Phần I: MỞ ĐẦU



tải về 252.03 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích252.03 Kb.
  1   2   3

Mét sè biÖn ph¸p gióp gi¸o viªn, häc sinh “ViÕt ®óng - viÕt ®Ñp”vµ x©y dùng phong trµo “Gi÷ vë s¹ch - ViÕt ch÷ ®Ñp” ë tr­êng TiÓu häc

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI.

Viết chữ đẹp là nguyện vọng và lòng mong mỏi của tất cả mọi người, mọi giáo viên và học sinh. Đối với giáo viên bậc Tiểu học thì đây là mục tiêu hàng đầu bên cạnh việc dạy cho các em biết đọc, viết thông thường thì luyện viết chữ đẹp nói riêng cũng như vấn đề luyện chữ nói chung vẫn còn là một vấn đề khoa học mở.

Chúng ta biết rằng chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc Tiểu học, học sinh phải dùng chữ viết để học tập và giao tiếp. Vì vậy, chữ viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học mà còn góp phần rèn luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học - đó là kỹ năng viết chữ. Nếu học sinh viết đúng, đẹp, rõ ràng, đảm bảo tốc độ quy định thì học sinh có điều kiện để ghi chép bài học tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập tốt hơn, ngược lại viết xấu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.

Như vậy, bậc Tiểu học là vấn đề nền tảng cho sự phát triển nhận thức của mỗi con người, mỗi học sinh. Những năm đầu của bậc Tiểu học các em được học và làm quen với những kí hiệu viết chữ thông qua phân môn Học vần nhất là phân môn Tập viết. Hai phân môn này giúp sẽ các em đọc thông viết thạo, đúng quy cách.

Xuyên suốt quá trình học tập và phấn đấu lâu dài của con người. Hệ thống chữ viết được tái tạo qua khả năng nhận thức riêng, nó thể hiện qua khả năng truyền tải thông tin, qua cách sử dụng vốn từ, ngữ cảnh riêng biệt. Như vậy việc dạy viết chữ đúng, đẹp cho học sinh không phải cùng lúc đòi hỏi các em phải viết đúng, đẹp ngay mà cần phải có thời gian và sự kiên nhẫn của giáo viên và tấm lòng kiên trì của học sinh.

II. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Trong chương trình cũ chúng ta mới chỉ đề cập đến vấn đề đọc đúng,

viết đúng thì ở chương trình mới ngoài việc đọc đúng, viết đúng các em còn phải đọc diễn cảm, viết đúng và viết đẹp góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức, tính cách con người. Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã nói: "Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết đẹp là góp phần rèn cho các em tính cẩn thận và lòng tự trọng của mình đối với mình cũng như đối với thầy cô và bạn đọc của mình”.

Chính vì thế mà tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu: Một số biện pháp giúp giáo viên, học sinh "Viết đúng- viết đẹp" và xây dựng phong trào "Giữ vở sạch- Viết chữ đẹp" ở trường Tiểu học. Nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cũng như đáp ứng được lòng mong mỏi của đại đa số giáo viên và phụ huynh học sinh.



III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

1. Phạm vi nghiên cứu:

- Trong quá trình công tác tôi nhận thấy đối tượng viết sai chính tả, viết xấu có ở một số giáo viên, học sinh trong bậc Tiểu học. Trong các kì thi số học sinh bị trừ điểm do nguyên nhân chữ viết, do trình bày tuỳ tiện, cẩu thả còn nhiều. Sáng kiến này tôi đề cập đến việc rèn chữ viết cho giáo viên, học sinh của nhà trường và xây dựng phong trào "Rèn chữ-giữ vở" trong trường Tểu học.



2. Đối tượng nghiên cứu:

- Giáo viên, học sinh trường Tiểu học số 1 TT Tân Uyên, huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu.



Iv. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

- Tìm ra các giải pháp thích hợp nhất giúp giáo viên, các em học sinh khắc phục tình trạng viết xấu, viết cẩu thả, trau dồi kiến thức cho bản thân.

- Đáp ứng được sự đi lên của xã hội còn là nhiệm vụ của người thầy trước thế

hệ tương lai của nước nhà.

- Việc dạy và trau dồi những kiến thức cho giáo viên, học sinh về viết đúng- viết đẹp

trong trường Tiểu học là quá trình đòi hỏi phải có sự nỗ lực của bản thân người học. Một quá trình rèn luyện thường xuyên, nó đòi hỏi tính thẩm mĩ cao mà hầu như không đòi hỏi phải có sáng tạo cao. Đây chỉ là sự dập khuôn, làm mẫu sao cho đều, đúng, đẹp. Người giáo viên cần phải thường xuyên uốn nắn cách trình bày, cách viết của mình sao cho đúng đẹp. Cách trình bày cách viết phải chuẩn mực rõ các nét, các cỡ chữ mà thầy cô phải là một tấm gương đi đầu trong việc rèn chữ viết cho học sinh.



V. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.

- Viết đúng, viết đẹp đang được ngành giáo dục quan tâm, phong trào "Giữ vở sạch - viết chữ đẹp” được phát động rộng khắp trên toàn quốc và được đông đảo các thầy giáo cùng các em học sinh nhiệt tình hưởng ứng.

Trong sáng kiến này tôi dùng các phương pháp nghiên cứu là: điều tra, chứng minh và kiểm sát thực tiễn.

PHẦN II: NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Để học sinh viết đẹp thì trước hết phải viết đúng qua các tiết Tập viết ở lớp. Bởi vì qua đó học sinh nắm được các khái niệm về đường kẻ, dòng kẻ, toạ độ, tốc độ, tên gọi các nét, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu thanh, và liên kết các chữ cái khi viết. Từ đó, mới hình thành ở các em những biểu tượng về hình dáng độ cao và sự cân đối, tính thẩm mĩ của chữ viết. Ngoài ra, học sinh còn rèn thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, xác định được khoảng cách để hình thành kĩ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh và viết đẹp. Chữ viết mang tính thực hành cao, ngoài việc học sinh nắm được các kiến thức cơ bản của việc viết chữ và kỹ thuật viết thì rèn viết chữ đẹp là một yêu cầu cũng hết sức quan trọng và cần thiết, vì vậy chúng ta cần chú ý rèn cho học sinh tính cẩn thận, sự sáng tạo khi viết. Việc dạy viết đúng, viết đẹp cho giáo viên học sinh trong nhà trường đòi hỏi người dạy phải nắm vững về cấu trúc hệ thống chữ viết Tiếng Việt, phải nắm vững luật chính tả. Trong dạy học các phương pháp có thể sử dụng một cách linh hoạt, song chữ viết phải tuân theo một quy luật, một khuôn khổ chuẩn mực. Hệ thống chữ viết có tính độc lập. Cách ghép âm, ghép vần không phụ thuộc vào ngôn ngữ địa phương. Có thể nói ai biết chữ cũng có thể viết đẹp. Bất kể một quốc gia, một dân tộc nào cũng có chữ viết của mình nhằm trao đổi, lưu giữ thông tin trong cộng đồng. Một số quốc gia hệ thống chữ viết không chỉ phổ biến trong cộng đồng của mình mà còn được mở rộng đến nhiều nước trên thế giới như: Anh, Trung Quốc,…Tiếng Việt của chúng ta rất đa dạng, phong phú, nhiều nghĩa ngữ. Song cơ bản vẫn lấy nguồn gốc từ tiếng La Tinh. Chữ La Tinh là nguồn dữ liệu về hệ thống chữ viết phổ biến mà nhiều nước trên thế giới đang sử dụng. Hệ thống chữ viết này đơn giản, dễ nhớ, tiện cho người sử dụng. Với tương lai không xa chúng ta cũng có thể đưa hệ thống chữ Việt ngang tầm với các chữ viết của các quốc gia lớn trên thế giới.

Nhiệm vụ của người thầy trong quá trình dẫn dắt học sinh tiếp nhận tri thức, tuân thủ đầy đủ các quy tắc về chính âm, chính tả, viết đúng trong 40 phút của một tiết học là không đơn giản. Nếu chỉ chú ý về tiếp thu trí thức mà bỏ quên việc luyện chữ của từng tiết học thì các em dễ mắc tính cẩu thả, thói quen tuỳ tiện trong cách trình bày, trong chữ viết. Nếu gò bó quá sẽ gây cho học sinh sự chán nản, tiếp thu tri thức sẽ hạn chế.

II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:

Huyện Tân Uyên nói chung và trường Tiểu học số 1 Thị trấn Tân Uyên nói riêng trong những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI phong trào “Giữ vở sạch- viết chữ đẹp” chưa được quan tâm đúng mức, chưa hình thành sâu rộng trong giáo viên và học sinh nên việc giữ vở sạch - viết chữ đẹp chưa được tốt. Ở thời điểm này đời sống kinh tế địa phương còn nhiều khó khăn, phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con mình từ chất lượng đến chữ viết.

Ban giám hiệu nhà trường chưa đầu tư nhiều cho phong trào này và ít kiểm tra

đôn đốc nhắc nhở để giáo viên và học sinh thực hiện tốt. Trong công tác đánh giá thi đua từng học kì và năm học nhà trường không đưa kết quả phong trào “Giữ vở sạch - viết chữ đẹp” của lớp vào tiêu chí để xét thi đua cho tập thể lớp và giáo viên chủ nhiệm. Việc kiểm tra đánh giá phân loại vở sạch- chữ đẹp ở các lớp chưa tốt, chưa đưa ra giải pháp để khắc phục những nhược điểm tồn tại.

Tuy nhiên, qua nhiều năm dạy học cũng như làm công tác quản lí, tôi thấy một số hạn chế về phong trào này như sau:

* Về phía học sinh:

Nhóm 1: - Các em học sinh lớp 1.

Ưu diểm: Đa số các em biết đọc, biết viết.

Tồn tại: Một số em chữ viết chưa đúng nét, thiếu dấu.

Nhóm 2: - Các em học sinh lớp 2.

Ưu điểm: Các em vừa nghe, vừa viết tương đối tốt.

Tồn tại: Hiện tượng viết ẩu, không đúng cỡ, đúng dòng bắt đầu xuất hiện, viết sai chính tả, thiếu dấu, thiếu nét vẫn còn nhiều.

Nhóm 3: - Các em học sinh lớp 3, 4, 5.

Ưu điểm: Các em đọc thông viết thạo.

Tồn tại: Các em viết ẩu nhiều hơn (do lượng kiến thức tăng).

Các em viết hoa còn tuỳ tiện, viết sai chính tả vẫn còn.



* Về phía giáo viên:

Ưu điểm: Nắm rõ được đối tượng học sinh mình phụ trách.

Nắm vững hệ thống cấu trúc chữ viết tiếng Việt.



Tồn tại : Chữ viết của một số giáo viên còn xấu nhưng ý thức luyện viết chưa cao dẫn đến chưa có sự mẫu mực trong chữ viết ở bảng lớp cũng như khi chấm bài và sửa vào vở học sinh. Thậm chí có giáo viên viết ở bảng lớp vẫn còn cẩu thả không đúng mẫu, sai chính tả, phân tích, hướng dẫn viết còn sơ sài, qua loa, tuỳ tiện trong cách trình bày. Nhất là trong thời điểm mà toàn ngành đang vận động soạn bài trên máy vi tính thì ý thức của giáo viên về phong trào rèn chữ đẹp bị hạn chế rất nhiều.

Chưa có mô hình, điển hình về rèn chữ viết của giáo viên trong các nhà trường để cùng nhân rộng học tập.

* Về phía nhà trường:

- Nhà trường chỉ mới quan tâm chăm lo chỉ đạo các hoạt động về chuyên môn như: Bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hoá mà chưa coi trọng đến phong trào này.

- Chưa có hình thức tuyên dương khen ngợi những học sinh có ý thức trong phong trào “Giữ vở sạch-Viết chữ đẹp”.

- Cơ sở vật chất nhà trường chưa đáp ứng đầy đủ cho phong trào này như bàn ghế chưa đúng chuẩn, bảng không có dòng kẻ, lớp học thiếu ánh sáng…

* Vế phía phụ huynh:

- Một số  phụ huynh còn chưa nhận thức hết tầm quan trọng của phong trào, chỉ bắt ép học sinh học môn Tiếng Việt, Toán mà quên rằng chữ viết của các em sẽ làm cho tâm hồn các em thêm phong phú, chữ viết xấu sẽ làm giảm đi phần điểm trình bày về chữ viết trong bài làm của các em mà bất cứ bài thi nào cũng có.

Qua thực tế thấy rằng chất lượng vở sạch, chữ đẹp chưa cao, phong trào chưa mạnh, chưa thu hút được giáo viên và học sinh say mê trong luyện chữ đẹp.

III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1. Nâng cao nhận thức đối với đội ngũ giáo viên về rèn chữ viết cho học sinh.

Quán triệt trong đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường các văn bản hướng dẫn về phong trào “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” của ngành, làm cho mọi cán bộ giáo viên của trường nhận thức được tầm quan trọng của chữ viết: Chữ viết thể hiện nết người.

Cần làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh để xây dựng phong trào “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” trong nhà trường.

Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, giáo viên chủ nhiệm phải tuyên

truyền cho phụ huynh biết về vai trò quan trọng của việc giữ vở sạch - viết chữ đẹp; hướng dẫn phụ huynh trong việc mua sắm đồ dùng sách vở, bút viết cũng như cách bọc sách vở cho các em.

Xây dựng nền nếp phong trào ngay từ ở các lớp: Vào đầu năm học mới giáo viên chủ nhiệm lớp phải tiến hành kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh nên dùng loại vở nào, dùng loại bút nào để luyện viết, hướng dẫn học sinh cách bọc vở và bảo quản, giữ gìn sách vở như thế nào trong năm học.



2. Công tác xây dựng kế hoạch "Giữ vở sạch - viết chữ đẹp" của nhà trường

Tổ chức các lớp tập huấn về viết chữ đẹp để bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên trong các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ, nhà trường.

Đầu năm học nhà trường và tổ chuyên môn tổ chức thi chọn học sinh và giáo viên viết chữ đẹp để qua đó bồi dưỡng và nhân rộng ra cho tất cả các lớp. Mỗi tổ chuyên môn tuyển chọn một đội học sinh viết chữ đẹp và cử giáo viên bồi dưỡng để tham gia thi viết chữ đẹp các cấp.

Trong Kế hoạch chỉ đạo chuyên môn của trường, của tổ chuyên môn, của lớp chỉ tiêu giữ vở sạch - viết chữ đẹp được quan tâm đúng mức. Đưa việc thực hiện phong trào “Giữ vở sạch - viết chữ đẹp” vào trong tiêu chí xét thi đua để tạo động lực cho giáo viên và học sinh thực hiện tốt phong trào.

Ngoài yêu cầu viết đúng, đẹp cần hướng dẫn cách trình bày ở vở của học sinh trong từng loại bài, cách kẻ vở khi hết bài, hết môn, hết ngày và hết tuần như thế nào để thống nhất trong cả lớp;

Đối với những em có năng khiếu và viết chữ khá đẹp, giáo viên phải có định hướng từ đầu là phải luôn chú ý theo dõi, kèm cặp nhắc nhở để học sinh luôn ghi nhớ, cố gắng thường xuyên. Bởi vì hơn ai hết giáo viên là người trực tiếp dạy dỗ, quan tâm học sinh hàng ngày nên có điều kiện, kiểm tra và có hướng khắc phục uốn nắn kịp thời.

Trong thời khoá biểu ở buổi thứ 2 (buổi học thêm) nhà trường đã bố trí thời gian 40 phút (01tiết học/tuần) để giáo viên phụ trách hướng dẫn cho các em luyện viết đồng thời kiểm tra việc giữ vở sạch của các em.

3. Công tác kiểm tra, đánh giá quá trình tổ chức phong trào.

Từng tháng tổ chuyên môn kiểm tra việc giữ vở sạch - viết chữ đẹp từng lớp, từng học kì và cả năm học. Ban giám hiệu nhà trường kiểm tra đánh giá, tổng kết và đưa ra những giải pháp khắc phục những tồn tại. Khen thưởng kịp thời những tập thể lớp, tổ, cá nhân để thực hiện tốt phong trào này.

Hàng tuần phải kiểm tra chấm và nhận xét, động viên để học sinh cố gắng hơn ở tuần tiếp theo. Hàng tháng, sau khi đánh giá xếp loại Vở sạch - chữ đẹp, giáo viên cần biểu dương và khen ngợi những học sinh có nhiều cố gắng trong phong trào này.

Có thể lấy một số bài viết của các anh chị lớp trên hoặc những học sinh đã đạt giải thi viết chữ đẹp cấp huyện, cấp tỉnh như các em: Nguyễn Hồng Nhung, Nguyễn Diệu Thùy, Lê Thảo Huyền, Lê Hồng Nhung, Nguyễn Quỳnh Trang, Ngô Thị Ngọc (lớp 5A1), em Trần Hoàng Anh, Trần Thị Vương (lớp 5A2)… để cho các em xem và học tập tấm gương của các anh chị.



4. Các biện pháp giúp giáo viên, học sinh rèn luyện chữ viết.

Như chúng ta đã biết muốn viết đẹp thì trước tiên là phải viết đúng mẫu chữ, kích cỡ, độ cao, tốc độ viết đảm bảo. Vì thế trong các giờ tập viết, chính tả trên lớp, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản về đường kẻ, toạ độ viết chữ, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu thanh, dấu phụ, các khái niệm liên kết nét chữ hoặc liên kết chữ cái … Từ đó, hình thành ở các em những biểu tượng về hình dáng, độ cao, sự cân đối, tính thẩm mĩ của chữ viết. Bên cạnh đó, giáo viên cần dạy học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm các kỹ năng viết nét, liên kết nét tạo các chữ cái và liên kết chữ cái tạo thành chữ ghi tiếng. Đồng thời giúpcác em xác định khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hình thành năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh và đẹp. Muốn viết được đúng, đẹp thì giáo viên và học sinh cần nắm và hiểu rõ các nguyên tắc sau:



4.1. Tư thế ngồi viết và cách cầm bút.

4.1.1. Tư thế ngồi viết

- Lưng thẳng.

- Đầu hơi cúi.

- Không tì ngực vào bàn.

- Mắt cách vở 25 ­- 30 cm.

4.1.2. Cách cầm bút:

- Tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ.

- Cánh tay cầm bút phải đặt ít nhất 2/3 trên mặt bàn. (Cần chú ý đẩy vở lên khi viết đến phần cuối trang).

- Cầm bằng ba ngón tay: Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Đầu hai ngón: ngón cái và ngón giữa phải ôm lấy thân bút.

- Khi viết, dùng ba ngón tay di chuyển từ trái sang phải. Cán bút nghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động mềm mại thoải mái. Khi viết cả bàn tay và thân bút đều phải ở vị trí phía dưới của dòng kẻ đang viết.

- Không nên cầm bút tay trái.

- Không nên cầm bút sát ngòi.

4.2. Rèn luyện chữ viết cho giáo viên, học sinh.

- Ở sáng kiến này tôi sắp xếp lại các chữ thường và chữ hoa dựa theo sự tương đồng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

- Phân loại các chữ thành các nhóm chữ có các nét giống nhau.

+ Các chữ có nét tròn.

+ Các chữ có nét khuyết (khuyết trên, khuyết dưới).

+ Các chữ có nét xoắn.

+ Các chữ có nét thẳng.

- Như vậy thầy cô và các em sẽ dễ dàng hơn trong việc nắm bắt cách viết.

4.3. Mẫu chữ thường: - o, «, ¬, c, a, ¨, ©, d, ®, q, g;

- l , b, h, k, e, ª, r, s, v, m, n, x;



- p, i, t, u, ­, y.

4.4. Mẫu chữ hoa : - A, ¡, ¢, M, N; - P, B, R, D, §; - C, S, L, G, E, £;

- I, K, V, H, T; - O, ¤, ¥, Q ;- X, U, ¦, Y.

4.5. Ngoài ra tôi còn sắp xếp lại các nhóm phụ âm kép:

- tr, th, ph, kh, nh, ch, qu, gi, gh, ngh.

4.6. Mẫu chữ số:

- Viết theo theo kiểu chữ viết thường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10.

- Viết theo kiểu chữ in thường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10.

4.7. Mẫu dấu:

- Dấu chấm hỏi: ?

- Dấu nặng: (.)

- Dấu ngoặc đơn: ( )

- Dấu ngoặc kép: “ ”



5. Cấu tạo chữ viết Tiếng Việt

5.1. Yêu cầu chung và yêu cầu riêng.

- Viết nghiêng đều, nét hất gọn, đúng độ cao, đúng độ giãn cách.

- Các chữ có độ cao 2,5 đơn vị (ô li): l, h, b, k, g, y.

- Các chữ có độ cao 2,0 đơn vị (ô li): d, ®, q, p.

- Các chữ có độ cao 1,5 đơn vị (ô li): t.

- Các chữ có độ cao 1, 25 đơn vị (ô li): r, s

- Các chữ có độ cao 1,0 đơn vị (ô li): u, ­, x, v, a, ¨, ©, c, e, ª, m, n, o,...

- Các dấu thanh nhỏ gọn nằm trong một li hoặc 0,5 ô li.

- Khoảng cách giữa các tiếng là 1,5 ô li.

5.2. Các nguyên tắc khi tập viết

- Khởi điểm đúng, độ nghiêng đủ.

- Đơn giản, dễ viết.

- Tạo nét song song.

- Cứng và mềm, cương và nhu.

- Bố cục hài hoà, cân đối ‘‘Bức hoạ nhỏ’’.

- Biểu cảm.

- Viết liền nét, hạn chế nhấc bút.

- Viết các con chữ theo hàng dọc.

6. Phương pháp: chia các nhóm chữ, đặt tên để rèn luyện và hướng dẫn viết.
6.1: TÊN CỦA CÁC NHÓM CHỮ

6.1.1. Chữ cái thường

Nhóm 1:Giọt sương trĩu nặng. Gồm các chữ cái: - o, a, c, d, ®, q, g.

Hướng dẫn viết: Khi viết nghiêng sang trái và nặng phía dưới, đó là hình ảnh của “giọt sương trĩu nặng” - tên của nhóm chữ có nét tròn tương đồng này.

*Phân tích :

- Chiều cao và độ rộng của các nét tròn đều bằng nhau, bằng một ô li vuông. Độ nghiêng của các con chữ nhóm này cũng như độ nghiêng của chữ 25- 30.

- Điểm xuất phát của 7 con chữ này đều giống nhau từ đỉnh bên phải phía trên của ô vuông nhỏ. Từ điểm xuất phát này nghiêng xuống đưa nét bút nghiêng xuống đỉnh trái, phía dưới của hình vuông, ô vuông nhỏ đó.

Nhóm 2:Tia nắng ban mai”. Gồm các chữ cái: - l, b, k, h.

- Cả 4 chữ cái này đều có cái “lưng” rất thẳng mà thẳng ở phương nghiêng, là hình ảnh của những tia nắng buổi sáng.

*Phân tích: Tất cả 4 chữ cái trên đều có điểm xuất phát từ 0,5 li, đều có cong phải, nét sổ nghiêng, nét lưng rất giống nhau.

Nhóm 3: Nhị hoa”. Gồm các chữ cái: -v, s, r.

* Phân tích: Cả 3 chữ trên đều có nét “nhị hoa nhỏ, mềm, tinh tế thật dễ thương.

Nhóm 4:Thì là”. Gồm các chữ cái: - e, n, m, x.

* Phân tích: Ồ! Thật là khó đặt tên cho nhóm chữ này bởi hình dạng của chúng. Vậy đặt tên là ... “Thì là” - giống tên của một loại rau bé nhỏ trong truyện cổ tích về cây thì là… nhắc ta nhớ đến một sự hiểu lầm thật dễ thương. Hi vọng là với cách đặt tên cho nhóm chữ này thật ấn tượng sẽ giúp người học nhớ lâu và thật thú vị.

Nhóm 5: “Gậy thần như ý. Gồm các chữ cái:- p, i, t, u, y

* Phân tích: Cả 5 chữ trên đều có “gậy thần như ý” nét khởi đầu rất giống nhau. Nét đó có cả hai tác dụng:

+ Một là để tạo độ nghiêng theo nó xuống sẽ được như ý về độ nghiêng.

+ Hai là để làm duyên cho chữ, làm mềm mại hài hoà cho chữ hệt như chiếc gai xinh xinh làm duyên thêm cho những bông hoa hồng.

6.1.2. Phụ âm kép: SAN HÔ

-tr, th, kh, nh, ch, qu, gi, gh, ng, ngh.



* Phân tích: Các phụ âm kép này do hai, ba con chữ ghép lại với nhau, viết nối với nhau liền nét. Các con chữ có độ rộng đều nhau và đều là một ô. Các nét nghiêng đều theo nhau và tạo nhiều nét song song với nhau.

6.1.3. Chữ cái hoa

- Chữ cái hoa thiên về sự mềm mại tinh tế, uyển chuyển. Vì vậy có thể nói: Chữ cái hoa là sự thăng hoa của chữ viết. Độ cao của các chữ cái hoa hầu hết là 2,5 ly. Riêng chữ G và Y cộng thêm cái đuôi, 1,5 ly nữa.



*Nhóm 1: “Sóng lượn”. Gồm các chứ cái hoa: - A, N, M

- Nét tương đồng của cả ba chữ hoa này là nét đầu tiên. Chữ M: là chữ A kép

- Nét tương đồng của cả ba chữ hoa này là nét đầu tiên. Chữ M: là chữ A kép hay là hai chữ A dắt tay nhau (hai anh em sinh đôi). Chữ N: có một đôi nét mềm mại tương ứng qua một trục nghiêng.

* Nét “sóng lượn” có ba phần: + Chân sóng: hình chữ c.

+ Thân sóng: là nét xiên nghiêng.

+ Ngọn sóng: là nét lượn hình cung.



Tất cả đều mềm mại.

* Nhóm 2: “Nốt nhạc”. Gồm các chữ cái hoa:- P, B, R, D.

+ Phân tích: Tất cả các thành viên của nhóm đều có nét khởi đầu rất giống nhau và giống nhau hình “nốt nhạc”. Ngoài ra còn có nét hình “bán nguyệt”, hình “chiếc mũ

nồi”- độ rộng của “chiếc mũ nồi” khoảng 2 ly.

*Nhóm 3: “Vành trăng non”. Gồm các chữ cái hoa: - C, S, G, Y, E.

+ Phân tích: Cả 5 thành viên của nhóm chữ này đều có nét “vành trăng non” là nét khởi đầu mỗi chữ.

- Độ rộng của “vành trăng non” = 2 ly.

- Điểm cắt “vành trăng non” = 1/2 ly

- Độ sâu của “vành trăng non” = 1,5 ly..

*Nhóm 4: “Cánh chim bằng”- (Đại Bàng).

Gồm các chữ cái hoa: - I, K, H, V, T



Ví dụ: - Chữ: H, V

+ Phân tích: Chữ viết đúng có 2 nét song song với nhau, nhu và cương đan xen với nhau, hoà quyện lẫn nhau tạo hình dáng hài hoà, đối nhau. Nét “cánh chim no gió” mềm mại.

*Nhóm 5 “Ốc biển”. Gồm các chữ cái hoa: - O, ¤, ¥, Q

+ Phân tích: Các chữ hoa nhóm này đẹp là nhờ sự kết hợp hài hoà giữa nét cương (xuống) và nét nhu (xuống). Còn đẹp được cũng là nhờ nét duyên của những hoa văn cuốn lại mềm mại, tròn đều.

*Nhóm 6: “Ngưu Lang- Chức Nữ”.

Gồm các chữ cái hoa: - X, D, M, N, U, Y.

* Phân tích: Tất cả các thành viên của nhóm này đều được kiến tạo từ một nét ban đầu là nét móc xuôi trái. Đặt tên cho các nét đó là Cầu Ô Thước. Nhịp cầu cổ tích này là do các con quạ đen đã bắc cầu qua sông Ngân Hà ®Ó chµng Ngưu vµ nµng Chức gÆp được nhau, vì chúng cảm thương tình yêu xa cách của họ. Còn với chúng

ta, người học cách viết thì “nhịp cầu” này sẽ giúp viết dễ dàng cả nhóm chữ.

, vì chúng6.2. HƯỚNG DẪN VIẾT CHỮ LIỀN NÉT

- Khi dạy tập viết tôi luôn tự đặt câu hỏi cho người học:

- Tại sao phải viết chữ liền các nét với nhau?

+ Vì viết chữ liền nét với nhau chữ sẽ không bị rời rạc, nguệch ngoạc.

+ Viết chữ liền nét sẽ khiến cho chữ nghiêng đều theo nhau, sẽ mượt mà hơn.

+ Viết chữ nghiêng và liền nét làm giảm thiểu đi những đường cong, những nét uốn. Vì vậy viết sẽ nhanh hơn.

* Ví dụ: boong tµu, chuyÓn b¸nh, quang g¸nh, khuyÕn khÝch

*Lưu ý: + Khi viết liền nét nhớ cầm bút đúng quy định, hơi cao, không cầm bút sát ngòi, hạn chế nhấc bút khỏi trang giấy. Khi viết hoàn tất phần vần mới được đánh dấu thanh.




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương