Nguyễn thị HẢO 汉越鸟类名称对比研究 nghiên cứU ĐỐi chiếu tên gọi các loài chim trong tiếng hán và tiếng việT


Điểm giống và khác nhau về cấu tạo tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt



tải về 408.44 Kb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu25.11.2019
Kích408.44 Kb.
1   2   3   4

2.4. Điểm giống và khác nhau về cấu tạo tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

2.3.1. Điểm giống nhau


Thứ nhất, trong cả tiếng Hán và tiếng Việt, số lượng tên gọi là dạng chính phụ gồm 2 thành tố đều xếp ở vị trí đầu tiên và có tỉ lệ tương đương nhau (tiếng Hán: 158 tên gọi chiếm 56.6%, tiếng Việt 179 tên gọi chiếm 55.8%), cao hơn nhiều so với tỉ lệ các mô hình cấu tạo khác, có thể coi là mô hình cấu tạo điển hình của tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt.

Thứ hai, trong các tên gọi tiếng Hán gồm 3 thành tố, dạng chính phụ chiếm tỉ lệ áp đảo, các tên gọi tiếng Việt gồm 3 và 4 thành tố chỉ có dạng chính phụ. Nếu như gộp tất cả dạng chính phụ lại, tiếng Hán là 59.5% và tiếng Hán là 64.5%. Điều này càng khẳng định tính ưu việt của mô hình cấu tạo này trong tên gọi. Định danh là sự phán đoán về sự vật, nhưng không phải là định nghĩa sự vật đó, khái quát toàn bộ mọi đặc trưng của sự vật đó mà chỉ chọn một đặc trưng có khả năng “khu biệt” sự vật đó với các sự vật cùng loại khác. Điều này lại chính là đặc trưng ngữ ngĩa của mô hình cấu tạo chính phụ. Phần “chính” thường thể hiện chủng loại, phần “phụ” thường là miêu tả đặc trưng khu biệt của chủng loại đó.



Thứ ba, trong các mô hình cấu tạo, xếp ở vị trí thứ 2 đều là những tên gọi đơn âm tiết (tiếng Hán chiếm 22.6%, tiếng Việt chiếm 16.8%), xếp ở vị trí thứ 3 đều là những tên gọi dạng lianmian (连绵) (tiếng Hán chiếm 10.4%, tiếng Việt chiếm 14.6%). 3 mô hình cấu tạo này gộp lại chiếm tỉ lệ đại đa số (tiếng Hán chiếm 89.6%, tiếng Việt chiếm 87.2%). Những dạng thức còn lại đều chiếm tỉ lệ không đáng kể.

2.3.2. Điểm khác nhau


Thứ nhất, có 10 mô hình cấu tạo các tên gọi chim trong tiếng Hán, tiếng Việt có 8 mô hình cấu tạo, không có dạng dịch âm và dạng phụ gia.

Thứ hai, trật tự trong các tên gọi dạng chính phụ tiếng Hán và tiếng Việt ngược nhau. Trật tự trong tiếng Hán luôn là phụ trước chính sau, thành tố khu biệt ở trước, thành tố chỉ loại ở sau; trong khi trật tự trong tiếng Việt được chia thành hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, cả hai thành phần đều là các đơn vị đơn tiết Hán Việt, trật tự giống với tiếng Hán, ví dụ: gia cầm,thuỷ cầm, mãnh cầm, ác điểu v.v...Trường hợp thứ hai, cả hai thành phần đều là yếu tố thuần Việt, trật tự ngược lại với tiếng Hán, chí nh trước phụ sau, ví dụ: bồ câu //nâu, vịt // trời, gà //chọi v.v...Đây là trật tự thường gặp nhất của các tên chim dạng chính phụ trong tiếng Việt.

Thứ ba, các tên gọi đơn âm tiết trong tiếng Hán nhiều hơn tiếng Việt cả về số lượng và tỉ lệ. Các tên gọi chim đơn âm tiết tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày, trừ trường hợp đặc biệt với ngữ cảnh rõ ràng, đều phải thêm từ chỉ tổng loại phía trước (“chim” hoặc “con”), ví dụ: “oanh”→ “chim oanh”,“sẻ”→“chim sẻ”,“yểng” →“con yểng” v.v... Tiếng Hán không cần như vậy, nguyên nhân là do bộ phận biểu ý trong các tên gọi đơn âm tiết ( ví dụ: 鸟、隹、羽) lấy hình biểu ý, bản thân đã hàm chứa thông tin về chủng loại của loài chim đó rồi.

Thứ tư, tỉ lệ các tên gọi dạng lianmian (连绵) theo kiểu song âm, điệp vần, điệp âm trong tiếng Việt cao hơn hẳn tiếng Hán, ví dụ: cà cưỡng, cồng cộc, cun cút, sáo sậu, tu hú, chàng làng, chào mào, chèo bẻo, liếu điếu, choi choi, đa đa, le le v.v.. trở thành một mảng độc đáo trong tên gọi các loài chim tiếng Việt. Những tên gọi này nếu phân chia theo cách phân loại của ngữ pháp tiếng Việt thì thuộc loại “từ láy”, ngoài nghĩa khái niệm, còn mang những nghĩa phụ thuộc khác như: sắc thái hình tượng, sắc thái tình cảm và sắc thái ngữ thể, khiến cho những tên gọi chim này vừa sinh động lại đem lại cảm giác gần gũi thân thuộc.

Thứ ba, trong các kiểu cấu tạo tên gọi, tên gọi các loài chim trong tiếng Việt không xuất hiện các tên gọi là từ dịch âm. Nếu như vay mượn từ tiếng nước ngoài, thường phải có thêm yếu tố chỉ loại là từ thuần Việt ở phía trước phần vay mượn, ví dụ như trong tên gọi “gà lơ go”, “lơ go” là dịch âm từ tiếng Anh “leghorn” , “gà” là yếu tố chỉ loại thuần Việt, tương tự như với các tên gọi “gà rốt”, “gà rốt-ri”. Những tên gọi này về cấu tạo xếp vào loại tên gọi hợp thành dạng chính phụ. Còn trong tiếng Hán, sở dĩ có thể tồn tại tên gọi “鸸鹋” là dịch âm từ tiếng Anh “emu” mà không cần thêm yếu tố chỉ loại vào phía trước, là bởi bản thân các chữ Hán “鸸” và “鹋” đều có bộ thủ “鸟”biểu ý, người ta chỉ cần căn cứ vào hình chữ là có thể phán đoán nghĩa chữ có liên quan đến các loài chim.

Thứ tư, các tên gọi hợp thành dạng phụ gia (ví dụ như老鸨, 燕子, 鸽子, 雀儿) cũng không xuất hiện trong tiếng Việt, là kiểu cấu tạo đặc hữu của tên gọi các loài chim tiếng Hán.

Tiểu kết

Trong chương này chúng tôi đã tiến hành đối chiếu tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt về mặt cấu tạo. Chúng tôi coi “thành tố cấu tạo tên gọi” là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo nên tên gọi, các tên gọi chim có từ 1 đến 4 thành tố cấu tạo. Kết quả cho thấy cấu tạo của tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt, về cơ bản là đại đồng tiểu dị.



CHƯƠNG 3. ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH

CỦA TÊN GỌI CÁC LOÀI CHIM TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT

“Đặc điểm định danh” ở đây bao gồm hai phương diện: cơ sở định danh và phương thức định danh. Vế trước làm rõ lý do vì sao có tên gọi đó. Vế sau chủ yếu từ góc độ ngôn ngữ học, người ta khi đặt tên chim đã sử dụng những yếu tố ngôn ngữ nào, và những yếu tố đó đã được sử dụng như thế nào. Hai phương diện kết hợp với nhau, thể hiện “đặc điểm định danh” của đối tượng.


3.1. Đối chiếu cơ sở định danh của tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

3.1.1. Khảo sát cơ sở định danh tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt


Chúng tôi tiến hành khảo sát cơ sở định danh của 281 tên gọi chim tiếng Hán và 323 tên gọi chim tiếng Việt. Đầu tiên, loại trừ đi những tên gọi không rõ lý do (96 tên gọi tiếng Hán và 112tên gọi tiếng Việt), khoanh vùng được số tên gọi có lý do trong 2 ngôn ngữ là 185 tên gọi chim tiếng Hán (chiếm 66%) và 211 tên gọi chim tiếng Việt (chiếm 65.3%). Chúng tôi phân chia thành 8 loại cơ sở định danh, mỗi loại lại có thể phân chia thành những tiểu loại nhỏ hơn. Kết quả khảo sát được thể thống kê ở bảng sau:

Bảng 3-1: Bảng thống kê kết quả khảo sát cơ sở định danh của tên gọi

các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

Thứ tự

Cơ sở định danh

Tiếng Hán

Tiếng Việt

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

1

Đặc điểm ngoại hình

Màu sắc cơ thể

54

29.2%

74

35.1%

Hình thể

17

9.2%

31

14.7%

Kích cỡ

3

1.6%

6

2.8%

2

Tiếng kêu/hót

24

13.2%

23

10.9%

3

Đặc điểm giới tính, sinh trưởng

7

3.8%

6

2.8%

4

Đặc điểm tập tính

Môi trường sống

27

14.6%

20

9.5%

Tập tính sinh sống

10

5.4%

9

4.3%

Cách thức di chuyển

9

4.9%

1

0.5%

Thức ăn, cách kiếm ăn

3

1.6%

7

3.3%

5

Nguồn gốc, nơi lai tạo

5

2.7%

13

6.2%

6

Vai trò với con người

12

6.5%

5

2.4%

7

Phẩm chất

7

3.8%

6

2.8%

8

Truyền thuyết điển cố

3

1.6%

2

0.9%

9

Lí do tổng hợp

4

2.2%

8

3.8%

Tổng

185

100%

211

100%

Kết quả khảo sát ở bảng trên được sơ đồ hóa bằng biểu đồ dưới đây:


Biểu đồ 3-1: Biểu đồ so sánh tỉ lệ các cơ sở định danh của tên gọi

các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt

3.1.2. Điểm giống và khác nhau về cơ sở định danh của tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt


3.1.2.1. Điểm giống nhau

Thứ nhất, cùng một loài chim trong thế giới tự nhiên, nhưng trong hai ngôn ngữ Hán và Việt lại dùng hai kí hiệu âm thanh khác nhau, điều này chứng tỏ tính võ đoán của tên gọi. Nhưng mặt khác, rất nhiều các tên gọi chim lại có cơ sở đặt tên, chứng tỏ tính có lý do của tên gọi.

Thứ hai, các tên gọi chim trong tiếng Hán và tiếng Việt đều rất phong phú thể hiện sự đa dạng sinh học của thế giới loài chim ở cả hai quốc gia. Một đặc trưng nổi bật nào đó thường trở thành đặc điểm dễ nhận thấy nhất khi con người tri nhận về loài chim đó, và trở thành cơ sở để đặt tên. Số lượng các kiểu cơ sở định danh của tên gọi chim trong cả hai ngôn ngữ đều phong phú, chia làm 8 loại, nếu chia nhỏ hơn là 14 loại. Trong đó, bất luận tiếng Hán hay tiếng Việt, chiếm tỉ lệ cao nhất đều là đặc điểm ngoại hình. Cụ thể hơn, xếp ở vị trí đầu tiên đều là đặc điểm “màu sắc cơ thể” (tiếng Hán chiếm 29.2%, tiếng Việt chiếm 35.1%), có thể nói cả hai dân tộc khi định danh các loài chim, đều chú ý đầu tiên đến đặc trưng về màu sắc.

Thứ ba, 4 cơ sở định danh xếp thứ hạng cao nhất trong cả hai ngôn ngữ đều là: màu sắc cơ thể, môi trường sống, tiếng kêu hót và đặc điểm về hình thể. 4 lý do này nếu gộp lại chiếm tới 66.2% trong tiếng Hán và 70.2% trong tiếng Việt, cho thấy cả hai dân tộc đều có khuynh hướng lựa chọn những đặc trưng thuộc tính khách quan và có thể cảm nhận trực tiếp được của các loài chim để làm cơ sở đặt tên.

3.1.2.2. Điểm khác nhau

Thứ nhất, khuynh hướng lựa chọn cơ sở định danh các loài chim khác nhau. Mặc dù giống nhau ở 4 loại cơ sở định danh chiếm tỉ lệ cao nhất nhưng thứ tự ở hai ngôn ngữ không giống nhau. Thứ tự trong tiếng Hán là: màu sắc cơ thể (29.2%), hoàn cảnh sống (14.6%), tiếng kêu hót (13.2%), đặc điểm hình thể (9.2%); còn thứ tự trong tiếng Việt là: màu sắc cơ thể (35.1%), đặc điểm hình thể (14.7%), tiếng kêu hót (10.9%) và hoàn cảnh sống (9.5%). Chứng tỏ Trung Quốc lãnh thổ rộng lớn, môi trường sống của các loài chim vô cùng đa dạng, người Trung Quốc chú ý hơn tới đặc trưng này. Ví dụ, tiếng Việt chỉ đơn giản chia thành 3 loại môi trường sống: nước, đất và biển, như: gà nước,phướn đất,vịt biển... Trong khi đó, tiếng Hán có sự phân chia tỉ mỉ hơn, ngoài 3 loại cơ bản trên, còn có những môi trường sống cụ thể hơn, như: 鸥, 鹨, 鹨 v.v…

Thứ hai, tên gọi các loài chim trong tiếng Hán có sự phân chia tỉ mỉ hơn trong tiếng Việt. Chẳng hạn như về màu sắc cơ thể, tên gọi chim tiếng Việt chỉ xuất hiện một số màu cơ bản như xanh, đỏ, sao còn trong tên gọi chim tiếng Hán mỗi màu cơ bản đó lại được chia nhỏ thành những sắc thái khác nhau, ví dụ, màu trắng có 4 sắc thái: 白,霜,银,皓, màu xanh có 3 sắc thái: 青,翠,绿, màu đỏ cũng có 3 sắc thái: 红, 朱, 丹.



Thứ ba, sự khác nhau trong lý do nguồn gốc, nơi lai tạo. Có 13 tên gọi các loài chim tiếng Việt dựa trên cơ sở này, trong đó chỉ có 2 tên gọi có nguồn gốc bản địa: ta (gà ta) và hồ (gà hồ ở Đông Hồ, tỉnh Bắc Ninh) , còn lại đều là những tên gọi có nguồn gốc ngoại lai, như: xiêm (gà xiêm,vịt xiêm),tây (gà tây),tàu (gà tàu), Á châu (cò Á châu) v.v... Trong khi đó, có 5 tên gọi các loài chim tiếng Hán dựa trên cơ sở này, tình hình ngược lại, chi có 2 tên gọi có nguồn gốc ngoại lai (美洲(美洲鸵) ,土耳其 (吐绶鸡)còn lại đều là những tên gọi các loài chim có nguồn gốc bản địa, chứng tỏ sự đa dạng sinh học của Trung Quốc.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương