ĐẠO ĐỨc học phật giáO Ở việt nam và HẢi ngoại I. TÌNh hình nghiên cứU ĐẠO ĐỨc học phật giáO Ở việt nam đạo đức học Phật giáo



tải về 58.74 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu14.11.2017
Kích58.74 Kb.
#1738

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ HẢI NGOẠI

I. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM

1. Đạo đức học Phật giáo là cuốn sách mở đầu cho việc nghiên cứu đạo đức Phật giáo do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành 1995, là thành quả của hội thảo “Ðạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” năm 1993, gồm 34 bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Phật học lẫn thế học. Vì đây là cuốn sách được kết tập từ hội thảo đầu tiên liên hệ đến chủ đề đạo đức, nên chưa được các nhà nghiên cứu toàn diện các vấn đề... Tuy nhiên, cuốn sách này cũng khơi gợi cho người đọc một cái nhìn về đạo đức Phật giáo, như bài của Giáo sư Minh Chi: “Một số đặc sắc của đạo đức Phật giáo”. Qua bài tham luận trên, Giáo sư đã đưa ra 3 vấn đề: Tính dứt khoát, minh bạch trong sự phân chia thiện ác; tính liên tục nhất quán của nội dung đạo đức Phật giáo; đạo đức Phật giáo dựa trên quy luật nhân quả nghiệp báo. Bài nghiên cứu này nếu được dịch sang tiếng Anh là một đóng góp đối với nền triết học đạo đức Phật giáo. Bài khảo cứu “Đạo đức học của giải thoát” của cư sĩ Trần Tuấn Mẫn nói đến tính cứu cánh của đạo đức, mà một số nhà nghiên cứu đạo đức viết sách bằng tiếng Anh đã bàn đến; vì đạo đức của Phật giáo tối hậu là đưa đến giải thoát, vượt thoát nhị biên đối đãi thiện ác, tốt xấu. “Đạo đức người tại gia thời sơ kỳ Đại thừa theo quan điểm của Luận sư Long Thọ” của tác giả Pasadika là một tập hợp những đoạn trích liên hệ đến đạo đức của người cư sĩ, đặc biệt là vị lãnh đạo một đất nước. Bài mang tính khá riêng, có công sưu tầm các đoạn trích trong các sách của ngài Long Thọ, giúp cho người đọc một cái nhìn tổng quan về Bồ-tát Long Thọ liên hệ đến đạo đức chính trị và những vấn đề liên quan đến cư sĩ tại gia và phụ nữ.

Nhiều bài khác chỉ trình bày đến sự ảnh hưởng của nền đạo đức Phật giáo đối với dân tộc ngang qua nền văn học nước nhà. Số lượng bài trong nhóm này nhiều nhất. Một vài bài chưa phản ánh đúng với các vấn đề liên hệ đến đạo đức Phật giáo. Tuy nhiên, đó là tác phẩm đầu tiên trong nền học thuật Phật giáo về chủ đề đạo đức, nó có giá trị đóng góp nhất định.

2. Bộ sách (3 tập) có giá trị trong lĩnh vực triển khai các phẩm chất đạo đức đáp ứng cho cả hai đối tượng: cư sĩ, xuất gia, và trong các lãnh vực đạo đức ứng dụng do Thích Chân Quang soạn dạy, Tâm lý đạo đức (Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2004). Tuy nhiên, cuốn sách này thể hiện quan điểm của một người tôn giáo hơn là đánh giá, nghiên cứu dưới góc độ của một người nghiên cứu khách quan. Đôi chỗ thể hiện sự nhận thức chưa toàn diện và đúng đắn, nhất là những phần liên hệ đến thiền định.

Cụ thể, đơn cử bài “Hiểu và tôn kính Phật (bài 2): tác giả nhấn mạnh đến (i) tầm quan trọng của việc lễ bái và cho rằng hiểu và tôn kính Phật là đạo đức căn bản của tất cả đạo đức khác. Bài viết mang màu sắc tín ngưỡng đạo Phật hơn là một lý luận mang tính phổ quát, áp dụng cho mọi đối tượng trong các truyền thống tôn giáo. Người viết cho rằng, đạo đức căn bản của một người là sự tự trọng, hay còn gọi là tự biết xấu hổ và biết sợ hãi tội lỗi, mà thuật ngữ nhà Phật gọi là “tàm” và “quý”. Từ nền tảng tàm và quý này, hành giả có thể phát triển các hạnh lành khác và dần dần thành tựu phạm hạnh và đạt đến Niết-bàn.

(ii) Nhận định thiếu niềm tin về lời tuyên bố của đức Phật về quả vị tu chứng: “Có thuyết cho rằng vị Tu đà hoàn sẽ tái sanh bảy lần rồi mới chứng Niết bàn; nhưng thật ra không chắc như thế”. (tập 1, bài 2, tr. 54). Cách trình bày lập lờ như vậy làm cho người đọc sơ cơ (chưa hiểu sâu Phật pháp) một sự hoài nghi về quả vị tu chứng trong kinh Phật.

(iii) Thông tin lịch sử thiếu chính xác: cho rằng Thái tử theo vua cha làm lễ hạ điền lúc 12 tuổi (tr. 57 & 59).

(iv) Sự lý giải của tác giả từ Sơ thiền đến Tứ thiền hầu như đều sai. Cho rằng “Sơ thiền là mức thiền chứng đầu tiên. Nơi mức thiền này, tâm tự động giữ lấy chính nó trong định. Miễn là hành giả đừng tác ý xuất định thì tâm cứ tự động sáng tỏ, thanh tịnh, rỗng rang. Những ý niệm tế về đạo lý vẫn còn xuất hiện, nhưng sẽ tự động bị sức tỉnh giác của tâm trừ diệt.... Nhị thiền tắt hẳn vọng tưởng, tâm tự tại phủ trùm trời đất, có một số thần thông vừa phải, kiến giải lanh lợi, .... Tam thiền là cả một thế giới khác hẳn. Người chứng Tam thiền thành tựu thần thông quảng đại,...có thể đi xuyên qua tường vách như không khí... Tứ thiền là tận cùng của tâm thức. Nơi tứ thiền này, Phật đã khởi tác ý nhớ lại vô lượng kiếp quá khứ của mình, thành tựu túc mạng minh...” (tr. 66-68).

Tuy nhiên, tác phẩm cũng đã đóng góp cho kho tàng văn học đạo đức Phật giáo nhất định, nhất là trong giai đoạn sách về các vấn đề đạo đức chưa được nhiều.

3. Cuốn sách thứ ba “Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người” do Hoà thượng Thích Minh Châu trước tác, là tác phẩm gồm 29 bài viết nghiên cứu rất có giá trị được biên tập lại thành một tổng luận. Tự thân tựa của tác phẩm nói lên mối liên hệ mật thiết giữa người có đạo đức và chất lượng cuộc sống. Người sống đạo đức chắc chắn đem đến quả báo lợi ích lớn là sống hạnh phúc. Trong bài đầu tiên, Hòa thượng đã viết: "Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc cho con người, đề cao giá trị con người; một nếp sống trong sạch, thanh tịnh lành mạnh, loại bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp; một nếp sống đi đôi với lạc, không đi đôi với khổ, giải thoát các triền phược, các dục trưởng dưỡng; một nếp sống trong ấy trí tuệ đóng vai trò then chốt, sống hài hòa với thiên nhiên, với con người; một nếp sống vô ngã vị tha". Hai mươi tám (28) bài tiếp theo là sự triển khai, giải thích, dẫn chứng bổ sung cho ý nghĩa trên của Đạo đức học Phật giáo theo nhận định trên của Hòa thượng.

4. Tác phẩm Hiểu về trái tim (Nghệ thuật sống hạnh phúc) của Minh Niệm do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2011 là một tác phẩm đã ảnh hưởng sâu sắc đến Tăng Ni, Phật tử và quần chúng trí thức. Đó là một tác phẩm gồm 50 đề tài trình bày các trạng thái tâm lý tiêu cực thông thường của một người và những trạng thái tâm lý tích cực sau khi đã tu tập chuyển hóa. Một tác phẩm có thể được xem là vượt ranh giới tôn giáo và giai tầng xã hội.

5. Tác phẩm Bảo hiểm tâm của Minh Thạnh, nằm trong Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay được Nhà xuất bản Phương Đông ấn hành năm 2011 là một tác phẩm gồm 44 đề tài, trình bày các trạng thái tâm thức cũng giống như tác phẩm Hiểu về trái tim, nhưng dựa theo các khái niệm có sẵn trong Vi diệu pháp và đặt mới lại tiêu đề và viết với dạng trải nghiệm và ứng dụng thực tế.

6. Gần đây, tác phẩm Bio-ethics (Đạo đức sinh học) của Damien Keown1 được Nguyễn Thanh Vân dịch sang Việt ngữ (Hoàng Hưng hiệu đính) với tựa đề Đạo đức học Phật giáo, do Nxb. Trí Thức ấn hành năm 2013. Cuốn sách bao gồm 8 chương. Ngoài 2 chương đầu: Giới thiệu về đạo đức học Phật giáo, và so sánh đạo đức học phương Đông và phương Tây, bốn chương còn lại chủ yếu xoay quanh các vấn đề đạo đức hiện đại mà các nhà nghiên cứu đạo đức học Phật giáo dè dặt khi đề cập đến: Thú vật và môi trường (chương 3), Tính dục (chương 4), Chiến tranh và nạn khủng bố (chương 5), Vấn đề phá thai (chương 6), Tự tử và cái chết tự nguyện (chương 7), Sinh sản vô tính (chương 8).

Riêng đối với vấn đề giới luật, tại Việt Nam và nước ngoài có nhiều tác phẩm dành cho cư sĩ và tu sĩ được chư Tôn đức Tăng Ni đặc biệt quan tâm. Tài liệu nghiên cứu luật học bằng tiếng Hoa rất phong phú, ngôn ngữ lại gần với tiếng Việt nên dễ dịch, nên những ấn phẩm bằng Việt ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hoa rất nhiều. Ví dụ, Giới luật học cương yếu của Hòa thượng Thánh Nghiêm hoặc là bộ Giới luật thiết yếu hội tập (5 tập) do Thượng toạ Thích Nhựt Chiếu biên dịch.


II. ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO Ở NƯỚC NGOÀI

Đạo đức học Phật giáo ở hải ngoại, được các nhà nghiên cứu, học giả Phật học bắt đầu nghiên cứu từ năm 1960 và cho đến ngày nay. Nó trở thành một mảng Phật học được các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Mười nhóm chủ đề sau được các học giả hàng đầu thế giới về đạo đức học Phật giáo quan tâm, và được Damien Keown và Charles S. Prebish, webmaster của trang Tạp chí Đạo đức học Phật giáo (Journal of Buddhist Ethics) được thể hiện internet từ năm trước 2000 và trở thành một trang đặc biệt nghiên cứu về đạo đức Phật giáo. Sau này những cộng tác viên đã cùng cộng tác biên tập, nên hai ông chuyển nhượng việc biên tập lại cho ông Daniel Cozort và nhiều người khác trên http://blogs.dickinson.edu/. Tạp chí khảo sát mười chủ đề sau đây: 1. Luật học và triết học về luật (Vinaya and Jurisprudence); 2. Đạo đức triết học (Philosophical ethics); 3. Đạo đức và Tâm lý (Ethics and Psychology); 4. Sinh thái và môi trường (Ecology and Environment); 5. Triết học chính trị xã hội (Social and Political philosophy); 6. Đạo đức và Nhân loại học (Ethics and Anthropology); 7. Đạo đức y khoa (Medical Ethics); 8. Nhân quyền (Human Rights); 9. Đạo đức giữa các nền văn hoá (Cross-Cultural Ethics); 10. Đối thoại liên tôn về đạo đức (Interfaith Dialogue on Ethics). Mười chủ đề này lúc đầu được được sắp xếp theo cấu trúc như trên. Sau khi Daniel Cozort thay thế chức năng của Damien Keown làm Tổng biên tập (General Editor) đã thay đổi lại cấu trúc như phía dưới. Tạp chí này ngoài việc xuất bản các ấn phẩm như một tạp chí truyền thống, còn lưu giữ toàn bộ các bài nghiên cứu trên diễn đàn để các nhà nghiên cứu rộng đường nghiên cứu.


Sau đây là nội dung mười chủ đề (Subjects) được các nhà Đạo đức học Phật giáo khảo cứu:

1. Luật học và triết học về luật (Vinaya và Jurisprudence)

Nghiên cứu tất cả khía cạnh Giới luật của Tăng sĩ Phật giáo (Research into all aspects of Buddhist monastic discipline); nguồn gốc và sự phát triển của Giới luật (the origins and development of the Vinaya); phân loại (its categories), cấu trúc (structure), và tổ chức (and organization); quy định về các vấn đề cụ thể (its provisions on specific matters); nghiên cứu so sánh các bộ Luật của các trường phái (comparative studies of the Vinayas of different schools); các nguyên tắc luật học và luật định (legal and jurisprudential principles).



2. Đạo đức y khoa (Medical Ethics)

Các vấn đề đạo đức học trong lĩnh vực y học hiện đại và công nghệ sinh học (Issues in contemporary medical ethics and bio-technology); phá thai (abortion), nghiên cứu phôi (embryo research), công nghệ sinh sản (reproductive technologies) (IVF2, AID v.v…), và kỹ thuật di truyền (and genetic engineering); bệnh AIDS (AIDS); cấy ghép nội tạng (organ transplants); đồng thuận có sự am tường (informed consent); bệnh nhân hôn mê và tình trạng sống thực vật dai dẳng (coma patients and the persistent vegetative state); hình sự và pháp luật y tế (criminal and medical law); tự tử (suicide); xác định cái chết (defining death); chăm sóc giai đoạn cuối và trợ tử (terminal care and euthanasia); tình trạng thuốc men và chính sách y tế (state medicine and health policy).


3. Đạo đức Triết học (Philosophical Ethics)

Các lý thuyết về đạo đức học và đạo đức học siêu hình (Theories of ethics and meta-ethics), quy tắc đạo đức (codes of ethics); nghĩa vụ đạo đức (moral obligations); chủ nghĩa vị tha và từ bi (altruism and compassion); đức (virtues); các kiểu mẫu biện minh (patterns of justification); các học thuyết về chủ nghĩa cứu cánh (teleological), chủ nghĩa nhiệm vụ (deontological), và chủ nghĩa hệ quả (and consequentialist theories); đạo đức tình huống (situation ethics); chất lượng cuộc sống (the quality of life); giá trị của cuộc sống (the value of life); nhân vị (personhood); đạo đức học và chân thiện của con người (ethics and human good); quy luật tự nhiên (natural law); tình trạng chuẩn mực đạo đức (the status of moral norms); đạo đức tuyệt đối (moral absolutes); phương tiện thiện xảo (skillful mean).



4. Nhân quyền (Human Rights)

Giáo lý căn bản của Phật giáo về nhân quyền và các quy định (The Buddhist basis for a doctrine of human rights and its provisions); khái niệm về "quyền" trong Phật giáo (the concept of “rights” in Buddhism); quyền cơ bản của cá nhân (fundamental rights of individuals); quyền tự chủ và tự quyết (autonomy and self-determination); phẩm giá con người (human dignity); bình đẳng (equality); công lý (justice); tự do (freedom); riêng tư (privacy); bảo vệ quyền lợi (the protection of rights); quyền phụ nữ (women’s rights); bộ luật quốc tế (international codes), các hiến chương và tuyên ngôn (charters and declarations); vi phạm nhân quyền trong văn hóa Phật giáo (human rights abuses in Buddhist cultures).



5. Đạo đức và Tâm lý học (Ethics and Psychology)

Mối quan hệ giữa tâm lý và hành vi đạo đức (The relationship between psychology and moral conduct); tâm lý học trong việc đánh giá đạo đức (the psychology of moral judgments); việc phân tích các thuật ngữ về đạo đức học trong Vi diệu pháp và những phạm trù khác (the analysis of ethical terminology in the Abhidharma and elsewhere); các khái niệm về động cơ, mục đích, ý chí, đức độ, và tính cách (the concepts of motive, intention, will, virtue, and character); cảm xúc (the emotions); mong muốn (desire); yêu (love); sự lựa chọn đạo đức và tự quyết (moral choice and self-determination); các vấn đề liên quan đến tâm lý học triết học (related issues in philosophical psycholog).



6. Sinh thái và Môi trường (Ecology and the Environment)

Trách nhiệm và nghĩa vụ đối với thiên nhiên (Responsibilities and obligations toward nature); quyền động vật (animal rights); tình trạng đạo đức của động vật và cuộc sống vô tri (the moral status of animals and non-sentient life); thử nghiệm trên động vật (experimentation on animals); triết học về sinh vật học (philosophy of biology); tiến hóa (evolution); thế hệ tương lai (future generations); mối quan hệ giữa Phật giáo và những triết lý về môi trường (the relationship between Buddhist and other environmental philosophies).



7. Triết học Chính trị Xã hội (Social and Political Philosophy)

Bản vẽ của Phật giáo về một xã hội công bằng (The Buddhist blueprint for a just society); bản chất và vai trò của nhà nước (the nature and role of the state); quyền và nghĩa vụ của chính phủ và công dân (rights and duties of governments and citizens); dân chủ và hệ thống chính trị luân phiên (democracy and alternative political systems); Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản (Socialism, Communism, and Capitalism); các quy định về xã hội, giáo dục và phúc lợi xã hội (social, educational, and welfare provisions); Giới luật trong nhà Phật (Buddhist law); pháp luật và đạo đức (law and ethics); Phật giáo và chiến tranh (Buddhism and war); chiến tranh hạt nhân (nuclear warfare); cách mạng (revolution); án tử hình (capital punishment); giết chính đáng (justifiable killing); chủ nghĩa hòa bình và bất bạo động (pacifism and ahimsa).



8. Đạo đức với các nền văn hóa (Cross-cultural Ethics)

Phật giáo và so sánh đạo đức tôn giáo (Buddhism and comparative religious ethics); phương pháp luận cho việc nghiên cứu về đạo đức học Phật giáo (methodologies for the study of Buddhist ethics).



9. Đạo đức và Nhân loại học (Ethics and Anthropology)

Ứng dụng đạo đức trong các xã hội Phật giáo (Ethics in practice in Buddhist societies); đạo đức và các tập tục xã hội (ethics and social mores); ảnh hưởng của phong tục bản địa và thái độ đối với những lời dạy đạo đức (the influence of indigenous customs and attitudes on moral teachings); nghi lễ của vùng miền (rites de passage), biến đổi trong hôn nhân và những phong tục khác (variation in marriage and other customs); truyền thống lớn và truyền thống nhỏ (the great tradition and the little tradition); thuyết tương đối trong lĩnh vực đạo đức (moral relativism); tính đa nguyên trong văn hóa (cultural pluralism).



10. Đối thoại liên tôn về Đạo đức học (Interfaith Dialogue on Ethics)

Những điểm tương đồng và dị biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác trên thế giới về lĩnh vực đạo đức học (Similarities and differences between Buddhism and other world religions in the field of ethics); nền tảng đối thoại (the basis for dialogue); đạo đức học và siêu hình học (ethics and metaphysics); sớ giải văn bản cổ và sự tìm ra nguồn gốc của các chuẩn mực đạo đức từ kinh điển (hermeneutics and the derivation of moral norms from scripture).


III. MỘT SỐ KINH LIÊN HỆ TRỰC TIẾP ĐẾN NỘI DUNG BÀI HỌC
1. Trường Bộ Kinh

1) Phần giới trong 13 kinh đầu tiên của Trường Bộ: Trình bày các tiểu giới, trung giới và đại giới mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn cần phải thọ trì.

2) Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (số 27): là bài kinh duy nhất trong Tam tạng Thánh điển Nguyên thuỷ Phật giáo nói về sự hình thành thế giới và con người. Bài kinh xây dựng quan điểm đạo đức học Phật giáo trên nền tảng bình đẳng của con người. Do đó, bài này có thể đặt tiêu đề là “Quan điểm về bình đẳng trong đạo đức học Phật giáo”.

3) Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt (số 31), tương đương với kinh Thiện Sanh (số 16) trong Trường A Hàm, liệt kê đầy đủ các nguyên tắc đạo đức cá nhân, nhiệm vụ và cách ứng xử trong các mối quan hệ mà một người cư sĩ tại gia cần phải hoàn thiện. Đây là bài kinh liệt kê đầy đủ nhất về các nguyên tắc sống đạo đức của người cư sĩ tại gia được tìm thấy trong toàn bộ Thánh điển Phật giáo. Ngài Maha Thera Narada cho rằng đây là bộ luật đạo đức dành cho người cư sĩ tại gia.



2. Trung Bộ Kinh

Kinh Trung bộ gồm 152 kinh. Mỗi bài kinh đều có ít nhiều liên hệ đến Giới (đạo đức). Có 26 bài kinh sau đây được xem là bài kinh căn bản liên hệ đến nội dung đạo đức mà chúng ta cần khảo cứu: Kinh Tất cả lậu hoặc (số 2), Kinh không uế nhiễm (số 5), Kinh Đoạn Giảm (số 8), Kinh Chánh tri kiến (số 9), Kinh Tư Lượng (số 15), Kinh An Trú Tầm (số 20), Kinh Ví Dụ Cái Cưa (số 21), Đại Kinh Xóm Ngựa (số 39), Tiểu kinh Xóm Ngựa (số 40), Kinh Saleyya (số 41), Kinh Kosambi (số 48), Kinh Upali (56), Kinh Không gì Chuyển hướng (60), Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala (số 61), Kinh Baddali (số 65), Kinh Catuma (số 67), Kinh Gulisani (số 69), Kinh Samannamandika (số 78), Kinh Bàhitika (số 88), Kinh Subha (số 99), Kinh Làng Sama (104), Kinh Gopaka Moggalana (số 108), Tiểu Kinh Mãn Nguyệt (số 110), Kinh Chân Nhân (số 113), Kinh hành trì và không nên hành trì (số 114), Đại kinh bốn mươi (số 117), Kinh Phù Di (số 126), Kinh Hiền Ngu (số 129), Tiểu kinh Nghiệp Phân biệt (135), Đại kinh Nghiệp Phân biệt (136), Kinh Vô Tránh Phân Biệt (số 139).

3. Một Số Kinh Khác

Một số kinh trong Tiểu bộ kinh, đặc biệt là Kinh Bại Vong, Kinh Hạnh Phúc trong Kinh Tập. Hầu hết các bài kinh ngắn trong Tăng Chi đều nói đến các phạm trù đạo đức như thiện, bất thiện.. Kinh Pháp Cú là bản kinh gồm 423 câu tinh yếu được trích dẫn từ những lời dạy của Đức Phật trong suốt 45 năm hoằng pháp. Nội dung chuyên chở lời dạy của Đức Phật về cách sống, cách tu tập liên hệ đến đời sống phạm hạnh trong sạch.



4. Bài Kinh tiêu biểu nhất về đạo đức Phật giáo

Vào đêm rằm tháng Megha (tháng Giêng Việt Nam) sau hạ thứ nhất, tại thành Vương Xá (Rājagaha), đức Thế Tôn thành lập Tăng đoàn, Ngài dạy Ovāda pāṭimokkha (giáo giới giải thoát) là: "Sabbapāpassa akaraṇaṃ // Kusalassa upasampadā //Sacittapariyopadaṃ //Etaṃ buddhāna sāsanaṃ".

Nghĩa là: Không làm các điều ác // Hãy làm các điều lành

Giữ tâm ý trong sạch // Chính lời chư Phật dạy.



(Kinh Pháp Cú, Phẩm 14: Phật-đà, 183)

Bản dịch chữ Hán:

Chư ác mạc tác // Chúng thiện phụng hành

Tự tịnh kỳ ý // Thị chư Phật giáo.


Câu chuyện quan Thị lang Bạch Cư Dị (772 - 846) – một nhà thơ nổi danh cuối đời Đường, và thiền sư Ô Sào là một minh chứng cho tinh yếu của bài kệ này.
IV. SÁCH LIÊN HỆ ĐẾN CHỦ ĐỀ ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC VIẾT & DỊCH TỪ TIẾNG ANH HOẶC TIẾNG HOA (Sắp theo năm xuất bản)

Nhiều tác giả, Đạo đức học Phật giáo,TP.HCM, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1995.

Tịch Thiên (Trí Hải dịch Việt), Nhập Bồ-tát hạnh, TP.HCM, Nhà xuất bản TP. HCM, 1999. Hoặc xem bản dịch của

Hòa thượng Thánh Nghiêm (Tuệ Đăng dịch), Giới luật học cương yếu, TP. HCM, Nhà xuất bản TP. HCM, 2000.

Thích Minh Châu, Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người, Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2002.

Thích Nhựt Chiếu (dịch), Trình bày khái quát về tông luật, sự thành lập và phát triển (tập 1), Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2003.

Thích Chân Quang, Tâm lý đạo đức, Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2004.

Tỳ-kheo Chánh Minh, Luận giải chánh tri kiến, Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2006.

Tỳ-kheo Chánh Minh, Tâm vấn đáp, Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2006.

Đại sư Liên Trì (Chơn An dịch), Gương sáng người xuất gia, TP. HCM, Nhà xuất bản Phương Đông, 2006.

Thích Mãn Giác, Đạo đức học Đông phương, TP. HCM, Nhà xuất bản văn hóa Sài Gòn, 2007.

Acariya Dhammapala, Pháp độ, Tỳ-khưu Bodhi dịch sang Anh ngữ và Tathāpaññā (Như Tuệ) dịch sang Việt ngữ, TK. Chánh Minh hiệu đính. Hà Nội, NXB Tôn giáo, 2007.

Basnagoda Rahula, Lời dạy của Đức Phật về sự thành tựu trong gia đình, nơi công sở, ngoài xã hội, Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2008.

Đức Đạt-lai Lạt-ma (Hoang Phong chuyển ngữ), Những lời khuyên tâm huyết, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2009.

Đại sư Tinh Vân (Thích Đạt Ma Chí Hải dịch), Mười đức tính cần có của người xuất gia, Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2009.

Vansarakkhita Maha Thera (Trưởng lão Hộ Tông), Thập pháp Ba-la-mật, TP.HCM, Nhà xuất bản Phương Đông, 2010.

Nhựt Chiếu (biên dịch), Giới luật thiết yếu hội tập (7 tập), Hà Nội, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2008-2013.

Chan Khoon San (Lê Kim Kha dịch), Giáo trình Phật học (Buddhism Course), TP.HCM, Nxb. Phương Đông, 2011.

Minh Niệm, Hiểu về trái tim, TP.HCM, Nhà xuất bản Trẻ, 2011. Sách đã được đọc và phổ biến rộng rãi trên trang các trang mạng.

Minh Thạnh, Bảo hiểm tâm, TP.HCM, Nxb. Phương Đông, 2011.

Pa-Auk Tawya Sayadaw (TK. Pháp Thông dịch), Vận hành của nghiệp (2 tập), Hà Nội, Nxb. Tôn giáo xuất bản, 2011.

Ledi Sayadaw & nhiều tác giả khác (TK. Pháp Thông dịch), Chánh kiến và nghiệp, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2011.

Mehm Tin Mon (Tỳ-khưu Giác Nguyên dịch), Triết học A-tỳ-đàm của Phật giáo Truyền thống (Buddha Abhidhamma – Ultimate Science), TP. HCM, Nhà xuất bản Hông Đức, 2013.

Peggy Morgan Clive Lawton (Thích Minh Thành Ph. Dh chuyển ngữ), Đạo đức đa tôn giáo (tập 1), TP. HCM, Nxb. Phương Đông, 2013.

Joseph Goldstein & Jack Kornfield, Thiền quán – Con đường của tuệ giác, TP.HCM, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2013.

Thudten Chodron, Thích Minh Thành, Thuần hóa tâm hồn (Taming the monkey mind), TP.HCM, Nhà xuất bản TP.HCM. Sách đã được đăng trên mạng www.daophatkhatsi.vn và nhiều trang mạng khác.

Hòa thượng Janakabhivamsa, U Ko Lay dịch sang Anh ngữ, Cư sĩ Thiện Nhựt dịch sang Việt ngữ, Vi diệu pháp nhựt dụng, đăng trên trang nhà Buddhasasana.

Tỳ-khưu Giác Chánh, Vi diệu pháp giảng giải (Ban Hoằng pháp Pháp quốc tái bản). Đăng trên trang nhà Buddhasasana.

V. SÁCH ĐẠO ĐỨC HỌC PHỔ THÔNG

Trần Đức Huynh và Trần Văn Hiến Minh, Đạo đức học, Sài Gòn, Tủ sách Ra khơi, 1968.

Cao Văn Luận, Đạo đức học triết học đại cương, in lần 2, 1960.

Trần Hậu Kiêm (chủ biên) Hỏi đáp về Đạo đức học, Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1995.



VI. CÁC SÁCH ĐẠO ĐỨC DO CÁC HỌC GIẢ NƯỚC NGOÀI TRƯỚC TÁC

Sau đây là những tác phẩm và tác giả tiêu biểu được sắp theo năm xuất bản, nhằm giới thiệu bức tranh tổng thể theo quá trình phat triển môn đạo đức học Phật giáo trên các quốc gia.

Nārada, Mahā Thera (tr.), Everyman's Ethics (Kandy: Buddhist Publication Society, 1959, 1966, 1979, 1985).

King, L. Winston, In the Hope of Nibbana: Thera Buddhist Ethics (America: The Open Court Publishing Company, 1964).

Jayatilleke, K.N., Ethics in Buddhist Perspective (Kandy: Buddhist Publication Society, 1972, 1984). The Wheel Publications No. 175 / 176.

Horner, I.B., The Early Buddhist Theory of Man Perfected (Delhi: Oriental Reprint, 1979).

Misra, G. S. P., Development of Buddhist Ethics (Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers, 1984, 1995).

Dharmasiri, G., Fundamentals of Buddhist Ethics (Singapore: Buddhist Research Society, 1986).

Tachibana, S., The Ethics of Buddhism (Delhi: Cosmo Publications, 1986).

Saddhatissa, Hammalawa, Buddhist Ethics - The Path to Nirvana (London: Wisdom Publications, 1987).

Keown, Damien V.; Prebish, S. Charles; Husted, Wayne R. (ed.), Buddhism and Human Rights (Great Britain: Curzon Press, 1988).

Keown, Damien, The Nature of Buddhist Ethics (London: Macmillian, 1992).

Vyanjara, Theravāda Buddhist Ethics with Special Reference to Visudhimagga (Calcutta: Punthi Pustak, 1992).

Payutto, P. A. Bhikkhu, Good, Evil and Beyond Kamma in the Buddha’s Teaching (Bangkok: Buddhadhamma Foundation Publications, 1993).

Ratnapala, Nandasena, Crime and Punishment in the Buddhist Tradition (New Delhi: K.M. Rai Mittal for Mittal Publications, 1993).

Thanissaro, Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code (USA: Library of Congress Cataloging-in-Publication Data Pending,1994, 1996).

Wei-hsun Fu, Charles, & A. Wawrytko, Sandra, Buddhist Behavioral Codes and the Modern World (London: Greenwood Press, 1994).

Kalupahana, David J., Ethics in Early Buddhism (Honolulu: Library of Congress Cataloging-in-Publication Data, 1995).

Keown, Damien, Buddhism and Bio-ethics (Great Britain: St. Martin Press, 1995).

Hindery, Roderich, Comparative Ethics in Hindu and Buddhist Traditions (Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited, 1996).

Trần Hoàn Trương, A Study in the Ethics of Early Buddhism (Toronto, 1996).

Keown, Damien (ed.) Buddhism and Abortion (London: Macmillan Press Ltd, 1998).

Helga Kuhse and Peter Singer, Bioethics – An Anthology (USA, UK, Australia: Blackwell Publishing, 2000, 2001, 2002, 2003 (twice), 2004 (twice). 600 pages.

Keown, Damien (ed.), Contemporary Buddhist Ethics (Great Britain: Curzon Press, 2000).

Harvey, Peter, An Introduction to Buddhist Ethics: Foundations, Values and Issues (Cambridge: Cambridge University Press, 2000).

Buddhist Virtues in Socio-Economic Development (ICDV) – The 8th International Buddhist Conference on the United Nations Day of Vesak Celebrations (12-14 May 2011, Thailand).3

His Holiness the Dalai Lama, Beyond Religion (Ethics for a Whole World), (New Delhi, Harper Collins Publishers, 2012).



1 Damien Keown là giáo sư danh dự về đạo đức học Phật giáo của Đại học Goldsmiths, London. Những nghiên cứu của ông tập trung vào các vấn đề đạo đức hiện đại từ góc nhìn phật giáo. Ông là đồng sáng lập Tạp chí Đạo đức học Phật giáo (The Journal of Buddhist Ethics) và là tác giả của hai cuốn sách thuộc hàng bán chạy nhất (best-selling): Phật giáo (Buddhism: A Very Short Introduction) và Đạo đức học Phật giáo (Buddhist Ethics: A Very Short Introduction). Cả hai cuốn sách đều thuộc tủ sách Dẫn nhập của Đại học Oxford. Ngoài ra, ông còn viết nhiều tác phẩm liên hệ chủ đề đạo đức như được giới thiệu trong bản mục lục.

2 Thụ tinh trong ống nghiệm.

3 Gồm bốn chủ đề: Buddhist Leadership and Socio-Economic Development, Building a Harmonious Society, Environmnental Preservation and Restoration, Wisdom for Awakening Society.



Каталог: application -> uploads -> Daotaotuxa -> Khoa3 -> HOC%20KY%205%20-%20KHOA%20X%20-%20TU%20XA -> DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> Các tiêu chí ĐỂ ĐÁnh giá VỀ TỘI (PĀPA) I. Khái niệM
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> ĐỘng cơ (Cetanā) Định nghĩa
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> Khoa triết học phật giáo khoa hoằng pháp khoa đÀo tạo từ xa
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> Những phẩm hạnh cơ bản của người cư sĩ
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> Tìm hiểu về như LÝ TÁC Ý (Yoniso manasikāra) Tầm quan trọng của Như lý tác ý
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> ĐẠO ĐỨc của ngưỜi tại gia
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> Một số kinh có NỘi dung đẠO ĐỨc nổi bật trong kinh trung bộ
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> I. TÀ Ngữ Biểu hiện của một lời nói tiêu cực, bất thiện có nhiều dạng, được gom trong 4 điều cơ bản: Nói dối (vọng ngôn), nói đâm thọc (lưỡng thiệt), nói thô ác (ác khẩu) và nói phù phiếm (ỷ ngữ). Vọng ngôn = Nói sai sự thật
DAO%20DUC%20HOC%20PHAT%20GIAO -> Các phạm trù, chức năng và loại hình đẠO ĐỨc học phật giáo một số khái niệM ĐẠO ĐỨc phưƠng tâY

tải về 58.74 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương