ĐÁnh giá ĐÁP Ứng ngừng chảy máu và



tải về 94.5 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích94.5 Kb.
#3289




ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG NGỪNG CHẢY MÁU VÀ

SỐ LƯỢNG TIỂU CẦU TRÊN BỆNH NHÂN SAU TRUYỀN KHỐI TIỂU CẦU TỪ MỘT NGƯỜI CHO TẠI KHOA BỆNH MÁU C7.

SUMMARY


Assessement of hemostatic efficacy and platelet count in patient transfused single donor platelet ( SDP ).The data come from 30 case who transfused single donor platelet indicate that the platelet count raise to 53±G/l imediately after 1 hour, remaining 43±13G/l after 12 hour. The platelet counts correlate to 24 hour, 48 hour and 72 hour are equal to 42±14G/l, 38±24G/l and 19±11G/l. Hemostatic rate after 12 hour, 24 hour, 48 hour and 72 hour are equal to 52 percent, 87 percent, 93 percent and 97 percent. There is one patient surffured from intestinal hemorrhage did not recover. Transfusion reaction rate is about 3.3 percent in all patient transfused SDP.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong điều trị các bệnh lý huyết học và một số bệnh lý nội khoa khác thì vấn đề chảy máu do số lượng tiểu cầu thấp là rất hay thường gặp, tỉ lệ biến chứng nặng và tử vong cao. Để hạn chế và điều trị những trường hợp này chúng ta thường sử dụng tiểu cầu từ nhiều người cho ( tiểu cầu pool ) là nguồn tiểu cầu được sản xuất từ máu người cho với ưu điểm là giá thành thấp, có thể sản xuất taị những cơ sở có thu gom máu. Nhưng có nhiều nhược điểm hạn chế như phụ thuộc vào số lượng người hiến máu có cùng nhóm, thời gian chờ đợi lâu từ khi có người cho đến khi sàng lọc, thu gom máu và sản xuất, dễ bị nhiễm khuẩn trong quá trình điều chế, thời hạn bảo quản ngắn. Một nhược điểm quan trọng là do từ nhiều ngườ cho nên nguy cơ gây bất đồng miễn dịch rất lớn, có thể gây những phản ứng không mong muốn và nguy cơ lây nhiễm các virus truyền qua đường máu cao. Trong quá trình sản xuất cũng không loại bỏ được hoàn toàn bạch cầu nên cũng có nhiều nguy cơ do tác hại của bạch cầu trong truyền máu.

Trong những năm gần đây việc thu gom và sử dụng khối tiểu cầu từ một người cho ngày càng trở nên phổ biến ở các trung tâm truyền máu và các đơn vị điều trị bệnh máu. Những ưu điểm để được sử dụng rộng rãi đó là số lượng tiểu cầu cao trong một đơn vị, lấy từ một người duy nhất nên hạn chế về bất đồng miễn dịch, quy trình khép kín phòng được nhiễm khuẩn, thời gian bảo quản lâu hơn, không cần phải nhiều người cho nên rất thích hợp trong trường hợp thiếu nguồn người cho máu, chủ động hơn trong việc thu gom và sử dụng.

Tuy nhiên mặt hạn chế là giá thành còn cao chưa thích hợp với nhu cầu sử dụng rộng rãi như hiện nay.

Với những ưu điểm nêu trên việc sử dụng khối tiểu cầu từ một người cho sẽ ngày càng trở nên phổ biến và dần dần sẽ thay thế cho việc sử dụng khối tiểu cầu thông thường. Vậy trên thực tế thì hiệu quả điều trị cũng như tính an toàn sẽ được thể hiện như thế nào thì tại Viện Huyết học Truyền máu chưa có nghiên cứu đánh giá sơ bộ tuy đã thực hành điều trị cho một số bệnh nhân. Do đó nghiên cứu được thực hiện với mục đích sau:


  1. Xác định số lượng tiểu cầu của bệnh nhân sau truyền khối tiểu cầu từ một người cho .

  2. Xác định tỉ lệ bệnh nhân ngừng chảy máu và phản ứng sau truyền khối tiểu cầu từ một người cho .

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1 Bệnh nhân tại khoa bệnh máu C7 được truyền khối tiểu cầu tách bằng máy với đặc điểm:

Có biểu hiện xuất huyết trên lâm sàng.

Có số lượng tiểu cầu thấp < 20G/l.



      1. Khối tiểu cầu từ một người cho :

Tiêu chuẩn người cho tiểu cầu: Như người cho máu tình nguyện và có số lượng tiểu cầu > 250G/l.

Máy sử dụng: Heamonetic và Cobe

Kit sử dụng: Kit tách tiểu cầu.

Thời gian tách: 2 đến 4 tiếng.

Thể tích khối tiểu cầu theo tiêu chuẩn châu Âu.

Số lượng tiểu cầu có trong mỗi đơn vị theo tiêu chuẩn châu Âu.

Thời gian bảo quản không quá 5 ngày.


    1. Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Mô hình nghiên cứu: Là nghiên cứu ngang mô tả được thực hiện qua các bước sau:

  • Tất cả những bệnh nhân truyền khối tiểu cầu từ một người cho được đếm SLTC trước truyền, ghi lại chẩn đoán bệnh chính, vị trí xuất huyết.

  • Sau truyền 1 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ bệnh nhân được đếm lại SLTC, xác định vị trí còn chảy máu, ghi lại phản ứng do truyền máu nếu có.

      1. Kỹ thuật xét nghiệm trong nghiên cứu:

Xét nghiệm tổng phân tích máu ngoại vi bằng máy đếm tế bào tự động.

    1. Sử lý số liệu:

Phần mềm thống kê Statistica 5.0.

3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:



3.1 Biểu hiện xuất huyết ở bệnh nhân truyền tiểu cầu:
Hay gặp nhất là xuất huyết dưới da có 17 bệnh nhân chiếm 56,6%, chảy máu chân răng có 8 bệnh nhân chiếm 26,6%, chảy máu mũi và xuất huyết tử cung cùng có 2 bệnh nhân chiếm 6,7%, xuất huyết tiêu hoá có 1 bệnh nhân chiếm 3,3%. Tuy nhiên trong các bệnh nhân trên có thể có nhiều vị trí xuất huyết cùng lúc nên bệnh nhân được chọn vị trí chảy máu rầm rộ nhất để thuận tiện trong việc thống kê. Kết quả được thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.1: Biểu hiện xuất huyết ở bệnh nhân nhận tiểu cầu.



Chẩn đoán

Vị trí


STX

RLST

XHGTC




XHDD

11

3

3

17 (56,6%)

Chảy máu CR

6

1

1

8 (26,6%)

Chảy máu mũi

1

0

1

2 (6,7%)

XHTH

0

1

0

1 (3,3%)

XH tử cung

0

0

2

2 (6,7%)




18

5

7

30 (100%)


3.2 Số lượng tiểu cầu của bệnh nhân sau truyền KTC từ một người cho :

Bảng 3.2


Thời gian

Bệnh


Trước truyền

Sau 1h

Sau 12h

Sau 24h

Sau 48h

Sau 72h

Chung

6±3

52±12

43±13

42±14

38±24

19±11

P

<0.01

<0.01

< 0.05

>0.05

>0.05

STX

5,5±3.5

51±17

46±18

42±30

35±26

18±13

XHGTC

7,7±1,4

43±37

31±30

32±30

30±25

21±8,5

RLST

6±1,7

69±15

52±20

50±27

48±26

22±15

Trước khi truyền các bệnh nhân có sô lượng tiểu cầu rất thấp trung bình chỉ khoảng 6G/l, ngay sau khi truyền số lượng tiểu cầu tăng lên xấp xỉ 50G/l là giới hạn tương đối an toàn để cầm máu, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với mức P < 0.01. Sau 12 giờ và 24 giờ số lượng tiểu cầu tương đối ổn định ở mức 40G/l, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với trước khi truyền với P < 0.01. Số lượng tiểu cầu bắt đầu giảm mạnh sau 48 giờ với số lượng trung bình khoảng 30G/l nhưng vẫn có ý nghĩa rất tốt trên lâm sàng với mức tiểu cầu như vậy bệnh nhân ít có nguy cơ chảy máu ồ ạt tuy độ tin cậy thống kê ở mức P > 0.05. Sau 72 giờ thì số lượng tiểu cầu giảm rõ rệt sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P > 0.05.

So sánh sự biến thiên của số lượng tiểu cầu ở các nhóm bệnh lý khác nhau ở những thời điểm khác nhau không có sự biệt có ý nghĩa thống kê với P >0.05.

3.3 Tỉ lệ bệnh nhân ngừng chảy máu sau truyền tiểu cầu:

Tỉ lệ bệnh nhân đáp ứng nhìn chung khá tốt trong vòng từ 12h với 16 bệnh nhân (53%) tới 48h với 28 bệnh nhân (93%). Cụ thể với bệnh nhân xuất huyết dưới da sau 12h có 12 bệnh nhân ngừng xuất huyết chiếm 70%, sau 24h thì 100% bệnh nhân không còn xuất huyết mới. Bệnh nhân chảy máu mũi và chảy máu chân răng đáp ứng cũng khá nhanh sau 48h thì 100% không còn chảy máu. Chỉ có một bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá là không đáp ứng với truyền tiểu cầu trong vòng 72h và cần phải điều trị hỗ trợ bằng các biện pháp nội khoa khác. Kết quả được trình bày trong bảng 3.3


Bảng 3.3 Tỉ lệ bệnh nhân ngừng chảy máu sau truyền KTC từ một người cho theo thời gian.


Thời gian

Vị trí


1h

12h

24h

48h

72h

XHDD

0

12 (70%)

17 (100%)

17

17

Chảy máu CR

0

4 (50%)

7 (86%)

8 (100%)

8

Chảy máu mũi

0

0 (0%)

1 (50%)

2 (100%)

2

XHTH

0

0(0%)

0(0%)

0(0%)

0 (0%)

XH tử cung

0

0(0%)

1 (50%)

1 (50%)

2 (100%)




0

16 (53%)

26 (87%)

28 (93%)

29 (97%)


3.4 Tỉ lệ bệnh nhân có phản ứng: Chỉ có1 bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu bị rét run chiếm 3,3%.

4. BÀN LUẬN:

4.1 Số lượng tiểu cầu bệnh nhân sau truyền KTC máy:

Ngay sau truyền 1h số lượng tiểu cầu tăng đáng kể so với trước khi truyền, sự khác biệt về số lượng tiểu cầu giữa các nhóm bệnh là không có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng tỏ việc sử dụng tiểu cầu không bị giới hạn bởi nguyên nhân gây giảm tiểu cầu, có thể sử dụng rộng rãi trong các bệnh máu khác. Theo lý thuyết những bênh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu do có lượng kháng thể cao trong máu sẽ làm giảm hiệu quả của việc truyền tiểu cầu nhưng thực tế là số lượng tiểu cầu tăng lên rất đáng kể có thể do lượng tiểu cầu cao trong chế phẩm KTC máy đã trung hoà lượng lớn kháng thể và phần tiểu cầu còn lại đã nâng số lượng tiểu cầu lên. Tuy nhiên những số liệu thực tế phản ánh mức độ tăng số lượng tiểu cầu ở bệnh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu không đồng đều, mức độ dao động lớn.

Sau thời gian 12h, 24h và 48h số lượng tiểu cầu tương đối hằng định tuy có giảm sau 48 giờ. Sự khác biệt giữa số lượng sau truyền 1h và 12h là có khác biệt với P< 0.01 do tiểu cầu sau một thời gian đã tập trung vào các vị trí chảy máu và bị giữ lại bởi hệ thông liên võng. Sự khác biệt sau 12h và 24h không có ý nghĩa thông kê với P > 0.05 cũng như sau 48 giờ. Điều này thể hiện việc phá hủy tiểu cầu trong cơ thể bệnh nhân là không đáng kể trong thời gian trên bởi những lý do như tiểu cầu lấy từ một người nên khả năng bất đồng miễn dịch thấp, thời gian sống của tiểu cầu trong cơ thể tương đối tốt phù hợp với thời gian bảo quản của tiểu cầu ở ngoài cơ thể.

Số lượng tiểu cầu sau 72h hầu như không có khác biệt so với trước khi truyền với P > 0.05 chứng tỏ hiệu quả của truyền KTC máy không còn ý nghĩa sau 72h. Với số liệu trên thể hiện thời gian truyền tiểu cầu có hiệu lực là trong vòng 48h, điều này thực sự có ý nghĩa ở những nơi khản năng thu gom khó khăn, bệnh nhân có điều kiện tài chính hạn hẹp nhưng cần phải nâng số lượng tiểu cầu lên mức an toàn chống chảy máu hoặc thực hiện các thủ thuật ngoại, sản khoa. Những nới có điều kiện thu gom tốt, bệnh nhân chảy máu nhiều hoặc có nguy cơ đến tính mạng thì truyền tiểu cầu sau mỗi 24h là hợp lý, tuy nhiên mức độ truyền còn phụ thuộc vào tình trạng xuất huyết cụ thể trên từng bệnh nhân.



4.2 Tỉ lệ bệnh nhân ngừng chảy máu sau truyền tiểu cầu:

Mức độ đáp ứng của bệnh nhân hoàn toàn phù hợp với những thay đổi số lượng tiểu cầu, sau 12h đã có 53% bệnh nhân có đáp ứng, sau 24giờ có 87%và sau 48h có 93% bênh nhân. Khả năng đáp ứng nhiều nhất là sau 12h đến 48h. Những bệnh nhân chỉ có xuất huyết dưới da đáp ứng nhanh nhất sau 24h đã cố 100% bệnh nhân ngừng xuất huyết. Bệnh nhân chảy máu chân răng và chảy máu mũi đáp ứng cũng khá tốt trong vòng 48h. Riêng trường hợp xuất huyết tiêu hoá thì không có đáp ứng sau 72h bởi tình trạng chảy máu do lượng tiểu cầu thấp chưa hẳn là nguyên nhân gây chảy máu chủ yếu mà còn do những yếu tố và tổn thương khác của đường tiêu hoá tác động vào. Do đó sự phối hợp điều trị căn nguyên và các yếu tố nguy cơ ở những bệnh nhân này là cần thiết.



4.3 Tỉ lệ phản ứng của khối tiểu cầu từ một người cho :

Chỉ duy nhất có một trương hợp bệnh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu bị rét run với tỉ lệ là 3.3%. Đây là tỉ lệ tương đối cao nhưng do cỡ mẫu nghiên cứu chỉ có 30 bệnh nhân nên tỉ lệ này có ít ý nghĩa phản ánh, để có tỉ lệ chính xác hơn cần theo dõi trong nhiều trường hợp hơn nữa để phù hợp với tỉ lệ phản ứng khi truyền KTC nói chung. Không có phản ứng truyền máu nguy kịch trong nghiên cứu này thể hiện tính an toàn khá cao của KTC máy.



5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 30 trường hợp trường hợp truyền khối tiểu cầu máy tại khoa lâm sàng C7 Viện Huyết học Truyền máu, xin đưa ra một số kết luận như sau:
5.1 Về số lượng tiểu cầu sau khi truyền:


  • Sau truyền 1h số lượng tiểu cầu tăng lên ở mức 52±12G/l.

  • Sau truyền 12h số lượng tiểu duy trì ở mức 43±13G/l, sau 24h số lượng tiểu cầu ở mức 42±14G/l, sau 48h số lượng tiểu cầu ở mức 38±24G/l.

  • Sau truyền 72h số lượng tiểu cầu giảm xuống còn 19±11G/l.


5.2 Tỉ lệ bệnh nhân ngừng chảy máu sau truyền KTC từ một người cho:


  • Sau 1h chưa có bệnh nào đáp ứng. Sau 12h có 52% bệnh nhân có đáp ứng. Sau 24h có 87% bệnh nhân có đáp ứng. Sau 48h có 93% bệnh nhân có đáp ứng. Sau 72h thì 97% bệnh nhân có đáp ứng.

  • Bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết dưới đáp ứng nhanh nhất 100% sau 24h. Bệnh nhân chảy máu chân răng và chảy máu mũi đáp ứng 100% sau 48h. Bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá đáp ứng kem nhất, sau 72h vẫn còn chảy máu.


5.3 Tỉ lệ phản ứng của truyền khối tiểu cầu máy là 3.3%

6. KIẾN NGHỊ


Truyền khối tiểu cầu máy là một phương pháp điều trị hữu hiệu chống chảy máu ở bệnh nhân bệnh máu có giảm tiểu cầu. Để tăng cương hiệu quả và độ an toàn của phương pháp này xin có một số đề xuất sau:

  1. Tăng cường hơn nữa việc sử dụng và mở rộng đối tượng bệnh nhân truyền khối tiểu cầu máy.

  2. Thực hiện việc chi trả bảo hiểm không hạn chế cho bệnh nhân có chỉ định sử dụng khối tiểu cầu máy.

  3. Triển khai, áp dụng xét nghiệm định nhóm HPA trong việc sử dụng khối tiểu cầu từ một người cho .

Каталог: images -> stories -> tintuc -> download
download -> BưỚC ĐẦU ĐÁnh giá MỘt số chỉ SỐ thu gom khối tiểu cầu từ MỘt ngưỜi cho tách bằng máy tự ĐỘng haemonetics mcs
download -> Các bất thưỜng nhiễm sắc thể trong bệnh máU Ác tíNH
download -> Xếp loại của tổ chức y tế thế giớI (who) NĂM 2001
download -> Chuyển hoá SẮt trong cơ thể VÀ quá TẢi sắT Ở MỘt số BỆnh máU
download -> PháC ĐỒ chẩN ĐOÁn và ĐIỀu trị
download -> Heparin và Ứng dụng heparin trong lâm sàNG
download -> ĐIỀu trị LƠ-XÊ-mi kinh dòng bạch cầu hạT
download -> Virus gây lơXÊmi cấp dòng t lympho
download -> Tăng đÔNG, huyết khốI: CƠ chế BỆnh sinh
download -> Heparin và Ứng dụng heparin trong lâm sàNG

tải về 94.5 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương