NhóM 6: Khái niệm



tải về 95.86 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích95.86 Kb.
#2026
  1   2   3

NHÓM 6:

1. Khái niệm

-Thuật ngữ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ,được dùng như hóa chất bảo vệ thực vật hay chất trừ vật haih hay dịch hại hoặ như người nông dân quen gọi là thuốc trừ sâu,là tên gọi chung cho cả thuốc trừ sâu,bệnh cây ,thuốc trừ mốc,mọt,kiến mối…trong ngành nông nghiệp nước ta. Dù bất kì với rên gọi nào thì các chất trên đều có tác hại đối với sức khỏe con người và đòi hỏi nhiệm vụ của nhà độc hoc cần phải nghiên cứu

-Thuốc BVTV là bất kì một hợp chất hay hỗn hợp sử dụng nhằm mục đích ngăn ngừa,tiêu diệt,xua đuổi.giảm trừ các sinh vật gây hại.theo định luật của hoa kỳ,hóa chất trừ sâu cũng là hợp chất hỗn hợp sử dụng nhằm điều hòa thực vật, làm khô lá hay rụng lá chất diệt dịch hại,chất diệt cỏ và cả chất diệt côn trùng

1 1. Định nghĩa về thuốc bảo vệ thưc vật
- Thuốc BVTV là những hợp chất hoá học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm, siêu vi trùng, tuyến trùng, …), những chất có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …)

- Theo qui định tại điều 1, chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc, …). Nh ững chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt.

- Ở nhiều nước trên thế giới thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại. Sở dĩ gọi là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, nấm, vi khuẩn, cỏ dại, …) có một tên chung là những dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là thuốc trừ dịch hại.

1.2. Phân loại

Tùy theo mục đích khác nhau,người ta có thể phân thuốc bảo vệ thực vật làm nhiều loại khác nhau:theo loài gây hại chúng kiểm soát, theo nguồn gốc hóa học, theo dạng kĩ thuật sử dụng, theo mức độ gây độc



1.2.1. Phân loại theo mục đích sử dụng

Loại thuốc bảo vệ thực vật

Mục đích sử dụng

1. Insecticides

2. Herbicides

3. Fungicides

4. Acaricides

5. Rodenticides

6. Nematicides

7. Molluscicides

8. Algicide

9. Biocides

10. Ocvicides

11. Disinfectants and santittizers

12. Attractants



Diệt côn trùng và các loài chân đốt

Diệt cỏ dại và các koaif phát triển không mong muốn

Diệt nấm (bao gồm nấm mốc làm rụi cây,nấm móc sương,nấm gỉ,nấm meo)

Diệt loài bộ ve bọ,nhên

Diệt chuột và các lòi gậm nhấm

Diệt các loài tuyến trùng

Diệt các loài sên,ốc

Kiểm soát tảo trong hồ,kênh mương

Diệt vi sinh vật

Diệt trứng sâu bọ,ve bét

Hóa chất diệt trùng,khử hoạt tính vi sinh vật gây bệnh

Thuốc thu hút côn trùng,loài gậm nhấm vào bẫy



13. Repellents

14. Pheromones

15. Defoliants

16. Descants

17. Insect growth regulators

18. Plant growth regulators



Thuốc xua đuổi sinh vật,nhất là muỗi và chim.

Hóa chất sinh học phá vỡ hoạt động giao phối tự nhiên của côn trùng

Hóa chất lầm rụng lá.thường để thuận tiện thu hoạch.

Hóa chất làm khô mô tế bào thực vật, thường để diệt cỏ.

Hóa chất phá vỡ quá trình sinh trưởng,các quá trình sống khác của côn trùng

Hóa chất thúc đẩy quá trình phát triển, ra hoa,nảy mầm, rau qủa của thực vật.



2.2.2 Phân loại theo nguồn gốc

2.2.2.1 Thuốc BVTV hóa học

A.Vô cơ.

Hỗn hợp Borddeaux: thuốc trừ bệnh thành phần gốc đồng (Cu) bao gồm Tetracupric sulfate và Pentacupric sulfate.Được sử dụng để ức chế các ezim khác nhau của nấm ,diệt nấm cho trái cây và rau màu.

Hợp chất Arsen :thuốc trừ sâu chứa thạch tín bao gồm trioxide arsenic, calcium arsenat. Được sử dụng nhu thuốc diệt cỏ.(paris xanh,arsenat chì…)

B. hữu cơ

-Clor hữu cơ,

Các clor hữu cơ thường là hợp chất hydrocacbon clo hóa trong phân tử có gốc aryl,heterocylic và có phân tử lượng từ 291-545 đ.v.C

Các clor có thể chia làm bốn nhóm chính

+DDT và các nhóm có liên quan

+HCH( hexacloxyclohecxan)

+Cyclodiens và các chất tương tự

+Polychorterpen

Đặc tính

Hầu hết các loại thuốc clo hữu cơ đều bền vững trong môi trương sống

Tích lũy và phóng đại trong sinh học

Vì vây hầu hết các loại thuốc này rất độc và bị cấm sử dụng nhiều nước trên thế giới ví dụ như DDT,Aldrin…

Ở Việt Nam vẫn còn sử dụng nhưng một số bị hạn chế như Dicofor,Endosulfan.. phần lớn clo hữu cơ khó phân hủy và tích lũy trong mô mỡ của động vật .

_ .Photphat hữu cơ

Lân hữu cơ là những chất có ít nhất một nguyên tử photpho 4 hóa trị. Các thuốc hữu cơ photpho thường có hai đặc tính nổi bật

Một là thuốc độc đối với các động vật có xương sống hơn là thuốc Clo hữu cơ

Hai là không tồn lưu lâu và ít hoặc không tích lũy trong các mô mỡ của động vật.

Các thuốc photpho hữu cơ gây độc chủ yếu thông qua sự ức chế Menacetylcholinesterare và tích lũy quá nhiều Acetylcoline tại vùng synap làm cho cơ bị giật mạnh và cuối cùng bị tê liệt

Các phosphate hữu cơ có 3 nhóm chính

+Aliphatic (mạch thẳng)

+Phenyl (mạch vòng)

+Hecterocy (dị vòng)

-Cacsbamate :
Các Carbamate là dẫn xuất của acid Carbamic, tác dụng cũng như lân hữu cơ ức chế men Cholinesterase.

Thuốc có hai đặc tính tốt là ít độc đối với động vật có vú và có khả năng tiêu diệt côn trùng rộng rãi .nhiều Carbamate là chất lưu dẫn dễ hấp thu qua lá,rễ, mức độ phân giải trong cây thấp,tiêu diệt tuyến trùng mạnh mẽ. nhìn chung nhóm này có chat độc thấp nhất so với hai nhóm trên , cơ thể cũng có khả năng phục hồi nhanh hơn nếu bị nhiễm độc. ngoại lệ các nitrosomethyl carbamate là chất gây đột biến mạnh mẽ

-Pyrethroid:

nhóm thuốc tương tự Pyrethrum (thuốc diệt côn trùng xưa nhất trích ly từ cây hoa thuy cúc trồng ở Nam Phi và Châu Á,độc tính qua đường miệng .không bền với ánh sáng.). Perythroid được tổng hợp bền với ánh sáng ,sử dụng rộng rãi với liều thấp ,tuy độ độc cao với loài chân đốt song không hại cho động vật máu nóng .độ độc chia làm hai loại tùy vào nhiệt độ cao hây thấp

Các pyrethoid có 4 thế hệ thuốc

+ Allenthrin (pyamin) được thương mại hóa năm 1949, tương đối ổn định và bền hơn pyrethrum.

+ Tetramethrin (neo-pyamin) có tác dụng tiêu diệt nhanh ,tác dụng dễ dàng với chất cộng hưởng (synergis), Resmethrin (1967) hiệu lực hơn Pyrethrum 20 lần, Bioresmethrin-đồng phân của Rermethrin hiệu lực hơn Pyrethrum 50 lần nhưng dễ bi hủy trong môi trường không khí, Bioallethrin(1969) dễ pha trộn nhưng không hiệu quả, Phenothrin (1973) có động lực trung bình, tăng hiệu lực khi trộn chung với các chất hợp lực.

+ Fenvalerate (Pydrin, Tribute), Permethrin (Ambush, Dragnet,Pouce, Pramex, Torpedo (1973) có hoạt tính diệt côn trùng cao,bền với tia UV và ánh sang, tồn tại 4-7 ngày trên mặt lá.

+ Thế hệ 4 có nhiều tính chất vượt trội hơn, hiệu lực tiêu diệt với nồng độ chỉ bằng 1/10 thuốc thế hệ thứ ba, bền với ánh sang, ít bay hơi.

Các loại khác như lưu huỳnh hữu cơ có vòng phenyl, có phân tử lưu huỳnh ở trung tâm, độc tính cao với côn trùng; các loại Formadine (Clodimeform,Formetanate, Amitraz), chống sâu non và trứng sâu,ức chế men monoamine oxidase là cơ chế tác độnh mới so với các thuốc cổ điển;các loại Thyocyanate ( Lathane 384, Thanite) chứa gốc SCN ngăn trở hô hấp và biến dưỡng tế bào; Các loại Dinitrophenol (DNOC,Dinoseb ) chứa 1,2 phenol độc nhiều với sâu hại,diệt cỏ,nấm, chống phosphoryl hóa trong quá trình sử dụng năng lượng từ dưỡng chất cơ thể. Do độc tính cao nên thuốc này bị cấm sử dụng.



2.2.2.2. Thuốc BVTV sinh học

Thuốc bảo vệ sinh học có nguồn gốc sinh học là các loại thuốc chiết xuất từ những nguyên liệu tự nhiên như động vật, thực vật, vi khuẩn và một số khoáng chất nhất định. Cuối năm 2001, đã có khoảng 195 nguyên liệu thuốc BVTV sinh học đăng kí thành phần và 780 sản phẩm chia làm 3 nhóm chính



Thuốc vi sinh (Microbial Pesticides):bao gồm các vi sinh vật ( tảo,vi khẩn , vi rus, nguyên sinh động vật…) là thành phần hoạt hóa. Mỗi thành phần có khả năng kiểm soát một loài gây hại tương ứng. loại hợp cchaats được sử dụng rộng rãi ở dạng này là các nhánh và vòng của vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt).mỗi dòng vi khuẩn này sinh ra một hỗn hợp protein khác nhau , tiêu diệt vài loaaij ấu trùng của côn trùng như mọt, kiến, muỗi…Các glycopropetein cao phân tử bị phá hủy bởi dịch tiêu hóa có tính kiềm của côn trùng mẫn cảm tạo ra các phần tử nhỏ hơn phá hủy vách trong ống tiêu hóa làm sâu không ăn được. có một số loài bào tử có khả năng nảy mầm trong ống tiêu hóa của sâu và gây độc, sau cùng làm cho sâu chết vì nhiễm độc máu. Loại thuốc này có hiệu lực đối với nhiều sâu non bộ Lepidoptera Cánh vảy(Tại Việt Nam thuốc thường dùng nhiều sâu trên bắp cải. vì thuốc có tác động chuyên biệt trên sâu non nên an toàn đối với người và là thiên địch của nhiều loại côn trùng gây hại. đây là thuốc lí tưởng để quản lí tổng hợp dịch hại. thuốc không độc đối với cây trồng,không có triệu chứng về độc cấp tính trên chuột chó và cá loài động vật có vú khác kể cả con người

Plant-Incorporated-Protectants (PIPs): là chất thực vật sản sinh ra từ vật liệu di truyền đã được thêm vào trước đó (các nhà khoa học có thể lấy gen của Bt cấy vào cây để sản sinh ra chất bảo vệ thực vật mong muốn). ngoài ra nhóm này còn có các loại thuốc chiết xuất thuần thảo mộc (cây thuốc lá,cây lá nem,cây họ cúc,họ đậu…

Thuốc sinh hóa :là các hợp chất trong tự nhiên,diệt côn trùng theo cơ chế không độc, trái ngược với các loại thuốc truyền thống ,là những nguyên liệu tổng hợp, trực tiếp làm chết hay mất hoạt hóa côn trùng. Nhóm thuốc loại này bao gồm các Pheromones dẫn dụ côn trùng vào bẫy để phun thuốc, bẫy chứa chất dính …(thường dùng nhất là hoocmon sinh dục do con cái tiết ra hấp đẫn con đực trong mùa giao phối), bẫy pheromone có rất nhiều dạng đã được dùng để khống chế khoảng 25 loài côn trùng, có thể phân hủy sinh học , không độc và độ bền kém thuốc đặc trị theo loài cao và không nguy hại đến môi trường.

2.2.3 phân loại theo độc tính

Dựa vào mức độ gây độc tác hại đối với người dựa trên độc tính của chuột cống qua đương miệng và đường da



Loại độc

LD50( chuột) (mg/kg thể trọng)

Đường miệng

Đường da

Chất rắn

Chất lỏng

Chất rắn

Chất lỏng

Ia

5

20

10

40

Ib rất độc

5-50

20-200

10-100

40-400

II độc vừa

50-500

200-2000

100-1000

400-4000

III độc nhẹ

Trên 500

Trên 2000

Trên 1000

Trên 4000

IV Loại sản phẩm không gây độc cấp khi sử dụng bình thường

1.3 .các dạng thuốc BVTV

1.3.1 dạng thuốc kỹ thuật

Theo kĩ thuật, thuốc BVTV gồm hai thành phần:phần quan trọng là hợp chất hóa học có hoạt tính sinh học (diệt dịch hại,dẫn dụ và xua đuổi côn trùng, ddieeuf hòa sinh trưởng…)được gọi là chất hoạt động hay gọi là hoạt chất ,phần còn lại là các tạp chất bao gồm nhiều tạp chất khác nhau không có hoạt tính sinh học.thương thì thuốc này càng ít tạp chất càng an toàn đối với người,vật nuôi,môi trường và hiệu quả sử dụng càng cao. Nếu hàm lượng của chúng đạt tới một giới hạn nào đó thì chúng được gọi là ô mhiễm vi lượng. thuốc kỹ thuật là nguyên liệu để sản xuất ra các thành phẩm vì các hóa chất BVTV ở dạng thô không thể dùng do chúng quá đậm đặc, khó trộn lẫn với nước hoặc không được bền, vì vậy những nhà bào chế thường thêm vào các hoa chất khác để cải thiện tính năng tồn trữ,vận chuyển và sử dụng an toàn



1.3.2. dạng thành phẩm

Chế phẩm BVTV bao gồm nhiều loại tùy theo tính chất hay kích thước hạt

Các dạng thuốc BVTV thành phẩm


Dạng thuốc

Kí hiệu

Dạng thuốc

Kí hiệu

Bột

(dust)


B,BR

(D)


Nhũ dầu

(emulsifiable concentration)



ND

(EC)


Bột nhão

(paste)


BN

(P)


Nhũ dầu dung dịch

(emulsifiable solution)



ND

(ES)


Bột hòa nước

(soluble)



BHN

(SP)


Nhũ dầu nước

(emulsifiable)



EW

Bột thấm nước

(wettable powder)



BTN

(WP)


Hạt

(granule)



H

Bột phân tán trong nước

(water suspension)



WS

Viên

(pellet)


P

Dung dịch

(solution)



DD

(S)


Hạt thấm nước

(wettable-grannule)



WG







Hạt tan trong nước

(soluble dust)



SD

2. TỔNG QUAN VỀ TÍNH ĐỘC CỦA THUỐC BVTV VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ


2.1 Các dạng tác động của thuốcBVTV:

Người ta chia thuốc BVTVlàm hai loại:chất độc nồng độ (concentrative pison) và chất độc tích lũy(cumulative pison).


2.1.1 Chất độc nồng độ

_ Mức độ gây độc của nhóm chất độc nồng độ phụ thuộc vào lượng thuốc xâm nhâp cơ thể ở dưới liều lượng tử vong (sublethal dose) cơ thể không bị tử vong và thuốc dần dần bị phân giải ;bài tiết ra ngoài .Thuộc nhóm độc này gồm các chất thuộc nhóm lân hữu cơ ;carbamate,pyrethroid ,thuốc có nguồn gốc sinh vật……


2.2.2. Chất độc tích lũy

_ các loại thuốc thuộc nhóm độc tích lũy gồm nhiều hợp chất clo hữu cơ ,các hợp chất chứa As,chì ,thủy ngân,….có khả năng tích lũy lâu trong cơ thể ,gây biến đổi sinh lý có hại cho cơ thể sống .Khi chất độc xâm nhâp vào cơ thể nhiều lần sẽ có hai hiên tượng tích lũy :tích lũy hóa học ,tích lũy chức năng (tích lũy hiệu ứng).Trong một số trường hơp tích lũy chức năng có thể được bài tiết hoàn toàn ra ngoài hiệu ứng của nó vấn tác động đến chức năng của cơ thể và được tăng cường thêm do hiệu quả của liều chất độc xâm nhâp vào cơ thể lần sau

2.2. Tính độc của thuốc BVTV

2.2.1 Độ độc cấp tính (acute)

Tại hội nghị y tế thế giới lần thứ 8 năm 1975,who đưa ra bảng phân loại tbvtv theo độ độc hại đối vói các loại sinh vật căn cứ trên giá trị LD50 (lethal dose 50)va LC50(lethal concentration 50).

Trong đó ,LD50 là liều thuốc gây chết 50% cá thể thi nghiệm ,có thể là chuột hoặc thỏ .

,được tính bằng mg/kg trọng lượng .LD50 gây nhiếm qua đường tiêu hóa (per oral)hoặc LD50 qua ra (dermal hoặc cutant),LC50 là nồng độ gây chết trung bình của thuốc xông hơi được tính bằng mg hoạt chất /m3 không khí .LD và LC càng nhỏ ,độc tính càng cao .độ độ độc của TBVTV dạng lỏng .căn cứ vào độ độc cấp tính của thuốc BVTV .chức y tế thế giới (WHO) đã chia các loại thuốc thành 5 nhóm độc .



BẢNG 2.3 thuốc BVTV phân chia theo các nhóm độc (who)

Phân nhóm và kí hiệu nhóm độc

Biểu tượng nhóm độc

Độc tình cấp LD50 (chuột nhà)mg/kg

Qua miệng

Qua da

Thể rắn

Thể lỏng

Thể rắn

Thể lỏng

dộc mạnh (rất độc)

Đầu lâu xương chéo

5

20

10

40

độc(độc)

Đầu lâu xương chéo

5-50

20-200

10-100

40-400

Độc trung bình(hại)

Chữ thập

50-500

200-2000

100-1000

400-4000

Độc ít(chú ý)

Chữ thập

500-2000

2000-3000

1000

4000

“cận thận”

Không có

>2000

>3000







2.2.2 Độ độc mãn tính (chronic)

Là khả năng tích lũy trong cơ thể người va động vật máu nóng ,khả năng gây đột biến tế bào ,khả năng gây kích thích các tế bào u ác tính phát triển ,ảnh hưởng cuả thuốc đến bào thai và gây dị dạng đối với các thế hệ sau ,…các thí nghiêm dung để xác định độ độc mãn tính của một thuốc bảo vệ thực vật thường được tiến hành từ 1-2 năm trên cơ thể động vật máu nóng .tuy nhiên thường xuyên tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật ,thiếu thận trọng khi làm việc với thuốc cũng có thể bị độc hại mà ta gọi là nhiễm độc “mãn tính” .lúc đầu sự nhiễm độc có thể nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường khác như da xanh ,nhức đầu ,mỏi cổ ,mỏi khớp …….,khi sử dụng cùng lúc 2 hay nhiều thuốc bảo vệ thực vât khác nhau co thể có 2 dạng tác động hơp lực va đối kháng



3. Độc tính dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật và ảnh hưởng của thuốc bvtv

3.1 Khái niệm về dư lượng TBVTV

Theo tiểu ban danh pháp dinh dưỡng của Liên Hợp Quốc thì dư lượng TBVTV là: “ Những chất đặc thù tồn lưu trong lương thực và thực phẩm, trong sản xuất nông nghiệp và trong thức ăn vật nuôi mà do sử dụng thuốc gây nên”. Những chất đặc thù này bao gồm “ dạng hợp chất ban đầu, các dẫn xuất đặc hiệu, sản phẩm phân giải, chuyển hóa trung gian, các sản phẩm phản ứng và các chất phụ gia có ý nghĩa về mặt đặ lý”. Đây là những chất độc. Dư lượng biểu hiện ở hai khía cạnh :

+ Trong đất và nước

+ Trong sản phẩm nông nghiệp

Dư lượng được tính bằng mg hợp chất độc trong 1 kg nông sản hoặc bằng mg/kg nông sản. Từng loại thuốc đối với từng loại nông sản đều được quy định mức dư lượng tối đa ( maximum residue limit: MRL) tức là lượng chất độc cao nhất được phép tồn lưu trong nông sản đó làm thức ăn.

Mức dư lượng tối đa của mỗi loài thuốc trong từng sản phẩm cây trồng và vật nuôi thường được quy định khác nhau ở mỗi nước, căn cứ vào đặc điểm sinh lý, sinh thái và nhất là căn cứ vào đặc điểm dinh dưỡng của người dân nước đó.



3.2 Động thái dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm cây trồng

Thuốc BVTV được cây hấp thụ, chuyển vận và tích tụ chủ yếu ở các bộ phận sinh trưởng và dự trữ chất dinh dưỡng. Trong cây, hàng loạt các phản ứng, chuyển hóa và phân giải thuốc xảy ra dưới tác động của ánh sáng, nhiệt độ, không khí, và nhất là hoạt động của các enzyme trong cây.

Những sản phẩm phân giải chứa phosphate, nitrate( thuốc lân hữu cơ và các hợp chất chứa Nito) có thể được cây sử dụng làm thức ăn . Các sản phẩm phân hủy khác cây bái tiết ra ngoài ở thể khí qua khí khổng lá hoặc ở dạng hòa tan trong nước qua nhĩ giọt.

Tốc độ chuyển hóa và phân giải thuốc trong cây tùy thuộc vào độ bền vững của hoạt động trong cơ thể sống. mức hoạt động của enzyme cây trồng điều kiện thời tiết bên ngoài, tuổi của cây.

Động thái dư lượng của một số nhóm thuốc BVTV trong cơ thể sinh vật có thể tóm tắt như sau:

Thuốc trừ sâu nhóm Chlor hữu cơ

Thuốc phân giải trong cây chậm, nhất là những hợp chất có áp xuất hơi thấp. Sản phẩm chuyển hóa của thuốc trừ sâu Chlor hữu cơ ít độc hơn hợp chất ban đầu ( trừ một số thuốc nhóm Xiclodien như Diedrin). Phần lớn hợp chất trừ sâu Chlor rất bền vững trong cơ thể động vật, thực vật và được tích lũy lâu trong mô mỡ, lipit, lipoprotein, sữa. Một số trường hợp ngộ độc hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là ở dạng này.



Thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và Cabonat

Trong cơ thể động thực vật, các hợp chất lân hữu cơ và cacbonat ít hoặc không có tích lũy lâu trong lipit, lipoprotein, mô mỡ. Tuy nhiên thuốc hòa tan trong dẫn xuất ete của axit hữu cơ vòng thơm và tồn tại rất lâu.

Trong cơ thể động thực vật sự chuyển hóa của cacbonat chậm hơn, các hợp chất trung gian trong quá trình chuyển hóa có đặc tính thấp hơn dạng ban đầu.

Sự chuyển hóa của các hợp cất lân hữu cơ diễn ra nhanh và phức tạp , xuất hiện nhiều hợp chất trung gian độc đối với côn trùng và động vật máu nóng hơn rất nhiều lần dạng thuốc ban đầu.



Thuốc trừ sâu thuộc nhóm Pyrethroit và một số hợp chất khác

Các hợp chất Pyrethroid, Benzoylphenyl urê, dẫn xuất Thiadiazin, hợp chất Oxihidrocacbon dưới tác dụng của enzyme cây và ánh sáng mặt trời, chuyển hóa và phân giải nhanh, ít tồn lưu trong nông sản, các hợp chất chuyển hóa trung gian ít độc hơn dạng hợp chất ban đầu hay không độc.



3.3. tính độc của thuốc đối với môi trường thành phần

Sử dụng thuốc BVTV có liên quan trực tiếp đến môi trường đất và nước. theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số thuốc phun ra bị rơi xuống đất. thuốc tồn trông đất dần dầnđược phân giiai3 qua hoạt động sinh học của đất và qua của các yếu tố lý hóa . tuy nhiên, tốc độ phân giải ại trong đâtốc độ phân giải thuốc chậm nến thuốc tồn trong đất với hàm lượng lớn, nhất là ở đất có hoạt động sinh học yếu, do đó thuốc bị rửa trôi gây nhiểm bẩn nguồn nước.

Thuốc trừ sâu gốc hóa học hiện nay đang được dùng quá nhiều trong sản xuất nông nghiệp, nhưng lại không được quản lý chặc chẻ do nhiều nguyên nhân ( thiếu cán bộ khoa học ở cơ sở, kiến thức khoa học kỹ thuật của nông dân còn thấp,..)điều này đã gây ra các tác hại môi trường nghiêm trọng.


  • Gây hại cho động vật có ích

+trong các loài côn trùng, số lượng côn trùng gây hại chiếm 1%, cò lại 99% côn trùng là cần thiết cho quan hệ hữu ích, không chỉ có ích lợi cho con người mà còn không thể tách rời trong sinh quyển.ung thuốc trừ sâu gốc hóa học không chỉ tác động trên côn trùng có hại mà còn tiêu diệt cả những loài hửu ích.

  • Tiêu diệt động hệ sinh vật, làm mất cân bằng sinh thái

Thuốc trừ sâu bị rửa trôi xuống thủy vực làm hại cho các loài động vật thủy sinh ( ếch, nhái, rắn nước,…) mà đó là những loài có ích, thiên địch của sâu hại. như vậy vô tình chúng ta đã làm tăng thêm số lượng sâu hại vì đã diệt mất thiên địch của chúng

  • Nhiễm độc lâu dài

Các thuốc trừ sâu thuộc nhóm chlor hữu cơ (DDT, BHC,…vẫn còn đang được sử dụng trái phép. Sự thâm nhập của chúng vào trong đất sẽ làm đất nhiễm độc với chu kỳ kéo dài hàng chục năm.

Tác hại trực tiếp có thể xãy ra đối với chó, mèo và trẻ em,. Tác hại gián tiếp có thể xãy ra cho các loài ăn thịt hay các loài ăn xác chết ăn các loài vật bị chết do thuốc trừ sâu. Một điển hình của dạng này là sự suy giảm quá mức của loài chim lợn tại vùng bắc Mỹ.

Hầu hết các trường hợp sử dụng thuốc BVTV đều rất phức tạp và khó kiểm soát. Khi thuốc trừ sâu được phun trên diện rộng một cánh đồng hay một khu rừng, các loài có ích cũng bị ảnh hưởng bởi chất hóa học, và do một số lượng thuốc bị phun chệch khỏi vùng dự tính nên càng có nhiều loài có ích bỉ ảnh hưởng.

Các mối nguy hiểm đối với các loài có ích đối với thuốc BVTV còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:a)tính nhảy cảm của sinh học của các VSV đối với từng loại thuốc thay đổi khác nhau, trong loài và trong quần xã, b)các động thực vật đối với môi trường của mỗi loại thuốc có thể bị ảnh hưởng bởi một số thong số chẳn hạn tỷ lệ phun, dụng cụ phun, thời tiết, vị trí phun.

Và cũng cũng cần lưu ý rằng nếu đạt đến một liều đủ lớn, bất kì hóa chất nào cũng gây độc đối với mọi sinh vật. tất cả các hóa chất đều có tính độc tiềm tang. Ngay cả nước sạch, nếu uống nhiều trong một thời gian ngắn, nước sẽ gây độc cho sinh vật do mất khả năng kiểm soát quy luật thẩm thấu của huyết tương. Đó là chưa nói đến các hóa chất có tính độc thì có nhiều loại có sẵn trong tự nhiên, nguy hiểm hơn nửa là chúng có thể truyền tính độc qua lưới thức ăn, ví dụ năm 1991 sự bùng nổ của loài tảo nitzchia occidentalis ở vịnh Montery, California, đã gây ra một sự tích tụ axit domoic trong các phiêu sinh động vật. một loài cá nhỏ như cá trống (engdraulis mordax), đã ăn các phiêu sinh động vật này và tiếp tục gây độc cho một số lớn cá lớn các loài chim ăn cá như Bồ Nông và ốc, đồng thời một số người bị ngộ độc do ăn các loài sò biển đã bị ngộ độc từ

Khuê tảo (theo Frits et al., 1992)

Một nghiên cứu khác về sự nhiễm độc hóa học cho môi trường đã được tiến hành năm 1982 tại 11 vùng nông nghiệp đầu nguồn ở Ontario. Có ít nhất 81 loại thuốc trừ sâu khác nhau đã được sử dụng trong nông nghiệp dọc theo hành lang an toàn ( của các con sông) và nhiều loại thuốc sử dụng gần nhà. Trung bình 39% bề mặt đất nhận 8,3kg/ha/năm. Việc sử dụng nồng độ cao thuốc trừ sâu ở vùng này đã gây ra ô nhiễm bề mặt nguồnn nước tại vùng nghiên cứu. thuốc diệt cỏ atrazine có mặt trong 93% các mẫu nước ( với mức sử dụng 2,2 kg/ha/năm). Mặt dù DDT bị cắm sử dụng vào năm 1972 nhưng vẫn tìm thấy nó trong 41% các mẫu nước.

Một ví dụ khác, quần thể gà gô(Perdix) đã suy giảm nghiêm trọng ở nước Anh trong vòng một thập niên gần đây. Vào năm 1952, mật độ trung bình của loài này là khoảng 25 cặp/km2, nhưng vào giau74 những năm 80 giảm chỉ còn 5 cặp/km2 ( giảm 80%, theo Sortherton, 1986)iện tượng này là. Do sử dụng rộng rải thuốc diệt cỏ trong nông nghiệp trồng ngũ cốc Anh. Việc sủ dụng thuốc diệt cỏ đã kiểm soát các loài cỏ và các loài chân đốt nhỏ. Côn trùng và các loài chân đốt là thức ăn của các con gà gô con cho đến khi chúng được 2-3 tuần tuổi, sau đó chúng chuyển sang chế độ ăn hạt lớn (Green, 1984, Sotherton và Rands, 1986)




tải về 95.86 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương