Paris tháng 3/1988


TINH TẤN THEO LỜI PHẬT DẠY



tải về 73.74 Kb.
trang4/9
Chuyển đổi dữ liệu19.01.2023
Kích73.74 Kb.
#185629
1   2   3   4   5   6   7   8   9
Cuộc đời tôn giả

TINH TẤN THEO LỜI PHẬT DẠY


Bây giờ, đôi bạn Upatissa và Kolita Mog-galla(na đang dẫn đầu hai trăm năm mươi môn đệ hướng về phía Trúc Lâm tinh xá (Veluvaana Viha(ra).
Khi ấy, Đức Phật đang thuyết pháp giữa hàng Tăng chúng. Ngài thấy đôi bạn từ xa đi tới, liền nói rằng:
“Này chư Tỳ-kheo! Hai người sắp đến kia tên là Kolita Moggalla(na và Upatissa, là hai nhà trí thức. Họ sẽ là những đại đệ tử ưu tú của Như Lai. Họ là một đôi bạn phước duyên song toàn”.
Lúc đến gần, Kolita Moggalla(na và Upa-tissa đồng kính cẩn lễ bái Đức Thế Tôn. Họ chắp đôi bàn tay nâng cao ngang trán và cúi lạy tận bàn chân Đức Phật, rồi cả hai cùng nói:
– “Lạy đấng Toàn giác! Xin Ngài cho phép chúng con gia nhập Phật giáo và được nhận lãnh đầy đủ phẩm hạnh xuất gia trong hàng Tăng chúng”.
Đức Thế Tôn liền phán rằng:
– “Hãy đến! Như Lai công bố quý vị sẽ là những Sa-môn, sẽ sống đời đạo đức thanh tịnh để chấm dứt phiền não.”
Những lời tuyên ngôn trên của Đức Phật chính là sự “Ban bố phẩm vị Tỳ-kheo” không những chỉ cho đôi bạn Kolita Moggalla(na và Upatissa, mà luôn cả cho những tùy tùng của họ nữa.
Và kể từ đó Upatissa được gọi là Sàriputta (Xá-lợi-phất) có nghĩa là người con trai của bà Sàri (Sàri được phiên âm là Xá-lợi, Putta được phiên âm là Phất. Vì Putta nghĩa là “con”, nên có khi Sàriputta được dịch là Xá-lợi tử). Sàri là tên của mẹ ngài. Còn Kolita Moggalla(na được gọi là Mahà Moggallàna (Đại Mục-kiền-liên) có nghĩa là con lớn của giòng họ Moggalla(na.
Sau khi tất cả đã được Đức Phật ban bố phép xuất gia đầy đủ, trên hai trăm năm mươi tân Tỳ-kheo còn được nghe Đức Thế Tôn thuyết cho một bài pháp có ý nghĩa thông giải những phép học căn bản, khiến tất cả đều đạt được đạo quả Nhập lưu (Sota(patti). Và sau đó chẳng bao lâu, họ đã đắc quả A-la-hán (Arahatta)
Riêng Sàriputta và Mahà Moggallàna kể từ ấy phát tâm ở nơi thanh vắng để tu tập. Lần này, đôi bạn trí thức tự tách rời mỗi người một ngả, không ở chung một chỗ như trước.
Sàriputta (Xá-lợi-phất) lưu ngụ trong vùng phụ cận thành Vương Xá, và ngày ngày tu thiền trong một hộc núi gọi là “Động heo” (có sách nói là Động gấu). Ở đó ngài cũng thuận đường đi khất thực và luôn tiện đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Mỗi lần Sàriputta (Xá-lợi-phất) nghe pháp của Phật về, ngài tự mình thanh tịnh quán xét, và tìm ra ý nghĩa sâu xa, thấu đáo. Ngài hành trì như thế đến mười bốn ngày mới đạt tới Thánh quả giải thoát (Arahatta: A-la-hán), một trạng thái tiêu diệt toàn bộ phiền não và trở thành Sa(vaka (Thanh-văn giác)
Còn Mahà Moggallàna thì không sử sách nào nói rõ tại sao ngài lại chọn nơi ẩn tu xa xôi tận rừng núi, tại ngôi làng Kalla Va(laputta, thuộc vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha). Ở đó, với một sự tinh tấn bất thối ngài luôn luôn giữ tâm trong pháp thiền, ngay cả trong lúc đi kinh hành hay trong những oai nghi khác.
Mặc dù vậy, ngài vẫn bị những cơn buồn ngủ nặng nề tràn ngập. ngài không muốn đầu hàng những hôn trầm này. Nhưng ngài vẫn bất lực, không thể giữ cho thân mình ngồi thẳng, và đầu vẫn gục xuống. Có những lúc ngài phải vận dụng toàn lực để mở rộng đôi mí mắt, không cho nó khép lại.
Đây là một trạng thái rất dễ hiểu. Bởi khí hậu vùng nhiệt đới oi bức, và bởi sau những năm dài du phương tầm đạo, Đại đức Mahà Moggallàna giờ đây thân thể phải mệt mỏi và những cơn buồn ngủ đến với ngài là một sự tự nhiên.
Nhưng Đức Thế Tôn, bằng đức tánh chăm sóc của một bậc thầy đến hàng đệ tử, Phật dù biết vậy, vẫn không ngừng theo dõi mọi sinh hoạt của Mahà Moggallàna. Đức Phật tuy ở xa, nhưng với nhãn lực siêu phàm Ngài đã thấy rõ những trở ngại tu tập của người tân môn đồ đó, nên dùng Phật lực hiện ra trước mặt Mahà Moggallàna.
Khi Mahà Moggallàna thấy Phật đang đứng trước mặt mình, một phần lớn sự buồn ngủ, sự mệt nhọc tự nhiên bị biến mất. Bây giờ Đức Thế Tôn mới hỏi ngài:
– Phải chăng Mahà Moggallàna đang ngủ gục?
– Bạch Thế Tôn! Đúng vậy!
Phật bèn dạy tám phần pháp giải trừ chướng ngại hôn trầm (buồn ngủ) như sau:
1- Này Mahà Moggallàna! Đừng nghĩ rằng có cơn buồn ngủ đang ở trong ông, rồi chú ý đến nó. Giữ tâm như thế cơn buồn ngủ sẽ biến mất.
2- Nếu làm như vậy mà hôn trầm không đi mất thì ông nên nhớ lại những lời dạy của Như Lai và suy gẫm. Khi ông nhớ đủ, rồi soi xét ý nghĩa giải thoát thì hôn trầm sẽ biến mất.
3- Nhưng nếu nhớ đủ Phật ngôn như thế mà hôn trầm không biến mất, thì ông nên lập lại sự phán xét ấy một cách chi tiết hơn về các pháp hữu vi của Như Lai đã dạy, hôn trầm sẽ theo đó mà biến mất.
4- Nhưng nếu hôn trầm cũng không biến mất thì ông đem tâm ý phổ vào xúc giác, cọ mạnh đôi vành tai và xoa bóp tứ chi thì hôn trầm (hay cơn buồn ngủ) sẽ biến mất.
5- Khi làm như vậy mà hôn trầm cũng không đi mất thì ông nên đổi oai nghi, để tâm và ý duyên vào động tác, như đứng dậy đi rửa mặt bằng nước mát, rồi phóng tầm mắt quan sát tất cả mười phương tám hướng. Đoạn ông nhìn lên bầu trời, quan sát mọi tinh tú, không gian, thì hôn trầm sẽ biến mất.
6- Nhưng nếu làm như thế mà hôn trầm vẫn không biến mất thì ông nên chăm chú đến ánh sáng. Nếu ấy là ban ngày thì lấy ánh sáng mặt trời làm đề mục. Ban đêm thì lấy ánh sáng tinh tú (trăng, sao) làm đề mục. Đây là cách làm cho tinh thần xán lạn không bị u ám, hôn trầm sẽ biến mất.
7- Nhưng nếu dùng ánh sáng bên ngoài mà hôn trầm không biến mất thì ông quay lại soi xét nội tâm. Lấy nội tâm làm đề mục và cố gắng xem kỹ từng ý nghĩa, giống như lấy ánh sáng tinh thần để rọi thẳng vào tâm thức để thấy rõ từng chập tư duy khác nhau, đừng để một thứ tư duy nào hiện lên trong đầu ông mà ông không biết, đồng thời ông đứng dậy đi kinh hành. Làm thế hôn trầm sẽ biến mất.
8- Như thế mà hôn trầm vẫn không biến mất thì ông có thể nằm xuống, biết rõ mình đang nằm như một con sư tử: vai mặt ở dưới, vai trái ở trên, hai chân duỗi thẳng, kê lên nhau, giữ trong tâm một ý niệm mạnh mẽ là: Ta phải biết mình toàn thân đang nằm như thế nào? Nếu thân thể ta mệt mỏi thì ta để cho nghỉ ngơi, nhưng ta không say đắm trong sự nghỉ ngơi ấy, thì hôn trầm sẽ biến mất.
– Này Mahà Moggallàna! Ông nên tinh tấn hành trì tám phương pháp này! (Theo Anguttara Nikàya VII 58: Tăng Nhất A Hàm số 58).
Trên đây, Đức Phật đã hướng dẫn ngài Mahà Moggallàna một phương pháp tiệm tiến để giải trừ sự hôn trầm. Điểm quan trọng nhất và hữu hiệu nhất là đừng để tâm mình bị lôi kéo bởi ý nghĩ cho rằng cơn buồn ngủ (hay hôn trầm) đang xảy đến và tiếp tục. Dĩ nhiên điều này rất khó làm. Nếu hành giả không thành công, họ có thể tập trung nghị lực, suy xét những lời Phật dạy, hoặc tự đọc thuộc lòng những lời dạy ấy. Khi giải pháp hướng dẫn trí nhớ (tinh thần) không đem lại kết quả hành giả có thể quay sang giải pháp tác động thân thể như kéo mạnh vành tai, lắc lư thân mình, chuyển vận huyết mạch bằng cách xoa bóp tứ chi, rửa mặt bằng nước lạnh v.v... Nếu vào ban đêm họ nên ngước mặt lên bầu trời, hướng sự chú ý vào vô biên thăm thẳm của vũ trụ, không gian đầy tinh tú. Ban ngày thì nhìn ánh sáng rực rỡ của vầng thái dương v.v... Những tác động ấy vừa có thể kích thích giác quan (nhất là xúc giác và thị giác) vừa có thể đưa tâm ý câu hữu với mọi đối tượng thiên nhiên bên ngoài.
Làm tất cả những điều ấy có thể giúp hành giả vượt qua cơn buồn ngủ, như trong Theraga(tha( (Tôn Túc Kệ Ngôn) có lời lưu lại của một Thánh Tăng như sau:
Chớ lùi bước vì hôn trầm mê ngủ

tải về 73.74 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương