Nâng cao năng lực quản lý SỰ thay đỔi của hiệu trưỞng đỂ HỖ trợ trẻ trong giai đOẠn chuyển tiếP


(iv) Về hoạt động và môi trường học tập



tải về 7.04 Mb.
trang4/8
Chuyển đổi dữ liệu20.11.2017
Kích7.04 Mb.
#2417
1   2   3   4   5   6   7   8

(iv) Về hoạt động và môi trường học tập:

Ở trường MN

Ở trường TH

  • Hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi; Trẻ được học thông qua các hoạt động chơi, bằng các đồ dùng trực quan;

  • Mức độ yêu cầu về dạy học chủ yếu thông qua các hoạt động: nhận biết, hình thành dần dần;


  • Hoạt động chơi: tham gia vào các trò chơi, bắt chước và chơi với đồ chơi. Những thói quen tốt được hình thành dần: tập thể dục, chào hỏi lễ phép, thưa gửi, giữ vệ sinh, ăn uống, xem tivi, ngủ nghỉ đúng giờ....



  • Môi trường trong lớp và trường học được chú trọng xây dựng, trang trí phục vụ cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, vui chơi của trẻ; Lớp học được trang trí tranh ảnh, đồ chơi, bàn ghế phù hợp với việc chơi để học; chia thành nhiều góc hoạt động trong lớp học;

  • Hoạt động chủ đạo có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập;

  • Nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với giáo dục mầm non, kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập;

  • Trẻ phải tuân thủ kỷ luật học tập, ngồi yên trong một tư thế gò bó với thời gian học theo tiết từ 30-40 phút;

  • Ngoài ra, các em phải thực hiện các yêu cầu khác như học bài, làm bài tập... mà điều quan trọng là phải đạt kết quả.

  • Các em ra chơi theo giờ;

  • Hoạt động vui chơi: Tự tổ chức các trò chơi cá nhân hoặc theo nhóm.

  • Bắt đầu tham gia hoạt động lao động tự phục vụ ở nhà, ở trường; vệ sinh cá nhân, trực nhật.

  • Bắt đầu tham gia hoạt động của trường, lớp, phong trào ở cụm dân cư, hoạt động đội, sao nhi đồng; Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện những thói quen tốt

  • Môi trường trong lớp học: không trang trí nhiều, bàn ghế sắp xếp phục vụ cho hoạt động học là chủ đạo;

  • Khung cảnh trường: khu vui chơi khá hạn hẹp, hầu hết các em phải tự tổ chức hoạt động chơi,…

Sự phát triển của trẻ từ MN lên TH là một quá trình diễn ra liên tục. Sự phát triển ở một giai đoạn nhất định vừa là kết quả của giai đọan trước đó, vừa là tiền đề cho bước phát triển của giai đoạn tiếp theo. Việc trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn hiện tại cũng chính là sự chuẩn bị tốt cho giai đoạn tiếp theo. Sự chuyển tiếp đòi hỏi phải có cái nhìn tổng thể “từ dưới lên” và “từ trên xuống”, đảm bảo khi trẻ học ở lớp Một không có sự thay đổi hoặc phá vỡ những định hình, những kiến thức đã được hình thành ở lứa tuổi mầm non. Trẻ tiếp thu những kiến thức, kỹ năng mới trên cơ sở những kiến thức kỹ năng đã có và những kiến thức kỹ năng này được củng cố, mở rộng, hoàn thiện ở mức độ cao hơn. Hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp phải áp dụng nguyên tắc về tính liên tục, hướng tới việc làm dịu bớt những mối lo lắng của trẻ khi rời môi trường thân thuộc chuyển sang một môi trường lạ lẫm; Docket và Perry coi việc hỗ trợ giai đoạn chuyển tiếp là một trải nghiệm đa chiều trong đó mọi người và các dịch vụ hướng tới việc tạo ra sự thoải mái cho đứa trẻ và gia đình các em, từ đó tác động vào sự sẵn sàng vào lớp một của đứa trẻ [41]. Tạo sự chuyển tiếp khoa học giúp cho trẻ không bị những thay đổi đột ngột khi chuyển từ hoạt động chơi là chủ đạo, “học bằng chơi, chơi mà học” sang hoạt động học tập là chủ đạo. Chuẩn bị tốt cho trẻ về thể chất, tâm lý, trí tuệ, kỹ năng... từ tuổi mẫu giáo là yêu cầu quan trọng tạo sự chuyển tiếp giúp trẻ thích ứng tốt với việc học tập khi lên tiểu học. Trường học và cộng đồng góp phần đáng kể vào việc kết nối giữa đứa trẻ và trường học; nếu đứa trẻ và gia đình cảm thấy họ gần gũi với trường học, được đánh giá và tôn trọng ở nhà trường và cộng đồng, các em sẽ tích cực trong học tập và có nhiều khả năng thành công trong trường học.



1.2. Yêu cầu đổi mới quản lý trường MN và TH

1.2.1. Yêu cầu đổi mới quản lý trường MN

- Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản giáo dục MN là: Giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mĩ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1.

Theo đó việc quản lý nhà trường cần:


  • Đảm bảo tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn;

  • Đáp ứng được sự chuẩn hóa của mục tiêu phát triển trường MN (chuẩn hóa về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, chương trình giáo dục, kiểm tra đánh giá...);

  • Thực hiện tốt phương châm phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ;

  • Bảo đảm sự công bằng giữa vùng miền và chú ý sự phát triển giáo dục MN ở vùng khó, thực hiện tốt nhất phổ cập giáo dục MN cho trẻ em năm tuổi.

1.2.2. Yêu cầu đổi mới quản lý trường TH

Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản giáo dục phổ thông trong đó có giáo dục tiểu học là: Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.

Theo đó, việc quản lý nhà trường phải:


  • Bảo đảm tính hệ thống,

  • Có tầm nhìn dài hạn,

  • Đáp ứng được sự chuẩn hóa của mục tiêu phát triển trường TH (chuẩn về đội ngũ, về cơ sở vật chất, chương trình giáo dục, về kiểm tra, đánh giá,….);

  • Thực hiện tốt phương châm phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất để thực hiện quá trình giáo dục mà hoạt động chủ đạo trong trường TH là dạy và học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản. Hình thành và phát triển những cơ sở nền tảng nhân cách con người;

  • Bảo đảm sự công bằng giữa vùng miền và chú ý sự phát triển giáo dục Tiều học ở vùng khó, thực hiện hiệu quả chương trình phổ cập giáo dục TH.

Đối với cả hai cấp học, phải quản lý như thế nào để:

  • Đảm bảo sự kết nối các hoạt động giáo dục liên thông giữa MN và TH, giúp trẻ phát triển liên tục và tiếp nối những cái đã có và phát triển thêm những nhân tố mới trên nền cái đã có trong suốt quá trình từ lớp 1 đến hết lớp 3.

  • Nhà trường và gia đình "sẵn sàng" thực hiện được các hoạt động giúp trẻ “sẵn sàngthay đổi để thích nghi và phát triển.

1.2.3. Yêu cầu quản lý giai đoạn chuyển tiếp từ MN lên TH

Để quản lý tốt giai đoạn chuyển tiếp của trẻ từ MN lên TH các nhà quản lý cần quán triệt một số yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất: Giai đoạn chuyển tiếp của trẻ từ MN lên TH là một quá trình thay đổi. Do đó quản lý giai đoạn này thực chất là quản lý sự thay đổi. Để quản lý được phải nhận thức sâu sắc về quản lý sự thay đổi để vận dụng phù hợp:

  • Phải hiểu rằng quản lý sự thay đổi là một quá trình không phải là một sự kiện để tiến hành các hoạt động quản lý nhằm hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp một cách có hệ thống và liên tục.

  • Phải có chiến lược quản lý sự thay đổi của trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp, chọn đúng việc để thực hiện, phải có thời gian cần thiết cho mỗi công việc, đảm bảo hỗ trợ trẻ phát triển đúng qui luật, không đốt cháy giai đoạn;

  • Phải có các kiến thức, kỹ năng cần thiết về thay đổi và quản lý sự thay đổi (kiến thức về con người, tổ chức, môi trường, các qui trình trong tổ chức và phương pháp làm việc với con người; Kỹ năng về lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức thực hiện kế hoạch, kỹ năng lắng nghe, GD, thuyết phục, giải quyết xung đột...) và vận dụng phù hợp trong quản lý giai đoạn chuyển tiếp từ MN lên TH

Thứ hai, trong quản lý giai đoạn chuyển tiếp ở trường MN, trường TH phải lựa chọn, triển khai được các hoạt động phù hợp để chuẩn bị tốt cho trẻ trên các phương diện sau đây để giúp trẻ sẵn sàng bước vào lớp 1.

(i) Chuẩn bị về thể lực:

Để bảo đảm cho trẻ khoẻ về thể chất và tinh thần, dẻo dai và linh hoạt, năng lực phối hợp các vận động cơ bản.



  • Chuẩn bị về mặt “lượng”: chiều cao, cân nặng, sức khỏe, cơ bắp,..

  • Chuẩn bị về mặt “chất”: năng lực làm việc bền bỉ, dẻo dai, có khả năng chống lại sự mệt mỏi của thần kinh; độ khéo léo của bàn tay; tính nhạy của các giác quan…

(ii) Chuẩn bị về mặt phát triển trí tuệ:

Đó là chuẩn bị cho trẻ có vốn tri thức, biểu tượng và kỹ năng thực hiện hoạt động trí óc nhất định:



  • Rèn luyện cho trẻ các thao tác trí tuệ, kích thích những hứng thú đối với họat động trí óc: ham hiểu biết, kích thích khám phá những điều mới lạ… gợi mở;

  • Khuyến khích trẻ quan sát sự vật, hiện tượng xung quanh, theo đó giúp trẻ phát triển các kỹ năng hoạt động trí óc

  • Giúp trẻ rèn luyện sự tập trung chú ý, ghi nhớ có chủ định, linh hoạt trong việc sử dụng các khả năng trí tuệ của bản thân; kích thích trẻ năng động, sáng tạo, ham tìm tòi khám phá.

  • Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong không gian và thời gian

(iii) Chuẩn bị về mặt tình cảm - xã hội:

Việc phát triển tính tự tin, tự trọng, thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập; khả năng tập trung, chấp hành những qui định chung và sự chỉ dẫn của người lớn (phù hợp với lứa tuổi của trẻ) là vô cùng thiết yếu giúp trẻ học tập tốt ở trường phổ thông sau này. Khi trẻ tự tin vào chính bản thân mình, trẻ sẽ học được cách chủ động độc lập trong việc thực hiện các nhiệm vụ đến cùng. Vì vậy hãy để trẻ tự làm và người lớn chúng ta là khích lệ trẻ.



  • Phải giúp trẻ biết cách ứng xử với mọi người xung quanh: lễ phép, kính trọng người lớn, đoàn kết thân ái với bạn bè, thông cảm thương xót những người bất hạnh… Giáo dục trẻ tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, cô giáo và những người lớn khác; đồng thời giúp trẻ có những biểu tượng chính xác về trường phổ thông, về các mối quan hệ giữa bạn bè, thầy cô giáo từ đó kích thích lòng mong mỏi, háo hức được đến trường học tập của trẻ.

  • Giáo dục trẻ ý thức chấp hành nội qui, qui định ở trường, lớp học, những nơi công cộng, chấp hành luật an toàn giao thông.

  • Giáo dục cho trẻ ý thức về bản thân để trẻ biết cách ứng xử phù hợp với vai trò của mình; rèn luyện tính chủ định, tự lập thông qua việc hình thành và rèn kỹ năng tự phục vụ: vệ sinh cá nhân, việc sinh hoạt hàng ngày, các kỹ năng giúp trẻ tự giải quyết vấn đề hoặc biết cách nhờ người khác giúp đỡ để giải quyết các vấn đề.

(iv) Chuẩn bị về ngôn ngữ:

  • Ngôn ngữ phát triển tốt là phương tiện quan trọng để phát triển trí tuệ và giúp cho việc chiếm lĩnh kiến thức học tập tốt ở trường tiểu học. Do đó cần hình thành và phát triển ở trẻ những kỹ năng nghe, nói, tiền đọc, tiền viết thông qua các hoạt động sinh hoạt, học tập, lao động, qua các buổi tham quan, dạo chơi…

  • Theo Luật Giáo dục, ngôn ngữ giảng dạy chính trong các nhà trường là tiếng Việt nên cần khuyến khích trẻ sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo, mở rộng vốn từ về thế giới xung quanh, tập cho trẻ biết diễn đạt những gì mình muốn nói một cách rõ ràng, mạch lạc, không nói ngọng, nói lắp, nói quá nhỏ,…

  • Đối với trẻ em vùng dân tộc thiểu số ngoài việc phát triển ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ thì vấn đề trang bị cho trẻ vốn tiếng Việt để trẻ vào học lớp 1 thuận lợi là việc hết sức quan trọng. Thông qua các họat động đa dạng và hứng thú đối với trẻ, giáo viên tạo mọi điều kiện để trẻ được nghe, nói tiếng Việt.

Trong quản lý trường MN phải chỉ đạo giáo viên thực hiện nghiêm túc việc dạy tiếng Việt cho trẻ ở lớp mẫu giáo 5 tuổi, dạy đúng yêu cầu, đúng mức độ qui định, không dạy trẻ viết trước để đảm bảo sự phát triển đúng qui luật.

(v). Chuẩn bị một số năng lực, phẩm chất chuyên biệt của hoạt động học tập:

Khi trẻ thích ứng với hoạt động học tập mới sẽ tránh được những bỡ ngỡ ban đầu, tránh được những cảm giác sợ sệt, thiếu tự tin khi đó trẻ sẽ học tập tốt hơn. Do đó:



  • Chuẩn bị cho trẻ làm quen, thích ứng với hình thức "tiết học" ở lớp 1 và cấp tiểu học sau này.

  • Chuẩn bị về động cơ học tập.

  • Chuẩn bị về nhận thức nhiệm vụ học tập.

  • Chuẩn bị về cách học: Cần tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện một số kỹ năng cơ bản của hoạt động học tập như việc sắp xếp bàn ghế, cách cầm bút, cầm sách, mở sách, tư thế ngồi đúng, cách nghe giảng, cách giơ tay khi muốn phát biểu ý kiến…

  • Bên cạnh đó giúp trẻ trẻ biết cách điều khiển, vận động bàn tay nhỏ bé của mình để thực hiện một cách gọn gàng, dẻo dai các thao tác vận động trong học tập.

Trong quản lý hỗ trợ trẻ ở giai đoạn chuyển tiếp từ MN lên TH phải đảm bảo sự kế thừa, tính khoa học, những kiến thức đã được hình thành ở lứa tuổi mầm non cần phải được củng cố và mở rộng, hoàn thiện ở mức độ cao hơn giúp trẻ không bị những thay đổi đột ngột khi chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập trong nhà trường phổ thông. Việc chuẩn bị cho trẻ những tiền đề, những yếu tố của hoạt động học tập để giúp trẻ có thể thích ứng tốt nhất, nhanh nhất với việc học ở lớp Một. Trong quản lý giai đoạn chuyển tiếp này của trẻ cần nhớ rằng vấn đề khó nhất của trẻ không phải là học chữ, học tính, học đọc, học viết … mà là học cách hoà nhập với môi trường mới, hoạt động mới. Những sự chuẩn bị trên mà hiệu quả sẽ giúp trẻ giảm rất nhiều những áp lực do những thay đổi mang đến khi vào lớp Một, khi đó trẻ sẽ thích ứng nhanh chóng với môi trường mới.

Thứ ba, phải xác định rõ trách nhiệm của từng lực lượng trong hỗ trợ trẻ ở giai đoạn chuyển tiếp và có sự hợp tác, cộng đồng trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ.

Trường MN

Trường TH

Cha mẹ học sinh/ cộng đồng

Triển khai hiệu quả các hoạt động:

  • Thực hiện tốt chương trình phổ cập cho trẻ năm tuổi;

  • Khai thác tốt chủ đề "Trường tiểu học", giúp trẻ 5 tuổi chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho sự sẵn sàng vào lớp Một;

  • Đảm bảo mối liên hệ thường xuyên với trường tiểu học;

  • Chủ động phối hợp với cha mẹ học sinh và cộng đồng trong triển khai các hoạt động hỗ trợ trẻ.

Triển khai hiệu quả các hoạt động:

  • Đón trẻ vào lớp Một;

  • Tạo dựng môi trường học tập, hoạt động để giúp trẻ thích nghi, hào hứng trong học tập, tiếp thu tốt chương trình giáo dục tiểu học để trẻ phát triển hài hòa;

  • Phối kết hợp chặt chẽ với trường MN trong quá trình giáo dục trẻ, đảm bảo tính liên thông giữa 2 cấp học, nhằm hỗ trợ tốt nhất cho trẻ khi vào lớp Một;

  • Chủ động phối hợp với cha mẹ học sinh và cộng đồng trong việc hỗ trợ trẻ.

  • Thực hiện chăm sóc trẻ/học sinh ở gia đình theo khoa học;

  • Hướng dẫn trẻ thực hiện các nội dung theo đúng yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục theo mỗi cấp học;

  • Tham gia kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc, giáo dục trẻ/ học sinh;

  • Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường học;

  • Tích cực tham gia với nhà trường MN, TH thực hiện các hoạt động hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp từ MN lên TH.





Thứ tư, khi thực hiện các hoạt động quản lý giai đoạn chuyển tiếp cần phải có kế hoạch rõ ràng và phù hợp điều kiện cụ thể của từng trường, từng địa phương; Tổ chức thực hiện bằng các phương pháp và hình thức đa dạng, linh hoạt, sáng tạo; Đôn đốc, giám sát và hỗ trợ kịp thời để các hoạt động diễn ra đúng tiến độ, đúng hướng; Tăng cường các hoạt động kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm, cung cấp các thông tin phản hồi có tính xây dựng để điều chỉnh việc thực hiện hiệu quả.

Có thể nói chuyển tiếp là giai đoạn quan trọng của trẻ: điểm khởi đầu cho học tập và tạo dựng tương lai. Giai đoạn chuyển tiếp không phải là sự kiện diễn ra trong ngày đầu tiên khi trẻ đến trường TH, hay chỉ là 3 tháng hè trẻ kết thúc quá trình học tại trường mầm non chờ bước vào lớp Một, mà là quá trình được thực hiện từ trước đó, ít nhất cũng là khi trẻ bắt đầu bước vào lớp mẫu giáo 5 tuổi và tiếp tục diễn ra sau đó cho đến khi trẻ học xong lớp 1, lớp 2, lớp 3. Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo trước khi vào lớp Một được tiến hành thường xuyên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp thông qua các trò chơi hay các hoạt động hấp dẫn mà trẻ yêu thích. Cần tránh nôn nóng, áp đặt, ép buộc trẻ học trước những gì trẻ sẽ được học bài bản ở trường tiểu học sau này, bởi điều đó dễ gây ra cho trẻ những chán nản, chủ quan, chểnh mảng dẫn đến trẻ mất đi hứng thú học tập ngay từ những buổi học ban đầu và gây ra không ít những khó khăn cho giáo viên tiểu học trong quá trình dạy học.

Khái niệm chuyển tiếp là thuật ngữ được áp dụng để hiểu và đáp ứng các nhu cầu hỗ trợ đặc biệt cho trẻ trong những năm đầu TH. Chính vì giai đoạn chuyển tiếp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với trẻ nên các nhà quản lý trường MN và TH phải đặc biệt quan tâm, làm thế nào để trường MN hỗ trợ cho trẻ chuẩn bị sẵn sàng vào lớp Một, cũng như trường TH phải hỗ trợ để trẻ thích nghi tốt nhất khi vào lớp Một. Do đó, cần phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa trường MN và TH để giúp trẻ đi qua giai đoạn chuyển tiếp hiệu quả nhất.
group 12

2. Quản lý ở trường MN và TH để hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp

2.1. Những vấn đề trọng tâm trong quản lý giai đoạn chuyển tiếp từ MN lên TH

2.1.1. Quản lý thực hiện Phổ cập giáo dục MN cho trẻ em năm tuổi

Để thực hiện tốt công tác phổ cập, người hiệu trưởng cần xác định được những công việc cơ bản phải tiến hành như:



  • Triển khai cho cán bộ giáo viên thực hiện điều tra số trẻ trong độ tuổi trên địa bàn. Phân công giáo viên đến từng hộ nhà dân điều tra trẻ độ tuổi từ 0 - 5 tuổi, rà soát đối tượng trẻ có hộ khẩu thường trú trên địa bàn, số trẻ đến tạm trú, trẻ có hộ khẩu thường trú nhưng đi học nơi khác và số trẻ nơi khác đến học; tuyên truyền CMHS nhập khẩu hoặc đăng ký cư trú một cách hợp pháp cho trẻ ....

  • Tập huấn công tác điều tra cho giáo viên và phân công mỗi giáo viên chủ chốt, có kinh nghiệm điều tra, thông thạo địa bàn phụ trách một điểm để tránh tình trạng bỏ sót hộ dân. Thống kê trẻ có hộ khẩu trên địa bàn nhưng theo cha mẹ đi học nơi khác tạm thời và trẻ nơi khác đến học.

  • Lập kế hoạch phát triển trường lớp, tính đến số lượng học sinh huy động cho năm học mới; lập danh sách học sinh và chia lớp trên cơ sở phiếu đăng ký học bán trú của CMHS và độ tuổi đã được điều tra. Công tác này chọn lọc ra được trẻ cũ và trẻ mới để phân bổ đồng đều cho các lớp, tạo sự công bằng hơn khi phân công nhiệm vụ cho giáo viên.

  • Thành lập Hội đồng tuyển sinh; tuyên truyền, vận động trẻ trong độ tuổi phổ cập ra lớp;

  • Đối với những trường có đủ điều kiện, thực hiện huy động tối đa trẻ trong độ tuổi MN theo qui định đến trường, phối kết hợp với công an hộ khẩu trên địa bàn tuyển sinh;

  • Đối với các trường còn khó khăn về CSVC và đội ngũ, ưu tiên cho việc huy động trẻ em 5 tuổi đến trường để chuẩn bị tốt cho trẻ trước khi vào lớp 1. Đảm bảo trẻ mầm non 5 tuổi ở vùng khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn được học trong các trường công lập, được chuẩn bị tốt tiếng Việt trước khi vào lớp 1. Các vùng còn lại huy động hầu hết trẻ 5 tuổi vào học trong các loại hình trường khác nhau.

  • Thực hiện nghiêm túc, đúng qui định chương trình GD MN cho trẻ em 5 tuổi đảm bảo mục tiêu là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một (Điều 22 - Luật Giáo dục, 2005).

2.1.2. Quản lý thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong trường MN, trường TH và xây dựng môi trường giáo dục trẻ thích hợp

a) Tại trường mầm non: Hiệu trưởng trường MN cần chú ý một số nội dung cơ bản: 

  • Chỉ đạo giáo viên đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục, hướng dẫn giáo viên áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố:

(i) Khám phá;

(ii) Các hướng dẫn mang tính dẫn dắt, gợi ý của giáo viên;



(iii) Hướng dẫn cụ thể;

  • Chỉ đạo cụ thể: thực hiện các mục tiêu, nội dung giáo dục để đảm bảo sự phát triển liên tục của trẻ theo khoa học. Đảm bảo chuẩn bị tốt các kỹ năng cần thiết cho trẻ em năm tuổi vào lớp Một nhưng tuyệt đối không dạy trước chương trình lớp Một. Bám sát các tiêu chuẩn trẻ mẫu giáo năm tuổi, chú trọng việc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở trường MN.

  • Khuyến khích và tạo điều kiện về máy móc, thiết bị cho giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

  • Hướng dẫn giáo viên chủ động và linh hoạt trong việc thực hiện chương trình, vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế của trường, lớp, vùng miền, địa phương.

  • Phối hợp cùng với giáo viên lập hồ sơ, xây dựng kế họach giáo dục cá nhân đối với trẻ khuyết tật, theo dõi kiểm tra, đánh giá điều chỉnh kế hoạch.

  • Hướng dẫn giáo viên sử dụng các dấu hiệu đánh giá trong chương trình giáo dục Mầm non.

  • Tổ chức môi trường hoạt động của trẻ là một yêu cầu được nhấn mạnh trong thực hiện chương trình. Theo đó nhà trường cần triển khai thực hiện những yêu cầu về tổ chức các khu vực hoạt động của trẻ trong và ngoài lớp, nhằm tạo điều kiện cho trẻ được “chơi mà học” và “chơi mà học” phù hợp với độ tuổi.

  • Chỉ đạo giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục trẻ hợp lý, chú trọng đến tổ chức cho trẻ thực hành, luyện tập trải nghiệm, coi trọng vai trò của trò chơi, phương pháp dùng tình cảm, phương pháp dùng trò chơi trong việc tổ chức cuộc sống và tổ chức các hoạt động của trẻ trong trường MN.

  • Trên cơ sở thực hiện chương trình giáo dục MN, hướng dẫn giáo viên lồng ghép các nội dung giáo dục vệ sinh cá nhân, giáo dục kỹ năng sống, ATGT…

  • Khảo sát để tìm hiểu việc đổi mới phương pháp giáo dục trẻ liên quan đến các vấn đề gì trong điều kiện thực tế tại trường: Cơ sở vật chất, tinh thần học hỏi, trình độ của giáo viên, … Việc khảo sát này giúp người quản lý có cái nhìn tổng thể về vấn đề sẽ triển khai để từ đó xây dựng được kế hoạch chỉ đạo đúng và trúng mục tiêu đề ra.

b) Tại trường TH: Hiệu trưởng trường tiểu học cần quan tâm sâu sát tới một số nội dung:

  • Nâng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên;

  • Tăng cường quản lý khâu thiết kế bài giảng và tổ chức các hoạt động dạy của giáo viên. Chú ý quản lý việc tổ chức các hoạt động cho học sinh lớp 1 ở những tuần đầu để học sinh làm quen và thích nghi dần với các hoạt động học tập, giáo dục ở cấp học mới;

  • Tăng cường quản lí việc khai thác, sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên để hỗ trợ tốt nhất cho quá trình nhận thức của học sinh;

  • Phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong triển khai các hoạt động dạy học

  • Xây dựng môi trường gần gũi với trường Mầm non, ví dụ, trang trí lớp học gần với cách trang trí ở trường MN, tạo cảnh quan chung gần giống với trường Mầm non nhằm tạo sự kết nối, giúp học sinh không bị quá bỡ ngỡ khi vào lớp Một.

2.1.3. Triển khai các hoạt động phối hợp giữa trường MN và TH trong hỗ trợ quá trình chuyển tiếp cho trẻ

Trong mô hình hỗ trợ trẻ em trong giai đoạn chuyển tiếp do VVOB đề cập [40], lãnh đạo trường MN và trường TH cần đảm bảo sự phối hợp tốt hơn giữa hai cấp, đặc biệt đối với các vấn đề về giai đoạn chuyển tiếp của trẻ. Trường MN cần hiểu rõ trẻ được mong đợi gì khi các em chuyển tiếp từ trường MN lên trường TH. Trường MN có thể thực hiện các sáng kiến để giảm nhẹ quá trình thay đổi bằng cách từng bước giới thiệu đến trẻ những thay đổi sẽ diễn ra, lưu ý đến sự thoải mái của trẻ trong quá trình này, cho trẻ dần làm quen với môi trường TH.




tải về 7.04 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương