Nguyễn thị HỒng vân cấu tạo và chức năng thông báO



tải về 338 Kb.
trang3/3
Chuyển đổi dữ liệu12.12.2017
Kích338 Kb.
#4606
1   2   3

3.3. Ứng dụng: Dữ liệu minh họa cho phần ứng dụng được ghi âm từ buổi tường thuật trực tiếp trận đấu bóng đá trên truyền hình giữa đội tuyển Việt Nam và đội tuyển Malaysia lúc 19h00, thứ bảy ngày 3 tháng 11 năm 2012 và được chuyển tự để phân tích.Phần lớn Đề trong ngôn bản tường thuật bóng đá là Đề chủ đề đơn. Khi Đề đa được lựa chọn, chúng hầu hết bao gồm một Đề ngôn bản và một Đề chủ đề. Kết quả này cho thấy sự quan tâm của bình luận viên trong tường thuật bóng đá thường là những yếu tố kinh nghiệm hoặc ngôn bản hơn là yếu tố liên nhân. Đề chủ đề nổi bật nhất là Đề tham thể mà được hiện thực hóa bằng một cầu thủ (hoặc tên riêng hoặc đại từ nhân xưng) và điều này làm nổi bật sự quan trọng của cá nhân cầu thủ trong tường thuật bóng đá mặc dù bóng đá là môn thể thao mang tính đồng đội.


Kết luận và kiến nghị

I. Tóm lược kết quả luận án

Vấn đề Đề-Thuyết trong câu tiếng Việt hiện nay không mới nhưng vẫn còn là vấn đề mở. Bằng cách này hay cách khác, các nhà nghiên cứu đã đem đến nhiều quan niệm, nhiều hướng đi mới trong việc đưa cấu trúc Đề-Thuyết vào trong câu tiếng Việt. Luận án vận dụng quan điểm của Halliday, coi đó là cơ sở lí luận để xem xét cấu trúc Đề của câu tiếng Việt. Trong quá trình nghiên cứu, luận án đã cố gắng đưa ra những ví dụ cụ thể, có phân tích để minh chứng rõ hơn cách quan niệm mà luận án cho là phù hợp với câu tiếng Việt. Những kết luận của luận án sẽ được biểu hiện tuần tự theo từng chương. Chương I trình bày những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài. Những quan niệm của Halliday là cơ sở để luận án rút ra những quan niệm về Đề: Đề xuất phát từ một phối cảnh quan hệ ngữ nghĩa mà câu có liên quan. Đề được đồng nhất về mặt cú pháp với vị trí mở đầu câu (xuất phát điểm của thông điệp) đối lập với Thông tin cũ. Đề hoạt động với tư cách là sự định hướng đòi hỏi một mối liên kết “có tính chất quan hệ” với tiềm năng hồi chiếu và khứ chiếu trong ngôn bản. Đặc điểm ngữ nghĩa của Đề, dù là tham thể, chu cảnh hay quá trình, không tập trung vào vị thế qui chiếu của chúng mà tập trung vào sự thiết lập một mối quan hệ với Thuyết trong nền ngữ cảnh ngôn bản. Khái niệm Đề được phân biệt với khái niệm chủ đề ngôn bản và Thông tin cũ. Chủ đề ngôn bản được hiểu với tư cách là một khái niệm nổi bật mà hoạt động như một đích qui chiếu ở một đích cho sẵn trong ngôn bản. Thông tin cũ có tính qui chiếu được hiểu có sự liên quan đến khái niệm nổi bật, tiêu điểm. Thông tin cũ-Thông tin mới có tính quan hệ được kết hợp với sự lựa chọn của người nói xuất hiện hoặc không xuất hiện ngữ điệu đi kèm. Đề của một câu là cái mà người nói và người viết coi như điểm khởi đầu của câu đó, phần còn lại của câu được gọi là Thuyết ngữ. Đề cùng với Thuyết cấu thành khuôn hình chức năng (chức năng ngôn bản) của câu với tư cách của một thông điệp. Sự lựa chọn Đề có tầm quan trọng nhất định. Đối với người nói, Đề tiêu biểu cho quan điểm của người nói khi diễn đạt điều họ cần thông báo, và một phần nó cũng cần thiết cho cái cách mà thông báo được thể hiện. Đối với người nghe, Đề giữ vai trò là một tín hiệu cho người nghe hướng đến cái khả năng liên quan đến một kiểu cấu trúc có thể hình thành, hoặc liên quan đến sự biểu hiện tinh thần của người nói về những gì mà thông báo có thể bày tỏ. Như vậy là có vấn đề về việc nên chọn cái gì để làm Đề của câu. Tồn tại những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự lựa chọn này, trong đó trước hết cần nhắc đến những gì người nghe biết/không biết về tình trạng các dữ kiện được miêu tả, nó là Thông tin cũ hay Thông tin mới đối với người nghe. Về phương diện nghĩa, Đề là “cái mà câu bàn đến” và chính cách hiểu đó thực sự là ý nghĩa của Đề. Những lí lẽ và bằng chứng của nghiên cứu này nằm trong chương II và chương III.. Trong chương II, luận án đưa ra những tiêu chí để mô tả cấu trúc, tần số xuất hiện và chức năng ngôn bản của các kiểu Đề trong câu đơn tiếng Việt trong các thể chủ động và bị động, tìm hiểu Đề trong quan hệ với Thức của câu và sự nổi bật mang tính kinh nghiệm của Đề. Trong tiếng Việt, chức năng cú pháp lấy trật tự từ làm trọng. Khi những thay đổi trật tự từ xảy ra, những phương diện ý nghĩa khác nhau của câu về cơ bản bị ảnh hưởng. Những thay đổi trật tự từ của Đề tạo ra những loại Đề khác nhau. Cùng một nội dung sự việc có thể do cách chọn Đề khác nhau mà có thể tạo ra những câu có giá trị diễn đạt có phần khác nhau. Việc chọn Đề vốn có bản chất tâm lí học, trong cách hiểu là có những yếu tố được mong đợi nhiều hơn với tư cách Đề và có những yếu tố ít được mong đợi trong tư cách một bộ phận như thế. Yếu tố được mong đợi nhiều nhất trong cương vị Đề thường trùng với Chủ ngữ của câu. Như vậy, việc miêu tả Đề về phương diện này có thể đặt trong quan hệ với các chức năng cú pháp của câu. Đặt việc xem xét Đề trong quan hệ với các chức năng cú pháp là cơ sở để phân biệt Đề không đánh dấu, Đề đánh dấu, Đề đơn và Đề đa.

Đóng góp nổi bật đầu tiên của luận án trong chương này là đã đưa ra 5 tiêu chí để mô tả cấu tạo, tần số xuất hiện của các kiểu Đề, năm tiêu chí đó là: (a) chức năng Thức; (b) sự hiện thực hóa bên trong và bên ngoài nòng cốt câu; (c) loại câu; (d) cấu tạo của Đề chủ đề; (e) chức năng của Đề trong cấu trúc chuyển tác. Năm tiêu chí này cũng giúp chúng tôi có được hướng phân tích Đề trong câu một cách tổng hợp, đa diện mà nhất quán. Đề được hiện lên dưới hai dạng: Đề đơn và Đề đa. Đề đơn là Đề được tạo thành từ danh từ/cụm danh từ, động từ/cụm động từ, tính từ/cụm tính từ... Đề đa là loại Đề có sự tham gia, góp mặt của hai hoặc ba loại Đề: Đề ngôn bản, Đề liên nhân và Đề chủ đề. Cấu tạo của những yếu tố trong Đề là: ngôn bản-liên nhân -chủ đề, mô hình này cụ thể hóa khuynh hướng vị trí của những yếu tố trong câu với những chức năng khác nhau: kinh nghiệm, liên nhân, ngôn bản. Những yếu tố này hướng về hạt nhân của chúng. Đó là Đề chủ đề (một yếu tố bắt buộc trong kết cấu Đề đa). Đây là mô hình tuân theo nguyên tắc hướng tâm, vì vậy, Đề bên trong nằm trong Đề bên ngoài của chúng. Đề đa có thể đòi hỏi “những định hướng” khác nhau phụ thuộc vào quan hệ của yếu tố chủ đề, yếu tố ngôn bản hoặc yếu tố liên nhân và tính chất của mối quan hệ này với Thuyết sau đó và toàn bộ ngữ cảnh. Có thể thấy, sự định hướng của Đề trong cấu trúc Đề đa tương ứng với trật tự từ cao đến thấp. Đây có thể gọi là sự định hướng bậc thang: ngôn bản- liên nhân-chủ đề. Qua khảo sát, luận án đã phân xuất được 7 mô hình của Đề đa. Luận án cũng xem xét đến Đề trong quan hệ với Thức của câu. Mỗi câu khi phản ánh một nội dung nào đó đều phải chọn cho mình một thức nhất định. Mặc dù có những trường hợp giống nhau, song Đề trong mỗi loại câu đều có những đặc trưng riêng của nó. Lí do giải thích cho điều này là ở những dấu hiệu hình thức riêng qui định cho mỗi loại câu. Và dựa vào những dấu hiệu hình thức đó, Đề trong mỗi loại câu được bộc lộ một cách rõ nhất, đầy đủ nhất. Đề trong thể bị động, về cơ bản, Đề hóa những danh từ đóng chức năng là Chủ ngữ/Trung gian thể. Thể bị động xuất hiện với tư cách là một phương tiện tuân theo nguyên tắc tiêu điểm cuối. Tiêu điểm nằm ở thành tố cuối và yếu tố này thường đi kèm với một Đề liên nhân, nhận được vị thế Đề với tư cách biểu đạt quan điểm của người nói.. Luận án cũng nêu ra được sự nổi bật mang tính kinh nghiệm của Đề: hiện tượng tuyến tính hóa trong sự kết hợp với những nguyên tắc nhận thức này cho thấy Đề là một lĩnh vực nổi bật, được dùng trong “những chức năng cụ thể” phản ánh Đề với tư cách là một sự đánh dấu của tính chủ quan, đồng thời cũng là một sự đánh dấu của cấu tạo ngôn bản. Cách dùng những loại Đề khác nhau nhấn mạnh sự gắn kết của chúng với những loại ngôn bản cụ thể và thái độ của người nói, mức độ chủ quan của ngôn bản, tính chất động, tính trang trọng, thân mật của ngôn bản, sự duy trì tiêu điểm và vai trò của người nói. Nhìn chung, Đề cung cấp một sự định hướng cho cái sẽ theo sau, nơi mà bất kỳ sự sắp đặt lại trật tự từ vốn có bao hàm những thành phần bổ sung cho cảm xúc mà chỉ phù hợp trong một vài ngữ cảnh.

Đóng góp thứ hai của luận án trong chương này là đã dùng phương pháp thống kê tần số xuất hiện theo mô hình của sự phân bố các loại Đề, chức năng Thức, chức năng chuyển tác, cấu tạo của Đề để tìm hiểu xu hướng sử dụng, tần số xuất hiện của đối tượng xem xét dựa vào năm tiêu chí đã đề xuất để đưa ra những nhận xét cụ thể mà các công trình ngữ pháp trước đây chưa đề cập đến.

Trong chương III, luận án mô tả Đề trong câu đơn tiếng Việt có trật tự đảo (câu đảo ngữ) và trong những kiểu câu cụ thể của tiếng Việt (câu hiện hữu, câu đẳng thức). Câu đảo ngữ xuất hiện trong những câu khẳng định bao hàm phát ngôn chủ động và những quá trình quan hệ. Chức năng ngôn bản của đảo ngữ là kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau của bốn nhân tố: chức năng thể hiện, phương tiện sắp xếp thông tin, sự nhấn manh ngữ điệu đúng với nguyên tắc tiêu điểm cuối và vai trò của chúng với tư cách là sự đánh dấu của tính chủ quan và cấu trúc ngôn bản qua sự thay đổi ngôn bản vốn có. Bốn nhân tố này khiến đảo ngữ thích hợp với những ngôn bản như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca với điều kiện của sự thay thế, ví dụ loại ngôn bản trong đó nhận thức của người nói và người nghe tập trung vào kinh nghiệm mà được thay thế từ ngữ cảnh tức thì trong tư duy người nói. Điều này tạo nên hiệu quả giao tiếp cao, là sự giải thích chủ đề mang tính chủ quan, nhờ đó một đích quy chiếu được sáng tạo.



Đóng góp thứ ba của luận án trong chương này là đã mô tả được cấu tạo và chức năng của một số loại Đề trong một vài kiểu câu cụ thể (Đề chỉ sự hiện hữu, Đề trong câu đẳng thức) để thoả mãn những nhu cầu giao tiếp cụ thể, phù hợp với những ngữ cảnh ngôn bản cụ thể. Những loại Đề này đem đến một bức tranh động về hiện thực và bày tỏ những ý kiến cá nhân của người nói/viết về hiện thực. Đề chỉ sự hiện hữu được miêu tả với tư cách là những phương tiện biểu hiện để mở đầu sự kiện ngôn bản bằng một sự hiện hữu không xác định/không nổi bật, bao hàm một số lượng hoặc sự liệt kê những thực thể hoặc tình huống đối với ngữ cảnh trước đó, biểu hiện chúng trong sự kiện ngôn bản và trong Thuyết của câu, đem đến một sức nặng thông tin ở cuối câu. Đề trong câu đẳng thức có một thành phần được danh hóa đóng chức năng Đề, Chủ ngữ, Bị đồng nhất thể, tiền giả định lôgic- ngữ nghĩa. Ngược lại, yếu tố được nổi bật (thường là cụm danh từ) đóng chức năng Thuyết ngữ, Bổ ngữ Chủ ngữ, Đồng nhất thể.

Đề đẳng thức thuộc loại Đề được mở rộng, được tách biệt với Thuyết bằng một ranh giới ngữ điệu. Loại Đề này đồng nhất quan điểm của người nói với một vài tiền giả định ngữ cảnh. Trọng tâm hướng đến của loại Đề trong câu đẳng thức là các tham thể vì chúng làm nổi bật các tham thể hơn là làm nổi bật các quá trình và chu cảnh như trường hợp của Đề trong câu hiện hữu.



Đóng góp thứ tư là luận án đã ứng dụng kết quả của luận án để chỉ ra được cách dùng Đề qua một ngôn bản cụ thể: ngôn bản tường thuật trực tiếp bóng đá để thấy được tính mạch lạc của nó. Đây là ngôn bản tường thuật những sự kiện của trận đấu khi chúng xảy ra cho những người không xem trực tiếp những sự kiện này. Trong ngôn bản đặc thù này, phần lớn Đề là Đề chủ đề đơn. Khi Đề đa được lựa chọn, chúng hầu hết bao gồm một Đề ngôn bản và một Đề chủ đề. Kết quả này cho thấy sự quan tâm của bình luận viên trong tường thuật bóng đá thường là những yếu tố kinh nghiệm hoặc ngôn bản hơn là yếu tố liên nhân. Đề chủ đề nổi bật nhất là Đề tham thể mà được hiện thực hóa bằng một cầu thủ (hoặc tên riêng hoặc đại từ nhân xưng) và điều này làm nổi bật sự quan trọng của cá nhân cầu thủ trong tường thuật bóng đá mặc dù bóng đá là môn thể thao mang tính đồng đội.

Hạn chế của đề tài là lĩnh vực về Thuyết chưa được nghiên cứu chi tiết để thiết lập một sự tương liên giữa những kiểu Thuyết và những kiểu ngôn bản. Chúng tôi mong muốn sẽ có dịp được đề cập đến những vấn đề nói trên trong một tương lai gần.



II. Kiến nghị

Nghiên cứu thêm về Đề trong các đoạn văn để thấy được vai trò của Đề trong việc thiết lập cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ và cần nghiên cứu để thấy những đoạn văn có phải là những đơn vị ngôn ngữ đóng chức năng Đề và tìm hiểu mối quan hệ giữa Đề và chủ đề ngôn bản. Nghiên cứu để phân biệt cách sử dụng Đề qua những ngôn ngữ khác nhau, những thể loại khác nhau, những thời điểm khác nhau.



Nghiên cứu sâu hơn về tính liên nhân, tính chủ quan của việc lựa chọn Đề, quan điểm sắp xếp thông báo cho thấy người nói bộc lộ thái độ qua cách lựa chọn Đề như thế nào và do đó tác động đến mô hình Đề-Thuyếtvà cấu tạo của ngôn bản. (nghiên cứu ở góc độ ngôn ngữ học xã hội (những nhân tố xã hội, giáo dục, vùng miền, lứa tuổi, văn hóa, sở thích.). Tóm lại, thật thú vị và cũng thật nan giải khi cụ thể hóa bất kì mối quan hệ nào giữa Đề và những lĩnh vực giao tiếp khác của ngôn bản để đánh giá tính quan yếu chức năng của Đề dựa trên những nền tảng vững chắc để củng cố vị thế của Đề với tính chất phổ quát cho nhiều ngôn ngữ đặc biệt là các ngôn ngữ thiên về cấu trúc Chủ-Vị.





Каталог: userfile -> User -> long -> files
files -> ChưƠng I cơ SƠ LÍ luậN
files -> TrưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn nguyễn thị MỸ HẠnh các phái bộ anh đẾn việt nam trong bối cảnh xâm nhập của anh vàO ĐÔng á
files -> Trần Thị Hường ba tiểu loạI ĐỘng từ tiếng hàn qua một phưƠng diện phân loạI
files -> Khoa xã HỘi học nguyễn thị kim nhung sự tham gia của ngưỜi dân trong hoạT ĐỘng quản lý RÁc thảI ĐẢm bảo phát triển bền vững đÔ thị
files -> Chuyên ngành : cndvbc & cndvls mã số
files -> Chuyên ngành : Trung Quốc học Mã ngành : 62325010 TÓm tắt luậN Án tiến sĩ trung quốc họC
files -> Độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> TrưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn ngô thị lan phưƠng quan hệ việT – trung giai đOẠN 1986 -2010 qua trưỜng hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh
files -> TrưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn lâm Văn Đồng giáo dụC ĐẠO ĐỨc cho ngưỜi thầy thuốC Ở việt nam trong giai đOẠn hiện nay chuyên ngành: cndvbc&cndvls

tải về 338 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương