạo Tràng quảng đường dài 250 km. Sau thời gian công phu khổ hạnh như vậy thầy phát đại nguyện phải làm thế nào để phát triễn Ðạo Pháp ngày một lớn mạnh. Thầy đã qua Ðài Loan quan sát cách làm kinh tế của HT. Tinh Vân, lãnh đạo Phật Quang Sơn. Là môn phái Phật giáo phát triển mạnh mẽ tại Ðài Loan và khắp thế giới. Nhờ biết vận dụng có kế hoạch nên tạo ra được nền  kinh tế tự túc. Và có thể coi đây là mô hình tốt để xây dựng Phật giáo ngày một lớn mạnh trên thế giới.

Thầy đã xây dựng được Làng Di Ðà ở Thái Lan, còn tại Cali, hiện nay đã xây dựng được cơ sở cho Trung Tâm Giáo Dục Từ Thiện Sariputra.

Trong Khóa Tu Học nầy có những vị già trên 80 tuổi nhưng vẫn siêng năng tinh tấn không cảm thấy mệt nhọc, tinh thần rất hăng hái. Có em bé Viên Giác, mới 3 tuổi, con trai của Quảng Anh cũng tham dự. Nhớ lại, lúc tôi về chùa Từ Ðàm Hải Ngoại, cách đây 3 năm, thì mẹ cháu mới mang thai. Mẹ cháu, khi ấy hành hương Ấn Ðộ đã thành tâm cầu nguyện ở các Di Tích Lịch sử Phật giáo,  nguyện sinh được một đứa con biết tu hành theo Phật. Do sở nguyện ấy nên lúc sinh ra bé Giác Viên rất ngoan, nét mặt khôi ngô phúc hậu. Khi lên hai tuổi cháu đã nghe và thuộc những bài kinh, câu chú ngắn, rồi bây giờ lên ba lại nghe thuộc những bài thơ dài của HT. Chơn Ðiền. Trong các buổi sinh hoạt văn nghệ bé Giác Viên thường lên hát và đọc thơ, đọc kinh cho mọi người nghe, ai cũng cho rằng bé Giác viên là một tu sĩ tái sanh… Nên có trí tuệ và có thể học thuộc kinh, chú dễ dàng như vậy. Cha mẹ bé đều ăn chay trường, thọ Bồ tát giới, cho nên Giác Viên từ trong bụng mẹ đã ăn chay, vì thế hiện tướng xinh đẹp từ bi nơi bé ai cũng có thể trông thấy được… Mong rằng sau này, khi lớn lên bé Giác Viên sẽ tu hành tinh tấn trở thành một bậc xuất trần thượng sĩ hoằng dương Phật pháp giáo hóa cho đời…

Có một số Phật tử nhân dịp Chư Tăng đông đủ nầy xin được thọ giới Bồ Tát, Thập Thiện và ngũ giới. Quý thầy đã tổ chức một giới đàn rất trang nghiêm, gồm đủ các thành phần giới sư để truyền giới cho 7 vị thọ Bồ tát, 10 vị thọ thập thiện và ngũ giới. Thầy Nguyên Hiền đã làm hướng dẫn sư, giới thiệu buổi lễ truyền giới bài bản đúng nghi thưc, mọi người đều  thấy cảm ứng được giới truyền trao từ giới sư trên giới đàn.

Qua Khóa Tu Học nầy tôi đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu của quý thầy về cách tổ chức, sinh hoạt và giảng dạy. Không thể nào quên HT. Chơn Ðiền kể chuyện ngày xưa còn làm việc cho Giáo Hội PGTN ở VN trước 1975, và sau này qua Mỹ… Nhưng bây giờ HT. đã ẩn cư trong một ngôi chùa nhỏ ở Houston, tự túc mọi chuyện cơm nước, chợ búa, dọn dẹp, hương đăng… không nuôi một đệ tử nào cả, vì ngài đã kinh nghiệm quá nhiều về Thế Thái Nhân Tình, như trong bài thơ của HT như vầy :

“Thế thái nhân tình đã chán chưa

Sơn lâm cùng cốc cũng tranh đua !

Nuôi trò, trò chửi như phun nước

Ðộ chúng, chúng gây muốn bể chùa.

Dạy võ, võ về mưu sát chủ

Can đời, đời đến định ăn thua.

Có ai đo được lòng người nhỉ ?

Ta tát trùng dương đếm chuyện đùa.

 Ký tên   “Ngốc Tử”

(Than ôi, HT. tự xưng là Ngốc Tử, thí chúng con biết xưng là cái gì đây, có lẽ là Ðại Ngốc con của Ngốc Tử vậy!)

Bây giờ ngài là một SƠN  TĂNG

“ Một gian nhà lá thấp le te

Hoa cỏ dâng hương đóm lập lòe.

Sáng kêu oanh vũ về ăn gạo

Tối gọi trăng thanh lại uống chè.

                       Ngốc Tử. 1995.

Bài Thơ: NHỚ MẸ. 

Đã được phổ nhạc,

(Khi nghe hát bài nầy tôi cảm động đến rơi nước mắt. Cũng đúng với tâm trạng mất mẹ của tôi…)

“Nhìn liễu rủ chứa chan giọt lệ

Mình bơ vơ nghe dế nỉ non.

Bơ vơ vì Mẹ chẳng còn !

Từ dung trước án nét son tỏ mờ.

Lật nhật ký vần thơ bỏ dở

Áo còn đây, Mẹ nở bỏ đi !

Vườn hoa cỏ mọc xanh rì

Líp trầu của Mẹ tàn đi hai phần.

Cao xanh hởi đòn cân tạo hóa

Gây chi trò bể cả nương dâu

Gây chi tang tóc đau sầu

Mẹ ta lạnh lẽo, ta sầu đơn côi.

Còn đâu tiếng “Con ơi” của Mẹ

Tiếng êm êm khe khẽ ngọt ngào.

“Áo ấm con hãy mặc vào

Mùa đông gió lạnh nhập vào khổ thân.”

Rồi tiếng mắng “thằng bần” của Mẹ

“Học thì lười, nghịch kẻ nào hơn?”

Nhớ khi con giận, con hờn

Mẹ lau nước mắt cho con Mẹ cười.

Cười tha thứ những lời con hỗn

“Lớn rồi nghe hư đốn thế sao?”

Mẹ ơi ! Con nhớ hôm nào

Con đau mà Mẹ tổn hao thân gầy!

Mẹ ơi! Con ốm rồi đây

Thèm nghe tiếng Mẹ la rầy bên tai.

“Áo sứt nút không cài kẻo gió

Cháo nguội rồi, nằm đó sao con?”

Lúc còn Mẹ, con còn tất cả

Mẹ đi rồi, tất cả cùng đi !

Mẹ ơi ! Con chẳng còn gì

Bơ vơ đến cả khi đi, lúc về.

                    Ngốc Tử. 

(Trích trong tập thơ Góp Nhặt Lá Vàng.)

Ðội ơn HT. đã cho con những bài học vô giá về đạo làm người.

Cũng nhân Khóa Tu Học nầy tôi có 2 đệ tử thân tín, là Quảng Thành và Văn Hoa Tuyết Ngân ở Houston, nhóm Biên Soạn Ca Dao Tục Ngữ VN. Cô Chính Phong, đến bây giờ vẫn thường liên lạc thăm hỏi và làm việc với tôi. Hẹn ngày về chùa Việt Nam tham dự Lễ Hội Quan Âm sẽ gặp lại.

Namo A Di Ðà Phật! 

Olympia,  15/01/2007. 

Nguyên Kim

17/ DU LỊCH CH ÂU ÂU 

Tâm Không

Mùa Hè 2009, H-T. Thích Minh-Tâm từ Pháp đến Cali hoằng pháp. Ngài khuyến khích tôi sang bên ấy  tham dự KHÓA TU HỌC PHẬT PHÁP thứ 21. Thầy  “Nên đi một chuyến đừng lo ngại chi.” Từ nhân duyên hội đủ đó, ngày 29-7-2009 chào những người đưa tiễn cô C-M và Nhi, tôi lên máy bay North West tại phi trường Sea-Tac sang Châu Âu, lúc bấy giờ là 1:00 PM. Máy bay đáp xuống phi trường Amstecdam lúc 8:00 Am 30-7. Một tiếng ruỡi sau tôi lên Air France sang Pháp. Máy bay đáp xuống phi trường Charle de Gaulles lúc 11:00 Am. Ra cửa 2E, không tìm thấy người quen đón. Kéo chiếc vali đến cửa 2F cũng chẳng tìm thấy người đón mình… Không đủ 70 Euro đi taxi về chùa Khánh Anh nhưng tài xế người Ấn Độ cho mượn Cell phone vì Cell của tôi vô dụng ở trên đất Pháp. Nhờ thế tôi liên lạc được với người đón tôi, anh Trần Tế Thế qua số phôn của anh mà tôi đã cất giữ, cũng đang tìm tôi. Gặp nhau, mừng khôn xiết… Anh đã đưa tôi về chùa Khánh Anh. Nơi đây đã dành cho tôi mọi phương tiện ăn ở rất nồng hậu.   

Charle de Gaulles phi trường quốc tế 

Tại thủ đô nước Pháp, Paris 

Đón đưa ngàn vạn khách đi 

Đây Paris kinh đô ánh sáng 

Đón khách du một sáng nắng vàng hanh 

Đi lạc lõng giữa rừng người xa lạ 

Khách vãng lai tưng bừng rộn rã 

Tụ về đây rồi tản mắc khắp nơi. 

Chào Paris phi cảng tuyệt vời 

Đàn chim sắt vượt trời xanh tung cánh. 

Năm châu bốn biển tung hoành 

Đến đi trăm bận cùng quay trở về 

Địa cầu chính thức là quê 

Núi sông biển cả một bề xanh tươi. 

Nghiệp duyên ràng buộc không rời 

Tỉnh tâm chuyển hóa chợ đời thăng hoa 

Tây phương tịnh độ ta bà 

Chân thành tưởng niệm Di-đà trong tâm. 

Chùa Khánh Anh xây dựng từ năm 1996, phần lớn công trình đã hoàn thành chỉ còn phải lợp mái ngói Tăng xá, bắc hệ thống điện gaz và trang trí nội thất … Hy vọng sang năm  hoàn tất kịp lễ Giổ Tổ và Đại Hội Liên Châu như dự tính… Nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cũng như hảo tâm của quý phật tử và hội thiện khắp nơi đóng góp thêm công đức để cho ngôi Đạo tràng xứng đáng đại diện cho Phật giáo Việt Nam tại Châu Âu và thế giới. Ngôi chùa thật khang trang rộng rãi, có ba tầng lầu, mái ngói bằng men sứ màu vàng rực sản xuất từ Trung Hoa, cũng phải do thợ của Tàu sang lợp mới đúng kỷ thuật, tầng trên là chánh điện, tầng giữa là giảng đường, tầng dưới cùng là phòng sinh hoạt…

Bên cạnh chùa là Tăng xá cao 4 tầng có thể ở trên 100 người. Quanh chùa lại có ba cái tháp cao là tháp Địa Tạng, tháp Quan Âm và tháp Đa Bảo. Chùa và tháp đều có mái cong, lợp ngói sứ màu vàng, theo kiểu Á Đông. 

Khánh Anh mơ ước ngày về, 

Đến Paris gặp bốn bề anh em. 

Thầy yêu bạn quý lâu năm 

Tình thương yêu vẫn êm đềm như xưa… 

                     Paris, 1-08-2009. 

Ngày thứ bảy và chủ nhật nhiều phật tử đến chùa làm bánh trái, đồ ăn chay để bán cho nhiều người có nhu cầu, đây cũng là nguồn lợi kinh tế để chùa sinh hoạt. Chiều chủ nhật ngày 2 tháng 8 – 09. Tôi được có dịp tiếp xúc và sinh hoạt vơí phật tử chùa Khánh Anh. Trong 2 giờ trao đổi về pháp môn Tịnh độ, cuối cùng tập mọi người cùng hát bài “Đây là Tịnh Độ. Tịnh độ là đây. Phật là trăng sáng. Pháp là mây bay. Anh em khắp chốn . Quê hương nơi nầy.” Ai cũng cảm thấy an tâm vui vẻ… Đây là Phật sự đầu tiên khi đến Pháp. 

Đến chùa Khánh Anh gặp Thái Siêu 

Gặp Võ Hữu Thạnh buổi xế chiều 

Hàn huyên tâm sự vui chuyện cũ 

Một thời vang bóng tuổi vàng son 

Nhớ Phật Học Viện Nha Trang 

Vào đến Sài Gòn ở Già Lam 

An trú Báo Quốc vui xứ Huế 

Phát xuất từ Bảo Tịnh Phú Yên 

Mái ấm từ bi hằng che chở 

Tu tập nương theo bóng thầy hiền 

Bốn phương bè bạn cùng vui sống 

Mỗi người mỗi cạnh mỗi chia phôi 

Nam bắc Á, Âu chim tung cánh 

Ba bốn mươi năm bặt tin lành 

Bất ngờ hội ngộ mừng bao xiết 

Nương bóng từ bi bớt khổ nhiều… 

Trong ba ngày thứ hai, ba, tư, chúng tôi được quý phật tử và thầy Nguyên Thanh, tăng sinh du học tại Ấn Độ, tôi đã được gặp trong chuyến hành hương tháng ba năm trước (3-2008).  Ngày đầu tiên chúng tôi thăm tháp Eiffel cao 320 mét, đây là biểu tượng của nước Pháp, chung quanh tháp là công viên có vườn hoa, hồ nước, bãi cỏ với nhiều cây cổ thụ…Du khách đến đây rất đông, người ta đứng xếp hàng nối đuôi nhau dài hang trăm mét để mua vé đi thang máy lên tháp Eiffel. Tôi thấy đông người và phải chờ đợi lâu quá nên quyết định đi bộ lên tháp, bên cửa bán vé này ít người khỏi phải chờ đợi, và giá vé chỉ 4 Euro, còn đi thang máy giá vé 12 Euro. Tháp có 3 tầng, mỗi tầng có chỗ đứng lại nghỉ mệt nhìn cảnh vật chung quanh và chụp hình… Thỉnh thoảng cũng có những thanh niên đi bộ lên tháp nói cười vui vẻ, khi mệt họ ngồi bệt xuống bên đường uống nước , ăn bánh rồi đi tiếp. Đi suốt một tiếng đồng hồ, tôi lên đến đỉnh tháp Eiffel, đứng trên cao nhìn xuống thấy quang cảnh thành phố Paris phía dưới mọi vật đều hiện ra bé nhỏ, dòng

song Sein, những con đường, lâu đài phố xá, xe cộ li ti như trò chơi trẻ con…Phải có ống dòm mới nhìn rõ. Trời cao lộng gió, dạo quanh tháp một vòng rồi đi xuống bằng thang máy, lúc này khỏi phải mua vé, mọi người chen chúc nhau chờ đợi… 

Cao nhất là tháp EIFEL 

Kiến trúc vĩ đại xứng danh phi thường. 

LOGO Pháp quốc tượng trưng 

Du lịch đến Pháp mọi người viếng thăm. 

Leo lên đỉnh tháp nhìn quanh 

Paris nhỏ bé dưới chân của mình. 

Lên cao bắt gặp trời xanh 

Gió lùa những áng mây lành về đâu… 

Trung tâm thành phố Paris đất hẹp người đông nên không có chỗ đậu xe, đại đa số phải đi xe bus hay tàu điện là phương tiện tốt nhất hệ thống xe tàu đi khắp thành phố, không như tại Mỹ ai cũng có ôtô, ít người chịu đi xe bus và tàu điện, cho nên phương tiện giao thông nầy không phát triển như Châu Âu. Từ Eiffel về chùa chúng tôi phải đi hai chuyến xe bus và tàu điện nên cũng mất nhiều thì giờ hơn là người có xe riêng đi phố. 

Sau khi lên tháp Eiffel, chúng tôi xuống Du Thuyền đi dọc theo sông Sein để ngắm cảnh hai bên bờ, đến đâu có di tích lịch sử hay cảnh đẹp có người giới thiệu và thuyết minh cho du khách biết. Trên sông Seine có rất nhiều loại du thuyền trang hoàng sạch và đẹp để đưa đón hành khách, du thuyền rộng rãi có 2 tầng, ai muốn nhìn quang cảnh cho thoải mái thì lên trên boong tàu, nếu không thích thì ngồi trong tàu, đâu cũng có ghế ngồi sạch sẻ. Con tàu đi ngang qua những chiếc cầu có chạm trổ điêu khắc hình tượng , hoa văn mỹ thuật. Hai bên bờ song thì có những tòa lâu đài xây dựng theo hiến trúc xưa, bằng đá hay gạch nung màu đỏ, đa số là những cung điện , nhà thờ có chóp nhọn vươn cao lên trời, to lớn và nổi bật nhất là nhà thờ Đức Bà Notre Dame, những nhà hàng, khách sạn… Cách xây dựng kiên cố và chạm trổ công phu tỉ mỉ… Con đường dọc theo hai bên sông Sein có nhiều cây xanh cho nhiều bóng mát, nên có nhiều người thong thả dạo chơi … 

Paris đất hẹp người đông 

Sông SEINE thơ mộng uốn quanh mấy bờ 

Du thuyền bơi luôn đón chờ 

Du khách xuôi ngược ven bờ sông Seine 

Ngắm nhìn phố xá hai bên 

Lâu dài cổ kính tượng hình thần tiên 

Bàn tay mỹ thuật tạo nên 

Châu Âu Pháp quốc văn mình lâu đời. 

Đền đài sơn thép sáng ngời 

Nguy nga lộng lẫy một thời tiếng tăm… 

Ngày thứ hai chúng tôi đi thăm viện bảo tàng LOUVRE. Trước kia đây là cung điện của các vua chúa, là nơi ăn ở và sinh hoạt của Hoàng gia Pháp. Kiến trúc nơi đây hình chữ khẩu, gồm những dãy lầu bốn năm tầng xây bằng đá kiên cố, điêu khắc quanh những bức tường là tượng thánh thần, hoa văn bằng đá, trên có tháp cao nhọn, muốn đi vào bên

trong phải qua ba lớp cửa bằng gỗ dày chắc chắn. Chính giữa là một cái sân rộng, có hồ nước phun, và suối chảy. Một Kim Tự Tháp hình chóp nón, làm bằng thủy tinh trong suốt, bên trong trang trí những bóng đèn màu. Khác với Kim Tự Tháp Ai Cập xây bằng đá, trải qua mấy ngàn năm đã bị xoi mòn, Kim tự Tháp hiện đại kỷ thuật tân tiến hơn được xây dựng ngay giữa thành phố Paris, mọi người đều thấy tận mắt, khỏi phải qua xứ châu Phi xa xôi… 

Muốn vào xem phải mua vé 12 Euro cho mỗi người. Đi suốt ngày xem không hết, cần phải vài ngày mới xem kỷ những thứ cổ vật trên khắp thế giới được tập trung về đây, trưng bày trong những gian phòng rộng lớn của những dãy nhà lầu bốn tầng. Chúng tôi không có thì giờ nên chỉ xem qua những nơi cần thiết mà thôi. Đi mỏi chân thì có chỗ ngồi nghỉ, có quán nước giải khát, có nhà hàng ăn uống phục vụ du khách với giá cao cắt cổ, gấp 5 lần giá thức ăn, nước uống bên Mỹ. 

Tầng lầu chúng tôi vào xem đầu tiên là triễn lãm văn hóa nghệ thuật và những cổ vật của châu Phi, những bia đá có khắc ghi những văn bản bằng những ký tự Ai Cập, những tượng nhân sư, tượng vua chúa, hoàng hậu, nô tì… từ mấy ngàn năm trước được khắc bằng đá khổng lồ cao lớn nặng cả mấy ngàn tấn, những tượng hình nhỏ bé cũng có đủ kiểu các đồ trang sức làm bằng đá, đồng , sắt, bạc, gỗ, ngà voi… Có tượng bị sứt đầu cụt tay chân vậy mà cũng được mang về đây xem như là cổ vật quý báu lắm… Nền văn minh Ai Cập cách đây trên 5000 năm bây giờ đã tàn lụi chỉ còn dấu tích đươc trưng bày nơi đây. Ngay cả những xác chết được ướp và cất dấu kỷ trong các Kim tự tháp, các vị vua Ai Cập muốn cất dấu những bí mật thiêng liêng của họ, nhưng rồi bị những nhà khảo cổ tìm vào tận đáy sâu của những tháp, những mồ chon tập thể để khai quật ra mọi di tích ngàn xưa, nguy hiểm nhất là mở cửa những căn hầm bí mật nhốt các loại yêu ma quỷ quái bằng bùa phép, mà nay các nhà khảo cổ đã phá tung ra hết để cho yêu quỷ thoát ra ngoài , đầu thai làm những người có quyền năng xảo thuật của ngoại đạo, muốn thống trị cả thiên hạ, bắt tất cả phải làm tôi tớ cho chúng, gây ra biết bao là thãm họa cho nhân loại… Hãy nhận diện kỹ những con người độc tài, độc ác, không có lương tâm, không chút tình thương yêu nhân loại, chúng hủy diệt sự sống cai trị độc tài sắt máu… Những kẻ đại tham lam ích kỷ, sống trên sự đau khổ , trên xương máu của lương dân.  Nhưng mà: 

“ Những gì phi lý và bất nghĩa.  Là trái lòng dân nghịch ý trời…”  Ắt sẽ thất bại và đền tội, lại phải bị giam hãm mãi mãi tận địa ngục A Tì. Đến đây thì không nhà khảo cổ nào có thể mà khai mở cửa địa ngục cho chúng nó được nữa… 

Tiếp theo chúng tôi đi qua những phòng triẽn lãm những di vật của các nước Châu Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Miến Điện, Thái Lan, Cambochia, Lào, Indonesia, Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ, Việt Nam… Không biết bao nhiêu là tranh vẻ, tượng trời, Phật, thánh thần, những đồ trang sức, dụng cụ, đồng tiền từ thời xa xưa, lớn nhỏ đủ cở đều hiện diện nơi đây. .. Rồi đến những căn phòng của các nước Châu Âu cũng cho chúng ta biết sự phát triển của loài người từ ban sơ đến bây giờ. Nhất là nơi có những tranh vẻ của các họa sĩ nổi tiếng, có những bức tranh vẽ rất tinh vi, màu sắc trông như thật, mô tả hình ảnh phố xá, thôn quê trong cảnh thanh bình, có bức tả cảnh chém, giết chiến tranh người ngựa dày xéo nhau, đâm chém nhau, đầu rơi máu đổ rất kinh khủng. Nhìn lên trần nhà cũng có những hình vẻ công phu hoành tráng vô cùng, diễn tả cảnh thiên đàng, bong hoa cây cảnh, với những tiên thần bay lượn trên mây, người lớn , trẻ em chơi đùa bên những con

hưu nai, sư tử cọp beo, chim choc…  Lên thiên đường rồi thì mọi sinh vật đều bình đẵng, thương yêu nhau như bè bạn, không còn lòng hung dử bạo tàn. Có lẽ tác giả muốn nhắn nhủ mọi người rằng muốn lên sống trên thiên đường thì phải biết bao dung rộng lượng, không còn phân biệt giàu nghèo, mạnh yếu… tất cả đều sống trong tự do bình đẳng, nhân từ bác ái…. Lại đến nơi có nhiều hình ảnh chúa Giê-Su bị hành hình đóng đinh trên cây thánh giá, đầu đội mũ gai, gươm đâm vào bụng, tên ghim vào tim, máu chảy thành dòng, chung quanh là những đệ tử than khóc đau đớn cầu nguyện. Có bức tranh tả cảnh chúa bị đóng đinh ở cây thập tự giá chính giữa, hai bên có  hai tên tử tù cũng bị đóng đinh như chúa. Cho dù đau khổ cùng cực như vậy mà chúa Giê Su vẫn giữ tấm long bác ái vô biên, vẫn thương yêu kẻ hành hạ đóng đinh mình, muốn tiêu diệt mình… Bằng lời trối trăn cuối cùng : “ Lạy chúa cha , xin tha tội cho những kẻ tội lỗi, hung ác, si mê!”  Quả thật đây là một vị Bồ tát hy sinh chịu đau khổ thay cho chúng sinh, mong muốn nhân loại được sạch tội lỗi và hạnh phúc bình an. Đây là một bài học về từ bi bác ái, nếu ai nhân danh chúa mà làm chuyện độc tài, độc ác, tham danh lợi chí nghĩ về quyền lợi của riêng mình mà quên đi cái khổ đau nghèo khó của con người thì chẳng phải thật là con chúa, cũng không thể nào lên thiên đường được. .. Cuối cùng là căn phòng triễn lãm bức tranh nổi tiếng nhất thế giới do họa sĩ tài ba Leona de Vinci diễn tả nụ cười tuyệt diệu của nàng La Joconde – Mona Lisa. Bức tranh được treo trong lồng kính, hai bên có hai người canh giữ, phía trước có rào cản người xem phải đứng cách xa 3 mét, không được đến gần để quan sát như những bức tranh khác, chứng tỏ đây là bức tranh quý giá nhất vậy… Còn nhiều phòng khác nữa nhưng đi cả ngày mỏi mệt quá rồi chúng tôi phải về chùa. 

Tối hôm đó nhờ cô Thu phật tử chở chúng tôi đi xem “Paris by night” không phải đi xem ca nhạc, mà đi xem thành phố Paris ban đêm, ánh đèn điện muôn màu rực rỡ, thắp sáng cả thành phố,  những công viên, trung tâm du lịch người ta tập trung lại vui chơi ca hát tưng bừng, tháp Eiffel sang rực đèn màu luôn luôn thay đổi, mặc dù đông đúc người đi lại trên đường phố.. nhưng các cửa hàng đều đóng cửa sau 8:00PM cũng như ngày chủ nhật mọi cửa hàng đều đóng cửa, phố xá im lìm, chỉ có người ta đi lại dạo chơi vui vẻ sau một tuần làm việc. Đặc biệt là cửa hàng ăn uống thì được mở cửa vào ban đêm và ngày chủ nhật, như vậy mới đúng là ăn và chơi. 

Ngày thứ ba, chúng tôi đi xem cung điện Versailles, từ thế kỷ 17 được xây dựng lên để thay thế cho Louvre. Versailles rộng rãi bao la hơn Louvre nhiều, nhờ có nhiều vườn hoa, hồ tắm, hồ bơi, cây cảnh, hình tượng bằng đồng, bằng đá mô tả các vị thánh thần, anh hùng, danh nhân đứng rãi rác khắp nơi trong khu vườn rộng hang chục mẫu. Đây là vào thời đại thanh bình, vua chúa, hoàng hậu cung phi tha hồ có nơi vui chơi hưởng thu…. Là một thời thịnh trị trong lịch sử của nước Pháp.  Sau đó, chúng tôi cũng đi thăm vài nơi khác như Nhà Thờ Đức Bà NOTRE DAME là nơi thờ phượng linh thiêng, vòm cao rộng vĩ đại, người ra vào tấp nập, thờ nhiều hình tượng chúa và thánh thần, có nhiều băng ghế để ngồi cầu nguyện. Công viên CONCORD có hồ phun nước, có một cột đá cao hơn 10 met, chở từ Ai Cập Châu Phi về đây. Nhà Thờ SACRE COEUR cách xa thành phố, xây dựng trên một đồi cao, kiến trúc kiên cố hùng vĩ, du khách đến chiêm ngưỡng rất nhiều, phía dưới có nhiều cửa hang bán đồ kỷ niệm. Như vậy là các nơi quan trọng của Paris đã xem qua, còn những nơi xa khác thì hẹn lại lần sau. 

Nhà thờ NOTRE DAME 

Kiến trúc hùng vĩ bên trong huy hoàng 

Điêu khắc tượng Chúa, thiên thần 

Trang nghiêm linh hiển giáo dân tôn thờ 

Vào ra du khách xếp hàng 

Tấp nập nhộn nhịp rộn ràng trước sau 

Ngắm nhìn chiêm ngưỡng nguyện cầu 

Chúa ơi trần thế khổ đau lan tràn... 

Thiên tai, tật bịnh, tai nàn 

Chiến tranh nguyên tử sẵn sàng nổ tung 

Địa cầu, nhân loại không còn... 

Cháu con Thượng Đế hao mòn triệt tiêu. 

Lấy ai kinh sớm kinh chiều 

Nguyện cầu che chở khỏi cơn điêu tàn 

Maria ban phước bình an 

Chúa trời chúc phúc trần gian được nhờ. 

Bao nhiêu ơn phước móc mưa 

Sinh linh muôn loại đón chờ từ lâu 

Kiếm đâu ra phép nhiệm mầu... 

Nếu người không kíp khuyên nhau tu hành 

Thật lòng bỏ ác làm lành 

Không gây thù hận, không tranh lợi quyền 

Công bình bác ái gieo duyên 

Xây nền đạo đức bình yên đời đời. 

Vườn Tâm hoa nở thắm tươi 

Hòa bình hạnh phúc người người ấm no... 

Paris, 2-08-09. 

Viện BẢO TÀNG LOUVRE 

Viện bảo tàng lừng danh thế giới 

Khắp năm châu bảo vật tụ về đây 

Nền lịch sử văn minh nhân loại 

Từ cổ chí kim khoa học hiện đại 

Mấy dãy lầu cao vật liệu trưng bày 

Văn minh Ai Cập lâu đời 

Kim tự tháp, tượng nhân sư, bia đá 

Từ sa mạc xa xôi chuyên chở về đây,  

Mấy ngàn tấn tượng vua quan hoàng hậu 

Bằng đá quý, ngọc ngà châu báu 

Gẫy chân tay, có cái mất đầu 

Có những vật trang sức bé xíu 

Có tượng cao vĩ đại oai hùng 

Bằng đất nung, đá trắng, bạc, đồng. 

Bằng gỗ quý năm ngàn năm còn sót lại. 

Nhà khảo cổ sưu tầm nơi sa mạc 

Hay chiến công oanh liệt cướp về đây 

Làm của riêng hãnh diện trưng bày 

Dân Á Rập, Phi Châu một thời vắng bóng 

Hủy diệt rồi nền móng cổ văn minh 

Lẽ sinh diệt vô thường biến chuyển 

Thời phong kiến hoàng cung Louvre danh tiếng 

Nơi vua quan sinh hoạt của triều đình 

Thời dân chủ nầy biến thành tàng viện 

Cho muôn dân thưởng thức học hành 

Mọi thời đại văn minh nghệ thuật 

Kim tự tháp trong thời khoa học 

Được dựng lên bằng ánh sáng, gương trong 

Bên suối nước vĩnh hằng nguồn sinh sống 

Như giòng đời tuôn chảy mãi không thôi 

Trong vòng quay sinh diệt luân hồi 

Ai có mắt ngắm thiên hạ vũ trụ 

Ta là ai trong một kiếp phù du 

Trong chớp mắt đã đi về thiên cổ 

Người xưa đâu còn ghi dấu nơi đây 

Ta là Ai mà mơ mộng mãi như vầy ? 

Mê sảng mãi đến bao giờ tỉnh giấc 

Trở về nguồn ánh sáng vô biên 

Nguồn trí huệ anh linh bất diệt. 

*¥* 


Phòng triển lãm những bức tranh danh họa 

Có nhiều bức hoành tráng vô cùng 

Mô tả những trận chiến lẫy lừng 

Máu chảy đầu rơi xe dày ngựa xéo 

Kẻ chiến thắng vui cười ngặt nghẽo 

Những kinh hoàng thảm bại của tù binh 

Ôi chiến tranh biến người thành hoang thú 

Chuỗi oan gia nghiệp báo hận thù 

Vay trả mãi chẳng bao giờ chấm dứt 

Có hình ảnh những gia đình hạnh phúc 

Cảnh thanh bình sông núi có cây 

Giòng suối mát, hoa cười chim hót 

Rừng thâm u, mây bạc trắng lửng lờ 

Chân dung những vương gia kiều nữ 

Đẹp tuyệt với nụ cười vi diệu 

Leonard de Vinci ngọn bút truyền thần 

mô tả La Joconde- Mona Lisa. 

Lại có những tấm hình quá khổ 

Hình ảnh chúa bị hành hình trên giá gỗ 

Bị đóng đính xuyên thủng cả tay chân 

Đầu đội mũ gai, tên bắn vào tim 

Máu tuôn chảy gục đầu nhận chịu  

Xin chúa Cha tha tội kẻ mê lầm 

Để riêng mình XIN CHUỘC TỘI THẾ GIAN 

Những bức tranh rực rỡ huy hoàng 

Vẽ trên vách hay trên trần cung điện 

Cảnh thật như in linh động vô cùng 

Vị nghệ thuật những hoạ sư truyền lại 

Cho đời sau những ý niệm không lời 

Những bài học tuyệt với vô giá 

Nhờ tài hoa, sức kiên nhẫn phi thường 

Phác họa, điêu khắc, điệu nhạc yêu thương 

Ghi tạc lại tinh ba cuộc sống. 

Mong người xem mở mắt mở lòng 

Yêu muôn loại như yêu CHÂN THIỆN MỸ... 

Paris, 2-08-09, NK. 

Sáng ngày 5 tháng 8 phái đoàn chùa Khánh Anh gồm quý thầy cô và phật tử cùng đi trên hai chiéc xe bus có độ 140 chỗ ngồi. Xe chạy độ 4 giờ thì đến Brussel – vương quốc Bỉ, là nơi tổ chức Khóa Tu Học Phật Pháp Châu Âu thứ 21. Địa điểm nầy là một Tu viện Thiên chúa Giáo gồm có những dãy nhà lầu 4 tầng, có vườn hoa rộng rãi. Điện nước đầy đủ nhưng không có máy giặt, nên cũng gặp khó khăn cho những trẻ em và phụ nữ đến tu tập trong 10 ngày.  Tuy vậy, ai cũng chịu khó tự giặt rửa lấy. Khóa tu được chia ra nhiều lớp tùy theo sức học, có người vào lớp ban đầu 1A, có người khá hơn theo lớp 1B, những vị đã học nhiều năm rồi thì lên lớp 2… Có lớp cho quý thầy cô mới xuất gia, có lớp cho trẻ em, mà trẻ em đến từ nhiều nước ngôn ngữ khác nhau nên cần có lớp riêng nói tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Đức để dạy các em vừa học vừa chơi. Tổng cộng học viên lên đến 650 người. Quý thầy cô gần 100 vị. Có những em bé mới 2-3 tuổi cha mẹ đem theo, có những cụ già trên 90 tuổi cũng tham gia lớp học, quả thật khóa tu nầy đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, dù đã già, lớn tuổi  hay trẻ em cũng đều hưởng thụ được pháp vị an lạc của đạo Phật. Đã đến đây ai ai cũng đều hăng hái tu tập, đều muốn tiến bộ trên con đường giải thoát…  

“ Thương thầy mến bạn đồng hương 

Mỗi năm tìm đến khóa tu học hành. 

Niệm Phật đem hết lòng thành 

An vui hạnh phúc thoát vòng khổ đau.” 

Đến đây được gặp lại nhiều thầy cô , bạn bè lâu năm xa cách, bây giờ mới hội ngộ trò chuyện vui mừng khôn xiết. Ở lại đây bốn ngày tham dự đủ mọi khóa lễ như Lễ Khai Mạc, tụng kinh buổi sáng, qua đường, đến lớp nghe quý thầy giảng để học hỏi kinh nghiệm, tôi cũng được lên nói chuyện với lớp 1B trong 2 giờ buổi tối . Bước vào lớp học rộng thênh thang học viên có gần 200 vị, những bàn cuối lớp không nhìn thấy người. có vị phải kéo ghế lên gần phía trên. Chúng tôi khởi đầu buổi học là niệm Namo Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 3 lần, nói lời chào hỏi tự giới thiệu và vào đề tài Niệm Phật Vãng



Sanh. - Giới thiệu pháp môn Tịnh độ, thích hợp cho thời đại bây giờ, đây là pháp môn Nhị Lực, tự bản thân mình phát nguyện tu hành theo lời dạy của đức bổn sư trong 3 kinh : Phật thuyết kinh A-Di-ĐÀ, kinh Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ. Y theo ba điều kiện quan trọng là Tín, Nguyện và Hạnh. – Tín: tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy của đức bổn sư Thich Ca Mâu Ni, của chư Phật mười phương đều khuyến khích chúng sanh tin tưởng và nên phát nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc của Phật  A Di ĐÀ. Tin vào 48 đại nguyện của Phât A Di ĐÀ từ lúc làm Bồ tát hạnh đã phát tâm muốn cứu độ tất cả chúng sanh mười phương, nếu người nào tin tưởng, niệm danh hiệu của Phật  A Di ĐÀ và phát nguyện muốn vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Ngài thì đến giờ lâm chung, Phật sẵn sàng tiếp dẫn, nếu không được như lời nguyện thì Ngài không lên ngôi Chánh giác. Mà bây giờ ngài đã thành Phật 10 kiếp rồi, hiện đang tuyết pháp tại cõi tây phương tịnh độ. - Nguyện: Nhận thức rõ cảnh thế gian này là vô thường, nhiều đau khổ , mạng sống mong manh, sống chết  bất thường, mà tất cả mọi sinh vật đều sợ Chết, vậy muốn thoát khỏi cảnh đau già bịnh , chết thì không có cách nào hơn là Nhất tâm niệm Phật cầu nguyện vãng sanh. Đức Phật trong 49 năm giáo hoá, giảng dạy 4 vạn, 8 ngàn pháp môn, tùy theo căn cơ trình độ mỗi chúng sanh mà thuyết pháp giáo hóa làm cho họ được giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử. Hôm nay chúng ta tự xét xem hoàn cảnh mình như thế nào để chọn lựa một pháp tu cho thích hợp, có kết quả trong một đời, như trong bài Sám Nguyện Vãng Sanh đã nói: “ Một lòng quy kính. Phật A Di ĐÀ. Thế giới Cực Lạc. Nguyện lấy hào quang.  Trong sạch soi cho. Lấy thệ từ bi. Mà nhiếp thọ cho.  Con nay chánh niệm. Niệm hiệu như lai.  Vì đạo Bồ đề. Cầu sanh Tịnh độ. Phật xưa có thệ. Nếu có chúng sinh. Muốn sanh nước ta. Hết long Tín, Nguyện. Cho đến mười niệm.  Nếu chẳng đặng sanh. Chẳng thành chánh giác.  Do vì nhân duyên . Niệm hiệu Phật nầy. Được vào trong bể.  Đại thệ Như Lai. Nhờ sức từ bi.  Các tội tiêu diệt. Căn lành tăng trưởng. Khi mạng gần chung. Biết trước giờ chết. Thân không bịnh khổ. Tâm không tham luyến. Ý không điên đảo. Như vào thiền định. Phật và Thánh chúng. Tay nâng kim đài.  Cùng đến tiếp dẫn. Trong khoảng một niệm . Sanh về Cực Lạc. Sen nở thấy Phật.  Liền nghe Phật thừa. Chóng mở Phật huệ. Khắp độ chúng sanh. Trọn Bồ đề nguyện.”   Có phải mục đích tât cả mọi người đệ tử Phật, đến chùa tu hành là để mong được cái chết an lành, không đau khổ, không sợ hãi, làm chủ được mình trong giờ ra đi, không còn tham luyến ràng buộc bởi bất cứ lý do nào, như con cháu, tiền bạc … lại đươc Phật A Di ĐÀ và Chư Thánh chúng đến tiếp dẫn về cõi Cực Lạc thì còn hạnh phúc nào hơn nữa… Nhưng muốn đạt được kết quả tốt đẹp hy hữu như vậy chúng ta phải chuẩn bị tu tập siêng năng ngay từ bây giờ không thể đợi chờ giây phút nào nữa, vì có ai biết khi nào mình chết, và chết bằng cách nào đâu. Vậy cho nên hàng ngày phải để thời gian mà niệm Phật cho thành một thói quen, một nghiệp lực niệm Phật thật mạnh, thì mới làm chủ được mình trong giờ lâm chung, mới giao thông được với Phật A Di ĐÀ, hãy tự tin vào sức mình có thực hành niệm Phật chuyên cần, và tin vào đại nguyện của Phật A Di ĐÀ có đủ năng lực tiếp dẫn chúng ta về với Phật, như đem đứa con lưu lạc lâu đời trở về với Mẹ vậy. 

“ Phật như thể Mẹ tìm con.  Con mà gặp Mẹ lại còn lo chi…” 

Để nhớ niệm Phật thì hàng ngày “Ít nói chuyện. Niệm Phật nhiều.” Bất cứ khi nào rảnh rang thì niệm Phật, trong mọi oai nghi đi đứng nằm ngồi, khi đau khi mạnh , khi làm việc tay chân, nấu ăn, làm vườn, đi bộ… đều có thể niệm Phật. Huân tập như vậy lâu ngày sẽ thành thói quen đến khi không cần nhớ mà trong tâm cũng âm thầm niệm Phật, trong giấc ngủ cũng niệm Phật. Như thế niệm tham đắm thế gian giảm bơt, chắc chắn được vãng

sanh về Tịnh độ ở phẩm cao trong chin phẩm hoa sen.… Xin nhớ bài hát này để bớt lời qua tiếng lại làm mất lòng bạn bè bà con, làm chia rẽ gia đình đoàn thể, mà có thể giải quyết được mọi chuyện không hay đến với mình, vì rằng: 

 “ Lời qua mà tiếng lại.  Giải quyết chi đâu. 

Sao không dừng lại kẻo hố mà thêm sâu.?     

 Lời qua mà tiếng lại đưa ta tới đâu? 

 Sao không niệm Phật mỉm cười nhìn nhau.”  

Dù ai có mắng chửi, vu khống, hiếp đáp, nói xấu mình, mà mình nhớ mỉm cười và niệm A Di ĐÀ Phật với họ một cách bình tĩnh nhu hòa, thì mọi sự đều được hóa giải, không ai mất công để chưởi mắng một người luôn niệm Phật và tươi cười với mình cả. Phải không quý vị… Cả lớp vui vẻ tập bài hát này ai cũng thuộc lòng một cách dễ dàng và đem về nhà áp dụng , dạy cho con cháu. Con dâu, con rễ, để có đời sống bình an hạnh phúc. Gia đình hòa thuận, đoàn thể không giận hờn chia rẽ. Nếu ai ai cũng nhớ áp dụng câu niệm Phật vừa có lợi cho mình và cho tất cả…. NAMO ADI ĐÀ PHẬT. 

 Châu Âu đi lại dễ dàng 

Phương tiện đi lại sẵn sàng khắp nơi 

Xe bus, tàu điện, xe hơi 

Đến đi thuận tiện vui chơi tối ngày 

Mỗi tuần làm việc sáu ngày 

Chủ nhật đóng cửa không bày hàng ra 

Du lịch hay nghỉ ở nhà 

Sau tám giờ tối thật là bình yên. Mọi người dạo chơi trên hè phố hay đến những công viên nhảy múa, ca hát vui đùa… 

          ***

 Sau khi tham dự khóa tu học ba ngày, nhân dịp có thầy Huệ Giới lái xe về chùa Phật Huệ, Frankfurt, nước Đức. Tôi xin phép quý thầy được đi theo để du lịch nước Đức. Trưa hôm ấy chúng tôi lái xe ghé lại Lousembour ( Lục Xâm Bảo ) là một nước nhỏ, chỉ lái xe đi vòng quanh thành phố một vòng là hết, nhà cửa theo kiến trúc Châu Âu xưa, đời sống dân chúng thanh bình sung sướng. Trời nóng nực nên thầy HG. ghé lại tiệm giải khát gọi 2 ly Kem Ý rất đặc biệt có ba màu, trên có che cái dù nhỏ kiểu Nhật, ăn kem xong phải trả mỗi li kem giá 8 Euro = 12 US dollas, tôi không ngờ 1 li kem mà giá mắt quá như thế… 

Tại các nước châu Âu cái gì cũng đắt đỏ quá, không biết tiền lương có cao hơn ở Mỹ không.  Chiều lại chúng tôi về chùa Phật Huệ, gặp thầy trú trì Thiện Sơn, học ở Đài Loan về đây, có nghề châm cứu nổi tiếng nên bịnh nhân đến rất đông, ngày nào thầy và nhóm bác sĩ, nhân viên y tá, phải làm việc từ sang đến tối mới hết khách… Thầy Thiện Sơn còn trẻ mà đã xây dựng đuợc cơ sở vững vàng, chùa Phật Huệ có ba tầng lầu, có đầy đủ phòng khách, phòng khám chữa bịnh, văn phòng và chánh điện rộng rãi, trong chùa có

máy làm Tofu và cơm chay, món ăn chay để bán cho mọi người đến mua hàng ngày. Thầy có nhiều đệ tử người Đức, Pháp và nhiều người giúp việc. Thầy lại mới mua được một cơ sở rộng lớn trước đây là một bịnh viện, gồm 2 dãy nhà lầu 3 tầng, mỗi dãy có 100 phòng ở, có đủ tiện nghi. Ngày hôm sau một thầy người Đức đã đưa tôi đến thăm và ở lại 1 đêm, sinh hoạt ngồi thiền va ca hát với một nhóm học sinh 30 em nhân dịp nghỉ Hè nên về đây tu học và tập thực hành theo giáo lý đức Phật, do các thầy người Đức hướng dẫn, các em đều nói được tiếng Đức và tiếng Anh. 

Về ở lại chùa Phật Huệ ba ngày đi xem các thắng cảnh, trung tâm du lịch, nhà thờ lớn, viện bảo tàng. Đi du thuyền trên sông “Boat Bus” ngắm phong cảnh nhà cửa hai bên bờ và nghe người hướng dẫn thuyết minh bằng nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức… Đặc biệt có gặp một đám cưới của 2 nữ Bác sĩ với nhau và những sinh viên Y khoa, đang tổ chức trước nhà thờ ngay trung tâm du lịch. Hai nữ bác sĩ đồng tình luyến ái, làm lễ đám cưới, họ mặc áo trắng, còn các sinh viên mặc áo màu xanh nhạt, cùng nhau ca hát, thả bong bong bay, chụp hình, hai bác sĩ đứng sau một cái khung bằng gỗ để chụp tấm hình đám cưới đặc biệt, tôi đến chào hỏi cho biết thì họ vui vẻ mời một li Bia, và mời mình vào chụp hình luôn. Tôi nói với các sinh viên rằng: “ Các bạn có thấy không, làm đám cưới rồi là giống như người bị đóng vào cái khung, bị nhiều ràng buộc và mất tự do, phải không. Các bạn liệu đấy!” Tất cả đều cười. 

Bây giờ châu Mỹ cũng như châu Âu đều cho những người đồng tính làm đám cưới, họ lập gia đình sống chung vơí nhau, không cần con cái, ít trách nhiệm… Nhưng ! Nếu càng ngày càng có nhiều cặp làm đám cưới như vậy, thì xả hội sẽ ra sao, có bị xáo trộn và tạo ra nhiều rắc rối hay không…? Lấy đâu ra những bậc từ mẫu, cha nghiêm, con hiếu… Có ai chịu trách nhiệm có tình thương yêu chân thật biết hy sinh cá nhân để nuôi nấng đào tạo ra những kẻ tài đức cho xã hội… ? 

     ***

Ngày 12 tháng 8- 2009. Chúng tôi cùng đi với thầy Thiện Thanh, Tăng sinh đang du học tại Ấn Độ, về chùa Tâm Giác, Munchen, phía Nam nước Đức, do thầy Đồng Văn giới thiệu về chùa làm Lễ Bát Quan Trai vào chiều Thứ Bảy và Chủ Nhật, vì thầy bận khóa tu không về được. Chúng tôi đi tàu điện về đây có phật tử đón về chùa, có trên 40 phật tử đến tham dự Bát Quan Trai, cùng nhau tụng kinh lễ Phật và giảng giải pháp môn Tịnh độ. Tất cả mọi người lớn nhỏ đều vui vẻ hát thuộc bài Đây Là Tịnh Độ và bài hát Sám Hối:   

“ Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm 

Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm. 

Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhỏm. 

A Di ĐÀ Phật nhớ trong tâm…” 

Vào buổi chiều Chủ Nhật, xong lễ Bát Quan Trai, phật tử đưa chúng tôi đi thăm thành phố, đến công viên Olympic, có những kiến trúc tối tân kiểu dáng hiện đại, có sân đấu, hồ bơi, phòng triễn lãm, sân chơi cho trẻ em, cửa hàng bán thực thẩm, thức ăn, nước uống , vật lưu niệm. Trẻ em có cha mẹ dẫn đến đây vui chơi và được hướng dẫn những trò chơi,

tập vẽ, tập nắn hình tượng, kiến trúc xây dựng, mọi thứ đều do chính phủ cung cấp… Ra vào công viên miễn phí. 

Ngày thứ hai, thầy Đồng Văn và nhóm phật tử đi dự khóa tu học ở Brussel về chùa, chúng tôi được hướng dẫn đến thăm Trại Tù của Hittler, tại làng Dakau. Nơi đây vào thời Hittler cai trị nước Đức và thống trị cả châu Âu, đã xây nên nhiều trại tù khắp nước Đức, nhưng trại tù tại đây là nổi tiếng nhất về sự khắc nghiệt và giết hại nhiều người dân Do Thái nhất, khi vào đây mọi người đều cảm thầy rung mình ớn lạnh, cảm thấy như còn nhiều âm hồn còn quang quẫn đâu đây, bởi họ bị giêt hại một cách oan uổng, uất ức và đau đớn, nên lòng căm hờn oán hận không nguôi … Vậy nên họ chưa được giải oan giải thoát khỏi nơi nầy.! Chung quanh trại giam là những bức tường thành cao xây bằng gạch, có những chòi canh cao để quan sát người ra vào, bên trong có hàng rào dây thép gai có điện chạy đêm ngày, trong hàng rào dây thép điện lại có một rãnh nước bao quanh, vậy nên ai muốn trốn thoát khi băng qua hố nước áo quần bị ướt, và nắm vào dây điện là bị giật chết ngay. Ấn tượng đầu tiên khi mới bước qua cổng gác, chúng tôi thấy ngay hình ảnh một người đàn bà còn trẻ tay nắm vào dây thép gai và bị điện dật nằm chết khô bên hàng rào…  Đi vào bên trong những dãy nhà dài rộng có triển lãm những hình ảnh của những tù nhân bị tra tấn, những đống xác chết nằm chồng chất lên nhau như củi, những tù nhân chết vì đói khát, vì bịnh tật nằm chết hai bên đường, những nhóm người ốm yếu phải đẩy xe, khuân vác nặng nề cho đến chết…  Rồi đến thăm những phòng Hơi Ngạt, mỗi phòng chứa hàng trăm người tù bị xua đẩy vào, đóng cửa lại rồi bơm hơi ngạt vào, trong vòng 15 phút là chết ngạt, bị lôi ra ngoài chất đống để chờ đem qua hàng chục lò thiêu, tất cả đều trở thành tro bụi… Tổng kết sau đại chiến thế giới lần thứ nhì, những trại tù của Đức quốc xả do Hittler lãnh dạo đã giết hại đến 6,000,000. – Sáu triệu dân Do Thái, chưa kể những người dân tộc khác. Bởi Hittler độc tài và độc ác như vậy cho nên sau thế chiến bị Liên Hiệp Quốc lên án và truy tìm để trừng phạt, nhưng Hittler đã chết mất xác, không ai tìm thấy thi hài cũng như mộ phần ông ta ở đâu cả. Những nhà lãnh tụ độc ác đi đâu cũng sợ ám sát, đến chết cũng không yên thân còn sợ người ta moi xác lên để hành tội. Nhưng dù cho thân xác có tan hoại đi, nhưng phần linh hồn, tâm linh của họ không mất vẫn bị hình phạt đau khổ nặng nề gấp vạn lần họ đã hạnh hạ làm khổ đau đồng loại. 

“Vua Diêm Vương chẳng bao giờ xét xử oan ai bao giờ!!!” Không một ai thoát khỏi luật Nhân Quả, vay thì phải trả sau trước không tha…. 

Đến chùa Tâm Giác Munchen 

Tổ chức thọ Bát Quan Trai một ngày 

Phật tử vân tập bốn mươi 

Pháp môn Tịnh độ vui cười vâng theo. 

Sống trong thời thế hiểm nghèo 

Bao nhiêu tai họa bấy nhiêu cực hình. 

Chư Phật phát nguyện độ sanh 

Tiếp người niệm Phật Tây phương đưa về. 

Ta bà cơ cực gớm ghê 

Cực Lạc yên ổn bốn bề Thánh nhân. 

Về đây chứng quả vô sanh 

Mười phương học Phật tiến nhanh vô cùng. 

Trì danh phát nguyện vãng sanh 

Hoa sen chin phẩm sẵn dành cho con. 

Mẹ cha chờ đợi mỏi mòn 

Thuyền từ xuôi ngược càn khôn ra vào. 

Quê xưa lạc lối tơ hào 

Xuống lên sáu nẻo thấp cao đắm chìm. 

Luân hồi đánh mất niềm tin 

Sống trong tăm tối vô minh bao trùm. 

Oan gia nghiệp báo gông cùm 

Trói trăn ràng buộc không ngừng khảo tra. 

Trải qua số kiếp hà sa 

Mờ mờ nhân ảnh mù lòa chân tâm. 

Giờ đây thôi hết mê lầm 

Lên thuyền đại nguyện Tây phương hướng về… 

Chiều thứ hai, chúng tôi theo cô Vinh người đến dự Bát Quan Trai, qua thăm nước Áo, đến thành phố quê hương của thiên tài âm nhạc Moza gặp quán ăn Bamboos của gia đình người Huế được đãi cơm chiều và dẫn đi chơi một ngày rồi về lại Munchen, để lên chùa Viên Giác, Hanover, Đức. do Hòa Thượng Thích Như Điển làm phương trượng và thầy Hạnh Giới làm trú trì. 

Cơ sở chùa Viên Giác đầy đủ phương tiện, nhiều phòng ốc, Tăng xá, Thư viện, Văn phòng, Lớp học 

Nhà bếp, trai đường rộng rãi, những nhân viên làm việc trong văn phòng, thư viện, in ấn sách báo đều được trả lương tháng đàng hoàng, không phải là người làm công quả, cho nên ai nấy đều có trách nhiệm làm tốt công việc, có người đã làm việc với chùa trên 20 năm chưa nghỉ. Vườn chùa trồng nhiều rau trái để ăn và bán như bầu, bí, ớt, cà chua, rau lang, hành ngò, có một bác chuyên môn làm vườn, trông nom săn sóc cho nên chùa thường có rau trái tươi để dùng hàng ngày. Theo quy luật chùa Viên Giác mỗi năm đều an cư 3 tháng, trưa nào cũng cúng quá đường, 

Hai thời kinh sáng và chiều, HT. và Tăng chúng đều tụng kinh và lạy Kinh Đại Bát Niết Bàn, một chữ một lạy. Mỗi thời trung bình lạy trên 300 lạy. Nhờ công phu như vậy cho nên HT. có nhiều đệ tử Việt Nam và Đức học hành và tu tập tinh tấn. Phật tử đến chùa làm công quả cũng nhiều. Mỗi ngày chùa càng thêm phát triển.  Chúng tôi được thầy Hạnh Giới đưa đi xem Phố Cổ, lâu đài vua chúa ngày xưa…vườn hoa và các nơi có cảnh đẹp. Chúng tôi ở lại đây 3 ngày. 

Ngày 19-08-2009, đi tàu điện lên chùa Linh Thứu, Berlin, thủ đô nước Đức. Đây là ngôi chùa mới, có vườn rộng, quý cô đang xây dựng nhiều công trình đẹp, như chùa Một Cột, Vườn Nai, nơi đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 anh em ông Kiều Trần Như. Những vườn hoa, vườn rau, chung quanh chùa , trên bức tường quanh chùa có phù điêu bằng đá kể lại sự tích đức Phật Thích Ca từ sơ sanh đến niết bàn… Lại có tượng Quán Âm, tượng Di Lặc…Xin tán than công đức của quý sư cô. Chùa có xe ôto, nhưng không ai biết lái xe, khi cần phải nhờ phật tử. Tôi khuyến khích quý sư cô trẻ nên học lái xe để đi lại làm việc cho thuận tiện, bên Mỹ có các sư cô mới qua chỉ vài năm là đã có xe riêng

và có bằng lái xe để đi học và làm việc rồi… May thay chúng tôi được nữ văn sĩ Hoa Lan, để cả một ngày chở đi xem thành phố, đi bộ lên tháp Chiến Thắng cao 285 bậc cấp, xưa nay cô Hoa Lan chưa bao giờ lên, bây giờ mới có dịp đi bộ lên tháp là một thành tích đáng nhớ. Rồi đi thăm Viện Bảo Tàng, thăm nhà Thờ Cụt Đầu di tích của chiến tranh, tháp chuông nhà thờ cao nhọn vút trời bị bom phá đổ sụp, hư hại tường vách, nhưng nhà thờ vẫn đứng nguyên, nên người ta giữ lại như chứng tích của một thời chiến tranh khủng khiếp gần như mọi thứ đều bị tàn phá. Bây giờ bên cạnh người ta đã xây lên một nhà thờ mới nhưng tháp chuông không cao hơn nhà thờ củ. Đặc biệt là đến thăm Bức Tường Ô nhục, sau khi khối Cộng sản Liên Sô sụp đổ thì dân chúng hai bên Berlin cùng nhau đập phá bức tường ngăn cách thủ đô nước Đức làm hai, một bên Đông Đức theo Cộng sản, bên Tây Đức theo tự do, người dân bên Đông Đức thường vượt qua bức tường nầy để trốn qua Tây Đức và bị bắn chết rất nhiều. Đây là điều chứng tỏ cho thế giới biết rằng mọi người đều yêu chuộng tự do, ai cũng sợ độc tài, độc đảng muốn thống trị kẻ khác bằng bạo lực, không tôn trọng nhân quyền. Quả thực xưa nay chưa thấy có ai trốn thoát từ các nước tự do qua nước Cộng sản bao giờ… 

“ Những gì phi lý và bất nghĩa.   Là trái lòng dân nghịch ý trời….” 

Ngày 20-08-2009. Chúng tôi cùng quý sư cô chùa Linh Thứu, đi tàu điện lên chùa Bảo Quang, thành phố Hamburg, để tham dự lễ Vu Lan. Nơi đây chúng tôi gặp lại HT Như Điển, thầy Hạnh Giới, thầy Đồng Văn, sư cô Tuệ Đàm Hương và nhiều thầy cô các nơi đến dự lễ Vu Lan  2553. HT. Như Điển giới thiệu tôi giảng về pháp môn Tịnh độ nhân lễ Vu Lan nầy. 

Trong phòng giảng có trên 150 phật tử ngồi nghe. Sau thời giảng 2 giờ chúng tôi cùng nhau tập hát bài Đây Là Tịnh Độ. Mọi người đều hoan hỉ. 

Lúc này các phật tử Đan Mạch định qua đây đón tôi về chùa Liễu Quán ở Đan Mạch. Họ chuẩn bị mọi thứ trai phạn để mời tôi qua thăm và làm lễ Vu Lan. Nhưng cô Đàm Hương lại muốn đưa tôi qua chùa Vạn Hạnh, của thầy Hạnh Bảo cũng ở Đan Mạch đang tổ chức lễ Vu Lan, có mời nhiều thầy đến tham dự. Tôi khuyên các phật tử Đan Mạch khoan qua Đức cho tôi xin hẹn lúc khác, xin lỗi tất cả phật tử bên đó đang chờ tôi … Sau đó, khi đến chùa Vạn Hạnh, may mắm gặp lại thầy Hạnh Bảo và thầy Pháp Trú đã quen nhau trước đây, nên rất vui vẻ. Dự lễ Vu Lan xong, thầy Pháp Trú liền đưa tôi lên tàu để lên Copenha, thủ đô Đan Mạch, hẹn gặp quý phật tử tại chùa Liễu Quán vào buổi chiều , vì trưa nay phải dự lễ Vu Lan tại chùa Vạn Hạnh . Nhờ đây mà hoá giải được sự buồn phiền của các phật tử thân quen từ chuyến Hành Hương Ấn Độ năm ngoái, đang mong chờ chúng tôi tại Đan Mạch. Cho dù đến trễ làm mọi người phải chờ đợi nhưng rồi ai cũng vui vẻ, chúng tôi cùng vào trước chánh điện làm lễ, nói chuyện đạo, rồi dùng cơm chiều vơí nhau trong tình cảm đạo vị thân thiết cảm động vô cùng. Chính tôi và các phật tử đều trút khỏi gánh nặng buồn phiền trong lòng. Nhất là những người thân quen lâu nay chúng tôi đã liên lạc qua email hẹn ngày hội ngộ nơi xứ Đan Mạch xa xôi tận miền Bắc Châu Âu nầy, thật là hy hữu… 

Ở lại Đan Mạch ba ngày được chiêu đãi tại tiệm MINH MINH của cô Minh là người chúng tôi làm lễ Quy Y đặt pháp danh Quảng Trí, tại nơi Phật Nhập Niết Bàn, Ấn Độ cùng với gia đình Diệu Hòa, Quảng Tín và Quảng Thiện. Ban ngày đi chơi ban đêm về

ngủ lại nhà của cô Minh gần bờ biển AMA. Sáng nào cũng đi dạo bên bờ biển với thầy Pháp Trú, nhìn cảnh mặt trời trong buổi bình minh trên mặt biển đẹp rực rỡ tuyệt vời… 

Anh Hùng Tường, Diệu Hòa, cô Minh lái xe đưa đi xem các thắng cảnh, phố cổ, vườn hoa, lâu đài cung điện hoàng gia bây giờ còn chế độ nữ hoàng. Đền, Viện Bảo Tàng, nhất là đi tàu ven bờ biển, đến xem Nàng Tiên Cá (Mermaid.). Có sự tích nàng tiên cá là một Mỹ Nhân Ngư, hình người đuôi cá, ngồi trên tảng đá bên bờ biển, có hình dáng một cô gái trẻ xinh đẹp, mặt nhìn ra biển trông ngóng người tình là một hoàng tử hẹn ngày trở lại mà biệt vô âm tín, khiến cho nàng chờ đợi mãi trong cảnh cô đơn buồn nhớ khôn cùng. Người ta nhân câu chuyện nầy đúc thành một tượng nàng tiên cá bằng đồng, đẹp nổi tiếng, và Đan Mạch lấy đây làm hình ảnh biểu tượng của đất nước Đan Mạch. Hàng năm có rất nhiều du khách đến đây thăm viếng và chiêm ngưỡng chụp ảnh với tượng Nàng Tiên Cá này.  Nàng có tiếng hát rất hay, quyến rủ những viên thủy thủ lái tàu đi ngang qua đây khi nghe tiếng hát thì tâm hồn mê mẫn, lái tàu va chạm vào các tảng đá mà tan vỡ và bị chết… 

Ngày 26-8-09, chúng tôi đi máy bay từ Copenha về Paris, đến chùa Khánh Anh lúc 10:00PM. Sáng mai 27-8-09 sau buổi điểm tâm, tôi chào tạm biệt HT Minh Tâm Viện chủ Khánh Anh và quý thầy cô, phật tử rồi nhờ anh Thế đưa đến phi trường Charle De Gaulle bay về Mỹ. 

Trong lúc bay ngang Bắc cực, nhìn xuống chúng tôi thầy những núi tuyết tan rã thành những khối lớn như các chiếc tàu đang trôi dạt ra biển Bắc Băng Dương, đây là hiện tượng bầu khí quyển của địa cầu bị nung nóng lên làm cho băng tuyết tan nhiều làm cho mực nước biển dâng cao, càng ngày những vùng đất ven biển càng bị lấn chiếm làm cho nhiều nơi bị sụp xuống biển, mặt đất hẹp dần… Khí hậu thay đổi, thiên tai bão lụt nhiều hơn… Tai họa ngày càng nhiều. Vậy mà chúng ta, chẳng có ai biết lo trước, chuẩn bị đối phó với những tai ương hoạn nạn sắp xảy đến cho mình, cho nhân loại, như thế phải tính sao đây? Đức Phật dạy : “ Nhất thiết duy Tâm tạo.” 

Một vùng tuyết trắng mênh mông 

Đây miền Bắc cực nước xanh màu 

Quanh năm tuyết phủ mái đầu 

Tuyết sơn vắng lạnh một màu hoang vu. 

Nửa năm mờ mịt sa mù 

Mặt trời lịm tắt âm u bao trùm. 

Cô đơn xâm chiếm một vùng 

Những con gấu trắng lạnh lùng cô đơn. 

Muốn có hoàn cảnh tốt đẹp, muốn có đời sống bình an hạnh phúc, thì phải có tâm tánh hiền hoà nhân nghĩa, biết gieo trồng hạt nhân phước đức, yêu thương che chở mọi loài, không nên sát hại sinh linh, thực hành đạo từ bi hỉ xả…Biết ăn chay tụng kinh, niệm Phật. Đây là phương pháp cải tạo xã hội, đem lại bình an trên trái đất hạnh phúc cho muôn loài… 

Tuyết sơn vùng Bắc cực 

Cũng tan nát rã rời 

Lớp lớp lững lờ trôi 

Theo băng hà ra biển. 

Quả địa cầu suy biến 

Mặt nước biển dâng cao 

Đất bị xâm lấn vào 

Chìm sâu trong lòng biển. 

*** 


Từng lớp băng sơn trôi ra biển 

Những hòn núi tuyết lững lờ trôi 

Mênh mông giữa đất trời 

Tan dần vào biển cả 

Mặt đất trở thành xa lạ 

Chìm trong làn nước mặn dâng cao… 

Nhân lọai thiếu cơm thiếu áo 

Biết tìm an trú nơi nao… 

Ai biết nhất tâm niệm Phật 

Nguyện sanh về cõi Di Đà 

Tây phương Cực Lạc quê nhà an vui… 

NAMO A DI ĐÀ PHẬT.    



Seattle, 10-10-2009.  NK. 

tải về 308.76 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương