Phßng gi¸o dôc huyÖn tõ liªm


II. Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến



tải về 213.32 Kb.
trang2/19
Chuyển đổi dữ liệu20.09.2022
Kích213.32 Kb.
#184184
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19
2020-SKKN LỚP 3

II. Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến:

Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn phức tạp, hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ xảo tính. Vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Nắm được các ý nghĩa phép tính đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi biết cách tính thông thạo. Đặc biệt là biết nhận dạng bài toán và lựa chọn thích hợp.


Để giúp học sinh thực hiện được các hoạt động trên có hiệu quả giáo viên không làm thay hoặc áp đặt cách giải, mà hướng dẫn để học sinh từng bước tìm ra cách giải bài toán (tập trung vào 3 bước). Giáo viên vận dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát thông qua dự giờ, phương pháp dự giờ,...để từ đó định hướng phương pháp dạy học tốt nhất nhằm đạt hiệu quả cao.

III. Mục tiêu:


Giải toán giúp học sinh hình thành, củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng về toán. Qua giải toán, giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót trong kiến thức, kĩ năng của học sinh để giúp các em phát huy những ưu điểm, khắc phục thiếu sót. 
Thông qua việc giải toán, với những đề tài thích hợp có thể giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào, giới thiệu cho các em thấy được nhiều mặt của thực tế đời sống phong phú, ý thức bảo vệ môi trường, phát triển dân số có kế hoạch. Giải toán có tác dụng giáo dục các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch, thói quen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, phát triển tư duy.

CHƯƠNG II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN

I. NÊU VẤN ĐỀ CỦA SÁNG KIẾN:


Trong chương trình tiểu học mới, giải bài toán có lời văn vẫn là một trong các mạch nội dung có tầm quan trọng đặc biệt, đó là sự vận dụng tổng hợp các kiến thức cơ bản trong môn Toán và trong thực tế đời sống gần gũi với học sinh.
Từ học kỳ II của lớp 1 đến cuối lớp 2, học sinh được học về giải các bài toán với mối quan hệ đơn giản và giải bằng một phép tính. Đến đầu lớp 3, học sinh được củng cố về giải bài toán bằng một phép tính với một số mối quan hệ số lượng trong phép nhân và phép chia (như “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số), “Gấp một số lên nhiều lần”, “Giảm đi một số lần”, “So sánh số lớn gấp mấy lần số bé”, “So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn”). Đây là những mối quan hệ khá trừu tượng đối với học sinh đầu lớp 3. Cũng ngay ở giữa học kỳ I của lớp 3, việc dạy học giải bài toán có lời văn đã chính thức chuyển sang giải đoạn mới: Giải bài toán có nhiều hơn một phép tính (ở lớp 3 chỉ học giải bài toán bằng hai bước tính).
Khó khăn chủ yếu của dạy học giải bài toán có lời văn ở lớp 3 là làm sao hướng dẫn học sinh tự giải được các bài toán bằng một phép tính với các mối quan hệ toán học đã được chuẩn bị từ lớp 1 đến lớp 3 và đặc biệt là giúp học sinh vượt qua được bước chuyển từ giải bài toán bằng một phép tính sang bài toán bằng hai phép tính (đúng hơn là bằng hai bước tính). Thực tế dạy học giải bài toán có lời văn ở các lớp 1, 2, 3 xác nhận rằng, không ít học sinh thường bị nhầm lẫn khi chọn phép tính giải vì chưa nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán; một bộ phận học sinh còn lúng túng khi “lập hồ sơ” tóm tắt và khi chọn các phép tính giải bài toán bằng hai bước tính; một số học sinh còn “khó hình dung” được “đơn vị” trong bài toán liên quan đến “rút về đơn vị”.
Tất cả những khó khăn trên thúc đẩy chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài: "Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tự giải bài toán có lời văn ở lớp 3”

tải về 213.32 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương