Nguyễn thị HẢO 汉越鸟类名称对比研究 nghiên cứU ĐỐi chiếu tên gọi các loài chim trong tiếng hán và tiếng việT


Đối chiếu phương thức định danh các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt



tải về 408.44 Kb.
trang4/4
Chuyển đổi dữ liệu25.11.2019
Kích408.44 Kb.
1   2   3   4

3.2. Đối chiếu phương thức định danh các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

3.2.1. Khảo sát phương thức định danh các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt


Phương thức định danh là quá trình sử dụng ngôn ngữ để đặt tên sự vật. Việc hình thành tên gọi các loài chim đồng thời cũng là quá trình con người gia công vận dụng những yếu tố ngôn ngữ. Con người khi đặt tên chim đã sử dụng những yếu tố ngôn ngữ nào và những yếu tố ngôn ngữ đó đã được gia công sử dụng như thế nào? Những yếu tố ngôn ngữ mà con người sử dụng để đặt tên rất phong phú đa dạng, không chỉ có ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà còn có văn tự, các biện pháp tu từ v.v...Chúng tôi tiến hành khảo sát phương thức định danh của 281 tên gọi chim tiếng Hán và 323 tên gọi chim tiếng Việt, chia thành 6 loại phương thức, có những tên gọi đồng thời sử dụng 2 phương thức định danh được xếp vào loại 7 (phương thức tổng hợp). Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3-4: Bảng thống kê kết quả khảo sát phương thức định danh

các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

Thứ tự

Phương thức

định danh

Tiếng Hán

Tiếng Việt

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

1

Kết hợp ngẫu nhiên

2

0.7%

79

24.5%

2

Mô phỏng tiếng kêu/hót

1

0.4%

13

4%

3

Ghép thành tố

156

55.5%

153

47.4%

4

Sử dụng biện pháp tu từ

26

9.3%

35

10.8%

5

Vay mượn tiếng nước ngoài

2

0.7%

38

11.8%

6

Dùng bộ kiện biểu ý

77

27.4%

0

0%

7

Phương thức tổng hợp

17

6%

5

1.5%

Tổng

281

100%

323

100%

Kết quả khảo sát ở bảng trên được sơ đồ hóa bằng biểu đồ dưới đây:





Biểu đồ 3-2: Biểu đồ so sánh tỉ lệ các phương thức định danh

tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

3.2.2. Điểm giống và khác nhau về phương thức định danh các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt


3.2.2.1. Điểm giống nhau

Thứ nhất, phương thức định danh các loài chim trong cả hai ngôn ngữ đều tương đối phong phú, trong đó, chiếm tỉ lệ nhiều nhất đều là phương thức ghép thành tố (tiếng Hán 55.5%, tiếng Việt 47.4%). Phương thức sử dụng các biện pháp tu từ nhìn về mặt kết cấu cũng là một dạng ghép thành tố, là việc ghép thành tố dựa trên quy luật liên tưởng. Nếu tính cả phương thức này, tỉ lệ của phương thức ghép thành tố lại càng cao (tiếng Hán 64.8%, tiếng Việt 58.2%). Cả tiếng Hán và tiếng Việt đều là loại hình ngôn ngữ đơn lập, đều chịu ảnh hưởng của xu thế song âm tiết hóa từ vựng.

Thứ hai, phương thức định danh các loài chim từ ngẫu kết, mô phỏng tiếng kêu/hót đến dùng bộ kiện biểu ý để đặt tên, ghép thành tố, sử dụng biện pháp tu từ và vay mượn từ tiếng nước ngoài đã thể hiện sự phát triển của xã hội, cũng như quá trình phát triển tư duy của nhân loại từ cụ thể đến trừu tượng.

3.2.2.2. Điểm khác nhau

Thứ nhất, phương thức ghép thành tố đều chiếm tỉ lệ cao nhất trong cả hai ngôn ngữ nhưng dù có hay không tính thêm phương thức sử dụng biện pháp tu từ, tỉ lệ trong tiếng Hán đều cao hơn tiếng Việt. Nguyên nhân là bởi trong tiếng Việt, khi các tên gọi chim đơn tiết muốn trở thành đa tiết, trong rất nhiều trường hợp chỉ cần thêm từ chỉ loại “chim” vào phía trước và tạo thành cụm từ, ví dụ: dẽ→chim dẽ,sả→chim sả,mòng→chim mòng,oanh→ chim oanh v.v...

Thứ hai, tên gọi các loài chim trong cả hai ngôn ngữ đều chịu sự chi phối của quy tắc ngữ pháp riêng của mình. Chẳng hạn như trong phương thức ghép thành tố dạng chính phụ, điểm khác biệt ở chỗ, trong tiếng Hán, yếu tố khu biệt đứng trước, yếu tố chỉ loại đứng sau, như “丹顶//鹤”còn trật tự trong tiếng Việt thì ngược lại, như “sếu//đầu đỏ”. Hay như ở phương thức ẩn dụ, ở tiếng Hán, cái đem ra so sánh thường đứng trước, loài chim được so sánh đứng sau, như “猫头//鹰”còn trật tự trong tiếng Việt thì ngược lại, như “cú//mèo”.

Thứ ba, phương thức định danh kết hợp ngẫu nhiên, tỉ lệ trong tiếng Việt cao hơn hẳn tiếng Hán (24.5% so với 0.7 %). Tạm thời chưa bàn đến việc khảo sát từ nguyên, không thể bỏ qua vai trò đặc biệt của những bộ kiện biểu ý (鸟, 隹, 羽)trong tên gọi các loài chim tiếng Hán.

Thứ tư, phương thức định danh sử dụng các biện pháp tu từ, cả hai dân tộc khi đặt tên chim đều thể hiện sự liên tưởng phong phú, nhưng đối tượng tham chiếu không giống nhau. Tên gọi các loài chim tiếng Hán thường quy chiếu về thế giới con người, dùng tên riêng của người hoặc cách xưng hô với người để gọi tên chim, ví dụ như: 杜宇、八哥、白头翁. Trong khi đó tên gọi các loài chim tiếng Việt lại thường quy chiếu đến những loài vật hay loài chim quen thuộc với người dân như: gà chích, cò nhạn, dẽ gà, vịt cò v.v... Lối đặt tên bằng thủ pháp nhân hóa gần như không xuất hiện trong những tên gọi chim thuần Việt.

Thứ năm, dùng bộ kiện biểu ý để đặt tên chim có thể coi là phương thức đặc hữu của tiếng Hán, thể hiện tính kinh tế hiệu quả của tiếng Hán. Chữ Hán thông qua hình dạng chữ có thể truyền tải ý nghĩa, nghĩa của từ có thể nhận diện được qua hình chữ. Trong khi đó, tiếng Việt lại ưa sử dụng phương pháp ghép thành tố (có những tên gọi tiến hành đến 2 lần ghép, ví dụ như: khướu→khướu mỏ dẹt→khướu mỏ dẹt lưng đen.

Tiểu kết

Bằng việc phân tích đối chiếu cơ sở định danh và phương thức định danh các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt, luận án chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, số lượng các kiểu cơ sở định danh và kiểu phương thức định danh đều tương đối phong phú. Cả người Trung Quốc và người Việt Nam đều quan tâm nhất đến đặc điểm ngoại hình để đặt tên chim, nhất là đặc điểm màu sắc cơ thể. Phương thức ghép thành tố là phương thức định danh phổ biến nhất trong cả hai ngôn ngữ.



CHƯƠNG 4. ĐỐI CHIẾU NGHĨA PHÁI SINH CỦA

TÊN GỌI CÁC LOÀI CHIM TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT




4.1. Khảo sát nghĩa phái sinh của tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

4.1.1. Thuyết minh khảo sát


Chúng tôi tiến hành thu thập ngữ liệu từ Từ điển Hán ngữ hiện đại (phiên bản 6), Từ điển thành ngữ đa năng, Từ điển tục ngữ tiếng Hán, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam. Kết quả thu được tổng cộng 218 đơn vị ngôn ngữ tiếng Hán và 204 đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt.

4.1.2. Kết quả khảo sát và phân tích


Chúng tôi chia đích liên tưởng của tên gọi chim thành 3 loại: con người, không gian thời gian và sự vật khác. Kết quả khảo sát được tổng kết trong bảng sau:

Bảng 4-1: Bảng thống kê nghĩa phái sinh của tên gọi các loài chim

trong tiếng Hán và tiếng Việt

TT

Đích phái sinh

Tiếng Hán

Tiếng Việt

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

1

Con người

117

53.7%

155

76%

2

Không gian, thời gian

14

6.4%

11

5.4%

3

Sự vật khác

87

39.9%

38

18.6%

Tổng

218

100%

204

100%



4.2. Điểm giống và khác nhau về nghĩa phái sinhcủa tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

4.2.1. Điểm giống nhau


Thứ nhất, sự phong phú đa dạng của các nghĩa phái sinh chứng tỏ cả hai dân tộc đều ưa sử dụng lối tư duy qui chiếu liên phạm trù. Đây vừa là mẫu số chung của nhân loại vừa có sự ảnh hưởng của những nguyên tắc tư duy, mĩ học đậm chất Đông phương: tư duy tổng hợp tính, thích diễn đạt theo các mối quan hệ bắc cầu (vẽ mây nẩy trăng, tá chủ hình khách). Con người thường thông qua thế giới loài chim để nói về chính mình và các sự vật khác. Nhất là với những vấn đề tế nhị, thậm chí là cấm kị trong xã hội phong kiến như giới tính, bộ phận sinh dục, người ta thường không dám nói thẳng ra mà phải mượn thế giới loài chim để ám chỉ.

Thứ hai, thể hiện tư duy biện chứng của cả hai dân tộc. Ví dụ, “gà” là một trong “lục súc”, từ lâu đã được coi là biểu tượng của cuộc sống nơi thôn dã. Là sứ giả báo bình minh, hình tượng gà tiêu biểu cho đức tính cần cù, chăm chỉ. Trong tiếng Hán, “鸡” đồng âm với “吉”, người Trung Quốc coi “gà” là biểu tượng cho sự may mắn tốt lành, những bức tranh cắt giấy dân gian hình tượng con gà mang lại may mắn cho con người mỗi dịp Tết đến xuân về. Bên cạnh đó, “gà” cũng có mặt tiêu cực, ví dụ: “斗败的公鸡” miêu tả dáng vẻ xác xơ tan tác,“鸡肠子心眼” biểu thị lòng dạ hẹp hòi,“鸡犬不宁” miêu tả trạng thái loạn lạc, lòng người hoang mang, “kê gân kê cốt” miêu tả dáng vẻ yếu ớt thiếu sức sống,“gà người gáy,ta cũng le te” chỉ người a dua theo phong trào,“gà què ăn quẩn cối xay” chỉ người tầm thường, thiếu năng lực v.v...

Thứ ba, chúng ta thấy được những điểm nổi trội trong tư duy – văn hóa truyền thống của cả hai dân tộc. Đó là sự coi trọng đạo đức, phẩm giá. Mặc dù chủ trương “trông mặt mà bắt hình dong”, loài chim với bộ lông đẹp, tiếng hót hay tiêu biểu cho tính cách, phẩm giá cao đẹp nhưng luôn đặt vẻ đẹp của tâm hồn, nhân cách lên trên hết. Như thành ngữ tiếng Việt “dẻ cùi tốt mã” phê phán những kẻ có bề ngoài hào nhoáng nhưng bản chất không ra gì như loài chim dẻ cùi có bộ lông sặc sỡ nhưng lại ăn phân chó- hành vi bị coi là đáng khinh nhất trong quan niệm của người Việt Nam.

Thứ tư, thể hiện tư duy nông nghiệp, coi trọng thiên nhiên và sự hài hòa với môi trường của cả hai dân tộc. Ví dụ mô thức liên tưởng có cả trong hai ngôn ngữ: chim sống ở nơi cao – bầu trời, vách núi (có khả năng bay cao) như phượng hoàng, hạc, đại bàng...qui chiếu đến con người có phẩm cách và địa vị cao quí; chim sống nơi thấp – mặt đất lầm lụi (bay kém hoặc không có khả năng bay) như gà, sẻ... qui chiếu đến con người nhỏ bé, tầm thường.

Thứ năm, các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt thường gợi liên tưởng đến các phạm trù không gian, thời gian, con người… Trong đó, phạm trù người là đích liên tưởng chủ đạo nhất. Gần như tất cả mọi phương diện của con người đều được phản ánh trong những liên tưởng từ chim: từ đặc điểm hình thức, vấn đề giới tính, đến tầng vỉa sâu hơn là đời sống tinh thần, đạo đức, phẩm giá, địa vị, tâm tư tình cảm…

Thứ sáu, từ thế giới loài chim quy chiếu đến xã hội loài người, bên cạnh những đánh giá khách quan, công bằng, không ít những đánh giá mang màu sắc “chủ quan”, do chịu ảnh hưởng từ hoàn cảnh sống, phương thức lao động sản xuất cũng như những yếu tố văn hóa: tâm lý, truyền thống đạo đức, tín ngưỡng, quan niệm thẩm mỹ ... Ví dụ, trong các thành ngữ “占” và“quạ nuôi tu hú”, hành vi gửi trứng vào tổ chim khác là thuộc tính bản năng của các loài chim kí sinh tổ, nhưng vẫn bị đánh giá là hành vi cướp công, không làm mà hưởng. Hay như theo bản năng sinh học, vạc là loài ăn đêm, là loài hoạt động ban ngày nhưng người dân Việt Nam vẫn coi là biểu tượng cho sự chăm chỉ cần lao còn vạc là lười biếng.

Thứ bảy, về hình thức, cả hai ngôn ngữ đều ưa sử dụng những cặp chim mang ý nghĩa biểu trưng tương đồng hoặc đối lập xuất hiện đối xứng trong cùng một thành ngữ, tục ngữ. Ví dụ những cặp tương đồng như phượng –loan, cú- vọ, cú- quạ, những cặp tương phản như phượng –quạ, phượng –gà, phượng-bìm bịp, phượng –sẻ, công –gà, công –quạ, công cú, cò – quạ v.v.. làm gia tăng giá trị biểu đạt cho thành ngữ, tục ngữ.

4.2.2. Điểm khác nhau


Thứ nhất, hướng liên tưởng từ các loài chim đến các sự vật khác, số lượng và tỉ lệ trong tiếng Hán đều cao hơn tiếng Việt (tiếng Hán 86 đơn vị ngôn ngữ, chiếm 39.4%; tiếng Việt 38 đơn vị ngôn ngữ, chiếm 18.6%) . Điều này cho thấy hướng liên tưởng chủ đạo trong tiếng Việt là hướng tới con người, các hướng liên tưởng khác không phong phú đa dạng bằng tiếng Hán.

Thứ hai, hai ngôn ngữ sử dụng hình tượng những loài chim khác nhau để biểu đạt cùng một nội dung. Ví dụ như, biểu thị thân phận nhỏ bé, phẩm chất tầm thường, tiếng Hán dùng “chim sẻ” (雀儿带不起皇冠), tiếng Việt lại dùng “chim chích” hoặc “cun cút” để biểu thị(chim chích được mấy hột lông, chuồn chuồn được mấy hột thịt); miêu tả cánh đồng lúa rộng bát ngát, tiếng Hán dùng hình tượng “quạ” (飞不过的田土),tiếng Việt lại dùng “thẳng cánh bay” v.v...

Thứ ba, cùng một loài chim trong giới tự nhiên, nhưng nghĩa phái sinh của chúng trong hai ngôn ngữ lại không giống nhau. Ví dụ như đối với khả năng mô phỏng một số âm thanh của người của loài chim khướu, người Trung Quốc đánh giá khá cao, “巧八哥” chỉ những người giỏi ăn nói, trong khi đó, cách diễn đạt của tiếng Việt “hót như khướu bách thanh”、“nói như khướu”、“tán như khướu”、“chuyện như khướu” lại mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ những người nói nhiều nhưng nói linh tinh, không đáng tin cậy. Hay như trong tiếng Hán, chim cuốc (杜鹃) biểu thị nỗi tiếc thương mùa xuân trôi đi, vì cuối xuân đầu hạ đỗ quyên kêu không ngừng nghỉ; nhưng trong tiếng Việt, chim cuốc lại là sứ giả của mùa hè, tượng trưng cho mùa hè, như thành ngữ “học như cuốc kêu mùa hè”、“ra rả như cuốc kêu mùa hè”.

Thứ tư, cùng một loài chim trong giới tự nhiên nhưng ý nghĩa phái sinh của chúng trong hai ngôn ngữ chỉ trùng khớp một phần. Ví dụ, chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Hán, thành ngữ tiếng Việt “mình hạc xương mai” ca ngợi vẻ đẹp mảnh mai, thanh khiết của người con gái. Nhưng mặt khác, lại có “cao như hạc”, “gầy như hạc” thậm chí “mình hạc xác ve”. “Hạc” ở đây không còn tượng trưng cho vẻ phiêu linh thoát tục nữa mà là vẻ cao gầy, yếu đuối, sắc thái ý nghĩa từ tích cực chuyển sang tiêu cực. Chứng tỏ, khác với người Trung Quốc, điểm nổi trội nhất về hình thức mà người Việt chú ý ở chim hạc là sự cao, gầy, yếu đuối. Hay như, mặc dù cả hai dân tộc đều không đánh giá cao khả năng mô phỏng tiếng người của loài vẹt, nhưng sự đánh giá cụ thể của hai dân tộc lại không giống nhau. Thành ngữ tiếng Hán “鹦鹉学舌” chủ yếu biểu thị người khác nói gì, cũng a dua nói theo, còn thành ngữ tiếng Việt “học vẹt” lại chủ yếu phê phán lối học máy móc thuộc lòng từng câu từng chữ nhưng không hiểu gì.



Thứ năm, có những nghĩa phái sinh của các loài chim chỉ tồn tại trong ngôn ngữ này mà không tồn tại trong ngôn ngữ kia. Đây là hiện tượng thường gặp trong cả tiếng Hán và tiếng Việt. Ví dụ, những cách diễn đạt chỉ có trong tiếng Hán: “鸬鹚笑”、“鹅蛋脸”、“黑眉乌嘴”、“凤尾鱼”、“鹦鹉螺”、“鹅掌楸”、“凤梨”、“鸽子树”、“鸡血石”、“孔雀石”v.v…; những cách diễn đạt chỉ có trong tiếng Việt: mặt đỏ như gà chọi, cổ ngẳng như cổ cò, đen như cuốc, béo như con cun cút, vịt dầu, vịt nước mắm v.v… Hay như người nông dân Việt Nam coi con cò là biểu trưng cho hình ảnh của chính mình quanh năm lam lũ, vất vả một nắng hai sương, nhưng người Trung Quốc lại không quen thuộc với hình ảnh đó, nên trong tiếng Hán không tồn tại ý nghĩa phái sinh này.

Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã tiến hành đối chiếu nghĩa phái sinh của tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ. Sự phong phú của hiện tượng chuyển nghĩa cho thấy cả hai dân tộc đều ưa thích thông qua miêu tả ngoại hình, tiếng kêu hay tập tính của những loài chim để nói về chính con người và các sự vật khác. Nghĩa phái sinh của tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ vừa có điểm tương đồng, vừa có điểm khác biệt, mang đậm đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc.



KẾT LUẬN


Luận án của chúng tôi với đối tượng khảo sát là tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ Trung, Việt, dựa vào lý luận về nghĩa của từ, trường từ vựng- ngữ nghĩa, lý thuyết định danh và đối chiếu ngôn ngữ, trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu đã có, vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: miêu tả, giải thích, phân tích, đối chiếu, đã tiến hành đối chiếu tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ trên một số phương diện, và thu được những kết luận sau:

Trên phương diện cấu tạo, chúng tôi coi “thành tố cấu tạo tên gọi” là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo nên tên gọi, các tên gọi chim có từ 1 đến 4 thành tố cấu tạo, kết quả phát hiện vừa có sự tương đồng vừa có sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Về số lượng thành tố cấu tạo, đại bộ phận tên gọi chim gồm 1 hoặc 2 thành tố, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất đều là tên gọi chứa 2 thành tố. Cụ thể hơn, tên gọi 2 thành tố dạng chính phụ chiếm tỉ lệ cao nhất. Do đó, có thể khẳng định, cấu tạo điển hình của tên gọi các loài chim trong tiếng Hán là “ thành tố khu biệt+ thành tố chỉ loại”, cấu tạo điển hình của tên gọi các loài chim trong tiếng Việt là “thành tố chỉ loại+ thành tố khu biệt”. Xếp ở vị trí thứ hai đều là các tên gọi là 1 thành tố dạng đơn âm tiết, vị trí thứ ba là các tên gọi 1 thành tố dạng lianmian, các dạng tên gọi còn lại đều chiếm tỉ lệ rất ít. Ngoài ra, tỉ lệ các tên gọi là điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp âm trong tiếng Việt cao hơn hẳn tiếng Hán, là nét độc đáo riêng của tên chim tiếng Việt.

Trên phương diện cơ sở định danh, tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ đều có lý do tương đối phong phú. Lý do của tên gọi chủ yếu từ những thuộc tính khách quan của các loài chim, như màu sắc bộ lông, hình dạng, tiếng kêu/hót, tập tính sống, thức ăn v.v.., cũng có những lý do từ nguồn gốc, công dụng, phẩm chất, truyền thuyết điển cố, nhưng tỉ lệ những lý do kiểu này không nhiều, chiếm vị trí thứ yếu. Nhìn từ tỉ lệ phân bố các lý do, con người đặt tên các loài chim chủ yếu dựa vào những đặc trưng có thể cảm nhận tri giác trực tiếp được của chúng, nhất là những đặc trưng cảm nhận bằng thị giác. Cụ thể, hai dân tộc quan tâm nhiều nhất đến đặc trưng “màu sắc cơ thể” của các loài chim. 3 loại đặc trưng khác cũng chiếm tỉ lệ cao là: “môi trường sống”, “hình dạng” và “tiếng kêu hót”. Nhìn từ mức độ cụ thể của tên gọi, tên gọi các loài chim trong tiếng Hán được phân chia cụ thể, tỉ mỉ hơn trong tiếng Việt.

Trên phương diện phương thức định danh, cả hai dân tộc đều sử dụng số lượng phương thức phong phú. Trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là phương thức ghép thành tố, nhưng tiếng Hán có tỉ lệ cao hơn. Phương thức định danh kết hợp ngẫu nhiên, tỉ lệ trong tiếng Việt cao hơn hẳn tiếng Hán. Cả hai dân tộc đều ưa thích sử dụng các biện pháp tu từ để đặt tên cho các loài chim, nhưng đối tượng tham chiếu không giống nhau. Tên gọi chim trong tiếng Hán thường quy chiếu đến thế giới loài người, dùng cách xưng hô, địa vị hay đặc trưng của người gán cho chim, còn tên gọi chim trong tiếng Việt lại thường quy chiếu đến những loài chim hoặc loài vật quen thuộc, gắn bó với con người. Việc sử dụng các bộ kiện biểu ý ( như鸟、隹、羽) trong cấu tạo chữ Hán của tên gọi chim là một phương thức định danh độc đáo riêng của tiếng Hán. Sự phát triển của các phương thức định danh, từ kết hợp ngẫu nhiên, mô phỏng tiếng kêu hót đến sử dụng bộ kiện biểu ý trong cấu tạo chữ Hán, ghép thành tố, vay mượn tiếng nước ngoài đã thể hiện sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của tư duy con người từ cụ thể đến trừu tượng.

Trên phương diện nghĩa phái sinh, sự phong phú đa dạng của các hiện tượng chuyển nghĩa đã chứng tỏ cả hai dân tộc Hán và Việt đều ưa thích lối tư duy liên tưởng bắc cầu, tư duy biện chứng, coi trọng phẩm giá đạo đức, coi trọng mối quan hệ hài hòa với môi trường sống. Trong đó, phạm trù người là đích liên tưởng chủ đạo nhất. Gần như tất cả mọi phương diện của con người đều được phản ánh trong những liên tưởng từ chim: từ đặc điểm ngoại hình, đặc điểm giới tính đến tầng sâu hơn là phẩm giá, địa vị và thế giới tinh thần. Từ thế giới loài chim quy chiếu đến xã hội loài người, bên cạnh những đánh giá khách quan, công bằng, không ít những đánh giá mang màu sắc “chủ quan”, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, điểm khác biệt là: hai ngôn ngữ sử dụng những hình tượng chim khác nhau để biểu đạt nghĩa giống nhau; cùng một loại chim trong tự nhiên, nhưng ý nghĩa phái sinh trong hai ngôn ngữ lại không giống nhau hoặc vừa giống vừa khác; hay những liên tưởng chỉ có trong ngôn ngữ này mà không có trong ngôn ngữ kia.

Nhìn một cách tổng thể, tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ về cấu tạo, đặc điểm định danh cũng như nghĩa phái sinh điểm tương đồng nhiều hơn điểm khác biệt.

Điểm mới của luận án chủ yếu ở đề tài nghiên cứu mới mẻ, thứ hai là tính toàn diện và hệ thống của cách triển khai vấn đề.

Trong quá trình triển khai luận án vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Đầu tiên là nguồn ngữ liệu chưa toàn diện. Thứ hai là số lượng nghĩa phái sinh vô cùng phong phú, chúng tôi mới chỉ thống kê được trong một số ngữ liệu nhất định. Ngoài ra việc quy loại lý do tên gọi không thể tránh khỏi yếu tố chủ quan. Cuối cùng, chúng tôi mới chỉ tiến hành đối chiếu tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ một cách tổng thể, chưa tiến hành kĩ những đối chiếu trường hợp. Đây cũng là hướng nghiên cứu tiếp theo mà chúng tôi hướng tới trong tương lai.




DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN





  1. Nguyễn Thị Hảo(2017)“Đặc điểm cấu trúc định danh của tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt”, Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài, tập 33(4), 101-109.

  2. Nguyễn Thị Hảo (2017)“Tên gọi các loài chim trong tiếng Hán nhìn từ góc độ văn tự học”, Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, 9 (263), 70 -75.

  3. Nguyễn Thị Hảo(2018)“汉越鸟类名称构词法对比研究”, International Graduate Research Syposium Proceedings: Linguistics Foreign Language Education Interdisciplinary Fields,Hội thảo quốc tế GRS2018,Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội,p190-198,Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội ISBN:978-604-62-6097-4.

  4. Nguyễn Thị Hảo(2018)“汉、越鸟类名称之修辞命名研究”,Hộ thảo quốc tế về nghiên cứu và giảng dạy tiếng Hán khu vực văn hóa chữ Hán, Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội,p260-264,Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, ISBN:978-604-62-5281-8.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương