Phần mở ĐẦU



tải về 430.37 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu07.11.2017
Kích430.37 Kb.
  1   2   3

PHẦN MỞ ĐẦU

Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho nền kinh tế của đất nước nói chung và đối với khu vực kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu với giá trị lớn.

Làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô từ lâu đã có tiếng trên thị trường cả nước được lưu truyền trong dân gian. Có giai đoạn làng nghề chững lại khi nghề làm pháo du nhập và phát triển mạnh tại làng Nam Ô, song vẫn có những hộ gia đình gắn bó và gìn giữ nghề truyền thống này. Cho đến năm 1994, Chỉ thị 406/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo, cùng với chính sách hỗ trợ đầu tư của Quận ủy, UBND quận các hộ dân tiếp tục bám biển, đầu tư với nghề truyền thống của mình, làng nghề dần dần được phục hồi trở lại.

Qua 7 năm thực hiện đề án khôi phục làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô, bước đầu đã thu được kết quả nhất định, thương hiệu nước mắm Nam Ô một thời nổi tiếng, qua nhiều thăng trầm nay đã có mặt trên thị trường với chất lượng thơm ngon được người tiêu dùng đón nhận và ưa thích, lớn nhất và vinh dự là thương hiệu nước mắm Nam Ô được cấp logo và nhãn hiệu tập thể. Đây là thành quả to lớn của các cấp, các ngành và nhân dân địa phương đã góp công sức để lưu giữ một nghề truyền thống, mang đậm bản sắc nghề mắm nổi tiếng hơn 100 năm.

Song bên cạnh đó, làng nghề đang đối mặt với những thách thức không nhỏ, ảnh hưởng đến việc duy trì, bảo tồn phát triển sản xuất và tiêu thụ nước mắm của làng nghề. Trong những năm gần đây do tác động của nền kinh tế thị trường, sản phẩm làng nghề truyền thống không cạnh tranh lại các sản phẩm thay thế có nguồn gốc nhập khẩu hoặc sản phẩm sản xuất theo công nghệ hiện đại, ngắn ngày. Diện tích sản xuất làng nghề khó mở rộng, nguyên liệu tại chỗ ngày càng giảm dần, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, mẫu mã bao bì, nhãn mác chưa hấp dẫn, tiềm năng du lịch ở làng nghề chưa được khai thác.

Để khắc phục những tồn tại trên, tiếp tục lưu giữ và quảng bá thương hiệu làng nghề, gắn phát triển làng nghề với du lịch nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống cho ngư dân, nông dân. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ quận lần thứ IV về việc tăng cường các chương trình hoạt động nhằm phát triển làng nghề nước mắm Nam Ô và thực hiện Quyết định 2636/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề” với mục tiêu đến năm 2015 sẽ bảo tồn từ 30 - 40 làng nghề truyền thống và phát triển từ 50 - 70 làng nghề mới và làng nghề gắn với du lịch. UBND quận Liên Chiểu xây dựng Đề án: "Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô trên địa bàn quận Liên Chiểu ".

Kết cấu Đề án bao gồm 3 phần chính:

- Phần I: Thực trạng làng nghề nước mắm Nam Ô

Yêu cầu đặt ra ở phần này là: đánh giá đúng thực trạng phát triển Làng nghề giai đoạn 2007-2011. Qua đó, xác định các mặt đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để rút ra bài học kinh nghiệm thiết thực cho việc định hướng Bảo tồn và phát triển làng nghề trong giai đoạn tiếp theo.



- Phần II: Quan điểm, mục tiêu và định hướng Bảo tồn và phát triển làng nghề

Những nội dung chính của phần này là:

+ Kiểm kê, đánh giá đầy đủ các yếu tố dự kiến có ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát triển làng nghề;

+ Xác định quan điểm, mục tiêu và xây dựng định hướng phát triển làng nghề cho phù hợp với điều kiện thực tế của quận, thành phố, đảm bảo thống nhất với các quy hoạch thuộc các lĩnh vực có liên quan khác.

+ Nghiên cứu, xây dựng các chương trình, dự án có tính khả thi về Bảo tồn và phát triển làng nghề để triển khai thực hiện trong từng giai đoạn cụ thể.

- Phần III. Các giải pháp và tổ chức thực hiện đề án

Đề xuất các giải pháp, chính sách có tính khả thi nhằm đảm bảo mục tiêu Bảo tồn và phát triển làng nghề. Dự kiến sự phân công, phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành và các cơ quan có liên quan để thực hiện thành công đề án.



PHẦN I

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ NƯỚC MẮM NAM Ô

I. Các khái niệm cơ bản và vai trò của làng nghề trong nền kinh tế

1. Một số khái niệm cơ bản:

- Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, có giải thích từ ngữ sau:


a) Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.

b) Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.

c) Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.

- Bảo tồn là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại; hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó. Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài về vật chất cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội.

- Một số khái niệm khác có liên quan: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu trong quá trình đi du lịch của du khách, bao gồm:

+ Sản phẩm du lịch đặc trưng: đó là những sản phẩm hấp dẫn khách du lịch, tạo ra mục đích của khách du lịch tại điểm đến như: danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, nơi nghỉ mát, chữa bệnh, thăm quan ...

+ Sản phẩm du lịch cần thiết: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong quá trình đi du lịch như: phương tiện vận chuyển, ăn, nghỉ...

+ Sản phẩm du lịch bổ sung: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu phát sinh trong quá trình đi du lịch như: cắt tóc, giặt là, massage, mua sắm hàng lưu niệm, tham gia trực tiếp lao động…

Như vậy, làng nghề vừa là sản phẩm du lịch đặc trưng khi làng nghề đó có khả năng hấp dẫn, thu hút khách, vừa là sản phẩm du lịch bổ sung khi tạo ra những mặt hàng lưu niệm cho du khách.

Trong những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng.



2. Vai trò, vị trí của làng nghề trong nền kinh tế: Làng nghề giữ một vai trò quan trọng trong nông thôn, trước hết nhằm giải quyết mục tiêu kinh tế sử dụng đầu vào có sẵn, tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động, thu hút lao động ở địa phương và lân cận, thu hút vốn cho sản xuất ở làng nghề, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nâng cao thu nhập dân cư, thu hẹp khoảng cách đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nông nghiệp và công nghiệp, hạn chế di dân thúc đẩy phát triển hạ tầng nông thôn giữ gìn văn hoá bản sắc dân tộc. Sản xuất ra các sản phẩm không những đáp ứng thị trường trong nước mà còn xuất khẩu thu ngoại tệ góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác và tạo điều kiện thực hiện cơ giới hoá trong nông thôn.

3. Sự hình thành nghề mắm Nam Ô: Vào khoảng nửa thế kỉ XVI, những cư dân người Việt đầu tiên đến định cư trên vùng đất này vốn là những tướng sĩ nằm trong quân đội của Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558. Sau khi chúa Nguyễn chọn vùng đất này tạo dựng cơ nghiệp đã mở ra quá trình chuyển biến mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp với làng nghề truyền thống cũng đã ra đời và phát triển.

Nam Ô là một làng đánh cá nhỏ ở cửa sông Thủy Tú, cách chân đèo Hải Vân 3 km về phía Nam, thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Nước mắm Nam Ô có vị thơm, ngọt tự nhiên, màu nâu cánh gián, là một sản phẩm quý của xứ Quảng để tiến vua ngày xưa, bên cạnh quế tiêu và trầm hương. Nước mắm Nam Ô được ủ chừng 12 tháng bằng muối Cà Ná (Phan Rang) hột to, phơi khô ráo, để lâu năm cho tạp chất lẫn vào có thể được rửa trôi, còn lại phần tinh thể muối làm nước mắm được trong, có độ mặn dịu, không bị chát. Theo một số ngư dân cho biết, cá cơm than di chuyển dọc theo bờ biển Việt Nam từ Nam đến Bắc. Từ tháng Giêng âm lịch cá cơm than đi từ miệt Cà Mau chạy theo dòng nước đến Phan Thiết, Mũi Né, thuộc tỉnh Bình Thuận, ở đây dân làng làm nghề biển cũng bắt được cá cơm than đem về làm mắm gọi là nước mắm cá cơm Phan Thiết. Theo âm lịch thì đầu tháng 3 còn tiết xuân, cá cơm chưa bị nước chế (tức là chưa bị nước lụt từ thượng nguồn sông nước ngọt chảy ra biển), cá theo đàn xuôi dọc theo hướng hạ lưu miền Trung trong vịnh Đà Nẵng ngoài khơi hòn Chổ (Sơn Trà con) hoặc môm Bấc, mũi Nghê, thuộc làng Mân Thái, Mỹ Khê Đà Nẵng, hoặc có đàn lại vào trong Cửa Đại, Hội An. Cá cơm than ở trong vịnh Đà Nẵng kể từ tháng 3 âm lịch cho đến tháng 8 âm lịch được bắt về để làm nước mắm, gọi là nước mắm Nam Ô hay nước mắm cá cơm tháng ba. Cuối tháng 5 âm lịch cá lại bắt đầu đổi hướng theo dòng nước lên tới miệt Huế, Thuận An, Tư Hiền sau đó đi ra tận miền Bắc. Đến tháng 8 âm lịch cá cơm than lại trở lại vịnh Đà Nẵng lần này có cả thảy 3 loại cá cơm lẫn lộn, cơm than, cơm đỏ (ruột màu đỏ), cơm sùng (ruột tựa cá rầu), được bắt đem về làm mắm, đó là mắm cá cơm tháng 8, nước mắm này không ngon và ít mùi thơn hơn nước mắm các cơm than tháng 3. Được chế biến từ những con cá Cơm than tươi nguyên và cùng một quy trình chế biến độc đáo, nước mắm Nam Ô là đặc sản có một không hai của người Đà Nẵng cách đây hơn 100 năm.

II. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội của làng nghề

1. Điều kiện tự nhiên:

- Vị trí địa lý:

Làng nghề nước mắm Nam Ô thuộc địa bàn phường Hòa Hiệp Nam và phường Hòa Hiệp Bắc là hai phường của quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp vịnh Đà Nẵng, phía Tây giáp xã Hòa Bắc và Hòa Liên, huyện Hòa Vang, phía Nam giáp phường Hòa Khánh Bắc của quận và phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế. Diện tích phường Hòa Hiệp Nam: 7,88 km2, dân số 16.640 người, tại 03 khối phố: Nam Ô1, Nam Ô 2, Nam Ô 3 có 120 hộ làm mắm. Diện tích phường Hòa Hiệp Bắc 43,59 km2, dân số 13.411 người, tại khối phố Kim Liên có trên 50 hộ làm mắm.

Trên địa bàn làng nghề có đường quốc lộ 1A, ga đường sắt Bắc - Nam đi qua là điều kiện thuận lợi để làng nghề giao lưu với các tỉnh và khu vực lân cận, trong nước và quốc tế.

- Khí hậu:

Khí hậu của làng nghề chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt độ cao và ít biến động, chế độ ánh sáng mưa ẩm phong phú. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 250C, mùa đông nhiệt độ ít khi xuống dưới 120C, mùa hè trung bình 280C - 300C. Độ ẩm tương đối của không khí trung bình 82%, lượng mưa trung bình 2.066 mm, giờ nắng trung bình 2.150 h/năm. Khí hậu trên thích hợp cho phát triển nông lâm nghiệp, du lịch, chế biến nông lâm thủy sản.

Tuy nhiên về mùa hạ, nền nhiệt độ cao, gây hạn và cửa sông bị nhiễm mặn, về mùa mưa thường gặp bão và lũ lụt.

- Tài nguyên nước:

+ Về nước mặt: sông Cu Đê dài 38km, nằm ở phía tây bắc của quận bắt đầu từ dãy núi Bạch Mã, là hợp lưu của 2 sông, sông Bắc dài 23 km và sông Nam dài 47 km, tổng diện tích 2 lưu vực 426 km2, tổng lượng nước hằng năm vào khoảng 0,5 tỷ m3 là nguồn cung cấp nước chính phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.

+ Về nguồn nước ngầm: trữ lượng nước ngầm ở khu vực Hòa Khánh - Nam Ô khoảng 10.000m3/ ngày đêm.

- Tài nguyên biển:

Quận Liên Chiểu nằm bên cạnh Vịnh Đà Nẵng, có điều kiện thuận lợi để xây dựng cảng nước sâu, có bờ biển dài khoảng 26 km từ chân đèo Hải Vân đến Thuận Phước, là nơi tập trung khá phong phú loài động vật biển như:

+ San hô: phân bố phía nam chân đèo Hải Vân nhờ có nền đáy là đá thích hợp cho san hô bám, có nước trong và độ muối cao, ổn định tạo điều kiện cho san hô phát triển.

+ Cá mực, tôm, ghẹ: tập trung với trữ lượng phong phú

Quận Liên Chiểu có khả năng phát triển ngành nuôi trồng, đánh bắt hải sản. Hằng năm vào tháng 3-4 âm lịch có nhiều cá cơm, cá nục và cá dò có thể khai thác để làm nước nắm.

- Tài nguyên du lịch và di sản văn hóa: Với vị trí địa lý thuận lợi, Liên Chiểu có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên vô cùng phong phú, trải dài từ những đồi núi, làng mạc, sông ngòi cho đến các bãi biển hấp dẫn. Ngay tại cửa ngõ phía bắc quận, có khu bảo tồn thiên nhiên rừng đặc dụng Hải Vân gắn liền với danh thắng hùng vĩ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Nhiều bãi tắm tự nhiên đẹp như Nam Ô, Xuân Thiều, Bắc Ninh (Hòa Minh), dòng sông Cu-Đê chạy dọc chân núi HảiVân, cùng các món ăn đặc sản nổi tiếng cả nước như “gỏi cá”, mứt (rong biển) và các lễ hội cầu ngư, là nơi lý tưởng để khai thác phát triển dịch vụ du lịch sinh thái.

Với điều kiện tự nhiên của quận Liên Chiểu vô cùng phong phú và thuận lợi, sẽ góp phần cho việc bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với du lịch.



2. Điều kiện kinh tế - xã hội quận Liên Chiểu: Trong giai đoạn 1997-2011, kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, trọng tâm là phát triển thương mại.

Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh; tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp do quận quản lý thực hiện đạt 7.691,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 76,70%, tốc độ tăng bình quân 35,4%.

Tổng giá trị Thương mại - dịch vụ thực hiện được 1.943,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 19,40%. Tăng từ 16,5 tỷ đồng năm 1997 lên 475 tỷ đồng năm 2011, tốc độ tăng bình quân 27,1%.

Tổng mức luân chuyển hàng hóa thực hiện được 16.041,3 tỷ đồng, liên tục tăng qua các năm: 1997: 248,7 tỷ đồng; 2001: 336,5 tỷ đồng; 2006: 947,7 tỷ đồng; 2011: 3.690 tỷ đồng.

Năm 2004 giá trị xuất khẩu đạt 400.000 USD, đến năm 2011 đạt 1.700.000 USD.

Biểu số 1: Một số chỉ tiêu kinh tế quận Liên Chiểu



Chỉ tiêu


Đơn vị


Năm 1997


Năm 2006


Năm 2011

TĐ tăng BQ 15 năm (%)


1.Dân số trung bình

- Số người trong độ tuổi lao động


2. Các chỉ tiêu kinh tế

- Công nghiệp

- Thương mại- dịch vụ

- Nông lâm thủy sản


3. Cơ cấu kinh tế

- Công nghiệp- xây dựng

- Thương mại- dịch vụ.

- Nông lâm thủy sản



người

người


tỷ đồng

''

''



%





53.625

27.172


29,5

16,5


27,5

40,1 16,5 37,4



107.717

78.144


342,3

114,2


22,4

71,5 23,8

4,7


142.500

103.377

2.050,7 475,0 14,7

76,7


19,4

3,9


6,1

35,4 27,1 -4,4




(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết 15 năm hình thành và phát triển quận Liên Chiểu)

Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế của quận đều tăng. Trong đó ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm 35,4% , Thương mại - dịch vụ 27,1% vượt kế hoạch đề ra. Ngành nông nghiệp của quận tiếp tục giảm do quá trình đô thị hóa, xây dựng các khu công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp giảm dần, tốc độ giảm bình quân 4,4%.

Trong những năm đến, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế theo cơ cấu: công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp. Đến năm 2015 tỷ trọng các ngành kinh tế là: công nghiệp chiếm 78,6%, dịch vụ chiếm 21%, nông nghiệp giảm còn 0,4%; tốc độ tăng bình quân hằng năm của giá trị sản xuất CN-TTCN là 20%, TM-DV là 33%.

III. Thực trạng phát triển làng nghề nước mắm Nam Ô giai đoạn 2007-2012

1. Quy mô sản xuất:

Quy mô sản xuất của làng nghề là quy mô gia đình. Cơ sở sản xuất được mở ngay tại nhà và ít có sự chia tách giữa không gian sản xuất và không gian sinh hoạt hằng ngày. Mặt bằng sản xuất nhỏ lẻ diện tích từ 40-50 m2 chiếm đa số; nhiều hộ diện tích sản xuất từ 6 – 20 m2, một số hộ diện tích sản xuất trên 100-150 m2. Các cơ sở sản xuất ngay tại gia đình tận dụng được nguồn lực tại chỗ bao gồm đất đai, lao động, nguồn vốn trong dân. Tuy nhiên do tốc độ đô thị hóa, dân cư phát triển, những yếu tố này đã làm hạn chế khả năng đầu tư mở rộng sản xuất của các đối tượng này. Trong làng nghề có nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất nước mắm với: 104 hộ sản xuất đơn lẻ, 15 cơ sở sản xuất, 01 hợp tác xã (viết tắt HTX). Số lượng hộ sản xuất mắm chiếm tỷ lệ chưa cao, sản lượng sản xuất lại chưa nhiều, mang tính thời vụ và hiện nay giá thành của các sản phẩm lại tương đối cao.



2. Tình hình lao động của làng nghề:

Qua khảo sát đội ngũ lao động có trình độ từ tiểu học đến trung học phổ thông, do nghề làm mắm đơn giản, không yêu cầu trình độ cao, thời gian học nghề ngắn từ 1-2 ngày, hơn nữa đa số người lao động xem nghề làm mắm như là nghề phụ, nghề làm thêm lúc nông nhàn. Đến nay, làng nghề đã tạo việc làm cho hơn 215 lao động, trong đó có 147 lao động nữ, nguồn nhân lực lao động làng nghề chủ yếu vẫn là lao động thủ công, lớn tuổi. Tỷ lệ lao động làng nghề đã qua đào tạo chiếm khoảng 17,6% (38/215). Việc dạy nghề, phần lớn theo lối truyền nghề trong các gia đình, chưa tổ chức đào tạo bài bản. Số lượng hộ sản xuất nhỏ chiếm tỷ lệ khá cao (94 hộ chiếm 85%).



3. Nguồn vốn sản xuất:

Tổng số vốn các hộ đầu tư sản xuất trên 2,5 tỷ đồng, số hộ có vốn từ 60-120 triệu đồng chiếm 20%, các hộ này có quy mô sản xuất tương đối lớn, còn lại số hộ có vốn 20-40 triệu đồng, chủ yếu sản xuất theo thời vụ. Nguồn vốn đang sử dụng chủ yếu là vốn tự có; vốn vay Chương trình 120 giải quyết việc làm cho 30 hộ với số tiền 300 triệu đồng. Do quy mô sản xuất nhỏ nên các hộ sản xuất khó tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng. Thời gian chế biến mắm kéo dài 12 tháng nên vốn “nằm”. Hiện có đến 90% số hội viên làng nghề đang rất cần vốn để mở rộng sản xuất, tăng sản lượng và thu nhập cho gia đình.

4. Trình độ công nghệ sản xuất:

Trong công nghệ sản xuất hàng hóa của làng nghề hầu hết các công đoạn sản xuất được thực hiện theo phương pháp thủ công, chưa thể thay thế bằng máy móc. Trình độ kỹ thuật sản xuất vẫn chủ yếu theo hình thức cha truyền con nối, đặc biệt là những bí quyết riêng. Do hạn chế về đào tạo nên trình độ kỹ thuật nói chung của thợ sản xuất tại làng nghề hiện nay không cao. Đầu tư chum chượp mắm sức chứa nhỏ, nhiều kích cở, đủ loại (chum sành, nhựa, xi măng). Bên cạnh đó, bao bì đóng chai chưa đồng nhất, các hộ còn tận dụng các chai lọ đủ loại để đóng gói; đóng nút thủ công, không kiểm tra chặt chẽ, một số chai xì chảy mắm không đảm bảo thẩm mỹ, vệ sinh an toàn thực phẩm.



5. Nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ:

- Nguyên liệu: Nguyên vật liệu cho sản xuất làng nghề với khối lượng lớn, hàng năm cần 100 - 200 tấn cá cơm; 10 tấn cá các loại, vài chục tấn ruốc. Nhưng những năm gần đây, do mất mùa nguồn nguyên liệu tại chỗ chỉ đáp ứng khỏang 30% nhu cầu, các hộ phải tìm kiếm nguồn nguyên liệu ở các tỉnh khác.

Do vậy, làng nghề cần chú ý đến việc tạo một thị trường nguyên liệu ổn định lâu dài, đảm bảo chất lượng.

- Thị trường tiêu thụ: Tổ chức các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm làng nghề tại chợ Hòa Khánh, Trạm dừng chân Hải Vân Nam, cửa hàng số 704 và 816 Nguyễn Lương Bằng; tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài thành phố; liên kết HTX dịch vụ tổng hợp nông nghiệp Hòa Hiệp I để tiêu thụ sản phẩm… nhờ vây, sản phẩm làng nghề được người tiêu dùng biết đến và ủng hộ. Song do mặt hàng nước mắm chưa đa dạng về chủng loại nên một số cửa hàng hoạt động hiệu quả thấp. Hiện nay thị trường tiêu thụ của nước mắm Nam Ô chủ yếu bán lẻ tại nhà cho khách hàng quen; 90% sản phẩm được tiêu thụ vào dịp tết âm lịch. Chưa có đại lý tiêu thụ trong và ngoài thành phố, các trung tâm thương mại, chợ, siêu thị chưa trưng bày và bán nên doanh thu thường không cao.

6. Tình hình môi trường tại làng nghề: Hầu hết các cơ sở sản xuất đều làm tại gia đình, cận kề khu dân cư nên việc sản xuất mắm có các loại chất thải gây ô nhiễm môi trường, trong đó chủ yếu là ô nhiễm môi trường không khí. Chất thải rắn như xác mắm được thu gom sử dụng mục đích khác. Tuy nhiên, nguy cơ ô nhiễm môi trường ở làng nghề rất lớn. Trong thời gian đến, công tác tuyên truyền, đánh giá, cam kết bảo vệ môi trường cần được chú trọng.

7. Kết quả sản xuất kinh doanh của làng nghề

Từ năm 1994 đến nay, với sự hỗ trợ và chỉ đạo của Quận ủy, UBND quận Liên Chiểu đã đầu tư kinh phí mua nguyên liệu, dụng cụ vật tư, tập huấn kỹ thuật chế biến theo phương pháp truyền thống, nhiều hộ dân đã được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để nâng cấp, mở rộng cơ sở sản xuất.

Hiện nay, Hội làng nghề có 120 hội viên sản xuất nước mắm, với 23 cơ sở chế biến nước mắm có quy mô lớn, 15 cơ sở đăng ký thương hiệu riêng với tổng sản lượng bình quân trên 50.000 lít/năm, giải quyết việc làm cho 215 lao động. Những năm gần đây do mất mùa cá nên sản lượng tăng chậm. Ngoài ra, còn có các sản phẩm khác như: Mắm ruốc, mắm ngắn ngày, cá khô các loại, bình quân đạt từ 3 tấn/năm, với tổng doanh thu trên 2 tỷ đồng.

Biểu số 2: Sản lượng và doanh thu mắm các loại tại làng nghề (năm 2007-2011)



STT

Thời gian

Tên sản phẩm

Mắm đặc biệt

Mắm ngắn ngày

Cá khô

Số lượng
(lít)

Doanh thu
(triệu đồng)

Số lượng
(lọ)

Doanh thu
(triệu đồng)

Số lượng
(kg)

Doanh thu
(triệu đồng)

1

2007

20.000

600

2.920

87

1.510

45

2

2008

26.000

780

3.000

90

4.500

135

3

2009

35.000

1.400

2.700

108

1.900

76

4

2010

40.000

1.800

3.000

135

2.900

130,5

5

2011

46.000

2.070

3.000

135

1.300

58,5

(Nguồn số liệu: Hội làng nghề)

Theo số liệu khảo sát, sản lượng bình quân thấp nhất 01 hộ là 300 lít, hộ cao nhất là 5.000 lít, thu nhập của lao động làng nghề đạt từ 1 – 3 triệu đồng/hộ/tháng, cao so với lao động thuần nông.



IV. Đánh giá chung về thực trạng phát triển làng nghề

1. Những mặt đạt được:

Qua khảo sát sơ bộ 120 hộ sản xuất mắm tại làng nghề, ý kiến của các ngành, địa phương cho thấy việc khôi phục làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô có những kết quả nhất định. Các cơ sở sản xuất đã góp phần tích cực vào giải quyết việc làm cho lao động dôi dư, lớn tuổi…vừa nâng cao đời sống nhân dân vừa đóng góp vào ngân sách địa phương, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, sản phẩm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người tiêu dung có xu hướng sử dụng sản phẩm sạch, sản phẩm truyền thống.

Sản lượng sản xuất mắm các loại hằng năm tăng đáng kể, góp phần giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống cho lao động nghề mắm. Ngoài sản phẩm chính là nước mắm Nam Ô, người dân nơi đây còn phát triển một số sản phẩm mới như: Mắm ruốc, mắm ngắn ngày, cá khô các loại để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng gần, xa. Năm 2009, nước mắm Nam Ô đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Logo, nhãn hiệu tập thể, được bảo hộ nên nhiều cơ sở mạnh đầu tư mở rộng sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Có thể nói, với mọi nỗ lực, những người thợ thủ công đã cố gắng kế thừa và phát huy truyền thống nghề nghiệp, đã góp phần không nhỏ vào việc duy trì bảo tồn di sản văn hóa lâu đời của cha ông.

2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:

2.1 Những tồn tại, hạn chế: thời gian qua, làng nghề luôn được sự quan tâm của Quận ủy, UBND quận Liên Chiểu đã đầu tư, hỗ trợ với kinh phí hơn 500 triệu đồng, song hiện tại làng nghề chưa được khởi sắc như điều mọi người kỳ vọng, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết như:

a) Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Hiện nay làng nghề chưa có thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn và ổn định. Việc tổ chức sản xuất nhỏ lẻ là chủ yếu nên sản phẩm làm ra các hộ tự tiêu thụ, hoặc qua các cơ sở có thương hiệu tại làng thu gom. Như vậy sự nhanh nhạy trong tiếp cận thị trường còn hạn chế, cơ hội tìm kiếm thị trường chưa mở rộng đã hạn chế sản xuất và sức hút của làng nghề. Các doanh nghiệp thương mại có năng lực chưa quan tâm khai thác sản phẩm và đầu tư sản xuất cho làng nghề. Công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm chưa được đầu tư đúng mức.


  1. Quy mô sản xuất của các hộ gia đình còn nhỏ lẻ:

Làng nghề truyền thống được tạo dựng từ các hộ là chủ yếu, quy mô vốn của các cơ sở sản xuất (hộ gia đình) còn nhỏ bé, chủ yếu là vốn tự có. Rất ít hộ gia đình, cơ sở sản xuất tiếp cận thường xuyên với nguồn tín dụng của ngân hàng hoặc của các tổ chức cho vay (Quỹ xóa đói giảm nghèo còn hạn chế, Quỹ quốc gia giải quyết việc làm của Chính phủ không đủ đáp ứng nhu cầu thiết thực của địa phương).

c) Nguyên liệu sản xuất của làng nghề chưa đảm bảo

Ngư trường đánh bắt hạn chế, phương tiện đánh bắt công suất nhỏ không ra khơi xa, số tàu đánh bắt cá cơm ngày càng giảm còn 07 chiếc, thiếu trang thiết bị cần thiết để đánh bắt. Nguyên liệu cá cơm tại chỗ cạn kiệt, làm giá nguyên liệu tăng, nhiều hộ mua cá loại khác để làm mắm.

d) Chất lượng sản phẩm, bao bì mẫu mã chưa hấp dẫn

Chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, bao bì mẫu mã chưa có khuôn mẫu riêng, tính thẩm mỹ chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường còn kém. Đặc biệt việc bảo tồn văn hóa làng chưa được chú trọng một số hộ chạy theo mục tiêu lợi nhuận thương mại, không chú trọng đến chất lượng sản phẩm.

2.2 Nguyên nhân:

Những năm gần đây, nguồn cá cơm than ít vào vịnh Đà Nẵng nên việc đánh bắt tại chỗ không đủ đáp ứng, phải thu mua ở các địa phương khác.

Các cơ sở sản xuất thiếu nguồn vốn đầu tư sản xuất, không tiếp cận được nguồn vay ưu đãi để phát triển sản xuất. Chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, bao bì mẫu mã chưa hấp dẫn. Chưa có sự liên kết cao trong việc tổ chức sản xuất và kinh doanh nên thị trường tiêu thụ hạn chế. Hạn chế nguồn kinh phí cho các hoạt động quảng bá thương hiệu.

Bên cạnh đó, do thiếu kiến thức quản lý nên phần lớn cơ sở tổ chức sản xuất theo thói quen, điều hành sản xuất có tính chất gia đình, còn tùy tiện và lúng túng, chưa nắm vững các thủ tục cần thiết trong các hoạt động giao dịch và kinh doanh, lập dự án phát triển chưa đề ra được phương hướng, kế hoạch sản xuất kinh doanh thích hợp với điều kiện thị trường có nhiều biến động.

Với tình trạng sản xuất thủ công đơn giản, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán là nhược điểm cản trở khó nhận đuợc hợp đồng lớn; hoạt động bán hàng chưa mang lại hiệu quả vì chưa chú trọng đầu tư vào kênh phân phối, tiếp thị; khả năng đầu tư cải tiến công nghệ rất khó khăn vì thiếu vốn, thiếu mặt bằng. Hiện có 01 HTX liên kết tiêu thụ nhưng năng lực làm công tác tiêu thụ “đầu ra” cho sản phẩm làng nghề còn rất yếu.

Có thể nói làng nghề nước mắm Nam Ô tuy có phát triển trong vài năm gần đây, nhưng chủ yếu vẫn mang nặng tính tự phát, chưa được quan tâm chỉ đạo và định hướng phát triển để có thể phát huy được thế mạnh để sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trường.

3. Bài học kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển làng nghề:

3.1 Bài học kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển làng nghề trong nước: Qua thực tiễn thực tế một số địa phương ở miền Trung thực hiện tốt công tác khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống vốn nổi tiếng một thời như: tỉnh Bình Định có rượu Bàu Đá Nhơn Lộc, nem chợ huyện Tuy Phước, thảm xơ dừa Tam Quan..., tỉnh Quảng Ngãi có nghề sản xuất thịt bò khô, đường phèn, thành phố Hội An Quảng Nam có làng nghề rau Trà Quế, mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà và đã trở thành các điểm tham quan du lịch rất hấp dẫn. Hiện nay, các địa phương cũng đang nghiên cứu khôi phục các làng nghề khác với những kinh nghiệm về công tác bảo tồn và phát triển làng nghề sau:

- Trước hết phải tuyên truyền, giáo dục về nhận thức, làm cho các cấp, các ngành hiểu được mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển làng nghề ở địa phương; nâng cao niềm tự hào đối với những người dân trong các làng nghề, chính họ là những người góp sức xây dựng phát triển và bảo tồn nghề truyền thống.

- Công tác quản lý nhà nước: xây dựng và triển khai thực hiện các dự án khuyến công có tính khả thi cao, thiết thực; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại trong và ngoài nước. Xây dựng hệ thống thông tin về làng nghề; chương trình xây dựng hạ tầng và cải thiện cảnh quan môi trường làng nghề; chương trình phát triển doanh nghiệp làng nghề; các chương trình, chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho các doanh nghiệp tại làng nghề.

- Đối với cơ sở sản xuất, cần quan tâm đầu tư khôi phục sản phẩm truyền thống và nâng cao giá trị truyền thống; phát triển sản phẩm mới; nâng cao chất lượng sản phẩm; đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm; đào tạo, tập huấn nghề thu hút lực lượng lao động ở nông thôn; nâng cao hàm lượng kỹ thuật công nghệ trong sản phẩm, bảo đảm chất lượng, giá trị sử dụng, giá thành hợp lý đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Xây dựng và phát triển thương hiệu, thực hiện tốt chiến lược tiếp thị, quảng bá sản phẩm, tạo sự tin tưởng và ấn tượng tốt đẹp trong lòng khách hàng nhằm nâng cao uy tín phát triển thị trường. Đổi mới cung cách quản lý tiên tiến, cùng với các giải pháp cần thiết để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện có hiệu quả chương trình thương mại điện tử. Tăng cường liên doanh, liên kết, hợp tác nhằm thu hút vốn đầu tư lớn, kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại, phương pháp và kinh nghiệm quản lý của các đối tác đầu tư trong và ngoài nước.

- Gắn kết công tác bảo tồn và phát triển làng nghề với du lịch: tạo ra sự phong phú về hình thức sản xuất, khách tham quan tham gia một vài công đoạn sản xuất, kết hợp tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, du lịch tham quan làng nghề và những địa danh thiên nhiên nổi tiếng gần làng nghề. Tổ chức khôi phục lại các lễ hội truyền thống mang bản sắc làng nghề, đặc biệt cần tái hiện lại một cách chân thực quá trình hình thành và phát triển của làng nghề, ông tổ của nghề và những nét đẹp trong bản thân quá trình tạo ra sản phẩm làng nghề đó. Tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong nhân dân nâng cao nhận thức vai trò vị trí của du lịch làng nghề. Xây dựng trang Web, đĩa CD giới thiệu chung về làng nghề và du lịch làng nghề. Liên kết với các đại lý du lịch, công ty lữ hành để phối hợp tiến hành khảo sát và sử dụng tour du lịch, tạo sự nhận thức về tiềm năng du lịch của làng nghề. Phối hợp với các khách sạn, nhà hàng để bán hàng, giới thiệu sản phẩm làng nghề.

Liên hệ các làng nghề tại Đà Nẵng: Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 07 làng nghề, gồm Làng đá mỹ nghệ Non Nước, làng nước mắm Nam Ô, nghề bánh tráng Tuý Loan, nghề bánh khô mè, nghề mây tre lá, nghề sản xuất mắm ruốc và nghề đá chẻ Hoà Sơn với gần 5000 lao động tham gia, thu nhập bình quân từ 1,5 triệu đến 3 triệu đồng/tháng. Trong đó Làng đá Non nước phát triển mạnh nhất với trên 405 hộ gia đình tham gia sản xuất, tạo công ăn việc làm cho trên 3000 lao động/năm, thu nhập bình quân từ 02 - 03 triệu/người/tháng với 100% cơ sở sản xuất đều đã trang bị một số thiết bị chuyên dùng (máy cầm tay, máy bào, phay, tiện, mài…) phục vụ quá trình chế tác đá. Nguyên liệu chính phục vụ sản xuất được mua từ: Nghệ An, Thanh Hoá, Thái Nguyên, Quảng Ninh…; số lượng 25.000 tấn/năm/làng nghề, bình quân 8-10 tấn/hộ. Sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước được tiêu thụ trong nước và thế giới như: Hồng Kông, Đài Loan, Pháp, Mỹ, Úc…thông qua các thương nhân và khách du lịch đến mua và đặt hàng. Đến nay có khoảng trên 50 hộ sử dụng thông tin thông qua mạng Internet và 7 hộ thành lập Website riêng phục vụ cho hoạt động buôn bán của mình. Làng nghề đá Non Nước kết hợp được hoạt động bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với hoạt động du lịch sinh thái. Trong thời gian qua, làng nghề này đã được thành phố Đà Nẵng, quận Ngũ Hành Sơn có nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư từ một làng nghề khó khăn về nguyên liệu, ô nhiễm môi trường đến nay hoạt động rất tốt và phát triển mạnh đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm của làng nghề, tăng thu nhập cho làng nghề, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

3.2 Bài học kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển làng nghề nước mắm Nam Ô: Để bảo tồn và phát triển làng nghề phải sản xuất ra nước mắm chất lượng ổn định là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề để giữ gìn uy tín, giá cả phải hợp lý với nhu cầu của thị trường. Người sản xuất cần phải có kinh nghiệm, quy trình kỹ thuật với bí quyết gia truyền “tạo hương, tạo màu” để sản phẩm không ngã màu, mất mùi, kết tủa nhanh. Sản phẩm sản xuất ra phải đồng đều: loại đặc biệt có độ đạm trong phạm vi 28-300, bao bì đóng gói đảm bảo không để xảy ra tình trạng xì chảy nước mắm, xây dựng quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể của làng nghề để người tiêu dùng biết đến nhiều hơn về xuất xứ sản phẩm, tạo uy tín, danh tiếng cho làng nghề, góp phần bảo tồn giá trị và tri thức truyền thống của địa phương. Bên cạnh đó các hộ sản xuất trong làng nghề không ngừng học hỏi nâng cao kiến thức về kỹ thuật sản xuất, lựa chọn nguyên liệu đầu vào cẩn thận, có chất lượng tốt nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra người sản xuất biết áp dụng hài hoà bí quyết, quy trình công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại.

Đa dạng hóa các thành phần kinh tế hoạt động trong làng nghề, liên kết, hợp tác các hộ sản xuất để hỗ trợ trong tìm kiếm thị trường, đầu tư công nghệ, cải tiến kỹ thuật. Các ban, ngành và chính quyền địa phương cần phải quan tâm nghiên cứu chính sách thúc đẩy, hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp; ứng dụng khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất trong làng nghề; đào tạo nhân lực, mời các hộ làm mắm nổi tiếng, có kinh nghiệm để phổ biến kiến thức, truyền nghề.

Kết hợp lễ hội truyền thống cầu ngư, đình làng hoặc ông tổ nghề tổ chức các hoạt động văn hóa như lắc thúng, kéo lưới; các món ăn đặc sản làng nghề để khách tham quan cùng tham gia và thưởng thức các món ăn; tổ chức tham quan một vài hộ sản xuất mắm tại làng nghề để gắn kết được việc bảo tồn và phát triển làng nghề với du lịch.



PHẦN II

ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
I. Dự báo các yếu tố và điều kiện phát triển làng nghề trong thời gian đến

1.  Thị trường quốc tế, trong nước và tại địa phương:

a) Thị trường trong nước: Trên địa bàn quận có 02 khu công nghiệp lớn, 10 trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp dạy nghề cho hơn 60 ngàn công nhân, sinh viên lưu trú học tập và công tác. Đây cũng là người tiêu dùng và cũng là người quảng cáo sản phẩm cho làng nghề. Thị trường trong nước với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay dự kiến quy mô dân số cả nước vào những năm 2012 sẽ đạt trên 100 triệu người. Mặt khác thị hiếu của người tiêu dùng có xu hướng tiêu dùng nhiều sản phẩm truyền thống được sản xuất theo phương pháp thủ công cổ truyền, đặc biệt sản phẩm không dùng đến hóa chất. Do vậy, trong những năm trước mắt thị trường trong nước vẫn là thị trường chính và thực sự là một tiềm năng rất lớn đối với sự phát triển của làng nghề cần phải khai thác. Trong tương lai thị trường xuất khẩu cũng là một thị trường quan trọng. Mặc dù hiện nay, sản phẩm của làng nghề còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng, do vậy người sản xuất trong làng nghề cần phải đảm bảo yếu tố vệ sinh an toàn thực phẩm, chú ý cải tiến mẫu mã, quy cách đặc biệt là chất lượng sản phẩm để phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng thì tiềm năng phát triển là rất lớn.

b. Thị trường quốc tế :

Hiện nay, nhu cầu và thị hiếu của người nước ngoài đang hướng vào hàng thủ công mỹ nghệ có nguyên liệu xuất xứ từ thiên nhiên, sản xuất thủ công truyền thống, mang bản sắc văn hoá riêng của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, nơi mà chúng được sản xuất.

Mặt khác, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), thị trường nước ngoài đã được mở rộng, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên Thế giới. Trong đó có những thị trường có nhu cầu lớn, thường xuyên và phong phú như: thị trường Hoa Kỳ; thị trường EU có nhu cầu lớn về các sản phẩm thực phẩm...



2. Tiềm năng về du lịch làng nghề:

Liên Chiểu có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đa dạng, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã tạo ra nhiều địa điểm cho du lịch để Đà Nẵng trở nên hấp dẫn đối với du khách trong, ngoài nước.

Ngoài những lợi thế về cảnh quan thiên nhiên và nét văn hóa dân tộc đặc sắc, làng nghề truyền thống cũng có sức hút đặc biệt đối với du khách bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hóa hay một hệ thống di tích lịch sử, văn hóa. Đến với làng nghề du khách không chỉ được ngắm cảnh quan mà còn được tham quan nơi sản xuất, trực tiếp được tiếp xúc với những người thợ thủ công, thậm chí còn được trực tiếp tham gia làm ra sản phẩm.

Phát triển làng nghề kết hợp với du lịch góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa tại chỗ, tạo thêm việc làm và thu nhập. Hơn nữa phát triển làng nghề còn giúp cho ngành du lịch quảng bá được hình ảnh của đất nước ra nước ngoài thông qua các sản phẩm của các làng nghề truyền thống.



3. Chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát triển làng nghề

Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) nêu rõ khôi phục bảo tồn và phát triển các làng nghề sẽ tạo được bước quan trọng về phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng giá trị ngành nghề và dịch vụ. Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Quyết định số 2636/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề”. Các chính sách này đề ra nhiều biện pháp có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy, phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn, trong đó có làng nghề truyền thống.

4. Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề trong thời gian đến (phân tích theo mô hình SWOT)

Sử dụng phương pháp phân tích SWOT vào việc xem xét, tìm hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của làng nghề từ đó có thể phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu. Có những cơ hội và nguy cơ nào từ bên ngoài. Qua đó phát huy những cơ hội và hạn chế tới mức thấp nhất những nguy cơ.

- Điểm mạnh: Làng nghề có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong vùng kinh tế phát triển năng động với nhiều khu công nghiệp và trường học, tiềm năng thị trường lớn. Sản phẩm của làng nghề có uy tín trên thị trường, được cấp nhãn hiệu tập thể. Các hộ sản xuất có kinh nghiệm chế biến. Giao thông thuận lợi. Có lực lượng lao động dồi dào. Đã thành lập Hội làng nghề truyền thống.

- Điểm yếu: Nguồn nguyên liệu chưa thật ổn định phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên ngoài. Vốn để phát triển sản xuất còn thiếu. Mặt bằng sản xuất và cơ sở vật chất, năng lực quản lý còn hạn chế. Chưa có sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất với nhau để tạo nên sức cạnh tranh cao, sản xuất hàng loạt để thương mại hóa và phát triển thị trường. Công tác thị trường yếu, chưa có đơn vị đầu mối bao tiêu sản phẩm, mẫu mã sản phẩm chưa thể hiện đặc trưng riêng. Hội làng nghề chưa có ảnh hưởng nhiều tới làng nghề.

- Thời cơ: Luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm khuyến khích phát triển; Nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước ngày càng tăng. Tiếp cận các kiến thức, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh mới; Có điều kiện ứng dụng kỹ thuật khoa học vào sản xuất để tăng năng suất. Hiện nay sự tác động của nền kinh tế có thể nói là tạo điệu kiện cho các cơ sở, doanh nghiệp nhỏ bức phá.

- Thách thức: Sức ép cạnh tranh lớn trên thị trường, đặc biệt khi Việt Nam tham gia Tổ chức WTO nên phải đáp ứng các yêu cầu khắc khe về chất lượng, bao bì, mẫu mã, vệ sinh an toàn thực phẩm. Sự biến động giá vật tư đầu vào luôn tiềm ẩn bất lợi. Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Nhiều sản phẩm cùng chủng loại tạo sự cạnh tranh càng khốc liệt.



II. Quan điểm, mục tiêu và định hướng bảo tồn, phát triển làng nghề nước mắm Nam Ô trong thời gian đến

1. Quan điểm bảo tồn và phát triển:

- Phát triển làng nghề phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, quận và dựa trên cơ sở kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống và từng bước áp dụng khoa học công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm phù hợp với thị trường, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

- Thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, phù họp với chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Xây dựng làng nghề theo quy hoạch, đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường và giữ gìn văn hóa truyền thống của địa phương.

- Phát triển làng nghề kết hợp với du lịch nhằm thu hút được nhiều khách tham quan, du lịch để giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm.

- Xây dựng hành lang pháp lý, tạo điều kiện phát triển làng nghề ổn định và bền vững

2. Mục tiêu tổng quát và cụ thể:

2.1 Mục tiêu tổng quát: phát triển làng nghề nước mắm Nam Ô nhằm khai thác tốt tiềm năng tự nhiên, đảm bảo sự phát triển bền vững thông qua việc duy trì nét văn hóa truyền thống, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, đồng thời không gây tổn hại đến môi trường.

Giai đoạn 1(2013-2015): tập trung phát triển nguồn nhân lực, chất lượng sản phẩm, cải tiến bao bì mẫu mã, phát triển thị trường trong nước.

Giai đoạn 2 (2015-2020): phát triển làng nghề với du lịch, đồng thời phát triển thị trường quốc tế.

2.2 Mục tiêu cụ thể:

- Phấn đấu nâng cao sản lượng với tốc độ tăng bình quân 14%, đến năm 2015 đạt 150.000 lít, trong đó 100.000 lít mắm đặc biệt, tổng doanh số đạt 5-7 tỷ đồng.

- Tạo việc làm ổn định cho hơn 300 lao động, trong đó tạo việc làm mới cho khoảng 200 lao động.

- Phấn đấu thu nhập bình quân dầu người từ nghề đạt 2-2,5 triệu đồng/người/tháng vào năm 2013 và đạt 2,5-3 triệu đồng/người/tháng vào năm 2015

- Tổ chức liên kết các hộ gia đình sản xuất thông qua tổ hợp, HTX, liên kết một doanh nghiệp thương mại để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm làng nghề, quảng bá thương hiệu.

- Hình thành lực lượng lao động có tay nghề chế biến nước mắm theo phương pháp truyền thống, đội ngũ chủ cơ sở sản xuất có trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh đáp ứng yêu cầu phát triển của làng nghề.

- Sản phẩm có chất lượng ổn định, được giới thiệu trưng bày và bán tại các chợ, trung tâm thương mại, siêu thị.

- Phấn đấu xuất khẩu sản phẩm đến các nước trong khu vực và quốc tế.

- Gắn phát triển làng nghề với du lịch nhằm thu hút được nhiều du khách tham quan, du lịch để giới thiệu và tiêu thụ sẩn phẩm.

PHẦN III

CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I. Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề trong thời gian đến

1. Giải pháp về nguồn vốn và nguyên liệu:

1.1 Giải pháp về nguồn vốn: huy động theo cơ chế đa nguồn

+ Nguồn vốn ngân sách: đề nghị UBND thành phố có kế hoạch dành một lượng vốn nhất định từ 5-6 tỉ đồng chuyển qua Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay với lãi suất ưu đãi đến các cơ sở sản xuất, hộ gia đình trong làng nghề truyền thống nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề.

+ UBND thành phố hỗ trợ một phần kinh phí để quảng bá thương hiệu, sản phẩm làng nghề, đầu tư tập huấn.



1.2 Giải pháp về nguồn nguyên liệu cho sản xuất: Nguyên liệu cho sản xuất là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của làng nghề. Nguồn nguyên liệu cho sản xuất của làng nghề hiện nay chủ yếu thu mua ở các tỉnh lân cận, công tác bảo quản và vận chuyển gặp khó khăn. Để thực hiện tốt công tác thu mua này, phòng Kinh tế có trách nhiệm cung cấp thông tin về nguồn nguyên liệu, các hộ sản xuất cử đại diện liên hệ và hợp đồng mua bán dài hạn nhằm đảm bảo được nguồn nguyên liệu.

2. Giải pháp về phát triển thị trường, sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm:

2.1 Giải pháp về phát triển thị trường: Công tác thị trường của các cơ sở sản xuất hiện nay còn rất yếu, thiếu chuyên nghiệp, không kịp thời...Vì vậy trong thời gian đến các HTX, doanh nghiệp cần chú trọng công tác này, phải hình thành đội ngủ nhân viên thị trường chuyên nghiệp giới thiệu sản phẩm các quầy shop các chợ, trung tâm thương mại, siêu thị. Thiết lập hệ thống đại lý tiêu thụ sản phẩm ở các tỉnh Tây nguyên, phía bắc. Giới thiệu sản phẩm đến các điểm tham quan du lịch trong địa bàn thành phố để phục vụ khách du lịch, khảo sát một vài địa chỉ tiêu thụ sản phẩm giàu tiềm năng, giúp hộ sản xuất tiếp cận, thỏa thuận ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.

- Các ngành, địa phương hỗ trợ HTX, cơ sở sản xuất

+ Tổ chức tham gia hội chợ, triển lãm trong nước;

+ Khảo sát, nghiên cứu, tìm kiếm thị trường;

+ Trưng bày hàng hóa trong các cửa hàng, nhà hàng đặc sản, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ.

+ Tài trợ các hoạt động có tính chất ẩm thực (các cuộc thi nấu ăn của Hội Liên hiệp phụ nữ, ngành Giáo dục và đào tạo, ngành du lịch) tại thành phố Đà Nẵng;

+ Làm phóng sự giới thiệu về làng nghề để quảng bá trên các kênh truyền hình trong và thành phố; Quảng bá sản phẩm làng nghề trên các tạp chí, báo.

+ Giới thiệu sản phẩm nước mắm thương hiệu Nam ô trên website làng nghề Việt Nam, UBND quận, huyện và các sở ngành trên địa bàn thành phố.

2.2 Giải pháp về sản phẩm: Sản phẩm cần có chất lượng ổn định, kiểu dáng bao bì hấp dẫn, đóng nút chai đảm bảo không xì, không chảy trong quá trình lưu chuyển. Để sản phẩm làng nghề vừa có tính thương mại nhưng vẫn mang nét truyền thống, việc sản xuất có thể đơn lẻ nhưng cần phải thu gom phân loại, đóng chai, dán nhãn mác tập trung trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Các HTX, các cơ sở sản xuất lớn đủ năng lực thực hiện công đoạn này.

Ngoài nước mắm loại đặc biêt, cần chú ý việc chế biến mắm ngắn ngày, cá khô có hương vị đặc trưng, được đóng gói bao bì, nhãn mác theo đúng quy định.

2.3 Vệ sinh an toàn thực phẩm: Tổ chức tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm; xét cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm cho các hộ sản xuất mắm. Tăng cường kiểm tra nguyên vật liệu và sản phẩm trước khi xuất bán.



3. Giải pháp về nguồn nhân lực: Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng các hội viên về kỹ thuật chế biến nước mắm, nâng cao năng lực về kỹ năng sản xuất, kinh doanh:

- Thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến công hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề; Cần chú ý đến việc đào tạo kỹ thuật chế biến nước mắm cho các lao động trẻ, người mới học nghề. Đồng thời kết hợp giữa nhiều thế hệ lao động trong làng nghề nhằm mục đích khôi phục và phát triển làng nghề theo hướng công nghiệp, hiện đại nhưng vẫn duy trì và phát huy tính truyền thống và vai trò cực kỳ quan trọng của các hộ có kinh nghiệm gia truyền.

- Hằng năm tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực sản xuất và kinh doanh nhằm trang bị kiến thức cho các chủ cơ sở sản xuất về kỹ năng kinh doanh, thị trường, thương hiệu. Tiếp tục bồi dưỡng trang bị kiến thức cho Ban chấp hành hội làng nghề về công tác hội để tư vấn, tập hợp hội viên, giúp đỡ nhau trong sản xuất, kinh doanh.

- Tổ chức tham quan học tập chia sẻ kinh nghiệm nhằm giúp các hộ sản xuất tiếp cận công nghệ mới, mẫu mã mới, trang thiết bị hiện đại, năng lực cạnh tranh và cách quản lý trong sản xuất kinh doanh.



4. Giải pháp về đất đai, hạ tầng làng nghề:

- Vận động các hộ tận dụng tối đa diện tích khuôn viên để mở rộng sản xuất tại chỗ, đầu tư sửa chữa láng nền, lợp mái che thoáng mát, đảm bảo vệ sinh.

- Đối với các hộ bị ảnh hưởng quy hoạch dự án khu du lịch sinh thái Nam Ô: Kiến nghị thành phố quy hoạch khu vực tập trung vừa bố trí tái định cư cho các hộ này gắn liền việc sản xuất nước mắm. Đồng thời bố trí 01 lô đất để Làng nghề xây dựng nhà xưởng vừa sản xuất mắm vừa giới thiệu sản phẩm phục vụ khách mua hàng, tham quan trong và ngoài nước.

5. Giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ: khuyến khích một số cơ sở, HTX mạnh dạn đầu tư thiết bị lọc, chiết rót, đóng chai, cải tiến kiểu dáng, mẫu mã mang tính hiện đại vừa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có tính thẩm mỹ cao, gọn nhẹ, tiện lợi trong quá trình vận chuyển. Tăng cường hỗ trợ chuyển giao công nghệ; từng bước tự động hóa một số công đoạn, trang bị máy phân tích độ đạm, ứng dụng phương pháp triệt trùng nhằm mục đích nâng cao chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm, với những công nghệ mới sẽ làm tăng năng suất hạ giá thành sản phẩm, làm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm của làng nghề.

6. Giải pháp về bảo vệ môi trường: Lập đánh giá tác động môi trường cho làng nghề. Tuyên truyền phổ biến, vận động người dân trong làng tích cực nâng cao ý thức thu gom và đỗ rác đúng quy định; xây dựng công trình thu gom và xử lý nước thải sơ bộ. Trong quá trình sản xuất, có kế hoạch tận thu các sản phẩm phụ để tái sản xuất, vừa tăng thu nhập, vừa giảm nguồn thải.

- Người sản xuất cần nâng cao ý thức tôn trọng vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chú ý tới việc “sản xuất sạch hơn”, vừa nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm, vừa bảo vệ môi trường. Như vậy là tự bảo vệ cho sức khỏe của mình, cộng đồng làng nghề cũng như người tiêu dùng sản phẩm…



7. Giải pháp phát triển làng nghề gắn với du lịch: Tạo dựng làng nghề truyền thống thành điểm tham quan du lịch. Vận động các cơ sở sản xuất đầu tư nâng cấp nhà xưởng để trưng bày, trình diễn sản xuất một hoặc toàn bộ công đoạn sản xuất nước mắm. UBND thành phố quy hoạch xây dựng một khu vực trưng bày và bán sản phẩm tập trung. Bên cạnh đó cần giới thiệu và thuyết minh cho du khách về yếu tố lịch sử và văn hóa của lầng nghề.

Trên cơ sở khai thác tốt lợi thế vùng biển, đèo Hải Vân của địa phương và gắn kết với chương trình du lịch của thành phố, hình thành các tour du lịch lữ hành gắn với tham quan mua sắm tại làng nghề.



8. Giải pháp về tổ chức sản xuất làng nghề: Trong làng nghề thành phần kinh tế chủ yếu là hộ gia đình, có ít hợp tác xã nên việc tiêu thụ sản phẩm trở nên khó khăn. Xây dựng doanh nghiệp làm "bà đỡ" (doanh nghiệp hoặc HTX) đủ mạnh, có năng lực để tạo ra sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, làm vai trò hỗ trợ đầu ra và ngược lại các hộ sẽ cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các HTX, doanh nghiệp để có sản phẩm tiêu thụ, đây là mối liên kết đôi bên cùng có lợi từ đó giúp cho làng nghề mở rộng thị trường. Hiện nay, làng nghề số lượng bà đỡ rất ít (01 HTX Hòa Hiệp), vì vậy việc tăng số lượng doanh nghiệp, nâng cao năng lực đủ mạnh để HTX làm tròn vai trò đầu ra là cần thiết. Do vậy, UBND quận có chính sách khuyến khích nâng đỡ (chính sách ưu tiên đặc biệt) để hình thành phát triển loại hình doanh nghiệp này, như hỗ trợ tập huấn về công tác quản lý, đào tạo nghề, hỗ trợ một phần kinh phí thành lập HTX, hỗ trợ cho vay vốn lãi suất thấp.

II. Tổ chức thực hiện

- Chủ đầu tư: Ủy ban nhân dân quận Liên Chiểu.

- Cơ quan điều hành tổ chức thực hiện: Phòng Kinh tế quận Liên Chiểu.

- Cơ quan quản lý vốn: Phòng giao dịch Ngân hàng Chính Sách xã hội quận Liên Chiểu tiến hành thẩm định, giải ngân, thu hồi nợ. Đối tượng vay vốn là hộ nghèo theo chuẩn địa phương, hộ thiếu vốn tạo việc làm có dự án, có hộ khẩu tại địa phương.



1. Phân công nhiệm vụ:

a) UBND quận:

Tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tổ chức thực hiện tốt Đề án bảo tồn và phát triển làng nghề. Ưu tiên bố trí nguồn kinh phí kịp thời và đầy đủ để tổ chức đề án đạt hiệu quả.



b) Phòng Kinh tế: căn cứ đề án đã được phê duyệt, phòng Kinh tế chủ trì phối hợp các ngành chức năng và địa phương liên quan xây dựng kế hoạch triển khai có hiệu quả đề án.

- Khảo sát vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất tại các làng nghề.

- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đề án; tổng hợp báo cáo UBND quận tiến độ, kết quả thực hiện và những vướng mắc trong qua trình thực hiện. Tham mưu UBND quận tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá đề án.

c) Phòng Tài chính – Kế hoạch

- Tham mưu cho UBND quận bố trí ngân sách đầu tư theo yêu cầu đề án.

- Hỗ trợ việc thành lập các HTX sản xuất và kinh doanh tại Làng nghề.

- Phối hợp cùng phòng Kinh tế hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chi tiêu tài chính thực hiện đề án



d) Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH quận:

- Hướng dẫn hồ sơ thủ tục vay vốn, thẩm định dự án, tổ chức giải ngân, thu nợ theo cơ chế quản lý, sử dụng vốn ủy thác của Ngân sách thành phố theo Quyết định số 12/2009/QĐ-UBND ngày 13/3/2009 của UBND thành phố Đà Nẵng.



g) Phòng Văn hóa và Thông tin

Phối hợp với phòng Kinh tế, các địa phương thực hiện Đề án bảo tồn giá trị văn hóa làng nghề truyền thống kết hợp với du lịch.



h) Phòng Nội vụ

Phối hợp với phòng Kinh tế, các địa phương và Hội làng nghề hướng dẫn lập thủ tục đề xuất UBND thành phố tặng danh hiệu nghệ nhân cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc việc giữ gìn, truyền nghề, khôi phục, phát triển nghề truyền thống ở địa phương.



f) UBND phường Hòa Hiệp Nam và Hòa Hiệp Bắc: Tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các lớp đào tạo nghề, nâng cao kiến thức để chuyển đổi ngành nghề; mạnh dạn đầu tư, mở rộng SXKD, giữ gìn thương hiệu để làng nghề phát triển bền vững. Phối hợp với các cơ quan chức năng trong các hoạt động bảo tồn và phát triển làng nghề.

Tăng cường vận động lực lượng lao động nhàn rỗi, lớn tuổi tham gia tích cực vào việc sản xuất nước mắm truyền thống nhằm góp phần tăng sản lượng nước mắm, giải quyết việc làm, ổn định đời sống.



g) Hội Làng nghề:

- Tiếp tục tuyên truyền tôn chỉ mục đích hội, tuân thủ nghiêm ngặt qui trình sản xuất đảm bảo chất lượng sản phẩm, uy tín làng nghề, trung thực với chất lượng nước mắm truyền thống, không vì lợi nhuận trước mắt sử dụng phụ gia hóa chất để lừa người tiêu dùng.

- Tuyên truyền, vận động các hộ sản xuất mắm tham gia vào hội làng nghề. Thành lập các tổ nhóm hộ sản xuất để hỗ trợ, liên kết giúp đỡ nhau phát triển.

- Phối hợp các ngành chức năng, địa phương khảo sát, đề xuất các cấp phong tặng danh hiệu nghệ nhân cho các cá nhân đã có nhiều thành tích xuất sắc trong việc việc giữ gìn, truyền nghề, khôi phục, phát triển nghề truyền thống ở địa phương.

- Chỉ đạo Ban kiểm tra Hội làng nghề tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng nhãn hiệu tập thể; giám sát chất lượng sản phẩm để hạn chế các trường hợp lợi dụng nhãn mác của làng nghề bán sản phẩm không đảm bảo chất lượng.

h) Hội viên hội làng nghề, Cơ sở sản xuất, hộ gia đình: tổ chức thu mua nguyên liệu, chế biến nước mắm phải tuân thủ nghiêm quy trình sản xuất truyền thống đảm bảo chất lượng sản phẩm. Tích cực tham gia các chương trình, hoạt động của đề án nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề.

PHẦN IV


TÍNH TOÁN KINH PHÍ (VỐN ĐẦU TƯ)

I. Kinh phí Đề án: gồm 2 phần sau:

1. Kinh phí bảo tồn làng nghề : 343,410 triệu đồng

Biểu số 4



TT

Nội dung

Số tiền (đồng)

1

Họp dân triển khai dự án

13.490.000

2

Tập huấn công nghệ chế biến

16.020.000

3

Tập huấn nâng cao năng lực sản xuất và kinh doanh

22.480.000

4

Tập huấn vệ sinh an toàn thực phẩm

15.220.000

5

Khảo sát thông tin nguồn nguyên liệu

6.000.000

6

Khảo sát thị trường tiêu thụ

6.000.000

7

Tập huấn quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể

5.000.000

8

Tổ chức các hộ tham quan làng nghề truyền thống nước mắm ở Phan Thiết

31.200.000

9

Quảng bá sản phẩm làng nghề

228.000.000

Tổng cộng

343.410.000

2. Kinh phí phát triển làng nghề : 6.130,6 triệu đồng

Biểu số 5



TT

Nội dung

Số tiền (triệu đồng)

1

Vốn mua chum sành: 7 chum x 170 hộ x 1,8 triệu đồng/chum

2.142

2

Vốn mua vật tư: 170 hộ x 0,7 triệu đồng/hộ

119

3

Vốn mua cá cơm: 7 chum x 170 hộ x 140 kg/chum x 16.000 đồng/kg

2.665,6

4

Vốn mua muối: 170 hộ x 400 kg/hộ x 3.000 đồng/kg

204

3

Vốn lưu động 2 HTX thu mua mắm

500

4

Trang bị máy chiết rót và đóng chai

150

5

Mua vỏ chai thủy tinh

350

Tổng cộng

6.130,6

3. Tổng hợp vốn đầu tư

Biểu số 6



TT

Khoản mục

Thành tiền

(triệu đồng)



Tỷ lệ hỗ trợ (triệu đồng)

Hỗ trợ

(80%)


Đối ứng dân (20%)

1

Kinh phí bảo tồn

343,410

343,410

0

2

Kinh phí phát triển

6.130,6

4.904,48

1.226,12

Tổng cộng

6.474,01

5.247,89

1.226,12

Nguồn vốn đầu tư đề án: 6.474.010.000 đồng, trong đó

  • Vốn ngân sách thành phố, quận hỗ trợ: 247,89 triệu đồng

  • Vốn ngân sách cho vay ưu đãi: 5.000 triệu đồng

  • Vốn đối ứng của dân: 1.226,12 triệu đồng

II. Tiến độ thực hiện đề án.

1. Phân kỳ kinh phí thực hiện đề án.



Biểu số 7

TT

Nội dung

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

1

Họp triển khai dự án/Tổng kết đề án

13.490.000







2

Tập huấn công nghệ chế biến

16.020.000







3

Tập huấn nâng cao năng lực SXKD




22.480.000




4

Tập huấn VSATTP




15.220.000




5

Khảo sát thông tin nguồn NL

6.000.000







6

Khảo sát thị trường tiêu thụ




6.000.000




7

Tham quan học tập







31.200.000

8

Tập huấn qui chế sử dụng nhãn hiệu TT




5.000.000




9

Quảng bá làng nghề













Tủ quầy trưng bày sản phẩm

30.000.000

30.000.000

30.000.000




Phóng sự làng nghề và đưa tin

24.000.000










Đưa tin trên báo, đài




5.000.000

11.000.000




Tham gia hội chợ

10.000.000

10.000.000

20.000.000




Tài trợ thi ẩm thực Hội PN TP




10.000.000

10.000.000




Thi thiết kế kiểu dáng chai

3.000.000

6.000.000







Thi thiết kế nhãn mác, bao bì hộp đựng




9.000.000







Hỗ trợ in nhãn mác




20.000.000




TỔNG CỘNG

102.510.000

138.700.000

102.200.000

Tổng cộng kinh phí: 343.410.000 đồng
( Ba trăm bốn mươi ba triệu bốn trăm mười ngàn đồng y)

2. Tiến độ thực hiện: năm thứ 1

Biểu số 8



TT

Công việc

Tháng thứ 1-3

Tháng thứ 4-6

Tháng thứ 7-9

Tháng thứ 10-12

1

Xây dựng và phê duyệt dự án

x










2


Thông báo và tổ chức lựa chọn các hộ tham gia dự án

x

x







3

Hỗ trợ triển khai sản xuất

x

x

x




4

Báo cáo sơ kết năm thứ 1







x

x




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương