Nội dung giới thiệu với nhà ĐẦu tư NƯỚc ngoàI



tải về 0.71 Mb.
trang1/6
Chuyển đổi dữ liệu09.11.2017
Kích0.71 Mb.
  1   2   3   4   5   6

NỘI DUNG GIỚI THIỆU VỚI NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

VỀ ĐỀ ÁN CHƯƠNG TRÌNH VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ


NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH GTVT ĐẾN NĂM 2020

(Kèm theo quyết định số 2657/QĐ-BGTVT ngày 24 tháng 7 năm 2025)

PHẦN 1
THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
GIAO THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM

Thực trạng phát triển năng lực kết cấu hạ tầngchủ yếu

Trong những năm gần đây, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam đã được nâng cấp và xây dựng mới, góp phần nâng cao năng lực khai thác, đáp ứng tăng trưởng kinh tế: tăng tốc độ khai thác trên các tuyến đường bộ; rút ngắn thời gian trên các tuyến đường sắt, đường sông; tăng lượng hàng hóa thông qua các cảng biển; tăng lưu lượng hành khách và hàng hóa thông qua các cảng hàng không. Xếp hạng năng lực và chất lượng hạ tầng giao thông Việt Nam (bởi Diễn đàn kinh tế thế giới) liên tục tăng từ thứ 103 năm 2010 lên thứ 74 năm 2014. Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam đa số có quy mô nhỏ bé, chưa đồng bộ và chưa tạo được sự kết nối liên hoàn, khả năng đáp ứng nhu cầu giao thông và an toàn giao thông còn hạn chế. So với một số nước tiên tiến trong khu vực, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam chỉ ở mức trung bình.

Đường bộ: Tổng chiều dài khoảng 260.000 km đường các loại, trong đó quốc lộ có hơn 20.000km; đường tỉnh khoảng 24.000km; mới có hơn 700 km đường bộ cao tốc đã hoàn thành (tính đến 2015) và gần 500 km nữa đang xây dựng. Kết cấu hạ tầng đường bộ Việt Nam về mật độ chung là không nhỏ so với các nước trong khu vực nhưng về quy mô thì còn khá thấp (mật độ riêng đường quốc lộ và đường cao tốc thấp hơn, số làn xe ít hơn).

Đường sắt: Mạng lưới đường sắt quốc gia Việt Nam có tổng chiều dài là 3.143km, mật độ đạt 7,9 km/1000 km2, trong đó 2.531 km đường chính tuyến, bao gồm 3 loại khổ đường mà chủ yếu là khổ đường 1000mm (chiếm 85%), còn lại là khổ đường 1435 mm và khổ đường lồng. Hạ tầng đường sắt Việt Nam còn lạc hậu, hiện nay chủ yếu chỉ duy tu bảo dưỡng để bảo đảm an toàn và duy trì khai thác ở mức độ bình thường.

Đường biển: Hệ thống cảng biển Việt Nam đã được đầu tư xây dựng 31 cảng tổng hợp bao gồm 219 bến/khu bến, gồm 373 cầu cảng với tổng số 44.000 m dài cầu cảng. Trong đó có 213 cầu cảng tổng hợp, cầu cảng container với khoảng 35.900m dài cầu cảng. Tổng công suất cảng biển khoảng hơn 400 triệu tấn/năm (trong đó hàng tổng hợp, container khoảng 240 triệu tấn/năm).

Đường thuỷ nội địa: Tổng chiều dài tuyến đường thuỷ nội địa toàn quốc được tổ chức quản lý, khai thác là hơn 19.000 km, hầu hết là khai thác tự nhiên,trong đó tổ chức quản lý, bảo trì khoảng 6.700 km tuyến đường thuỷ nội địa quốc gia, 12.600 km tuyến đường thuỷ nội địa địa phương (thuộc địa bàn 27 tỉnh, thành phố). Độ sâu chạy tàu các tuyến đường thuỷ nội địa quốc gia phía Bắc bảo đảm từ 2,0m đến 2,5m, các tuyến chính phía Nam bảo đảm trên 3m. Ngoài ra còn có tuyến ven biển đang khai thác trở lại từ năm 2014. Về cảng có 131 cảng thủy nội địa,trong đó 13 cảng có tiếp nhận tàu nước ngoài.

Hàng không: Hiện có 21 cảng hàng không đang hoạt động, trong đó có 7 cảng hàng không quốc tế, 14 cảng hàng không nội địa. Tổng năng lực khai thác tại nhà ga khoảng 70 triệu hành khách thông qua/năm. Hai cảng hàng không lớn nhất tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minhcó tiêu chuẩn loại 4E (ICAO).



Thực trạng chi đầu tư phát triển ngành GTVT giai đoạn 2001-2014 từ nguồn ngân sách trung ương và nguồn huy động ngoài ngân sách do Bộ GTVT quản lý

Tổng chi đầu tư phát triển KCHT giao thông do Bộ GTVT quản lý bình quân năm đã tăng từ mức 12 nghìn tỷ đồng/năm (khoảng 0,76 tỷ USD) ở giai đoạn 2001-2005 lên mức 36 nghìn tỷ đồng/năm (khoảng 1,9 tỷ USD) ở giai đoạn 2006-2010 và hiện đã ở mức 70 nghìn tỷ đồng/năm (khoảng 3,1 tỷ USD). Về cơ cấu nguồn vốn, vốn ngân sách (gồm cả ODA) có tỷ lệ lớn nhất trên 39%, thêm 26% nữa từ nguồn trái phiếu chính phủ, còn lại gần 35% là nguồn ngoài ngân sách (huy động nhà đầu tư). Tỷ trọng vốn NSNN và ODA có xu hướng giảm dần trong khi tỷ trọng vốn TPCP và vốn huy động ngoài ngân sách đang tăng dần.

Về cơ cấu chi đầu tư theo chuyên ngành, ngành đường bộ tiếp tục chiếm tỉ trọng đầu tư cao nhất; tiếp đến là ngành hàng hải, hàng không; đường sắt và đường thuỷ nội địa vẫn có tỷ trọng đầu tư thấp nhất.

Ở khía cạnh chi tiêu công cho giao thông, tỷ trọng của chi đầu tư công cho xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông ở cả trung ương và địa phương (bằng khoảng 1,2 lần chi ngân sách trung ương) bình quân giai đoạn 2009-2013 là 3,5% là một mức cao hơn so với một số nước trong khu vực.



Thực trạng thu hút vốn nước ngoài đầu tư vào ngành giao thông giai đoạn 2001-2014

Nguồn vốn nước ngoài được thu hút và đầu tư vào ngành GTVT hiện có nguồn ODA (và vốn vay ưu đãi) và các loại vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Vốn ODA tập trung bố trí phần lớn cho lĩnh vực hạ tầng đường bộ (cao tốc, quốc lộ, cầu lớn, đường tỉnh, giao thông nông thôn), một phần cho lĩnh vực hạ tầng cảng hàng không, hạ tầng hàng hải, hạ tầng đường thủy, hạ tầng đường sắt (tuyến đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị).

Vốn nước ngoài sử dụng cho đầu tư hạ tầng giao thông (do Bộ GTVT quản lý) bình quân hằng năm ở các giai đoạn 2001-2005, 2006-2010 và 2011-2014 lần lượt là 6; 12 và 37 nghìn tỷ đồng (khoảng 381; 634 triệu và 1,65 tỷ USD). Vốn nước ngoài chiếm tới gần 32% tổng chi đầu tư vào ngành giao thông, trong đó vốn ODA là chủ yếu với tỷ lệ 28%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI chưa được thống kê đầy đủ và chiếm tỷ trọng khá nhỏ (dưới 4% trong cơ cấu vốn).

Nguồn vốn ODA đặc biệt đã đầu tư nhiều cho mạng lưới đường bộ trước đây và hiện nay đang tiến vào các lĩnh vực giao thông khác là giao thông đô thị, đường sắt đô thị, hàng không, luồng hàng hải, tuyến đường thủy nội địa, logistics, ... Tuy nhiên, bên cạnh thành quả tăng trưởng kinh tế, nguồn ODA đầu tư vào Việt Nam đang kém ưu đãi dần.

Hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức vô cùng lớn về huy động vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Chính phủ Việt Nam đã dành những nguồn lực nhất định song mới đáp ứng được những nhu cầu cơ bản thiết yếu nhất. Nhiều chính sách huy động nguồn lực đã được nghiên cứu, áp dụng; trong số đó đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (Public Private Partnerships-PPP) đang là một chính sách thu hút quan tâm từ phía các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà tài trợ và các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Nhu cầu giao thông đến 2030

Kết quả dự báo nhu cầu giao thông Việt Nam từ 2013 đến 2020 cho thấy tốc độ tăng trưởng của khối lượng vận chuyển tuy có giảm so với giai đoạn trước nhưng vẫn ở mức cao là 9,1% đối với hàng hóa và 10,7% đối với hành khách. Cụ thể, tổng sản lượng vận tải toàn ngành khoảng 1.300 tỷ tấn.km (tương đương 2,2 tỷ tấn hàng hoá), 340 tỷ hành khách.km (tương đương 6,3 tỷ lượt khách). Đến năm 2030, tổng sản lượng vận tải khoảng 2.500 tỷ tấn.km (tương đương 4,3 tỷ tấn hàng hoá), 667 tỷ hành khách.km (tương đương 14 tỷ lượt khách), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về sản lượng vận tải hàng hóa giai đoạn 2021 - 2030 là 6,7%, hành khách là 8,2%. (Quyết định 318/QĐ-TTg).



Mục tiêu, giải pháp chủ yếu trong Chiến lược phát triển GTVT Việt Nam

Chiến lược phát triển ngành giao thông vận tải Việt Nam xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2020, hệ thống giao thông cơ bản Việt Nam sẽ hình thành được một hệ thống GTVT hợp lý giữa các phương thức vận tải, phát triển một cách đồng bộ, từng bước tiến tới hiện đại nhằm góp phần đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (QĐ 355/QĐ-TTg).

Cụ thể, từ 2013 đến 2020, Việt Nam cơ bản hoàn thành xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc, đạt khoảng 2.500 km; nghiên cứu phương án xây dựng mới tuyến đường sắt tốc độ cao, đường đôi khổ 1435 mm trên trục Bắc – Nam (QĐ 214/QĐ-TTg); hệ thống đường bộ, đường sắt Việt Nam đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật, kết nối thuận lợi với hệ thống đường bộ ASEAN, Tiểu vùng Mê Kông mở rộng và đường sắt xuyên Á; hệ thống cảng biển đáp ứng tốt nhu cầu thông quan về hàng hóa xuất nhập khẩu và nội địa; hoàn thành đưa vào cấp kỹ thuật, đảm bảo chạy tầu 24/24h các tuyến đường thủy nội địa; cơ bản hoàn thiện mạng lưới cảng hàng không trong cả nước với quy mô hiện đại; cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Long Thành có vai trò và quy mô ngang tầm với các cảng hàng không quốc tế lớn trong khu vực; phát triển giao thông đô thị hướng tới văn minh, hiện đại; tiếp tục đầu tư các tuyến đầu mối đô thị lớn như các tuyến vành đai 2, vành đai 3 Hà Nội và vành đai 2, vành đai 3 TP. Hồ Chí Minh; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường sắt đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Những nhóm giải pháp chính được đưa ra là nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phát huy tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; tạo bước chuyển biến rõ rệt trong việc phân bổ nguồn vốn đầu tư giữa các lĩnh vực giao thông; tập trung vốn cho các công trình có tính lan tỏa, tạo sự kết nối giữa các phương thức vận tải, giữa các công trình trong cùng hệ thống, tại các vùng kinh tế trọng điểm, các cửa ngõ quốc tế.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển KCHT giao thông Việt Nam giai đoạn 2016-2020 toàn ngành ước tính khoảng 1.015.000 tỷ đồng (khoảng 48 tỷ USD, là nhu cầu vốn đầu tư cho các công trình giao thông do Bộ GTVT, các Tổng công ty nhà nước quản lý và các công trình chủ yếu tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh). Trong đó, đường bộ có nhu cầu khoảng 651 nghìn tỷ đồng, đường sắt khoảng 119 nghìn tỷ đồng, hàng không khoảng 101 nghìn tỷ đồng, hàng hải 68 nghìn tỷ đồng và đường thủy nội địa hơn 33 nghìn tỷ đồng.Khoảng hơn 300 nghìn tỷ (14 tỷ USD)được xác định sẽ huy động từ nguồn ngoài ngân sách trong nước và nước ngoài, đặc biệt là vốn nước ngoài.

PHẦN 2


GIỚI THIỆU CÁC CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH VỀ THU HÚT VỐN

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI PHÁT TRIỂN NGÀNH GIAO THÔNGVẬN TẢI

Chính sách chung về đầu tư và thực hiện dự án đầu tư



Chính sách chung về khuyến khích đầu tư của Việt Nam:

Nhà nước thực hiện chức năng đầu tư công đối với các lĩnh vực được quy định trong Luật Đầu tư công 2014 và khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư hoặc đầu tư theo hình thức đối tác công tư vào dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ công (Luật Đầu tư công 2014).

Đối với đầu tư kinh doanh, khuyến khích và ưu đãi đầu tư trong nước và nước ngoài là chủ trương thống nhất của Nhà nước Việt Nam được thể chế hóa trong các luật kể từ năm 1987 (Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994) cho đến nay (Luật đầu tư 2014).

Chính sách chung về đầu tư kinh doanh thể hiện qua 5 điểm: Quyền đầu tư kinh doanh các lĩnh vực không cấm; Quyền quyết định tự chủ đầu tư kinh doanh, tiếp cận nguồn lực đầu tư; Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn, thu nhập, lợi ích; Đối xử bình đẳng, có lĩnh vực ưu đãi; Tôn trọng điều ước quốc tế (Điều 5 Luật đầu tư 2014).

Từ năm 2011, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm cao trong việc thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế, nhất là giao thông (Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020).Cụ thể hơn là Nghị quyết số 13-NQ-TWcủa Ban chấp hành trung ương về “Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” đã xác định “thu hút mạnh các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm lợi ích thỏa đáng của nhà đầu tư; mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm ,...; có cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực kết cấu hạ tầng.

Chính phủ đã có những chỉ đạo cụ thể: Nghị quyết số 16/NQ-CP (tháng 6/2012) về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TW, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Chỉ thị số 16/CT-TTg (tháng 7/2015) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TW



Lĩnh vực đầu tư và các hình thức đầu tư tại Việt Nam:

Luật đầu tư 2014 đã quy định rõ quyền của nhà đầu tư theo hướng được đầu tư kinh doanh các ngành, nghề mà luật không cấm (có danh mục kèm theo Luật đầu tư 2014). Nếu phân theo mức độ của quyền đầu tư kinh doanh, có 3 nhóm lĩnh vực đầu tư là nhóm ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh (Điều 6 và các Phụ lục 1, 2, 3, Luật Đầu tư), nhóm ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Điều 7 và Phụ lục 4, Luật Đầu tư 2014), còn lại là các ngành nghề được đầu tư kinh doanh (tự do).

Nhà nước có chế độ ưu đãi đầu tư đối với các lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước khuyến khích đầu tư. Hình thức áp dụng ưu đãi chính gồm có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu hàng hóa liên quan thực hiện dự án; miễn giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất (Chương III, Luật đầu tư 2014).

Đầu tư tại Việt Nam có 4 hình thức là Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế (trực tiếp); Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế; Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC (Mục I, Chương IV, Luật Đầu tư 2014).



(Danh mục các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư và đầu tư nước ngoài xem tại Phụ lục 5)

Chính sách hiện hành về thu hút vốn nước ngoài đầu tư dự án ngành GTVT



  1. Các hình thức thu hút vốn nước ngoài vàưu đãi đầu tư vào ngành GTVT

Các hình thức có vốn đầu tư nước ngoài vào ngành GTVT:

Các lĩnh vực đầu tư công có liên quan ngành giao thông vận tải: Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư.

Hiện nay, một cách tương đối, có 2 kênh chủ yếu thu hút nguồn vốn nước ngoài để đầu tư phát triển lĩnh vực giao thông vận tải tại Việt Nam là sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA hoặc vốn vay ưu đãi từ nước ngoài (của các chính phủ nước ngoài, nhà tài trợ); thu hút vốn đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài (thông qua nhiều hình thức đầu tư khác nhau).

Nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện đầu tư kinh doanh các lĩnh vực giao thông vận tải cũng theo 4 hình thức (Mục I, Chương IV, Luật Đầu tư 2014). Các hình thức đầu tư kinh doanh hiện thu hút được nhà đầu tư nước ngoài quan tâm trong ngành GTVT gồm có:

+Thành lập công ty TNHH liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài để đầu tư xây dựng, kinh doanh các dịch vụ vận tải, dịch vụ liên quan khác không phải là dịch vụ công.

+Thành lập doanh nghiệp dự án PPP tham gia đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng giao thông; tham gia quản lý, kinh doanh kết cấu hạ tầng do nhà nước đã xây dựng; tham gia cung cấp dịch vụ công.

+Tham gia góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước.

+ Tham gia ký kết hợp đồng BCC



Ưu đãi đầu tư vào ngành GTVT:

Chính sách ưu đãi đầu tư hiện áp dụng chung cho tất cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư chung, không phân biệt ngành nghề: miễn thuế, giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu hàng hóa liên quan thực hiện dự án; miễn giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất (Điều 15 Luật Đầu tư 2014). Chi tiết về mức ưu đãi được quy định cụ thể trong pháp luật về thuế và đất đai.

Đối tượng được hưởng ưu đãi: dự án thuộc lĩnh vực, ngành nghề đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng; phát triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị. Dự án tại địa bàn ưu đãi đầu tư gồm địa bàn có điều kiện khó khăn, đặc biệt khó khăn; Khu công nghi gồm địa bàn có điều kiện khó khăn, đặc biệt khó. Dự án có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng, giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong 3 năm; (Điều 16 Luật Đầu tư 2014).

Một số chính sách cụ thể về ưu đãi đầu tư, đảm bảo đầu tư đối với dự án ngành GTVT được trình bày tại mục 2.3, Phần 2.


  1. Chính sách thu hút, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi để đầu tư vào ngành GTVT

Các hình thức, phương thức và nguyên tắc cung cấp ODA và vốn vay ưu đãi:

Việt Nam tiếp nhận hai hình thức cung cấp ODA là ODA viện trợ không hoàn lại và ODA vốn vay. Đối với ODA vốn vay yếu tố không hoàn lại ít nhất là 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.

Nhà tài trợ có thể cung cấp theo 4 phương thức: Hỗ trợ ngân sách; Hỗ trợ chương trình; Hỗ trợ dự án; Viện trợ phi dự án.

Lĩnh vực dự án ưu tiên sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi trong ngành GTVT:

Hạ tầng giao thông là lĩnh vực ưu tiên số 1, trong đó cụ thể bao gồm: đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển và đường thủy nội địa, giao thông đô thị. Ngoài ra, một số lĩnh vực có liên quan hoặc gián tiếp tác động đến ngành GTVT cũng là lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA gồm: khoa học công nghệ, hạ tầng nông thôn, tăng cường năng lực thể chế, bảo vệ môi trường, hỗ trợ chương trình mục tiêu quốc gia.

Lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA viện trợ không hoàn lại: các dự án khó có khả năng thu hút nguồn ngoài ngân sách, có tính phục vụ dân sinh gồm đường bộ địa phương, đường thủy nội địa. Lĩnh vực định hướng sử dụng ODA vốn vay và vốn vay ưu đãi: các dự án có tính chất đột phá về giao thông như giao thông đô thị, đường bộ cao tốc, đường sắt trên các hướng kết nối quốc tế, cảng biển và cảng hàng không quốc tế.

Khu vực tư nhân sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi:

Khu vực tư nhân được tiếp cận vốn ODA và vốn vay ưu đãi thông qua 4 hình thức là vay lại từ các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước để thực hiện các hoạt động phù hợp; vay lại từ ngân sách nhà nước để thực hiện chương trình, dự án phù hợp; thực hiện các dự án PPP với phần góp của nhà nước là ODA; thực hiện chương trình dự án có mục tiêu hỗ trợ khu vực tư nhân.



Đặc điểm về sử dụng vốn ODA đối với dự án ngành GTVT:

So với nhiều lĩnh vực khác, cho tới nay vốn ODA luôn được Nhà nước và nhà tài trợ ưu tiên sử dụng cho các dự án đầu tư xây dựng và tăng cường thể chế trong lĩnh vực giao thông vận tải, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng.

Để tiếp tục thu hút sử dụng hiệu quả vốn ODA trong đầu tư xây dựng các công trình giao thông, Việt Nam đã xác định ưu tiên hàng đầu đối với việc bố trí đủ vốn đối ứng, hoàn thiện các thể chế, bộ máy thực hiện để đáp ứng các điều kiện của nhà tài trợ.


  1. Chính sách thu hút vốn nước ngoài thực hiện đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực giao thông vận tải thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế

Nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài tại Việt Nam để thực hiện đầu tư kinh doanh (trực tiếp) trong lĩnh vực giao thông vận tải phù hợp với các quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Có một số quy định riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ lệ phần vốn nước ngoài từ 51% trở lên. Các quy định riêng này phân bố rải rác tại các điều luật trong các luật liên quan hoặc do Chính phủ quy định tại các nghị định.



Trình tự, thủ tục đầu tư thành lập doanh nghiệp FDI

Trình tự, thủ tục đầu tư thành lập doanh nghiệp FDI có 4 bước cơ bản là Đề xuất dự án đầu tư; Ra quyết định chủ trương đầu tư; Cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Triển khai thực hiện dự án đầu tư (cần ký quỹ đảm bảo thực hiện, triển khai dự án).



Chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tưtrong lĩnh vực GTVT:

Điều kiện chung để thành lập tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài là nhà đầu tư phải được chấp thuận chủ trương đầu tư và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thực hiện đăng ký kinh doanh để thành lập doanh nghiệp.

Nhà đầu tư nước ngoài có thể đề xuất dự án đầu tư (hoặc xin tham gia đầu tư vào dự án đã có đề xuất dự án) cần được cấp có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư trước khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Các dự án đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông thường có tổng mức đầu tư lớn, có tính chất quan trọng nên thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư là Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ.

Căn cứ để chấp thuận chủ trương đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài đối với dự án giao thông vận tải: ngoài đề xuất dự án (và phương án tài chính) là các quy định về điều kiện kinh doanh, phạm vi hoạt động đối với nhà đầu tư nước ngoài.



Điều kiện kinh doanh, hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực GTVT:

Điều kiện chung về thời hạn hoạt động của dự án đầu tư thông thường (bao gồm cả giao thông vận tải) không quá 50 năm.

Nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh chung (không phân biệt trong nước hay nước ngoài) và các điều kiện đầu tư kinh doanh quy định riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có điều kiện chung (áp dụng đối với cả nhà đầu tư trong nước) liên quan giao thông vận tải gồm có: dịch vụ Logistics; vận tải đường bộ; vận tải đường thủy; vận tải biển; đại lý tàu biển;vận tải đường sắt; vận tải hàng không; dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay; dịch vụ cung cấp bảo đảm hoạt động bay; dịch vụ vận tải đa phương thức; dịch vụ bảo đảm hàng hải; dịch vụ quản lý, vận hành hệ thống cơ sở hạ tầng dùng chung; kinh doanh khai thác cảng biển;kinh doanh cảng hàng không, sân bay;kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt;kinh doanh đường sắt đô thị.

Điều kiện đầu tư kinh doanh, hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động đối với nhà đầu tư nước ngoài còn được quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (các điều ước về hàng hải, điều ước về hàng không, các cam kết WTO về dịch vụ và thương mại). Một trong những quy định cơ bản đối với nhà đầu tư nước ngoài là phải đáp ứng các quy định về tỷ lệ vốn nước ngoài cho phép tối đa tùy theo lĩnh vực đầu tư kinh doanh (điển hình như các cam kết WTO dưới đây).



Cam kết WTO về tỷ lệ tối đa phần vốn nước ngoài đầu tư tại Việt Nam để kinh doanh các dịch vụ giao thông vận tải:

Không hạn chế phần vốn nước ngoài (đến 100%) đối với lĩnh vực sau (có liên quan giao thông vận tải): dịch vụ xây dựng đối với các thiết kế dân dụng (công trình đường bộ), các dịch vụ liên quan đến máy vi tính (phần mềm).

Phần vốn nước ngoài cho phép tối đa từ 49% đến 51% đối với lĩnh vực sau: hầu hết các dịch vụ vận tải - logistics ở tất cả các chuyên ngành đường bộ, đườngsắt, đường thủy nội địa, vận tải biển nội địa, vận tải hàng không (trừ vận tải biển quốc tế).

Các ngành nghề kinh doanh khác thuộc lĩnh vực giao thông vận tải đều không thuộc danh mục chưa cho phép nhưng cũng chưa có cam kết.Trong trường hợp có nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, đề xuất dự án đầu tư không trong danh mục cam kết WTO, thẩm quyền quyết định thuộc về Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội.



(Chi tiết danh mục ngành nghề theo cam kết WTO xem tại Phụ Lục 8)

Đặc điểm thu hút đầu tư FDI vào dự án ngành GTVT

Vốn FDI trước đây được đầu tư vào nhiều dự án cầu bến và kho bãi của bến cảng biển (góp vốn thành lập công ty liên doanh, hợp doanh). Hiện nay, đã có một số nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đầu tư theo hình thức thành lập doanh nghiệp dự án và đề xuất dự án đối với dự án đường bộ cao tốc, cảng hàng không.

Các chính sách hiện hành (cam kết WTO, chính sách về doanh nghiệp nhà nước) đang hướng tới thu hút đầu tư FDI vào các lĩnh vực vận tải, hỗ trợ vận tải quốc tế (không hạn chế) và nội địa (liên doanh trong nước).


  1. Chính sách thu hút vốn nước ngoài tham gia góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực GTVT

Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành GTVT không cần có đề xuất dự án, không thành lập tổ chức kinh tế mới.




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương