NhóM 6: Khái niệm


ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VÂT ĐẾN MÔI TRƯỜNG



tải về 95.86 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích95.86 Kb.
#2026
1   2   3

4.ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VÂT ĐẾN MÔI TRƯỜNG.

4.1ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường đất

  • đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng thuốc BVTV. Đất nhận thuốc bảo vệ thực vật từ các nguồn khác nhau. tồn lượng thuốc BVTV trong đất đã để lại các tác hại đáng kể trong môi trường như làm ảnh hưởng các sinh vật trong đất, làm đất trở nên chai cứng đi sau nhiều năm đất sẽ trở thành đất trơ và khó canh tác . Thuốc BVTV đi vào trong đất do các nguồn: phun xử lý đất, các hạt thuốc BVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật vào đất. Theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cậy trồng có tới 50% số thuốc rơi xuống đất, ngoài ra còn có một số thuốc rải trực tiếp vào đất. Khi vào trong đất một phần thuốc trong đất dược cây hấp thụ, phần còn lại thuốc được keo đất giữ lại. thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt động sinh học của đất và qua các tác động của các yếu tố lý, hóa. Tuy nhiên tốc độ phân giải chậm nếu thuốc tồn tại trong môi trường đất với lượng lớn, nhất là trong đất có hoạt tính sinh học kém.

  • Thời gian tồn tại của thuốc trong đất dài hay ngắn tùy thuộc vao nhiều yếu tố môi trường. tuy nhiên, một chỉ tiêu thường dùng để đánh giá khả năng tồn tại trong đất của thuốc là “thời gian bán phân hủy” (haft life), tính từ khi thuốc được đưa vào đất cho tới khi một nửa lượng thuốc bị phân và được biều thị bằng DT50, người ta còn dùng các trị số DT75, DT90 là thời gian để 75% và 90% lượng thuốc bị phân hủy trong đất.

  • Các hợp chất hữu cơ có thời gian bán phân hủy dài nhất trong các loại thuốc trừ sâu hửu cơ tổng hợp thông dụng( DDt có thể tồn tại gần 3 năm) . Lượng thuốc BVTV, đặc biệt là nhóm Clo tồn tại quá lớn trong đất mà lại khó phân hủy nên chúng có thể tồn tại trong đất gây hại cho thực vật trong nhiều năm. Sau một khoảng thời gian nó sinh ra một hợp chất mới, thường có tính độc cao hơn bản thân nó.

  • Ví dụ: sản phẩm tồn lưu của DDT trong đất là DDE cũng có tác dụng như thuốc trừ sâu nhưng tác hại đối với sự phát triển của phôi bào trứng chim độc hơn DDT từ 2-3 lần. Loại thuốc Aldrin cũng đồng thời với DDT, có khả năng tồn lưu trong môi trường sinh thái đất và cũng tạo thành sản phẩm “Dieldrin” mà độc tính của nó cao hơn Aldrin nhiều lần. Thuốc diệt cỏ 2.4-D tồn lưu trong môi trường sinh thái đất và cũng có khả năng tích lũy trong quả hạt cây trồng. các thuốc trừ sâu dẫn xuất từ EDBC (acid etylen bis dithoacarbamic) như maned, propioned không có tính độc cao đối với động vật máu nóng và không tòn tại lâu trong môi trường nhưng dư lượng của chúng trên nông sản như khoai tây, cà rốt,…dưới tác dụng của nhiệt độ có thể tạo thành ETV (etylenthioure), mà ETV, qua ngiên cứu cho chuột ăn gây ung thư và đẻ ra chuột con quái thai.

Con đường phát tán của thuốc BVTV đến môi trương đất

  • 42. Ảnh hưởng thuốc BVTV đến môi trường nước

  • Theo chu trình tuần hoàn của hóa chất BVTV, thuốc tồn tại trong môi trường đất sẽ rò rỉ ra sông ngồi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn khiến đất bị nhiễm thuốc trừ sâu. Mặt khác, khi sử dụng thuốc BVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do nông dân đổ háo chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất, nước súc rửa,.. điều này có ý nghĩa đặc biệt nghiêm trọng khi các nông trường vườn tược lớn nằm kề sông bị xịt thuốc xuống ao hồ.

  • Trong nước, TBVTV có thể tồn tại ở các dạng khác nhau, và điều có thể ảnh hưởng đến môi trường. tác động của nó đối với sinh vật là: hòa tan, bị hấp thụ bởi các thành phần vô sinh hoặc hữu sinh và lơ lửng trong nguồn nước hoặc lắng xuống đáy và tích tụ trong cơ thể sinh vật. các chất hòa tan trong nước dễ bị sinh vật hấp thụ. Các chất kỵ nước có thể lắng xuống bùn, đáy ở dạng keo, khó bị sinh vật hấp thụ. Tuy nhiên, có một số sinh vật đáy có thể sử dụng chúng qua đường tiêu hóa hay hô hấp. có chất có thể trở thành trầm tích đáy để rồi có thể tái hoạt động khi lớp trầm tích bị xáo trộn. có chất có thể tích tụ trong cơ thể sinh vật tại các mô khác nhau, qua quá trình trao đổi chất và thải trở lại môi trường nước qua con đường bài tiết

  • Thuốc bảo vệ thực vật tan trong nước có thể tồn tại bền vững và duy trì được đặc tính lý hóa của chúng trong ki di chuyển và phân bố trong môi trường nước. các chất bền vững có thể tích tụ trong môi trường nước đến mức gây độc.

  • TBVTV khi xâm nhập vào môi trường nước chúng phân bố rất nhanh theo gió và nước. ngoài nguyên nhân kể trên do thiên nhiên và ý thức cũng như hiểu biết của người dân, một trong các nguyên nhân mà thuốc BVTV có thể xâm nhập thẳng vào môi trường nước đó là do việc kiểm soát cỏ dại dưới nước, tảo, đánh bắt cá và các động vật không xương sống và côn trùng độc mà con người không mong muốn. ngoài ra, lộ trình chính mà thuốc BVTV có thể xâm nhập vào môi trường nước đó là sự rửa trôi các cánh đồng do hoạt động nông nghiệp và các đồng cỏ.

  • 4.4. Ảnh hưởng của thuốc BVTV lên hệ sinh thái, quần xã sinh vật

Thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến quần thể sinh vật. các côn trùng có ích giúp tiêu diệt các loài dịch hại (thiên địch) cũng bị tiêu diệt, hoặc yếu đi do thuốc bảo vệ thực vật, hoặc di cư đi nơi khác do môi trường bị ô nhiễm do thiếu thức ăn do ta xử lý thuốc bảo vệ thực vật để trừ dịch hại. hậu quả là mất cân bằng hệ sinh thái. Nếu côn trùng đối tượng quay trở lại thì dịch rất dễ xãy ra do không còn thiên địch thống chế.

  • Một số côn trùng có khả năng kháng thuốc sẽ duy truyền tính nỳ cho thế hệ sau và như vậy hiệu lực của thuốc BVTV giảm. muốn diệt sâu, lại phải gia tăng liều lượng thuốc sử dụng, điều này làm gia tăng dư lượng thuốc BVTV trên nông sản và môi trường ngày càng bị ô nhiểm hơn. Mặt khác nông dân sẽ sử dụng các loại thuốc cấm sử dụng do có độ độc cao và tính tồn lưu lâu dài hoặc phối trộn nhiều thuốc BVTV làm tăng độ độc. theo thống kê đến năm 1971 đã có 225 loài côn trùng và nhệnh kháng thuốc. thuốc BVTV làm tăng loài này và giảm loài kia, song nhìn chung làm giảm đa dạng sinh học (loài gia tăng đa số là loài gây hại)

5.Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV

Thuốc bảo vệ thực vật hay thuốc trừ sâu trừ sâu có hại là các hợp chất hóa học được chế tạo để diệt trừ sinh vật gây hại cho cây trồng. Hiện nay chủng loại thuốc bảo vệ thực vật rất sử dụng rất đa dạng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhưng chủ yếu vẫn là các nhóm photpho hữu cơ, các nhóm clo hữu cơ, nhóm cacbamat và clorophenoxy axit ( là chất diệt cỏ).



5.1 Thế giới.

Hiện nay,tình hình thuốc sử dụng trên thế giới ngày một càng nhiều do nhu cầu thị trường,và nhu cầu thiết yếu của con người về các loại nông sản nên việc dùng thuốc BVTV là không thể tránh khỏi trong việc sản xuất các loại nông phẩm và sản xuất nông nghiệp không những thế mà thuốc BVTV có nhiều mục đích trong đời sống nhằm tiêu diệt các loại côn trùng gây bệnh,hại.Điển hình ở một số quốc gia như:


Hoa Kỳ sử dụng thuốc BVTV chiếm 5% lãnh thổ phun xịt, Ở Pháp, 18 triệu ha có sử dụng nông dược một lần một năm, chiếm 39% lãnh thổ

5.2 Ở Việt Nam

Việt Nanm thuốc BVTV đã được sử dụng từ lâu, đặc biệt trong những năm gần đây đã tăng đáng kể về mặt khối lượng và chủng loại. Vào những năm cuối thập kỷ 80, số lượng thuốc BVTV được sử dụng là 10.000 tấn/ năm, đầu thập kỷ 90 tăng gấp hơn 2 lần (21.600 tấn/ năm, năm 1990), và tăng gấp 3 lần (33.000 tấn/ năm, năm 1995)



  • Bảng số lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam từ 1990 - 1995

Nhóm thuốc

Số lượng sử dụng tấn qua các năm

1990

1992

1993

1995




Số

lượng


%

Số

lượng


%

Số

lượng


%

Số

lượng


%

Tổng số

Thuốc trừ sâu

Thuốc trừ bệnh

Thuốc diệt cỏ

Thuốc khác


21.600

17.590


2.700

520


410

100

82,20


12,60

3,30


1,90

24.415

18.100


2.800

2.600


915

100

74,13


11,50

10,5


3,75

25.600

17.700


3.800

3050


1050

100

69,15


14,84

11,91


4.10

33.000

20.500


5.650

4.500


2.350

100

68,33


15,50

11,70


4,50


tải về 95.86 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương