Phần thứ hai



tải về 2.2 Mb.
trang11/25
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích2.2 Mb.
#4113
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   25

(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT giai đoạn 1997-7/2008)

Bảng 3.7: Sản lượng cá tra bột và giống sản xuất hàng năm ở vùng ĐBSCL ĐVT: Triệu con



TT

Danh mục

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

7T/2008

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

Cá bột

Cá giống

1

An Giang

36

2

45

2

228

17

240

24

375

28

715

103

2.480

79

2.730

270

 

 

2

Đồng Tháp

430

30

416

36

572

47

624

52

4.250

935

4.681

1.744

5.000

957

9.000

1.149

4.500

720

3

Cần Thơ

 

-

-

19

-

9

-

4

-

3

-

50

 

100

 

350

 

79

4

Vĩnh Long

 

 

 

6

-

7

-

10

-

8

-

6

 

29

 

54

 

 

5

Tiền Giang

 

 

 

-

-

-

-

2

-

2

-

1

74

24

75

25

60

20

6

Bến Tre

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5

 

20

76

40

7

Hậu Giang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

40

 

50

 

64

8

Trà Vinh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5

 

8

18

10

 

Tổng (làm tròn)

466

32

461

63

800

80

864

92

4.625

975

5.396

1.904

7.554

1.239

11.805

1.926

4.654

933

 

Tỷ lệ giống/bột (%)

 

6,91

 

13,69

 

10

 

10,65

 

21,09

 

35,29

 

16,4

 

16,32

 

20,05

(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT giai đoạn 1997-7/2008)

(2). Chất lượng giống

Nguồn gốc giống nuôi được cung cấp từ các vùng Hồng Ngự - Đồng Tháp hoặc An Giang có chất lượng tốt. Tốc độ tăng trưởng trung bình ổn định (6 tháng đạt 1kg), tỷ lệ sống cao (80-95%), kích cỡ đồng đều, ít bị dịch bệnh trong quá trình sản xuất. Tỷ lệ ương từ bột lên hương cũng được cải thiện đáng kể, ban đầu chỉ đạt khoảng 10-15% sau đó nâng lên đến 25-30%, có nơi đạt 35%; kỹ thuật ương từ cá hương lên cá giống cũng được cải thiện đáng kể, đưa tỷ lệ sống từ 60% lên đến 80-85%. Đây là cơ sở sẽ bố trí quy hoạch hệ thống trại sản xuất bột và ương dưỡng trên 2 tỉnh này có điều kiện môi trường sinh thái phù hợp với đặc điểm sinh học của cá tra.



(3). Tình hình tiêu thụ cá giống nuôi

Cơ sở sản xuất cá bột cung cấp cho cơ sở ương dưỡng sau đó cung cấp cho nuôi thương phẩm hoặc cung cấp cho các cơ sở kinh doanh giống. Cơ sở sản xuất cá bột, ương lên cá hương và cá giống sau đó cung cấp cho cơ sở kinh doanh và cơ sở kinh doanh cung cấp cho nuôi thương phẩm. Các hộ nuôi thương phẩm có thể mua giống tại nơi sản xuất hoặc các hộ kinh doanh giống vận chuyển đến tận ao, bè để cung cấp. Tỷ lệ hao hụt trong quá trình vận chuyển thường khoảng 5-10% tùy thuộc vào cỡ cá cũng như khoảng cách vận chuyển, cá càng lớn tỉ lệ hao hụt càng thấp và ngược lại.



Hình 3.8: Sơ đồ luân chuyển con giống trong vùng ĐBSCL



(4). Tình hình kiểm soát con giống

Lực lượng kiểm tra, kiểm soát của các tỉnh còn quá mỏng, trình độ và trang thiết bị còn nhiều hạn chế, do đó lượng giống được kiểm tra, kiểm soát chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong tổng nhu cầu giống nuôi. Các hộ sản xuất nhỏ lẻ và tâm lý sợ phải đóng thuế nên không cung cấp thông tin đầy đủ cho cơ quan quản lý, dẫn đến công tác kiểm tra, kiểm soát gặp rất nhiều khó khăn.



3.3.2. Cung cấp thức ăn, thuốc và hóa chất

Chi phí sử dụng thức ăn công nghiệp trong nuôi cá thường cao hơn sử dụng thức ăn tự tạo, khoảng 80% hộ nuôi dùng thức ăn tự chế biến dễ gây ô nhiễm nước thải. Do sử dụng thức ăn công nghiệp khá tiện lợi, hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường nên 2 năm gần đây (2006-2007) hầu hết số người nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên. Thức ăn công nghiệp cung ứng cho nuôi ở ĐBSCL chủ yếu từ các nhà máy sản xuất thức ăn Cần Thơ, Bình Dương, Đồng Nai,.. và của một số công ty nước ngoài sản xuất thức ăn tại Việt Nam.

Đối với thức ăn tự chế biến, giá thành khoảng 3.800-4.000đ/kg; thức ăn công nghiệp dao động trong khoảng từ 4.800-5.800đ/kg ở năm 2005. Trong năm 2007 và đầu năm 2008 đã tăng lên 8.000đ-8.500đ/kg tùy từng hãng sản xuất. Thức ăn công nghiệp có hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) khoảng 1,4-1,6; còn đối với thức ăn tự chế biến thì FCR khoảng 2-2,2.

Hiện tại giá thức ăn cho cá tra ở mức khá cao đây là một trong những nguyên nhân góp phần làm tăng chi phí sản xuất cho người nuôi. Hàng năm trong vùng tiêu thụ một khối lượng rất lớn thức ăn công nghiệp đem lại nhuận đáng kể cho các công ty sản xuất thức ăn, trong khi đó người nuôi gánh chịu những thua lỗ do những yếu bất lợi như giá cả không ổn định, nguy cơ thừa nguyên liệu luôn thường trực….

Cá tra có biên độ thích ứng với các yếu tố môi trường rộng hơn nhiều so với các đối tượng thủy sản khác. Các loại hóa chất sử dụng chủ yếu để cải tạo ao, sau khi thu hoạch và chuẩn bị cho một vụ sản xuất mới. Các hóa chất sử dụng đều nằm trong danh mục cho phép sử dụng của Bộ Thủy sản (trước đây) và dùng theo sự chỉ dẫn, tư vấn của các cán bộ có chuyên môn của các cơ quan có chức năng.

Các cơ sở cung cấp thuốc và hóa chất phục vụ NTTS nói chung và nuôi cá tra nói riêng đều kết hợp với cung cấp thức ăn và các dịch vụ khác phục vụ cho NTTS. Số lượng các đại lý thức ăn trong những năm gần đây ở con số khá cao, từ 654 đại lý (năm 2006) tăng lên 716 đại lý vào năm 2007 và 7 tháng đầu năm 2008 với 763 đại lý.

Nhìn chung công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn, do lực lượng cán bộ mỏng, phương tiện và trang thiết bị phục vụ còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Vẫn còn những hiện tượng người nuôi phải sử dụng các loại thức ăn quá hạn, không đảm bảo chất lượng, các loại thuốc, hóa chất nhập lậu, không nhãn mác,….

Bảng 3.8: Số lượng đại lý thức ăn, thuốc thú y thủy sản phục vụ nuôi cá tra trong vùng (Cơ sở)



TT

Địa phương/Năm

2006

2007

7/2008

1

Tiền Giang

183

183

183

2

Bến Tre

21

17

20

3

An Giang

15

34

41

4

Đồng Tháp

203

238

240

5

Vĩnh Long

112

120

130

6

Hậu Giang

15

15

18

7

Cần Thơ

105

109

131

 

Tổng

654

716

763

(Nguồn: Sở NN & PTNT các tỉnh ĐBSCL)

3.4. HIỆN TRẠNG CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ CÁ TRA VÙNG ĐBSCL

3.4.1. NĂNG LỰC CHẾ BIẾN

(1). Công suất và sản lượng chế biến cá tra

Số lượng, qui mô nhà máy chế biến cá tra liên tục tăng nhanh trong những năm qua. Năm 2000, toàn vùng chỉ có 15 nhà máy với công suất 77.880 tấn/năm, đến năm 2007 là 64 nhà máy, công suất đạt 682.300 tấn/năm. Tính đến tháng 6 năm 2008, toàn vùng đã có 80 nhà máy chế biến cá tra, công suất thiết kế 965.800 tấn/năm.



Bảng 3.9: Số lượng và công suất thiết kế các nhà máy chế biến cá tra trong vùng 2000-2008

Danh mục

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Th 1-6/2008

Số NM chế biến cá tra

15

19

20

23

33

36

54

64

80

- Chuyên

1

2

2

2

4

5

20

26

37

- Kết hợp

14

17

18

21

29

31

33

37

42

CS thiết kê (tấn/năm)

77.880

88.540

119.331

144.945

230.740

281.740

495.351

682.300

965.800

SL chế biến (tấn)

689

1.970

27.980

33.304

82.962

140.707

286.600

386.870

-

Hiệu suất (%)

1

2

23

23

36

50

58

57

-

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

(2). Lao động chế biến cá tra

Tính đến năm 2006, ngành công nghiệp chế biến thủy sản của vùng ĐBSCL đã tạo việc làm cho khoảng 116.000 lao động địa phương.

(3). Mặt hàng chế biến

Trước đây cá tra được xuất khẩu chủ yếu dưới dạng phi lê cấp đông đơn thuần nhưng đến nay đã đa dạng hơn nhiều với các mặt hàng chế biến sẵn như: chả cá; tẩm bột; cá tra cắt khoanh muối sả; cắt khúc; sandwich; bánh mè; bao bắp non; cà chua nhồi cá tra; bông bí nhồi cá tra; bao tử dồn chả hải sản; xúc xích, phi lê cuộn nhồi tôm; cá tra nhồi cá hồi. Ngoài dạng chế biến sẵn thì một số doanh nghiệp còn có mặt hàng khô (chủ yếu ở An Giang) như bong bóng cá tra sấy khô; khô cá tra phồng. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp còn tận dụng phế liệu chế biến thành các sản phẩm có ích như dầu cá, bột cá làm tăng hiệu quả sản xuất và hạn chế gây ô nhiễm môi trường.



(4). Nhu cầu nguyên liệu chế biến

Thời gian đầu (1998-2001) do chưa tìm được thị trường xuất khẩu nên lượng cá tra nuôi chủ yếu được tiêu thụ nội địa, xuất khẩu chỉ chiếm dưới 10%. Năm 2002, đánh dấu sự tăng trưởng đột phá của thị trường xuất khẩu, có đến 54% sản lượng nuôi được đưa vào chế biến để xuất khẩu. Những năm gần đây, tỷ trọng này chiếm khoảng 90%.

Bảng 3.10: Nhu cầu nguyên liệu chế biến xuất khẩu giai đoạn 1998-2007 (Đơn vị: tấn)

Chỉ tiêu

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Sản lượng nuôi (1)

105.446

109.927

154.907

199.100

272.412

416.908

825.000

1.150.000

Nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu (2)

2.067

5.910

83.940

93.246

231.628

390.701

751.224

1.011.516

Tỷ trọng (%)

2%

5%

54%

47%

85%

94%

91%

88%

Nguyên liệu cho chế biến và tiêu thụ nội địa tươi sống (3)

103.379

104.017

70.967

105.854

40.784

26.207

73.776

138.484


tải về 2.2 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   25




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương