"Nhà văn đích thực phải là người tử tế" Giữa thời buổ


Thông điệp từ số phận mỏng manh



tải về 421.47 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu18.11.2017
Kích421.47 Kb.
#2141
1   2   3

Thông điệp từ số phận mỏng manh

Những năm trở lại đây, nhà văn H Anh Thái đang gây một hiện tượng khá thú vị trên văn đàn Việt Nam bằng những đứa con tinh thần được liệt vào hàng best-seller như Trại cá sấu, Bến Ôsin, Cõi người rung chuông tận thế... và mới đây là cuốn ời lẻ một đêm - tiểu thuyết đưc xem là đt độ chín nhất của nhà văn đầy cá tính gốc xứ Nghệ này.

ời lẻ một đêm là câu chuyện về một ngưi đàn ông và mt ngưi đàn bà tình cờ bị nhốt trong một căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm. Từ tình huống trớ trêu này, Hồ Anh Thái sáng tạo một đi cười đầy tính trào lộng mà chua xót và để lại nhiều suy ngẫm cho độc giả khi gấp sách lại. Tâm sự của đôi tình nhân là sự khai triển mạch truyện diễn ra bên ngoài cánh cửa căn hộ bị khóa kín. Đó là những câu chuyện thế sự mang đậm tính thông tấn nhưng lại ghi dấu ấn thông minh, sáng tạo và hơn hết thảy là kiến văn đọc thấu gan ruột thiên hạ của Hồ Anh Thái.

Gói gọn trong khoảng 320 trang viết, Hồ Anh Thái đã vẽ nên một bức tranh mang tính phản biện bằng giọng văn giễu cợt, tếu táo về chuyện học thuật phong cấp phong hàm “được tin dùng thì bằng cấp kiến thức chỉ là thủ tục”; chuyện hậu trường của giới văn nghệ sỹ; chuyện du lịch thời mở cửa; chuyện ứng xử của giới doanh nhân; thói lưu manh của những tên cơ hội mang danh trí thức... Trên sân khấu đi cười này, sau những tiếng cười, độc giả rất nhiều người sẽ phải giật mình khi chợt nhận ra thấp thoáng chân dung của một ngưi nào đó từ trong trang sách - ngưi đó có th là đồng nghiệp ở cơ quan, một người nổi tiếng của giới truyền thông, hay thậm chí là người vừa nín thở hồi hộp vừa tím tái thâm giận tác giả khi lần giở những trang sách...

Các tuyến nhân vật không có người hoàn toàn tốt và người hoàn toàn xấu. Họ là nạn nhân của chính họ và của hoàn cảnh, môi trường sống chung quanh mình. Trong ời lẻ một đêm, các nhân vật dưng như sống trong một môi trưng văn hóa dưi văn hóa. Điều này thể hiện rõ nhất qua nhân vật nhà văn hóa lớn. Với nhân vật luôn “ăn to nói lớn” này, hình như H Anh Thái đã vượt ra bản thân mình từ một người chứng kiến trầm lặng đằng sau tấm màn sân khấu để khắc họa một số chi tiết có phần khắc nghiệt, thậm chí miệt thị. Tuy vậy, điều lắng đọng, vương vn và suy tư nhất của truyện lại là cuộc đời và số phận mỏng manh của thằng Cá. Và đây cũng là thông đip mang đm tính nhân văn nhất của truyện, bởi từ tận cùng khát vọng của con người và nhất là những nhà văn chân chính ký ức về tuổi thơ mê mải trên những cánh đồng luôn là những giá trị mang tính vĩnh cửu. Với những người gần gũi với văn chương Hồ Anh Thái, số phận bất hạnh bất thành nhân dạng của thằng Cá như là hiện thân của nghiệp nhân quả.


Bảo Hân

Chương trình VTV tại Huế


ời lẻ một đêm,

cái nhìn hắt sáng từ phía sau


Nguyễn Thị Minh Thái



1. Viết mới, là một thách thức trong ý thức

Từng quan niệm tiểu thuyết là một giấc mơ dài, với những điu mà đời thực không có, và không chịu chỉ dùng một phương pháp hiện thực thuần túy để đạt tới giấc mơ dài của mình, Hồ Anh Thái, trong một thập kỷ qua, đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lao động viết tiểu thuyết nhọc nhằn của một nhà văn thực sự coi viết là một nghề. Giấc mơ dài này đã hiển thị bằng mấy cuốn tiểu thuyết gây được sự chú ý trên văn đàn, đặc biệt là Cõi người rung chuông tận thế (2002).



Cõi người rung chuông tận thế, do một lối viết rất mới, khiến biên tập viên không dễ ứng xử, đã bị nằm yên trong cõi mê riêng của tác giả, ngoài ý muốn, đến sáu năm trời. Nó đã lênh đênh qua nhiều nhà xuất bản, và chỉ nhờ duyên may mới được chào đời ở nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2002. Có lẽ vì thế mà nó gây hấn người đọc quá chừng, bởi cách viết “đa thanh” trong giọng kể nhiều biến điệu bất ngờ của chủ thể tiểu thuyết Hồ Anh Thái, lại được dồn nén trong chưa đầy ba trăm trang, vừa đủ đọc trên một chuyến máy bay chẳng hạn, nhưng lại khiến người đọc phải ngẫm nghĩ rất lâu sau đó về nhân tình thế thái trong cõi người ta. Chẳng phải ngẫu nhiên mà cuốn tiểu thuyết này liên tiếp được tái bản và gây ra được những tranh luận nhiều chiều từ người đọc.

Thực ra, cái viết trong mấy chục năm cầm bút của Hồ Anh Thái, nhìn từ cái đọc của người đọc tiểu thuyết, có thể nói, đã được tạo lập, không chỉ thành một giấc mơ dài, mà là một chuỗi giấc mơ tiểu thuyết, với mỗi tác phẩm ra đời là một giấc-mộng-con độc đáo. Và hơn thế nữa, đối với chính người viết, mỗi cuốn tiểu thuyết ra đời còn là một nấc thang đi lên, trong cả một quá trình vận động thẩm mỹ về ý thức viết tiểu thuyết.

Điều đó chứng tỏ, quan niệm viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã được kiến trúc trên sự tự ý thức triết học về cái viết, diễn ra đồng thời với quá trình hành động nhằm đổi mới tư duy, giọng điệu và cách ứng xử ngày càng hiện đại hơn với tiếng Việt, trên một tảng nền đầy đặn về văn hóa sống và văn hóa viết. Với Hồ Anh Thái, viết văn là một nghề hẳn hoi, chứ không phải thứ lao động tài tử, nghiệp dư, một cuộc ghé chơi tình cờ như khá nhiều người lầm tưởng. Hồ Anh Thái từng so sánh, khi được hỏi về kinh nghiệm sống và viết, rằng, cái viết trong nghề văn cũng có chút gì đó ging như tình yêu. Cần một chút mê đắm, một chút thành thực là có tình yêu. Nhưng đ nuôi dưỡng tình yêu ấy lâu bền thì cần có hiểu biết, cần sự từng trải nữa. Hiểu biết không nhất thiết chỉ từ sách vở, sự từng trải không nhất thiết là chỉ đắm chìm trong cái đi thường.

Vì thế, Hồ Anh Thái tự đặt lịch: mỗi ngày tôi phải đu đặn viết ít nhất hai tiếng. Người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn là phải đủ kỹ năng đ huy động cảm hứng. Chờ cảm hứng dẫn thân tới là một thái đ lao động nghiệp dư và có chút thần bí hóa nghề văn.

Chính cái ý thức đó, cái sự tự mình thách thức cái viết của chính mình đó, mà năm nào người đọc cũng được tiếp nhận tác phẩm mới của Hồ Anh Thái. Năm 2006, một tiểu thuyết mới của anh vừa chào đời, thêm một giấc mơ làm đầy đặn thêm chuỗi giấc mơ dài về tiểu thuyết của nhà văn không hề muốn ngưng làm mới mình.

Và tất nhiên, một tiểu thuyết mới như thế, tự thân nó yêu cầu một cách đọc mới.


2. Đằng sau giọng kể... như báo chí

Tiểu thuyết ời lẻ một đêm bắt đầu bằng tình huống cố tình được tổ chức giống như cách bắt đầu truyện ngắn, bằng một lát cắt thời gian, trong một không gian rất hẹp: một đôi tình nhân lâm tình huống, bị nhốt trong căn hộ trên tầng sáu chung cư suốt mười một ngày đêm.

Tình huống này, từ góc nhìn báo chí, có thể viết gọn vào một tin ngắn: một đôi từng yêu nhau thời trẻ, rồi chia tay, ai cũng lập gia đình. Sau hơn mười năm tình cũ không rủ cũng về, họ được người bạn cho mượn căn hộ tầng sáu. Anh bạn họa sĩ tốt bụng, hồn nhiên khóa cửa buổi sáng, hẹn chiều về giải phóng đôi tình nhân, nhưng anh ta biến mất tăm. Mười lẻ một đêm bị nhốt, đôi tình nhân nếm trải đủ mọi hỉ nộ ái ố của cuộc đời thu nhỏ, trong tình thế oái oăm, cho đến khi họ thoát khỏi cảnh ngộ dở khóc dở cười ấy. Và kết cục chẳng hề có hậu: đôi tình nhân chia tay vĩnh viễn.

Phải nói ngay rằng, tay nghề tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã thực là cao tay trong tiểu thuyết này. Tưởng như cả tiểu thuyết có thể dễ dàng tóm gọn trong một cái tin, như những cái tin được thông báo đầy rẫy trên báo chí hàng ngày. Cách kể chuyện ở đây cũng thế. Thoạt nhìn, thấy nhà viết tiểu thuyết kể lan man toàn chuyện đời sống thường nhật vặt vãnh của một xã hội thị dân Việt Nam đương đại, đang trôi chảy, như hàng ngày ta vẫn thấy. Nhưng đọc kỹ, ngẫm kỹ, lại thấy nhiều điều đáng khóc, đáng nghĩ, đáng cười...

Nhưng đằng sau cái lối viết kiểu thông tin báo chí có vẻ khơi khơi trên bề mặt, lại là một góc nhìn ở vị thế hắt sáng từ phía sau, từ bản thể, là cái giọng tiểu thuyết giễu nhại thâm sâu của Hồ Anh Thái.

Chọn một vị thế cái nhìn hắt sáng như thế và một giọng kể mang tính thông tấn, Hồ Anh Thái tỏ ra vững vàng trong chính sự lựa chọn ấy, để tìm được một thi pháp mới cho riêng cuốn tiểu thuyết này, mà tôi có thể tạm gọi là thi pháp giễu nhại - thông tấn.

Ném hai nhân vật chính vào tình huống “bị nhốt”, tác giả tha hồ phóng túng vượt khỏi cái tình huống khá chật hẹp ấy bằng đôi cánh tưởng tượng, thỏa chí hư cấu, thỏa sức bình luận, thoải mái tuôn trào cái giọng hài hước quái chiêu của mình, mặc lòng đảo lộn thời gian xuôi ngược, tự do điều khiển không gian biến ảo theo chiều kích bất thường của tràn lan hồi ức. Trong cái không –gian - hẹp - căn - hộ - chung - cư ấy, bị khóa trái, chẳng thể thoát ra ngoài, lại chẳng còn cái ăn, đói xanh mắt, không kể cho nhau nghe chuyện mình, chuyện người, chuyện đời... thì các nhân vật còn biết làm gì, ngoài cái việc ái tình mà họ đã chỉ định làm trong có một ngày, để trả nợ... tình xưa?

Dễ hiểu là vì thế cấu trúc bề mặt của cuốn tiểu thuyết này được tác giả dàn dựng theo thao tác làm tin quen thuộc của báo chí, với việc trả lời các câu hỏi: Ai? Việc gì? ở đâu? Thế nào? Tại sao?...

Không hề chường mặt như nhân vật Tôi trong Cõi người rung chuông tận thế, tác giả chỉ đưa ra liên tiếp các chi tiết nối liền chi tiết, trong một giọng bình luận ngoa ngoắt (bên ngoài), và cố tình giấu vào (bên trong), một nỗi đau thế sự, với giọng kể triền miên mà đầy bất ngờ trong bình luận kiểu giễu nhại, từ đầu đến cuối tiểu thuyết. Và người đọc, hoàn toàn bị cuốn theo giọng kể ấy mà khi cười thầm, lúc cười mỉm, cười nhẹ, rồi có lúc phải cười rũ ra, cười phá lên, thì mới đã đời. Và có thể, cười đấy mà đau, mà ghét cay ghét đắng chính người viết... Bởi thế, tác giả đâu muốn chỉ muốn làm người đọc cười. Ta ngờ rằng, tác giả hình như còn muốn nhiều hơn thế nữa, những cú đúp ngoạn mục, kiểu dân gian thường nói: khóc lên tiếng cười, hay là ời ra nước mắt. Là một người viết thông minh, chắc tác giả cũng có thể lường trước được những hệ lụy trong cái đọc văn chương của người đọc hôm nay, vốn đang là cái đọc rất phức tạp, thậm chí phân lập đến cực đoan...

Cũng phải nói ngay rằng, khi văn chương tiểu thuyết mà cứ mãi một giọng, với cùng một lối viết cho nhiều tác phẩm, thì việc xuất hiện một lối viết rất hiện đại: hài hước đến thâm thúy, tinh quái trong ời lẻ một đêm của Hồ Anh Thái, khiến người đọc thật thú vị, bởi chỗ cái cười thông minh của cái viết đã dẫn đến cái nghĩ sau đó của cái đọc cứ nhẹ bẫng như không...


3. Cái giá phải trả

Song, chính cái chỗ được nhất trong cái viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái ở ời lẻ một đêm, lại bộc lộ vấn đề của việc thử một cách viết mới, như thể cái giá phải trả dĩ nhiên của việc phiêu lưu, mạo hiểm mà tác giả vốn là người luôn ham muốn.

Người đọc không dễ tính khó có thể tìm được sự thống nhất nội tại phải có giữa cái nhìn báo chí bên ngoài, với giọng kể bên trong của một tiểu thuyết chỉ thông qua một tình huống kiểu truyện ngắn, dẫu rằng tình huống đó đã được Hồ Anh Thái tìm thấy và biện hộ một cách thật thông minh. Nhốt hai nhân vật chính vào một không gian hẹp, tác giả có thể yên tâm phóng túng tưởng tượng, khiến người đọc dễ bị cuốn theo, và trong thực tế đã bị cuốn theo, song, cái còn lại cuối cùng dành cho người đọc của ời lẻ một đêm lại là những thứ khác chứ chưa phải là... nhân vật tiểu thuyết. Điều đáng nói ở đây lại là: sự tước đoạt này là có ý thức từ phía người viết tiểu thuyết.

Trong một lần tranh luận, tôi nói: - Tôi cho rằng cái còn lại cuối cùng của nhà văn là tác phẩm, và trong tiểu thuyết, cái còn là lại cuối cùng vẫn phải là nhân vật tiểu thuyết. Truyện ngắn cũng vậy...

Hồ Anh Thái thẳng thắn: “Nếu sử dụng phương pháp truyền thống thì quan niệm phải có nhân vật là thỏa đáng. Nhưng nhiều kiệt tác của văn xuôi hin đại “bói” cũng không ra nhân vật. Hãy nhìn vào Con đường xứ Flandres của Claude Simon, Linh Sơn của Cao Hành Kiện... đâu cònnhân vật đáng nhớ” theo kiểu cổ điển nữa. Xem một truyện ngắn, một tiểu thuyết hay, có thể ngưi đọc chỉ lưu lại một cảm giác thăng hoa, một hiện trạng tinh thần viên mãn, chứ không nhất thiết là một nhân vật. Nhưng nói ra điều này ở ta vẫn chưa được chia sẻ”.

Quan điểm này bộc lộ rõ trong Mười lẻ một đêm, một kiểu tiểu thuyết phi nhân vật, mà tâm lý nhân vật được tác giả phát biểu thông qua giọng bình luận triền miên gần như phỏng đoán, cùng với việc xâu chuỗi các sự kiện đã được nhìn ngắm và chọn lọc bởi góc nhìn “thế sự” của báo chí, nên không tránh khỏi có chỗ gượng ép, có khi là đơn điệu một màu. Những nhân vật như cặp tình nhân, thằng bé ranh mãnh lợi dụng hoàn cảnh của họ để kiếm lời, thằng Cá con riêng của ông Víp, ông Víp, rồi vợ, chồng của cặp tình nhân, họa sĩ trồng chuối, mẹ của anh ta v.v... đều là những biếm họa vẽ nhanh của tác giả, xem ngay thấy thích thú, còn để đọng lại như những nhân vật “cá thể hóa”, theo cách nói của ông già triết gia Đức Hêgel là con người này, thì có lẽ đòi hỏi tác giả phải dụng công nhiều hơn, hoặc phải dụng công theo cách khác.

Lối viết này của Hồ Anh Thái khiến tôi nhớ đến cuốn tiểu thuyết Thế giới trong một ngày của Olivier Rolin, được tác giả viết rặt theo thi pháp thông tấn, khi ông đặt mua khoảng dăm trăm tờ báo trên thế giới, vốn được viết bằng 31 thứ tiếng, dùng làm chất liệu có thật, để viết về một ngày thật cụ thể của thế giới hôm nay: ngày xuân phân, 31-3-1989. Tất nhiên, ông viết về ngày xuân phân ấy bằng một tín niệm hẳn hoi, như chính ông đã tự tin viết trong “lời nói cuối của tác giả", rằng: nó là một cuốn tiểu thuyết: “không giống bất cứ một cuốn sách nào khác”. Và ông quyết mô tả cho được một ngày xác thực trên thế giới trong tính muôn hình muôn vẻ phi thường, tính thống nhất tạo ra thế giới, cả tính tầm thường, bất thường, khác lạ... Nói tóm lại, là tất cả những thứ gì có mặt trên thế giới vào cái ngày xuân phân được chọn vừa ngẫu nhiên lại vừa tất nhiên ấy.

Có vẻ như Hồ Anh Thái cũng muốn một cách nhìn thế giới khác lạ trên những sự kiện xác thực, có thể là vặt vãnh, chẳng đáng để tâm, bởi ai cũng gặp hàng ngày, và ai cũng có thể cho qua, với niềm tin sâu sắc rằng, cái nhìn của mình, cách mình nghĩ, cách diễn đạt của mình mới là quan trọng nhất trong cuốn tiểu thuyết của mình. Và từ đó, có thể ấn định một cách đọc mới cho độc giả tiểu thuyết, theo cách viết của mình.

Nhân vật tiểu thuyết, vì thế, đã bị chính tác giả đẩy lùi xuống thứ yếu.

Hoặc, nhân vật tiểu thuyết, chẳng qua là những mảnh văng bắn khác nhau của cái tôi tiểu thuyết của tác giả mà thôi.

Một điều khác dễ nhận thấy của ời lẻ một đêm, xuất phát từ chính đặc điểm thông tấn của cuốn tiểu thuyết này, chính là cấu trúc bị đứt gãy của tác phẩm, giống như cách viết một bản tin báo chí vẫn có thể nhảy từ một phân đoạn quan trọng này sang một phân đoạn quan trọng khác mà không cần đến những đoạn nối. Tôi không muốn nói đến cấu trúc bề mặt của ời lẻ một đêm, bởi vì trong đó vẫn có sự tuần tự theo kiểu cổ điển (đôi tình nhân bị nhốt được giải cứu chia tay) mà muốn nói đến cấu trúc nội tại của tác phẩm.

Tôi nghĩ những bạn đọc còn yêu thích một cách đọc tiểu thuyết kiểu truyền thống, thích suy tư về những nhân vật được nhà văn khắc sâu thân phận vào tác phẩm của mình, có thể chưa quen với cách viết của Hồ Anh Thái. Nhưng với ời lẻ một đêm cùng những điều tớichưa tới của tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã vượt qua chính mình để tìm một lối đi cho tiểu thuyết hôm nay. Và khi chính tác giả viết tiểu thuyết đã muốn thế, thì chính người đọc cũng phải chờ đợi, vì biết chắc rằng một cách viết mới bao giờ cũng đòi một cách đọc mới.

Hình như đây mới chính là câu hỏi đang được đặt ra cho số phận tiểu thuyết Việt Nam hiện đại: lạ hóa cung cách viết tiểu thuyết có phải là đương nhiên? Và lạ hóa một cách viết, hoàn toàn không phải là câu chuyện của đổi mới hình thức tiểu thuyết, mà trước hết, và sau cùng, vẫn là việc đổi mới tư duy của người viết tiểu thuyết hôm nay.

Thêm một điều chắc rằng: không ngừng suy tư, ngẫm ngợi về nghề viết và luôn ham muốn đổi mới cái viết tiểu thuyết, Hồ Anh Thái quả là một nhà văn can đảm theo đúng nghĩa của từ này...


Báo Văn Ngh, 10-6-2006

Ngôn ngữ tiểu thuyết độc đáo

Bùi Thanh Truyền – Lê Biên Thùy
Khi sáng tác, Hồ Anh Thái luôn tạo được những tình huống “chẳng giống ai” mang chức năng của những nút nhấn để từ đó toàn cảnh hiện ra với tất cả đường nét và dáng vẻ xiêu xó tức cười. Nhà văn phát hiện rất nhanh nhạy cái lố bịch trong đời sống, khai thác đến cùng phương diện gây cười của nó để đưa vào tuyến vận động của cốt truyện. Châm biếm, mỉa mai, trào lộng, hài hước là những nhân tố tạo nên sắc thái giễu nhại trong tiểu thuyết của anh. Hầu như toàn bộ kinh nghiệm cọ xát của nhà văn với ngôn ngữ đời sống thực tế đều được huy động: lối nói nhại, nói lái, tiếng lóng… thường xuyên hiện diện với tất cả nồng độ bụi bặm phố phường. Sức phê phán của chúng vừa có tính phủ định, công phá mạnh mẽ đối với cái xấu xa, lỗi thời vừa có ý nghĩa khẳng định, xây mới. Dám nhìn thẳng vào những cái - hài - đời với đầy những trật khớp, vênh lệch của cuộc sống thời tiền và hậu Đổi mới rồi thể hiện nó bằng một thứ ngôn ngữ tương xứng để tự cười và chọc cười thiên hạ là một sự dũng cảm, một hướng đi gập ghềnh nhưng hữu dụng, cấp thiết; và chính phương diện này lại bộc lộ rõ sở trường, phong cách độc đáo Hồ Anh Thái. Không chỉ sử dụng tiếng cười như một vũ khí đắc lực để "tống tiễn quá khứ một cách vui vẻ", người viết còn truyền cho người đọc dũng khí đối diện với những cái nhếch nhác, bệ rạc trong thực tế khách quan và ngay chính bản thân để tìm cách khống chế, hoàn thiện.

Giọng giễu nhại gắn liền với việc tố cáo, đả kích, phủ định thói hư tật xấu của thế thái nhân tình giữa thời buổi những thang bậc giá trị đang thay đổi. Đó là những dục vọng vô độ trong sự đồng lõa của môi trường văn hóa xuống cấp, thói học đòi, khoe mẽ: “Dân mình ăn đi kèm với chơi. Chơi rồi lại ăn. Bữa đại tiệc kết hợp ẩm thực với sex. Dần dần thực phẩm ít đi sex nhiều hơn. Rồi dần sex giảm theo năng lượng dự trữ trong cơ thể”; những họa sĩ rởm đời, hoang tưởng, sống "cởi mở" theo kiểu... chim để ngoài quần: "Bốn mươi tám cái xuân xanh là bốn mươi tám mùa cởi mở. Thời trang yêu thích nhất là bộ cánh lúc lọt lòng mẹ", hoặc chủ trương cái đức không thèm biết... sạch: "Quần áo dây toàn sơn với màu lưu cữu, chuột chạy qua quần áo của cánh họa sĩ này thì chỉ chạy có ba chân, một chân phải bịt mũi". Không dừng ở đó, chất giọng giễu nhại dường như xót cay hơn khi người viết chạm đến thái độ, cung cách ứng xử của con người với môi trường: “Xứ mình nhiệt đới mà cống rãnh lộ thiên bên lề đường. Lúc nào cũng ướt át bốc mùi. Rác cũng ướt át theo. Tấp vào lề đường là còn lịch sự. Rác trong nhà vứt toẹt ra giữa đường miễn là giữ được cái nhà mình sạch. Giấy ăn vỏ chanh vứt xuống gầm bàn miễn là giữ được cái mặt bàn sạch trước mắt mình. Chỗ nào đông người du lịch đổ đến là rác vứt đầy bãi biển đầy bờ suối hẻm núi”. Xuất phát từ trách nhiệm công dân - nghệ sĩ, một hướng chủ công khác của tiếng cười là đả châm, vạch mặt những thủ đoạn dựa vào thị hiếu, nhu cầu của người dân, sự lỏng lẻo, thậm chí bất lực của cơ chế để trục lợi: “Hội chứng làm du lịch trên khắp đất nước. Tỉnh có một bãi lau sậy nghe đâu có huyền thoại cặp tình nhân yêu nhau đến đây xây lâu đài ngủ một đêm rồi được gọi về giời. Coi như thắng cảnh. Soạn ra tích in thành sách quảng bá du lịch. Huyện có một cái hồ bên chân núi. Coi như thắng cảnh. Lập dự án vay tiền ngân hàng làm du lịch. Thả xuống mấy cái thuyền đạp nước hình con vịt, xây một cái nhà hàng bê tông bên bờ thế là xong. Địa phương nào cũng hô lên là có tiềm năng du lịch…” Giọng giễu nhại, bỡn cợt vì thế trở thành yếu tố thẩm mỹ nổi bật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, một phương tiện sắc nhọn để mổ xẻ những ung nhọt, quái trạng của xã hội. Từ cuộc sống thường nhật của giới công chức, giới khoa học, văn nghệ sĩ đến lối sống buông thả của lớp thanh niên thừa tiền thiếu lý tưởng, đám thị dân rởm đời... tất cả đều bị anh lật tẩy qua chất giọng đặc biệt này.

Mặc dù không tránh khỏi đôi chỗ hơi thái quá, nhưng giọng giễu nhại với sự lên ngôi của cả một kho ngôn ngữ mang phong vị dân gian: giàu ẩn dụ và sức mạnh tả thực, không cần che đậy đánh tráo bản chất của hiện tượng,... cho thấy tiếng cười trong văn xuôi Hồ Anh Thái nói chung, tiểu thuyết nói riêng, không lộ liễu, nghiêng về bản năng, dung tục chỉ để "thọc lét" độc giả chuộng lạ mà chứa đầy ý vị, kín đáo, tinh tế, sâu sắc, bộc lộ rõ cái tầm và cái tâm của người viết - một điều mà không mấy người có thể sánh kịp. Sức cuốn hút của "thương hiệu" Hồ Anh Thái là ở đó.

Cái hài không còn nằm ngoài “vùng phủ sóng” khi nhà văn từ chối tái hiện đời sống bằng cái nhìn nghiêm trang, đạo mạo chính thống. Tinh thần này toát lên từ dạng thức giễu nhại mang đậm chất nghịch dị (grotesque) của tiểu thuyết ời lẻ một đêm. Chỉ với một tình huống trớ trêu - một người đàn ông và một người đàn bà bị nhốt trong căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm - mà cả một không gian xã hội rộng lớn đã mở ra, theo những trải nghiệm quá khứ của ba nhân vật tham gia tấn trò: Họa sĩ Chuối Hột, Người đàn ông, Người đàn bà, tiếp đó là hàng loạt nhân vật khác. Tất cả các câu chuyện đều được kể lại từ ngôi thứ ba số ít với sắc thái hoài nghi, tra vấn trong điểm nhìn trần thuật. Giọng phát ngôn này luôn luôn bị đan cài, bị đánh lẫn vào giọng của các nhân vật đang được nói tới, nó tạo nên một hòa âm tưng tửng rất Hồ Anh Thái giai đoạn gần đây: vừa thực hóa vừa hư hóa, vừa nghiêm khắc cảnh tỉnh vừa bỡn cợt trào tếu, vừa bụi bặm, hầm hố hiện đại vừa hóm hỉnh, chân chất dân gian, vừa tự tin vào mình vừa nhiều nghi hoặc đối với cuộc đời... Câu văn do vậy cũng ngắn gọn, dồn dập, hạn chế tối đa sự miêu tả, bình luận, khước từ lối văn mực thước, kiểu cách, vòng đón, đưa đẩy. Tính trào lộng, suồng sã hết nước các sự kiện, các chi tiết được kể lại trong truyện là một cách tiếp xúc với thế giới không hoàn kết hôm nay; và chính bằng thái độ ấy, người viết mới có thể xóa bỏ mọi khoảng cách, “nắn gân bắt mạch” (chữ dùng của Hoài Nam) đối tượng một cách tỉ mỉ, chính xác, khách quan.



tải về 421.47 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương