Phần I: ĐẶt vấN ĐỀ



tải về 129.98 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích129.98 Kb.

Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh trung bình, yếu lớp 2







PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÝ DO CHON ĐỀ TÀI

A. Cơ sở lý luận

Chương trình Tiểu học mới xác định mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học là:

- Hình thành và phát triển năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện qua 4 dạng hoạt động tương ứng với 4 kĩ năng sử dụng tiếng Việt là: nghe, đọc, nói, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt sẽ góp phần rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán…) cho học sinh.

- Dạy Tiếng Việt nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài.

- Dạy Tiếng Việt góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, sự công bằng xã hội, góp phần hình thành lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

- Dạy Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại có tri thức, có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội và biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Mục tiêu của phân môn Tập đọc được xác định như sau :

- Tập đọc là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng, nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc - một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học.

Do vị trí và vai trò to lớn của phân môn tập đọc nên chương trình SGK lớp 2 mới quan tâm đến việc dạy đọc cho học sinh. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, do đối tượng học sinh không đồng đều dẫn đến việc rèn đọc cho các em còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là việc rèn đọc đúng văn bản cho một số học sinh trung bình yếu.

B. Cơ sở thực tiễn

B.1. Về chương trình , sách giáo khoa

Sách giáo khoa tiếng việt 2 đưa ra các văn bản các bài tập đọc hợp lý. Việc dạy một tuần 3 tiết tập đọc nay được giảm một tiết tôi thấy rất hợp lý. Chỉ có điều việc hướng dẫn dạy từng bài tập đọc cụ thể sách giáo khoa Tiếng Việt 2 chưa đưa ra các biện pháp cụ thể để rèn đọc đúng cho đối tượng học sinh.



B2. Về giáo viên.

Khi dạy tập đọc , nhiều giáo viên còn ngại chỉ dạy đúng quy trình của bài Tập đọc, chưa đưa ra mục tiêu cho từng đối tượng học sinh. Đặc biệt trong 1 tiết Tập đọc học sinh trung bình , yếu thường được rèn đọc rất ít.



B3. Về học sinh (trung bình, yếu)

Đa phần là học sinh đọc tương đối lưu loát, nhưng trong lớp vẫn còn đối tượng học sinh đọc thiếu thừa chữ, đọc sai âm đầu, vần, thanh, ngắt nghỉ hơi không hợp lý.

VD học sinh còn đọc : rơi chúng miệng, việc nàm, con hiêu, hơ tay.

Trường mới xây trên/ nền ngôi trường cũ lợp lá.

(Ngôi trường mới- Tiếng Việt 2- Tập 2)

Những ngôi/ sao thức ngoài kia//

Chẳng bằng/ mẹ đã /thức vì /chúng con//

(Mẹ - Tiếng Việt 2 - Tập 2)

- Trăn trở trước thực trạng trên tôi luôn tìm tòi, suy nghĩ làm thế nào để dạy tập đọc có hiệu quả tốt. Các em trung bình yếu đọc được đúng văn bản. Bởi các em có đọc tốt thì học các môn khác mới tốt. Tôi luôn lo lắng, làm thế nào để lớp mình có chất lượng đọc tốt, đồng đều để các em trung bình yếu theo kịp các bạn? Chính những suy trên đã thôi thúc tôi nghiên cứu viết đề tài: ''Rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh trung bình, yếu lớp 2''. Tôi đi sâu vào việc sửa lỗi sai đọc thiếu thừa chữ, đọc lí nhí (đọc quá nhỏ) đọc sai âm đầu l/n; tr/ch, vần uơ/ươu, ngắt nghỉ hơi chưa đúng, chưa đọc đúng kiểu câu.

II. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI

- Học sinh lớp 2 do tôi phụ trách và học sinh lớp 3



III. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Tìm tòi những khó khăn của việc dạy Tập đọc cho học sinh Tiểu học hiện nay.

- Tìm hiểu những lỗi HS đọc sai

- Đưa ra những biện pháp khắc phục khó khăn để nâng cao chất lượng dạy học Tập đọc cho học sinh Tiểu học.



IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

2. Phương pháp thực nghiệm

V. NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Đề tài nghiên cứu tìm biện pháp sửa lỗi đọc, giúp học sinh đọc đúng, từ đó góp phần làm trong sáng Tiếng Việt. Học sinh nắm được cách đọc đúng, biết tự mình sửa lỗi khi đọc sai, hoặc biết cách sửa đọc đúng cho bạn. Đề tài thành công, qua sự khảo sát chất lượng, qua kĩ năng giao tiếp của học sinh, được đồng nghiệp dự giờ đánh giá, công nhận và quyết định áp dụng cách dạy này để sửa lỗi đọc cho những học sinh trung bình, học sinh kém trong tổ, trong trường và cách dạy này cũng có hiệu quả cao đối với học sinh khá, giỏi học sinh đọc tốt hơn và biết cách sửa đọc cho bạn.



PHẦN II : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG

Qua điều tra, nghiên cứu thực tế dạy học lớp 2 tôi thấy học sinh đọc sai rất nhiều dẫn đến học sinh viết sai lỗi chính tả. Tôi đã tiến hành điều tra vào đầu năm học 2011-2012 ở một số học sinh của các lớp 3 trong trường.



II. BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA

1. Điều tra qua giao tiếp Tôi gặp trực tiếp HS để thông qua giao tiếp nắm biết HS nói ngọng , mắc lỗi sai nào?

2. Bài tập

A. Điền L/N vào những chỗ trống.

...ông dân ..àm việc ...ặng nhọc.

...am ...ữ học sinh ...ớp em chăm ...o học tập.

B. Điền tr/ch vào những chỗ trống.

......ai tráng, .....ậm chạp, .....im chóc, ......ung thành.

C. Điền uơ/ ươu

chai r....., th.....nhỏ

D. Hãy dùng một gạch xiên đánh dấu chỗ ngắt hơi, hai gạch xiên đánh dấu chỗ nghỉ hơi.Rồi đọc đúng .

Tôi suýt khóc , nhưng cố tỏ ra bình tĩnh:

- Bác đừng về. Bác ở đây làm đồ chơi bán cho chúng cháu.

- Nhưng độ này chả mấy ai mua đồ chơi của bác nữa.

(Người làm đồ chơi- TV2- T2)

KẾT QUẢ THU ĐƯỢC


Tổng số học sinh được điều tra

Lỗi sai chung

l/n

tr/ch

-Vần uơ, ươu

- Đọc nhỏ (lí nhí).

- Đọc thiếu, thừa chữ



- Ngắt nghỉ hơi chưa đúng

28

12

42,8%


5

17,8%


8

28,5%


7

25%


8

28,5%


- Qua điều tra và phân tích số lượng, tôi nhận thấy

- Với học sinh khá giỏi: các em đã đọc to rõ ràng. Nhưng một số em chỉ dừng lại ở mức độ đọc đúng văn bản, việc ngắt nghỉ hơi vẫn còn hạn chế.

* Với học sinh trung bình, yếu: Các em còn đọc thiếu thừa chữ, phát âm sai nhiều ở âm đầu l/n, một số sai âm đầu tr/ch, vần uơ, ươu, các em chưa biết cách ngắt nghỉ hơi đúng ở những câu văn dài , chưa biết thể hiện giọng đọc ở các thể loại câu.

Việc học sinh nói ngọng giữa l/n, tr/ch, /uơ, ươu dẫn đến các em đã điền vào chỗ trống còn nhầm lẫn giữa l/n,tr/ch,/uơ, ươu


* Nguyên nhân

1. Giáo viên:

Đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, lòng say mê đối với nghề của mỗi giáo viên cũng khác nhau. Vì vậy dẫn đến trình độ của giáo viên thiếu đồng đều. Nhiều giáo viên được đào tạo chưa cơ bản lại không có tinh thần học hỏi nên kiến thức còn chưa đầy đủ. Điều này làm cho việc dạy của giáo viên thiếu tự tin, thiếu khả năng giải quyết các tình huống xảy ra trong giờ Tập đọc cũng như gặp nhiều khó khăn khi sửa lỗi cho học sinh. Nhìn chung các giáo viên này chỉ dạy theo những gì có trong sách giáo viên một cách máy móc, không tôn trọng ý kiến của học sinh vì có lúc không dám khẳng định đó là đúng hay sai; đúng, sai ở mức độ nào?

Một số giáo viên chỉ dạy học sinh đọc hoàn toàn như đọc một bản tin hoặc biến bài Tập đọc thành cái cớ để dạy luân lí, đạo đức… mà chưa chú trọng đúng mức tới việc dạy đọc cho học sinh. Chính điều này đã làm cho số lượng học sinh được làm việc trên lớp ít vì người nói phải có người nghe mà trong cùng một thời điểm chỉ có một em được nói. Như vậy giờ Tập đọc không tích cực hoá được hoạt động của học sinh, không gây được hứng thú làm việc cho học sinh. Đồng thời trong giờ Tập đọc cũng không có đủ thời gian để giáo viên quan tâm tới mọi đối tượng học sinh. Nhiều giáo viên chỉ gọi những em học sinh khá, giỏi trả lời câu hỏi để đảm bảo thời gian giờ học. Như vậy khả năng đọc của học sinh trung bình, yếu đã kém sẽ càng kém hơn.

2. Phụ huynh- Học sinh

Nhiều học sinh, phụ huynh còn xem nhẹ môn Tập đọc. Các em chỉ quan tâm đến việc đọc xong bài. Nhiều học sinh chỉ học Tập đọc trên lớp, không bao giờ chú ý sửa lỗi phát âm của mình (chỉ sửa khi giáo viên yêu cầu, điều này thì ít xảy ra vì trong một giờ Tập đọc giáo viên chỉ có thể gọi một số em đọc và sửa được một số lỗi nhỏ).

Vốn sống của các em còn ít nên các em không hiểu nội dung của các văn bản, thiếu tự tin khi đọc phân vai.

Nhiều gia đình không thích nghe con đọc, học Tập đọc nên không có sự khuyến khích các em tập đọc.

Do ảnh hưởng của phương ngữ nên các em còn phát âm thiếu chính xác.

Do quá chú ý đến việc phát âm đúng những tiếng dễ sai mà các em nhấn giọng mạnh ở các tiếng này làm cho giọng đọc không hay.


III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2

A. Những vấn đề lí thuyết có liên quan

1. Khái niệm đọc

Đọc là một trong bốn dạng hoạt động ngôn ngữ nhằm chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh. Như đọc nhằm giải mã bộ mã gồm 2 bậc: Từ chữ sang âm, từ âm sang nghĩa.



2. Khái niệm đọc đúng

a. Đọc đúng là sự tái hiện âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi. Đọc đúng là không thừa, không sót âm vần, tiếng. Đọc đúng phải thể hiện đúng hệ thống những âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là không đọc theo các phát âm địa phương lệch chuẩn.

b. Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác âm điệu Tiếng Việt

- Đọc đúng các phụ âm đầu: Ví dụ học sinh có ý thức phân biệt để không đọc ''lắn lót'' ''chúng mồm'' mà phải đọc ''nắn nót'', ''trúng mồm'',

- Đọc đúng các âm chính: học sinh có ý thức phân biệt để không đọc '' mua riệu'', ''hơ vòi'' mà phải đọc '' mua rượu'', ''huơ vòi''

- Đọc đúng tiết tấu, ngắt nghỉ hơi đúng, đọc đúng ngữ điệu câu cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa tiếng, từ để ngắt nghỉ hơi cho đúng. Khi đọc, không được tách một từ ra làm hai. Ví dụ:

Ca lô đội lệch

Mồm huýt/ sáo vang.

- Ông em trồng cây xoài/ cát này trước sân khi em còn đi lẫm chẫm.

- Ông già bẻ gãy từng chiếc một/ cách dễ dàng.

- Bên bờ / rào có bông cúc trắng.

* Không tách từ chỉ loại đi với danh từ mà nó đi kèm, ví dụ không đọc

- Như con / chim chích

Nhảy trên đường vàng.

- Em cầm tờ / lịch cũ

Ngày hôm qua đâu rồi.

- Ai mang nước ngọt nước lành

Ai đeo bao hũ / rượu quanh cổ dừa

* Không tách giới từ với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc;

Như con chim chích

Nhảy trên / đường vàng.

- Cây đa nghìn năm đã gắn liền với thời thơ ấu của chúng tôi. Đó chính là một/ toà cổ kính hơn là một thân cây.

- Thế là trong /lớp chỉ còn mình em viết bút chì

* Không tách từ ''là'' với danh từ đi sau nó:

- Mẹ là/ ngọn gió của con suốt đời.

Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu ở dấu chấm, đọc đúng ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể.



B. Một số biện pháp sửa lỗi phát âm.

1. Đối với học sinh phát âm sai phụ âm ''l'' và ''n''

- Do đặc điểm phương ngữ đa phần học sinh phát âm sai các tiếng có phụ âm đầu ''l'' và''n''.

Tuy nhiên khi giáo viên sửa học sinh sẽ phát âm chuẩn hơn .

Để sửa lỗi phát âm được hiệu quả người giáo viên trước hết phải tìm hiểu nguyên nhân phát âm lệch chuẩn''n-l''. Sau đó tìm biện pháp sửa. Có ba nguyên nhân dẫn đến việc phát âm lệch chuẩn.

- Do ảnh hưởng của môi trường giao tiếp. Ngay từ lúc nhỏ khi học nói trẻ đã cần phải nhớ được phải nói như thế nào. Việc ghi nhớ này diễn ra một cách tự phát trong quá trình bắt chước lời nói của người lớn.

- Do ý thức rèn luyện: Học sinh giao tiếp trong môi trường có nhiêù người nói ngọng, phát âm không chuẩn thì không bị phát hiện, không bị chê cười nên các em khó sửa được.

- Do cấu tạo của bộ máy phát âm

* Biện pháp:

- Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể phương thức phát âm ''l-n''

+ Với phụ âm l: Đặt đầu lưỡi ở chân răng. Khi phát âm đưa nhanh đầu lưỡi lên vòm miệng trên rồi cuộn nhanh xuống.

+ Với phụ âm n: Đặt lưỡi ở chân răng, khi phát âm để đầu lưỡi chạm vào răng ở hàm trên . Để tự kiểm tra tôi hướng dẫn học sinh sờ tay vào mũi sẽ thấy cánh mũi rung.

Sau đó tôi cho học sinh phát âm thử l - n; lô, la, nô, na, rồi cho học sinh luyện vào bài đọc.

2. Đối với học sinh phát âm sai phụ âm ''tr'' và ''ch''

+ Với phụ âm tr: Đặt đầu lưỡi vào ngạc cứng của vòm miệng trên khi phát âm để luồng hơi thoát ra ngoài theo 2 bên của lưỡi.

+ Với phụ âm ch: Khi phát âm đặt lưỡi thẳng theo miệng dưới. Khi phát âm luồng hơi đi ra theo mặt lưỡi

Sau đó giáo viên cho học sinh phát âm thử tr/ch - cha, cho. tra, tro. Rồi mới luyện vào bài đọc.



3. Đối với học sinh phát âm sai uơ, ươu

+ Phát âm uơ: Môi trên và môi dưới đưa ra phía trước, tròn môi.

+ Phát âm ươu: Cả hàm dưới đưa về trước rồi từ từ kéo về.

Tôi cho học sinh phát âm thử: uơ, ươu- huơ tay, chai rượu. Sau đó mới cho vào bài tập đọc.

Ngoài ra tôi còn cho học sinh tái hiện cấu tạo của vần, tiếng bằng cách đánh vần

VD: Khi đọc ''sừng hươu'' tôi cho học sinh đánh vần '' hươu : hờ - ươu - hươu; rượu : rờ - ươu - rươu - nặng - rượu"

Ngoài ra tôi thường sắp xếp thời gian vào các buổi chiều cho các em luỵên phát âm. Khi thì thi đua, khi thì tổ chức theo trò chơi.

Ví dụ: Cho học sinh đọc:

VD1: "Đêm nay bên bến ô Lâu

Cháu ngôi cháu nhớ chòm râu Bác Hồ".

(Cháu nhớ Bác Hồ- TV2- T2)

VD2: Hàng trăm con voi nục nịch kéo đến. Mặt trời chưa mọc từ các buôn bà con đã nườm nượp đổ ra.

( Ngày hội đua voi ở Tây Nguyên TV2- T2)
VD3: Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

(TV2- T2 trang 48)

VD4:

''Nước non nặng một lời thề



Nước đi đi mãi không về cùng non''

(Thề non nước- Tản Đà)

VD5: Chú Trường vừa trồng trọt giỏi vừa chăn nuôi giỏi. Vườn nhà chú cây nào cũng trĩu quả. Dưới ao, cá trôi, cá chép, cá trắm từng đàn. cạnh ao là chuồng lợn, chuồng trâu, chuồng gà, trông rất ngăn nắp.

(TV2- T2- Trang 135)

VD6: Lôi xong nó huơ vòi về phía lùm cây rồi đi theo hướng bản Tun.

(Voi nhà- TV 2- T2)

4. Đối với học sinh ngắt nghỉ hơi chưa hợp lý.

Để đọc đúng, lưu loát học sinh cần biết ngắt nghỉ hơi đúng khi đọc câu văn dài. Ở lớp 2 đa số học sinh đều mắc lỗi ngắt nghỉ hơi trong câu văn, đoạn văn dài. Giáo viên cần hướng dẫn cách nghỉ hơi như sau.

4.1) Trước hết cần nghỉ hơi ở chỗ kết thúc dấu câu dấu ngăn cách các bộ phận câu với nhau. Khi gặp những dấu câu này các em cần nghỉ một quãng bằng thời gian phát âm một tiếng. Trong trường hợp dấu câu kết thúc đồng thời cũng kết thúc một đoạn văn để xuống dòng, quãng nghỉ sẽ gấp đôi thời gian đọc một ''tiếng''.

4.2) Bên cạnh dấu câu kết thúc câu hoặc cách các bộ phận câu còn có một số câu có cách dùng đặc biệt cụ thể:

- Dấu chấm lửng thể hiện lời nói ngắt quãng:

+ Ngắt quãng một tiếng giữa:

VD: Bỗng một tiếng "kít..ít'' làm cậu sững lại.

Trong trường hợp này các em không được nghỉ hơi mà phát âm kéo dài chỗ có dấu chấm lửng.

- Dấu chấm lửng dãn cách câu, liệt kê sự vật.

VD: Những con bê đực, y hệt những bé trai khoẻ mạnh, chốc chốc lại ngừng ăn, nhảy quẩng lên rồi chạy đuổi nhau thành một vòng tròn xung quanh...

(Đàn bê của anh Hồi Giáo- TV2- T2)

Trong trường hợp này các em cần nghỉ ở chỗ có dấu chấm lửng một quãng bằng khoảng thời gian phát âm một tiếng.

- Dấu ngoặc kép đánh dấu một số từ ngữ được dẫn nguyên văn lời người khác hay những từ ngữ có cách hiểu đặc biệt.

VD: Thư đề ''thượng khẩn''

(Lượm- TV2- T2)

VD: Sáng nay, biết vua họp bàn việc nước dưới thuyền rồng. Quốc Toản quyết đợi vua để nói hai tiếng ''xin đánh''.

(Bóp nát quả cam - TV2 - T2)

VD: Những tiếng reo vui, bình phẩm nổi lên:'' a, Núi Hồng! Kìa, chú la, đúng không? Chú La trẻ quá''

(Xem truyền hình - TV2 - T2)

Trong trường hợp này các không cần nghỉ hơi mà nhấn giọng vào các từ đánh dấu.

4.3) Sự nghỉ hơi cũng diễn ra ở giữa cụm từ dài để lời nói được rõ ràng mạch lạc.

VD: Khi dạy học sinh bài ''Sông Hương''(TV2- T2) có câu: ''Hương Giang bỗng thay chiếc áo xanh hằng ngày thành dải lụa dào ửng hồng cả phố phường''. Nếu để học sinh đọc liền mạch không nghỉ hơi giữa hai vế câu thì sẽ làm người nghe không hiểu rõ ý. Trong trường hợp những câu văn như thế này giáo viên viết sẵn lên bảng phụ đánh dấu nghỉ hơi cho học sinh nhớ.

VD: Hương Giang bỗng thay chiếc áo màu xanh hằng ngày/ thành dải lụa đào ửng hồng cả phố phường.

Khi hướng dẫn học sinh nghỉ hơi giữa các cụm từ dài. Giáo viên cần lưu ý các em đọc tự nhiên, tránh cường điệu, đọc nhát gừng hoặc quá to những tiếng cần nhấn giọng . Một số giáo viên do quá chú ý học sinh hướng dẫn nghỉ hơi đã làm cho lời đọc của các em thêm gượng gạo.


5. Đối với học sinh đọc nhỏ (lí nhí)

Đọc đúng tức là phải đọc to và rõ ràng. Đọc phải mang thông tin đến người nghe. Khi đọc thành tiếng người đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng với phát biểu trong lớp là 2 hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rằng các em đọc không phải để cho cô giáo nghe mà đọc cho tất cả các bạn nghe nên đọc đủ to nhưng cũng không được đọc quá to hoặc gào lên.

Để luyện đọc cho học sinh còn đọc quá nhỏ ''lí nhí'' giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho học sinh đứng trên bảng để đối diện với người nghe. Tư thế đọc phải đoàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng 2 tay.

C. Một số ví dụ minh hoạ

VD1: Khi dạy bài tập đọc'' Mùa nước nổi'' (sách TV2- T2)

- Trong phần mục tiêu giáo viên cần nêu rõ :

* Rèn cho học sinh phát âm đúng các từ có chứa phụ âm l/n: Nước nổi, lũ, này...những tiếng có âm ch, tr, một số vần khó, câu văn dài.. Trong khi dạy cần hướng dẫn đọc đúng, giáo viên cần ngăn ngừa các lỗi phát âm để có biện pháp khắc phục hợp lý.

VD: Từ '' nước nổi'' học sinh đọc sai nhiều. Trước hết giáo viên cần phát âm lại chỉ rõ cho các em thấy các em đọc sai ''n thành l''. Sau đó áp dụng phương thức phát âm đã nêu ở phần trên và hướng dẫn học sinh đọc đúng. Ngoài ra cần chú ý nên để học sinh khá, giỏi đọc mẫu sau đó các em đọc yếu đọc lại.

* Rèn cách ngắt hơi đúng: giáo viên dùng bảng phụ viết câu khó đọc rồi hướng dẫn các em cách ngắt hơi.

''Ngồi trong...từng đàn theo cá mẹ/ xuôi theo dòng nước/ vào tận đồng sâu''.

Ví dụ 2: Bài ''Bác sĩ sói''( SGK-TV2- T41)

Ngoài việc ghi rõ mục tiêu là giúp học sinh phát âm sai sửa đúng các phụ âm, vần dễ lẫn, trong giờ luyện đọc giáo viên giúp học sinh sửa đúng từ, cụm từ, câu sau:

- Với các tiếng, từ chứa âm l/n; tr/ch: hiền lành, tiền nong, trời giáng...giáo viên giúp học sinh sửa theo phương thức phát âm đã trình bày ở trên

- Với các tiếng có vần khó'' huơ'' giáo viên hướng dẫn phát âm : Huơ= hờ - uơ - huơ

Câu văn dài giáo viên viết lên bảng phụ để hướng dẫn học sinh đọc

+ Sói mừng rơn,/ mon men lại phía sau,/ định lựa miếng / đớp sâu vào đùi Ngựa cho Ngựa hết đường chạy.//

* Cần lưu ý trong các bước luyện đọc giáo viên cùng học sinh phối hợp một cách nhịp nhàng tránh gò bó. Học sinh luyện đọc một cách tự nhiên. Giáo viên cần tạo không khí thoải mái khi sửa sai.



D) Dạy thực nghiệm

Để kiểm chứng lại các biện pháp kinh nghiệm đã trình bày trong đề tài, tôi đã áp dụng cách dạy đó ngay từ những bài đầu tiên của dạng bài tập này - dạy thực nghiệm ở lớp 2A do tôi chủ nhiệm. Lớp có 28 học sinh, lực học các em không đều nhau (trong lớp có đầy đủ các đối tượng học sinh: Giỏi, Khá, Trung bình). Tôi đã mời các đồng chí trong tổ chuyên môn đến dự giờ và rút kinh nghiệm cho tôi.

- Giáo án minh hoạ tiết dạy( Ngày 15 tháng 2 năm 2012)

TẬP ĐỌC

CÒ VÀ CUỐC

I_Mục tiêu:

Kiến thức: Biết ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đọc rành mạch toàn bài.

- HSKG: Biết phân biệt giọng đọc các nhân vật.

- HSTB: đọc đúng các tiếng có âm đầu l/n; tr/ch lội ruộng, lần ra, làm việc, trời xanh, thế này, trắng phau phau

- Hiểu ND: Phải lao động vất vả mới có lúc thảnh thơi, sung sướng(TLCHSGK)

- Kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc đúng, phân biệt giọng nhân vật và nhấn giọng từ chỉ đặc điểm.

GDKNS: KN tự nhận thức, KN thể hiện sự thông cảm.

- Thái độ: Giáo dục học sinh biết chăm chỉ lao động , yêu lao động.



II.ĐDDH

- Máy chiếu : Chuẩn bị hình ảnh như SGK, câu khó cần luyện đọc.



III.HĐDH

A.KTBC: (4-5phút)- 2HS đọc bài: Một trí khôn hơn trăm trí khôn

- Em học tập gà rừng điều gì?

- Chồn có điểm gì đáng chê, điểm gì đáng khen?

GV+HS nhận xét cho điểm HS.



B.Dạy bài mới

HĐ1: GTB(1 phút) Bật máy chiếu hình ảnh SGK

Hỏi: Tranh vẽ cảnh gì?- giới thiệu bài.

HĐ2: Luyện đọc( 20 phút)


+GV đọc mẫu

*Luyện đọc câu:

- Yêu cầu HS phát hiện từ khó

GV giải nghĩa “trắng phau phau”- Bật hình ảnh chiếu bộ lông của cò và giải thích

- HS KG: đọc mẫu từ khó

- HSTB đọc theo, nếu đọc sai, giáo viên cho luyện phát âm l/n chú ý đặt đầu lưỡi cho đúng vị trí chân răng. phát âm thử l/n rồi mới phát âm đúng các tiếng từ của bài đọc.

- phau phau: nếu phát âm sai cho HS đọc theo đánh vần tiếng( phau= phờ - au - phau)

*Luyện đọc đoạn

- HS giỏi phát hiện cách đọc(Treo bảng phụ), đọc mẫu

- HSTB đọc theo( Nếu HS hay đọc thiếu thừa chữ cho HS dùng que chỉ để đọc và chỉ theo lời bạn đọc)

- Giải nghĩa từ “thảnh thơi” theo SGK và một số từ HS có thể không hiểu(dập dờn- bằng hình ảnh minh hoạ)

GV nhắc nhở đọc nhấn giọng từ gợi tả , gợi cảm

- HS đọc đoạn

-Thi đọc


-Đọc đồng thanh

HĐ3: Tìm hiểu bài ( 5- 7 phút)

*Đọc thầm và trao đổi về nội dung:

T/C hỏi đáp cá nhân

HTB: Cò đang làm gì?

HTB-Y: Cuốc hỏi gì?

- Cò đã trả lời thế nào?

-HKG: Vì sao Cuốc lại hỏi như vậy?

- T/C thảo luận nhóm 2

- Câu trả lời của Cò chứa đựng một lời khuyên. Lời khuyên ấy là gì?

Liên hệ – giáo dục:- Nếu em là Cuốc, em sẽ nói gì với Cò?

Giáo dục HS chăm chỉ học tập, lao động sẽ có ích cho mình .

HĐ4: Luyện đọc lại:( 5 phút)

- Chú ý HS TB chỉ cần đọc đúng(đoạn1)

- HS đọc nhỏ cầm sách đọc trên bục.(đoạn1)

- HSKG: đọc hay một đoạn hoặc cả bài.



- HS theo dõi

- HS đọc nối tiếp câu

- lội ruộng, lần ra, làm việc, trời xanh, thế này, trắng phau phau

-HS luyện đọc


- Chia đoạn:

Đ1: Từ đầu… hở chị

Đ2: còn lại

Phải có lúc vất vả lội bùn/ mới có khi được thảnh thơi bay lên trời cao.//”

- HS luyện đọc

- HS đọc nối tiếp đoạn

- cá nhân, dãy

- Đoạn 2
-1 HS đọc toàn bài – tập thể theo dõi

- Cò lội ruộng bắt tép.

- “Chị bắt tép …”

- Khi làm việc ngại gì …

- Cuốc nghĩ đến 2 hình ảnh: Cò trắng … và Cò lội bùn.

- Phải chăm lao động thì mới có lúc được sung sướng......

- HS nêu suy nghĩ

- HSK-G nêu cách đọc

- 1 số HS thi đọc phân vai



C.C2-D2:(3 phút) - Nhận xét giờ học. Tuyên dương HS có ý thúc học tập tốt.

- Giáo dục HS yêu quý loài vật, chăm chỉ học tập, yêu quý những người lao động.

*Sau khi dự giờ, tổ chuyên môn nhận xét:

- Giáo viên xác định được chuẩn kiến thức, kĩ năng của tiết học.

- Dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng.

- Tất cả các học sinh trong lớp đều được tham gia học tập hết năng lực của mình; phát huy được hết khả năng học tập của các đối tượng học sinh.

- Giờ học sôi nổi đạt kết quả cao.

- Toàn tổ thống nhất cách dạy theo giờ học trên.

Qua một thời gian áp dụng cách dạy như vậy tôi đã tiến hành điều tra tại lớp 2A do tôi giảng dạy.

Cách điều tra:

1 Khảo sát chất lượng đọc của học sinh

2. Bài tập

a. Điền L/N vào những chỗ trống.

Ơn trời mưa nắng phải thì

..ơi thì bừa can, ..ơi thì cày sâu.

Công ..ênh chẳng quản bao ..âu

Ngày ..ay...ước bạc, ngày sau cơm vàng.

(Ca dao)


b. Điền tr/ch vào những chỗ trống.

va ...ạm, ......ạm y tế.

c. Điền uơ/ ươu

chai r....., th... nhỏ

d. Dùng gạch chéo đánh dấu chỗ ngắt, nghỉ ngơi (1 gạch ở chỗ ngắt hơi, 2 gạch ở chỗ nghỉ hơi).

Cây dừa xanh toả nhiều tàu,

Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng.

Thân dừa bạc phếch tháng năm,

Quả dừa đàn lợn con nằm trên cao.

KẾT QUẢ THU ĐƯỢC


Tổng số học sinh được điều tra

Lỗi sai chung

l/n

tr/ch

-Vần uơ, ươu

- Đọc nhỏ (lí nhí).

- Đọc thiếu, thừa chữ



- Ngắt nghỉ hơi chưa đúng

28

5

17,8%


2

7,1%


4

14,3%


3

10,7%


4

14,3%


Khi rèn đọc cho học sinh lớp 2A theo chuyên đề này, tôi thấy chất lượng đọc của các em được nâng lên rõ rệt.

Từ đó kĩ năng giao tiếp của các em cũng tốt lên, các em nói to tát rõ ràng, tự tin. Qua kết quả điều tra học sinh giữa học kì II năm học 2011 –2012 (thông qua giao tiếp và qua bảng thống kê số liệu) có sự tiến bộ rõ rệt tôi thấy rất mừng. So với năm học trước (qua điều tra đầu năm ở lớp 3). Phát âm chuẩn l/n đã giảm khoảng hơn 2 lần từ 42,8% còn 17,8%; phát âm chuẩn tr/ch từ 17,8% còn 7,1% và vần ''uơ, ươu'' từ 28,5còn 14,3%; đọc thiếu thừa chữ, đọc nhỏ (lí nhí) từ 25% còn 10,7%. Ngắt nghỉ hơi hợp lí từ 28,5% còn 14,3%.

* Với học sinh khá giỏi: các em các em rất tự tin trong giao tiếp, đọc to tát rõ ràng, thể hiện được những gì tác giả muốn gửi gắm trong văn bản .

* Với học sinh trung bình, yếu: các em đã mạnh dạn, tự tin hơn, các em đọc to, rõ ràng, hiện tượng đọc thiếu thừa chữ gần giảm nhiều .

Có được kết quả như vậy, theo tôi học sinh được thực hành đọc nhiều, nắm chắc cách sửa lỗi phát âm, biết cùng bạn sửa lỗi, thêm vào đó là sự nhiệt tình của giáo viên.

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

a)Đối với giáo viên

Cần tích cực rèn ngọng cho bản thân. Mạnh dạn sửa ngọng cho đồng nghiệp và cho mình. Không tự ái khi người khác phát hiện mình ngọng

Trong quá trình dạy học người giáo viên phải chú ý đến cả ba đối tượng học sinh, phải có phương pháp, kế hoạch dạy học thích hợp cho từng đối tượng học sinh. Trong bài giảng bao giờ cũng dành sự quan tâm, rèn học sinh đọc sai, nhất là học sinh trung bình, học sinh yếu phải hết sức quan tâm, phụ đạo thì các em mới theo kịp bạn bè. Việc rèn đọc không phải một sớm một chiều mà là cả một quá trình do vậy giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, phải sửa cho học sinh ở mọi lúc mọi nơi, trong tất cả các tiết học. Luôn tạo ý thức nói đúng, nói chuẩn. Cần tạo cho học sinh ý thức tự sửa và sửa cho bạn. Giáo viên cần tạo những sân chơi vui để rèn kĩ năng nói đúng cho học sinh.

* Chú ý sân chơi phải diễn ra tự nhiên, tránh gò bó, gượng gạo.



b)Đối với học sinh

- Chủ động, tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức, có óc tư duy sáng tạo.

- Nắm chắc các biện pháp sửa lỗi khi đọc.

- Phát hiện được cái sai của mình của bạn để sửa chữa.

- Có ý thức học tập, rèn luyện , vận dụng những điều đã học vào cuộc sống.

- Chăm đọc sách báo, truyện thư viện để rèn đọc.



2.Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh trung bình, yếu lớp 2” bằng những biện pháp nêu trên, học sinh đã sử dụng ngôn ngữ nói chuẩn và tốt trong giao tiếp hàng ngày. Các em nói năng lưu loát, hiện tượng nói ngọng giảm đi rất nhiều, góp phần làm trong sáng Tiếng Việt, nó còn giúp các em học tốt các môn học khác. Từ đó làm nền tảng vững chắc cho các em học lên các lớp trên, thể hiện qua ngôn ngữ viết cũng như trong giao tiếp, ứng xử hiện tại và sau này.



3.KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG

- Áp dụng cách rèn đọc như trình bày ở trên tôi thấy kĩ năng đọc của học sinh trung bình, yếu có tiến bộ rõ rệt, các em tự tin trong giao tiếp, góp phần giúp các em học tốt các môn học khác. Còn học sinh khá giỏi kĩ năng đọc càng tốt hơn các em còn biết giúp bạn sửa đọc. Đồng nghiệp dự giờ, cùng tôi khảo sát chất lượng học sinh đẫ đánh giá đề tài của tôi có tính khả thi và đề nghị áp dụng trong tổ, trong trường.

Để kinh nghiệm này áp dụng tốt có hiệu quả tôi có một số đề xuất nhỏ.

4. KHUYẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

*Đối với với giáo viên

- Cần điều tra nắm rõ tình hình đọc của học sinh và những lỗi mà học sinh thường mắc phải. Từ đó tìm nguyên nhân và các biện pháp sửa sai kịp thời.

- Mỗi bài tập đọc khi soạn giáo viên cần có kế hoạch dạy học riêng cho học sinh đọc yếu, tìm hiểu các từ, câu mà học sinh dễ đọc sai. Chủ động chuẩn bị biện pháp rèn đọc.

- Phát huy phương pháp luyện tập Tiểu học.

- Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh.

- Luôn đổi mới phương pháp dạy học quan tâm từng đối tượng học sinh.



*Đối với lãnh đạo

- Cần có biện pháp nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên.

- Mở chuyên đề luyện đọc cho nhiều đối tượng học sinh, giáo viên học tập kinh nghiệm.

*Đối với gia đình

- Cần quan tâm đến việc học tập của con em mình

- Lắng nghe, nhắc nhở con cái đọc đúng, phát âm chuẩn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Phó Giáo sư-Phó tiến sĩ Lê A , Phó tiến sĩ Đỗ Xuân Thảo

Tiếng Việt 1 – Nhà xuất bản Giáo dục 1997.

2. Lê Phương Nga.

Dạy tập đọc ở tiểu học – Nhà xuất bản Giáo dục 2001.

3. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí

Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2 – Nhà xuất bản Giáo dục 2001.

4. Nguyễn Minh Thuyết ( Chủ biên), Trần Mạnh Hưởng, Lê Phương Nga, Trần Hoàng Tuý.

Tiếng Việt 2, tập 1, Sách giáo viên Tiếng Việt 2, tập 1 – Nha xuất bản Giáo dục 2003

5. Nguyễn Minh Thuyết ( chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Trại, Trần Hoàng Tuý.

Tiếng Việt 2, tập 2, Sách giáo viên Tiếng Việt 2, tập 2 – Nha xuất bản Giáo dục 2003



MỤC LỤC:

Trang


Phần I: Phần mở đầu 2

I. Bối cảnh của đề tài 2

II. Lí do chọn đề tài 2

A. Cơ sở lí luận 2

B. Cơ sở thực tiễn 3

III. Phạm vi và đối tượng của đề tài 4

IV. Mục đích của đề tài 4

V. Phương pháp nghiên cứu 4

Phần II. Nội dung 4

I. Điều tra thực trạng 4

II. Biện pháp điều tra 4

III. Một số biện pháp dạy tập đọc cho học sinh lớp 2 7

A. Những vấn đề lí thuyết có liên quan. 7

1. Khái niệm đọc 7

2. Khái niệm đọc đúng 7

B. Một số biện pháp sửa lỗi phát âm. 8

C. Một số ví dụ minh hoạ 12

D. Dạy thực nghiệm 13

Phần III. Kết luận 20

I. Bài học kinh nghiệm 20

2. ý nghĩa của đề tài 21

3. Khả năng ứng dụng 21

4. Kiến nghị, đề xuất 21

- Tài liệu tham khảo 23

- Mục lục 24

- Lời cảm ơn 25


LỜI CẢM ƠN

Trên đây là kinh nghiệm của tôi về rèn học sinh đọc yếu lớp 2. Tuy kinh nghiệm này của tôi đã đựơc áp dụng trong tổ nhóm song chắc chắn sẽ không tránh khỏi phần khiếm khuyết. Tôi mong nhận đựơc sự đóng góp kiến của Hội đồng khoa học, các thầy cô giáo, các cấp lãnh đạo để kinh nghiệm của tôi đựơc hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng toàn diện và đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt đựơc tốt hơn.



Tôi xin chân thành cảm ơn!

III.

















Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương